Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 19, 2014

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 10 năm 2014.

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN NGUYỄN LÂN GIỚI THIỆU

THƠ CỦA HỌC TRÒ CŨ PHẠM THỊ NGOẠN

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học trò cũ Phạm Thị Ngoạn là con gái của Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Bà sinh năm 1921 tại Hà Nội. Năm 1933 theo cha vào Huế, nơi ông làm việc tại Triều đình Huế từ 1932. Ở đó, bà đã học giáo sư Nguyễn Lân tại Trường Đồng Khánh (thường quen gọi với tên trường Áo Tím, là trường toàn nữ sinh, đồng phục là áo tím, quần trắng).

Từ điển Văn Học (Bộ mới) của Nhà xuất Bản Thế Giới năm 2004 viết về ông trong các trang 1898-1899 trên mục Từ Ngọc như sau:

Nguyen Lan chan dung(Sinh 14.VI.1906-7.VIII.2003). Nhà văn, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội. Tên thật là Nguyễn Lân, quê ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. 1932, tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương. 1932-35, dạy học ở hai trường tư thục Hồng Bàng và Thăng Long. 1935-46, dạy học ở Trường Quốc học, Trường Đồng Khánh và Trường Bách công ở Huế, một trong những người sáng lập Hội truyền bá chữ Quốc ngữ ở Trung Kỳ. Cách mạng tháng Tám thành công là Ủy viên giáo dục tỉnh Thừa Thiên. 1945-46, Giám đốc Nha Học chính Trung Bộ. 1946, dạy Ban chuyên khoa Trường Chu Văn An Hà Nội. 1947-49, Giám đốc giáo dục liên khu X. 1949-51, Giám đốc giáo dục liên khu Việt Bắc. 1951-56, dạy Trường Sư phạm trung cấp, Trường Hoa ngữ, Trường Sư phạm cao cấp Khu học xá trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc). 1956-71, dạy ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ nhiệm Khoa Tâm lý Giáo dục. Được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất (1962), Huân chương Độc lập hạng nhì (1991), được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1988), học hàm Giáo sư đợt I (1980).

Tác phẩm đầu tay: Cậu bé nhà quê (tiểu thuyết, 1925) dựng lại cuộc đời của Kim, một dân thường nghèo khổ, hết bị kẻ xấu vu oan giá họa, khiến bố bị tù, mẹ đau khổ mà chết, lại phải đi ở nơi làng quê, bán áo nơi thành thị, làm phu nơi bến cảng. Nhờ có người tốt bụng cưu mang lại hiếu học, có chí hướng, dũng cảm trị kẻ ác cứu người đẹp nên được hưởng hạnh phúc. Cốt truyện không ly kỳ nhưng diễn tả chân thực cảnh làng quê Việt Nam xưa, phê phán những hủ tục ở nông thôn, thói ăn chơi sa đọa nơi thành thị… Tiểu thuyết đã được Anfrêt Busê (Alfred Bouchet) dịch ra Pháp văn với nhan đề Le Petit compagnard. Tác phẩm thể hiện rõ khát vọng nhân đạo của tác giả trước cuộc đời bất hạnh rủi ro của trẻ em nghèo, được coi như là mở đầu cho đề tài nông thôn, có khuynh hướng hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Khói hương (tiểu thuyết, 1935) lên án lễ giáo phong kiến đè nén tình cảm con người, cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người phụ nữ nết na, xinh đẹp nhưng không có con nói dõi tông đường, bị mẹ chồng hắt hủi. Được chú ý hơn phải kể Ngược dòng (tiểu thuyết, 1936) và Hai ngả (tiểu thuyết, 1938). Châu trong Ngược dòng là một phụ nữ có học bị dì ghẻ ép duyên, không chịu khuất phục, tạo cho mình cuộc sống tự lập, đi ngược dòng dư luận, thương yêu Mịch – một chiến sĩ cách mạng, “một người chỉ mong luyện sức và luyện trí để có thể bênh vực và dìu dắt những kẻ yếu, nghèo, những kẻ bị xã hội hắt hủi, những kẻ bị đè bẹp dưới đồng tiền của phái trưởng giả và phái tư bản”. Hai ngả có kết cấu tiểu thuyết theo lối viết thư (25 bức) ca ngợi nhân vật Thanh, người phụ nữ mới, biết đem tài sản và sức lực cải tạo đời sống người lao động, sách được Hải Triều đề tựa. Tám truyện trong Truyện ngắn Từ Ngọc (1936) như Tiếng vang, Ai khốn nạn, Học nghề văn, Nói và làm, Khẳng khái, Ngoài khơi, Chi chi ngày đầu nọc Hú vía, tập trung vào chủ đè tố cáo kẻ giàu nhưng tham lam, lên án bọn quan lại ăn hối lộ, vô trách nhiệm trước dân. Nhớ nguồn tập hợp 100 bài trong gần suốt cuộc đời cầm bút của Từ Ngọc. Từ Ngọc còn có một số công trình biên khảo đáng kể như Nguyễn Trường Tộ, (NXB. Viễn Đệ, Huế, 1941 và NXB. Mai Lĩnh, Hà Nội, tái bản 1942), ca ngợi con người tiên phong có tư tưởng đổi mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Để tìm hiểu Goóc-ki (NXB Thanh Niên Hà Nội, 1958), giới thiệu tấm gương lao động không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng nhân dân của nhà văn Nga M.Gorki, Khảo trích Truyện Trê Cóc (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1959). Cùng một số nhà khoa học khác, ông còn soạn chung nhiều bộ từ điển: Từ điển chính tả phổ thông (1963), Từ điển tiếng Việt (1967, tái bản 1977 và 1991), Từ điển Pháp-Việt (in tại Pari, 1981, tái bản ở Pari và thành phố Hồ Chí Minh, 1986), Từ điển từ và ngữ Hán Việt (1989), Từ điển Việt – Pháp (cùng Lê Khả Kế, 1989, tái bản 1991). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989, tái bản 1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp – Việt (1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt – Pháp (1994). Trong thời kỳ làm Chủ nhiệm Khoa Tâm lý giáo dục, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, ông đã cùng các bạn đồng nghiệp soạn bộ Giáo trình Giáo dục học (1961), Lịch sử giáo dục học thế giới

Nhìn chung, những năm 30 của thế kỷ XX, Nguyễn Lân là một trong số các nhà văn đi đầu về tiểu thuyết, truyện ngắn ở miền Trung, tuy vậy, với ngôn ngữ cổ kính và cách quan niệm con người chưa thật thoát sáo, những cuốn sách ấy đã không tiến kịp bước phát triển của văn học Việt Nam mấy năm sau khi chúng xuất hiện. Đóng góp của Nguyễn Lân chủ yếu được bạn đọc ghi nhận trong lĩnh vực từ điển và trong lĩnh vực giáo dục.

Trần Gia Linh

Vui mot ngay vui 2 anh

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Nguyễn Lân

Bà Liên Trang Phạm Thị Ngoạn là một Việt Kiều yêu nước về thăm Tổ quốc.

Năm 1951, từ đất Huế bà đã cùng chồng con đi sang Pháp. Ở Paris, để sinh sống, bà đã mở một cửa hàng bán sách lấy tên là “Beaux Arts – Belles Lettres”. Vừa bán hàng, bà vừa tiếp tục học tập. Cuối cùng bà đã thành công trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ Văn Khoa (Đại học Sorbonne Pháp với nhan đề Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong – PT chú). Đến nay bà vẫn tiếp tục nghiên cứu văn học nước nhà.

Trong những năm bà còn là học sinh trường nữ học Đồng Khánh ở Huế, tôi đã có vinh dự dạy Quốc văn cho bà. Thầy trò mấy chục năm xa cách, nhưng bà vẫn nhớ đến tôi.

Năm 1988, biết được địa chỉ của tôi, bà gửi cho tôi một bài thơ, trong đó có câu: “Lòng vẫn bâng khuâng nhớ cố nhân”. Tết Tân Mùi bà lại tặng tôi bốn câu thơ:

Tân Mùi vạn sắc thắm muôn hoa

Kính chúc thầy cô hưởng thái hòa

Hạnh phúc gia đình vui tứ quý,

Thanh nhàn cảnh lão thú tam đa.”

Bà có gửi cho tôi một số bài thơ bát cú Đường Luật, và yêu cầu tôi họa.

Năm nay có dịp về thăm đất nước bà cùng một số bạn học cũ đến chơi với tôi. Nhân dịp này bà có đưa cho tôi một tập thơ lấy tên là Vui một ngày vui… mà bà muốn cho xuất bản để ghi lại dịp đã thỏa được Mơ ước hồi hương. Bà lại có nhã ý mong tôi viết đôi lời giới thiệu.

Đọc tập thơ, tôi rất mừng là dù xa nước mấy chục năm, bà vẫn giữ được phong thái một nhà thơ Việt Nam, với lời thơ rất tao nhã.

Trừ một số bài lục bát và song thất lục bát, bà sính làm thơ bát cú theo thể Đường thi.

Thường thường người ta ngại thơ Đường, vì niêm luật quá chặt chẽ, nhưng ở bà, những bài bát cú Đường Luật không những rất trôi chảy mà lại nhẹ nhàng, tự nhiên…

Đấy là về mặt hình thức, còn về nội dung thì bao trùm lên tất cả là tinh thần nhớ nước thiết tha – Xin nêu lên một số câu làm thí dụ:

Quê nhà cách trở tình sông núi,

Cố quốc xa vời cảnh nước mây…

                                                (Xuân Nhâm Tuất)

Cố quốc mịt mù mong với nhớ,

Tri âm biền biệt tiếc cùng thương…

                                   (Cảm Thu)

Vì nhớ nước, nên nhà thơ đêm ngày mong có dịp về thăm đất nước:

Tình nhà nợ nước hằng vương vấn,

Mộng thắm hồi hương chẳng chuyển thay

     (Mộng hồi hương)

Vui trong ước mộng hồi hương ấy,

Vui giữa giang sơn sướng bội phần.

     (Vui)

Đến năm nay cái mộng về thăm cố quốc đã thành sự thật, nên tại thủ đô bà đã viết Mừng ngày vui đã đến ở cuối tập thơ.

Ngoài tinh thần yêu nước, tập thơ còn chan chứa tình cảm đối với chồng với con cháu, với anh chị em, với bè bạn. Hai bài Kẻ ở người đi Nhớ Hán Thu (Hán Thu là bút danh của chồng bà, ông Nguyễn Tiến Lãng – PT chú) khiến người đọc lại nghĩ đến bài Ai tư vãn của Công chúa Ngọc Hân khóc Nguyễn Huệ.

Bài Ngày vui sum họp và bài Ngày vui gặp gỡ nói lên tình thắm thiết đối với gia đình.

Bài Duyên thơ tình bạn, bài Gửi bạn phương xa, bài Chia tay đều tỏ được tấm lòng tha thiết đối với bạn bè.

Tóm lại tuy tập thơ chỉ có vài chục bài, nhưng tâm hồn của nhà thơ đã được thể hiện một cách phong phú, đậm đà và sâu sắc.

Vậy xin chân thành giới thiệu cùng độc giả.

N.L.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau đây là một số bài trong tập thơ đó được Giáo sư Nguyễn Lân nhắc đến trong Mấy lời giới thiệu.

cu be ba NgoanXUÂN NHÂM TUẤT 1982

Ngoài song cành lá gió lung lay,

Nhâm Tuất đầu năm đã tới đây

Hớn hở hoa đào phô sắc thắm,

Ngạt ngào khóm cúc tỏa hương bay.

Quê nhà cách trở tình sông núi,

Cố quốc xa vời cảnh nước mây.

Tết đến cầu mong xuân vạn phước,

Đáp lòng hoài vọng chốn trời Tây.

                                    Liên Trang

                                   Phạm Thị Ngoạn

DUYÊN THƠ TÌNH BẠN…

Hội ngộ đâu ngờ có bữa nay,

Duyên Thơ tình bạn mặn nồng thay!

Đã bao năm tháng trông mong đấy

Qua vạn trùng dương mới tới đây!

Cũng bởi duyên thơ chờ ý đẹp,

Nặng vì Tình bạn đón men say

Cuộc đời mây nổi tan rồi hợp.

Vui một ngày vui lãi một ngày

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

(Tháng 7 năm 1983)

 CẢM THU

Mấy độ thu về đã lại sang,

Trời thu ảm đạm, lá thu vàng.

Nhuốm máu ủ dột mùa mưa gió

Gieo sắc u sầu cảnh tuyết sương

Cố quốc mịt mù, mong với nhớ,

Tri âm biền biệt tiếc cùng thương.

Biết ai nhắn gửi bầu tâm sự,

San sẻ cùng ta nỗi đoạn trường

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

(Yerres 7/11/1979)

Pham Thi Ngoan_Mong Tuyet

KẺ Ở NGƯỜI ĐI

Chốn dạ dài chàng – yên giấc điệp

Cõi hồng trần để thiếp bơ vơ.

Thương chàng lòng dạ ngẩn ngơ,

Nhớ chàng ngày tháng thẫn thờ khôn nguôi.

—o0o—

Khi hôm sớm dáng người quanh quất,

Lúc đêm trường phảng phất tiếng hơi

Chàng đi, đi chẳng một lời

Để ai trong khoảng đất trời tái tê

                                                                      —o0o—

Giọt lệ sầu khôn bề ngăn cản

Nỗi đoạn trường bể thảm sầu đong

Đời còn chi nữa mà mong

Người đi kẻ ở đau lòng xót thương

—o0o—

Băm sáu năm bạn đường chung sống,

Biết bao phen khổ sướng có nhau.

Biệt ly bỗng chốc vì đâu?

Để ai ngậm thảm nuốt sầu vì ai!

Liên Trang

(Mùa thu 1976)

NHỚ HÁN THU

Anh của Em, dạ dài xa thẳm,

Biết cùng ai gửi gắm tình thương?

Nhớ anh thao thức đêm trường,

Vì đâu lẻ bóng, trên đường phân ly

—o0o—

Anh của Em, những khi họp bạn,

Mượn vần thơ quên tạm nhớ nhung.

Canh khuya chợt tỉnh giấc nồng,

Một mình gối chiếc, tấc lòng quặn đau.

                    —o0o—

Anh của Em, mối sầu dằng dặc

Biết làm sao quên đặng anh ơi

Chim kia lạc bạn chân trời,

Còn nuôi hy vọng lại rồi gặp nhau.

                             —o0o—

Anh của Em, tìm đâu cho thấy,

Cách xa nhau biết mấy từng mây.

Âm Dương đôi ngả đâu đây,

Mà mong đoàn tụ sum vầy, hỡi Anh?

                              —o0o—

Anh của Em thôi đành số kiếp,

Hẹn cùng nhau nối tiếp nhân duyên.

Ba sinh sẻ phỉ mười nguyền,

Uyên ương lại chắp cánh liền cao bay.

Liên Trang

     (1981)

CHIA TAY

(Thân ái tặng Thành Tôn)

Mới đó ai ngờ đã chia phôi

Thôi đành ly biệt bạn yêu ơi!

Bạn ơi! Ly biệt sao buồn thế

Nghĩ éo le thay cái cuộc đời!

Trường Đồng Khánh Huế

1940

 

VUI

(Hưởng Thất Tuần)    

Vui Phật Trời ban hưởng thất tuần,

Vui cùng con cháu lúc nghênh xuân.

Vui nhìn bạch cúc bên hàng giậu,

Vui ngắm hoàng mai trước góc sân.

Vui ánh trăng thanh làn sóng vỗ,

Vui dòng nước biếc áng mây vần

Vui trong ước mộng hồi hương ấy,

Vui giữa giang sơn sướng bội phần.

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Xuân Canh Ngọ 1990

NGÀY VUI SUM HỌP

Hè về gió lọt song hoa,

Bốn trời hội họp một nhà xinh xinh.

Bảy anh em thắm tình huynh đệ.

Bích Hảo Tuân Ngoạn Lệ Hoàn Viên

Chia tay đã bấy nhiêu niên

Dặm ngàn cách trở giờ nên sum vầy.

                                —o0o—

Hồi tưởng lại những ngày gian khó

Buổi loạn ly đây đó xa vời.

Trùng dương sóng gió biển khơi

Mỗi người mỗi ngả mỗi nơi an lành

                                 —o0o—

Không nỡ phụ tấc thành muôn một,

Nhờ song thân đức tốt danh cao.

Nền gia huấn nếp cần lao.

Hương thơm quả ngọt cành Dao cây Quỳnh

                                  —o0o—

Nay được buổi thanh bình hoan hỉ,

Ai dành cho anh chị em mình.

Trời Tây nắng đẹp lung linh,

Ba Lê vui đón gia đình nhà ta.

Một ngày lộng lẫy gấm hoa.

Ngọt bùi chia sử cầm ca tưng bừng.

                                 —o0o—

Nói sao hết nỗi mừng lưu luyến,

Chia cùng tôi nâng chén hẹn nhau.

Hẹn nhau mỗi một năm sau,

Ngày này tháng hạ gặp nhau một lần

Tình thân ngày một thêm thân.

Tình thân ruột thịt mười phân vẹn mười.

Yerres ngày 1/7/1984

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

“TẶNG HAI EM LAN, THỌ” (HỌA BÀI CỦA NGÔ KHÊ)

MỘNG HỒI HƯƠNG

Trời xanh trong vắt mấy tầng mây

Những muốn như chim nhẹ cánh bay

Bay tới Hoa – Đường nơi cổng cũ,

Tìm về tổ ấm chốn mơ say.

Tình nhà nợ nước hằng vương vấn,

Mộng thắm hồi hương chẳng chuyển lay

Tỏ trỗi nhạc ca mừng tổ quốc.

Đường về quê Mẹ chẳng bao ngày…

Liên Trang 1984

GỬI BẠN PHƯƠNG XA

Trời thu êm dịu gió heo may,

Tiếp cánh hoa tiên lại nhớ ngày.

Bạn đến thăm ai chiều đẹp ấy.

Lá vàng lác đác nhẹ nhàng bay…

                             —o0o—

Bên bờ tơ liễu rủ lơ thơ,

Dòng nước sông y-e ( Yerres) chảy lững lờ.

Đón khách hân hoan ngày tái ngộ.

Vui mừng còn tưởng giữa niềm mơ!

                              —o0o—

Chiều tà bóng xế bạn chia tay,

Cây cỏ đìu hiu ngọn gió lay.

Phảng phất hồn quê nơi lữ thứ,

Chân trời lặng lẽ cánh hồng bay…

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

MỪNG NGÀY VUI ĐÃ ĐẾN

Mơ mộng hồi hương đã tới đây,

Bao năm chờ đợi phút giây này!

Giang sơn gấm vóc còn nguyên vẹn

Bạn hữu thân thương chẳng đổi thay.

Mấy độ tha hương nơi đất khách,

Dăm câu tâm sự thỏa lòng ngay.

Hợp tan, tan hợp thân bèo nổi,

Vui một ngày vui, lãi một ngày!

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Tháng 3 năm 1984

(năm Giáp Tuất)

 

Ngoài những bài giáo sư Nhà Giáo Nhân Dân Nguyễn Lân đã nhắc đến trong lời giải thích, xin mời các bạn đọc thêm hai bài họa thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn của Từ Ngọc Nguyễn Lân.

     CẢM TÁC NGÀY XUÂN

       Thu vãn đông tàn lại đến xuân

       Tháng năm lần lữa cựu sang tân.

       Dạ còn lưu luyến thương quê cũ

       Lòng vẫn bâng khuâng nhớ cố nhân.

       Vận nước cầu mong nghìn phúc ấm,

     Tình nhà chúc tụng vạn hồng ân

       Cùng ai mặc khách duyên văn tự,

       Bút rắc tơ vương ghép mấy vần

Liên Trang

Tết Nhâm Thìn 17/2/1988

        MỪNG TUỔI THẤT THẬP

“NHÂN sinh thất thập cổ lai hy”

Bảy chục xuân xanh đã mấy khi!

Ơn Phật thâm sâu, còn sức mạnh

Trường đời hơn thiệt chẳng màng chi

Bạn bè thân thích tình lưu luyến,

Hòe quế an vui cảnh diệu kỳ.

Tuổi thọ hân hoan tâm chẳng bận

Tao đàn xướng họa mấy vần thi.

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Xuân Canh Ngọ 1990

 HỌA BÀI CẢM TÁC NGÀY XUÂN

  NHÂM THÌN CỦA L.T.

    Tiếp nhận tiên hoa dịp đón xuân

    Lời thơ hiền hậu vẻ thanh tân.

    Gợi bao kỷ niệm say Hương Ngự,

    Tỏ mấy tâm tình nặng nghĩa nhân.

    Vẹn nghĩa giang sơn không oán hận,

    Trọn tình sư đệ chẳng vong ân.

    Đông Tây cách trở bao sông núi

    Cảm tạ tình sâu tạm họa vần

Từ Ngọc

Giáo sư Nguyễn Lân

HỌA BÀI MỪNG TUỔI THẤT THẬP CỦA L.T.

Mừng bà tuổi đã “cổ lai hy”

Tám chín mười mươi sẽ có khi!

Một tấm tình quê còn thắm thiết,

Muôn trùng non nước có hề chi

Núi sông cảnh cũ mong chờ dịp

Bè bạn trường xưa ngóng hẹn kỳ.

Nhân đọc bài thơ mừng “Thất thập”

Cũng xin họa lại thể “Đường thi”

                 Từ Ngọc

                                         Nguyễn Lân

 

“Huyền thoại một gia đình” – Về gia đình giáo sư nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:55 sáng

 Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 10 năm 2014.

 “HUYỀN THOẠI MỘT GIA ĐÌNH”

VỀ GIA ĐÌNH GIÁO SƯ NHÀ GIÁO NHÂN DÂN NGUYỄN LÂN

Hoàng Lan Anh

(Bài đăng trên www.nld.com.vn ngày 4/2/2011)

Hiếm gia đình nào có đến 8 người con đều là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ như gia đình cố giáo sư – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân. Người đi trước dìu dắt người đi sau, họ đã xây đắp nên hình mẫu một đại gia đình hiếu học, tài hoa, chuẩn mực

Dù theo đuổi những chuyên ngành khác nhau nhưng cả 8 người con – 7 trai 1 gái – của cố giáo sư Nguyễn Lân đều chọn nghề làm thầy cao quý, đó là thầy giáo và thầy thuốc.

Công cha

Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Cường tâm sự: “Ba tôi đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và ông rất tự hào về điều đó”. Niềm tự hào ấy đã được người thầy lớn truyền lại cho các con từ những ngày ông đạp xe rong ruổi khắp các tNguyen Lan va Voỉnh trên Việt Bắc chỉ đạo việc phát triển giáo dục trung – tiểu học.

Giáo sư – tiến sĩ – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng nhớ lại: “Hồi đó, ba tôi làm giám đốc giáo dục Liên khu X (gồm 6 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên – nay là Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lào Cai và Hà Giang), sau đó là Liên khu Việt Bắc. Lương hằng tháng của cụ chỉ vài chục cân gạo, quá nửa số đó phải để lại nhà cho vợ nuôi đàn con, phần còn lại mang đi công tác”.

Vất vả vượt qua muôn vàn khó khăn trong khói lửa chiến tranh, ông Nguyễn Lân không chỉ dốc hết tâm lực xây dựng ngành giáo dục nước nhà mà còn để lại cho đời sau nhiều giáo trình, bộ từ điển quý như Ngữ pháp Việt Nam, từ điển Muốn đúng chính tả

Nghị lực và lửa yêu nghề của giáo sư Nguyễn Lân đã truyền lại cho 8 người con, tất cả đều hiếu học. “Trong thời kỳ khó khăn, mỗi tối, anh em chúng tôi phải ngồi học với cây đèn dầu tự tạo bằng hộp kem đánh răng GIBB đã dùng hết. Gian khổ lắm nhưng ai nấy đều tự giác, hăng hái học tập” – giáo sư Nguyễn Lân Dũng nhớ lại.

Có người bảo các con, cháu cụ Nguyễn Lân thông minh, thành đạt là nhờ di truyền nhưng giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho rằng có được điều đó là nhờ sự phấn đấu không ngừng của các thành viên trong gia đình. Ông tâm sự: “Tôi vẫn nhớ như in lời ba tôi dạy, rằng mình là gia đình cán bộ, không có tiền nên các con cố mà học. Ba mẹ chỉ cho các con tri thức, các con cố học mà thành tài”.

 Ơn mẹ

Ít người biết giáo sư Nguyễn Lân (sinh ngày 14-6-1906 ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) vốn là một cậu bé nhà nghèo, được người anh họ nuôi ăn học, song lại có một người vợ hiền, đẹp, là con gái nhà đại điền chủ Nguyễn Hữu Tiệp.

Nét duyên dáng, kiêu sa của bà Nguyễn Thị Tề đã khiến cho thầy giáo trẻ “liều mình” đến tận nhà đại điền chủ xin cưới con gái của ông. Và rồi tư chất thông minh, tử tế của Nguyễn Lân đã chinh phục được đại điền chủ giàu nhất, nhì Hà Nội.

 Phó giáo sư Nguyễn Lân Cường kể lại: “Tôi rất phục mợ (mẹ) tôi. Lấy ba tôi vất vả nhưng một người lá ngọc cành vàng như mợ tôi lại chẳng bao giờ than thở một câu. Hồi hai người mới lấy nhau, mợ tôi chả biết nấu nướng, mọi thứ ba tôi đều phải dạy. Thế nhưng khi ba tôi đi vào Liên khu X, mọi khó khăn, vất vả mợ tôi đều làm lấy, một tay nuôi dạy đàn con thơ.

Hồi kháng chiến, trên đầu là máy bay, dưới là cảnh chạy tản cư, mợ tôi một tay dắt tôi, tay kia dắt em Hùng, còn chị Chỉnh thì gánh em Tráng, cứ thế mà chạy…”. Cac con cua Nguyen LanĐể có tiền nuôi đàn con ăn học, bà Tề đã phải đi mua quần áo cũ của người tản cư mang lên miền ngược bán. Ngày hòa bình lập lại, bà làm đại lý bán đường cho mậu dịch để kiếm từng đồng. “Nhà tôi nghèo, chật, sống ở tập thể chỉ có mười mấy mét vuông thôi nhưng lúc nào cũng vui vẻ, đầm ấm.

Ba mợ tôi thực sự là một tấm gương về nếp sống giản dị, tiết kiệm, không màng công danh phú quý, luôn khoan dung đối với những người xung quanh” – phó giáo sư Nguyễn Lân Cường kể.

Với con cái, giáo sư Nguyễn Lân và bà Nguyễn Thị Tề là những nhà tâm lý tuyệt vời. Hiếm khi ông bà nặng lời với các con, chỉ một lần giáo sư Nguyễn Lân đánh con là khi người con cả Nguyễn Lân Tuất nghịch ngợm cắt cụt tóc của chị giúp việc. Sau này, khi các con đã có gia đình riêng, ông khuyên giải “không nên đánh con, vì đánh hay mạt sát bọn trẻ đều thể hiện sự bất lực của mình. Phải khuyên giải cho chúng thấy được điều hay lẽ phải”.

 Rạng danh

Nhờ đức độ của ông Nguyễn Lân – bà Nguyễn Thị Tề mà đại gia đình lớn của ông bà (với gần 60 người) luôn giữ được nền nếp gia phong, trên kính dưới nhường, anh em yêu quý nhau.

Không chỉ 8 người con ruột mới là những giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ mà nhiều con rể, con dâu cũng là những trí thức có uy tín. Vợ của giáo sư – tiến sĩ – nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất là phó giáo sư – nghệ sĩ công huân Liên bang Nga Svetlana Kurbetova; chồng của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (đã mất vào năm 1992 vì tai nạn giao thông) là giáo sư Bùi Thế Kỳ, sinh thời là chuyên gia đầu ngành về tim mạch ở Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô.

Vợ của giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng là đại tá – phó giáo sư – tiến sĩ – thầy thuốc nhân dân Nguyễn Kim Nữ Hiếu, nguyên phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (bà Hiếu là con của cố giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946 đến năm 1975). Các con dâu nhà Nguyễn Lân phần lớn là giáo viên, bác sĩ…

Truyền thống hiếu học của gia đình còn lan tỏa sang thế hệ thứ ba. Đại tá Bùi Ngọc Quang, người con cả của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh, hiện là Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin – Bộ Quốc phòng; tiến sĩ Nguyễn Lân Hiếu, con trai của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, nay là chuyên gia tim mạch có tên tuổi, giữ chức Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Em gái tiến sĩ Hiếu, chị Nguyễn Kim Nữ Thảo, hiện đang làm luận án tiến sĩ ở Mỹ. Tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng Sơn (con trai của giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng) là một nhà điểu học có triển vọng, đồng thời là Phó Chủ nhiệm Khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngoài ra, còn có tiến sĩ Nguyễn Ngọc Lưu Ly (con gái của phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Trung), tiến sĩ Bùi Ngọc Minh (con trai của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh)…

Tám anh em khoa bảng

. Giáo sư – tiến sĩ khoa học – nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất (người con cả của giáo sư Nguyễn Lân): Người Việt Nam đầu tiên được cựu tổng thống Nga Vladimir Putin phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga năm 2001, hiện đang giảng dạy tại Nhạc viện Novosibirsk, Nga (ông mất năm 2014-PT chú).

 . Bà Tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (người con thứ hai): Nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 . Giáo sư – tiến sĩ – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng (người con thứ ba): Một trong những nhà khoa học đầu ngành vi sinh vật học, chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học; đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII.

 . Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Cường (người con thứ tư): Nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia đầu đàn của bộ môn cổ nhân học; Phó Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, giảng viên Khoa Lịch sử – Đại học Quốc gia Hà Nội.

 . Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng (người con thứ năm): Tổng Thư ký Hội Các ngành sinh học Việt Nam, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 . Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Tráng (người con thứ sáu): Giảng viên Bộ môn Hệ thống điện – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

 . Giáo sư – tiến sĩ – thầy thuốc nhân dân Nguyễn Lân Việt (người con thứ bảy): Viện trưởng Viện Tim mạch, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, nguyên hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội.

 . Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Trung (người con út): Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.

Dai gia dinh Nguyen Lan

H.L.A.

Tháng Chín 12, 2014

Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong (Tg: Dương Quảng Hàm)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 9 năm 2014.

 

ÔNG PHẠM QUỲNH VÀ PHÁI NAM PHONG

Dương Quảng Hàm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Từ điển Văn học – Bộ mới  (NXB Thế Giới, Hà Nội 2004) Trần Hữu Tá viết: “ Dương  Quảng Hàm (14.VII.1898-?.XII.1946). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam. Hiệu là Hải Lượng, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Xuất thân trong một gia đình Nho học. Thuở nhỏ học chữ Nho, sau ra Hà Nội học quốc ngữ; tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương, 1920; giảng dạy ở Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi) 1920-46.

(…) Ông là tác giả của một công trình đáng chú ý: Việt Nam văn học sử yếu (1944). Sách được in và chỉnh lý nhiều lần. Không kể phần mở đầu và tổng kết, Việt Nam văn học sử yếu gồm 46 chương, trong đó có nhiều phần quan trọng: Văn chương bình dân; Ảnh hưởng của nước Tàu; Các chế độ về việc học việc thi; Các thể văn; Ảnh hưởng của nước Pháp; Vấn đề ngôn ngữ văn tự…

(…) Ông dành đến bảy chương để nói tới nền văn học dân tộc đầu thế kỷ XX – giai đoạn hình thành một nền quốc văn mới. Ông giới thiệu nền văn xuôi mới, các thi sĩ hiện đại, các văn gia hiện đại…

(…) Có thể coi đây là cuốn lịch sử văn học Việt Nam phổ thông đầu tiên được biên soạn bằng chữ quốc ngữ. Phương pháp nghiên cứu tuy chưa thật khoa học nhưng vấn đề được đặt ra và giải quyết rành mạch, thỏa đáng. Tư liệu tập hợp khá phong phú và chính xác. Công trình này đã góp phần tích cực vào việc phát hiện và bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc.

Dương Quảng Hàm mất tại Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.”

Báo Sài Gòn Giải Phóng (ngày 7/7/2000) đăng bài Liệt sĩ Dương Quảng Hàm của Đỗ Đậu viết: “Là người thầy mẫu mực, nhà nghiên cứu uyên bác, ông là người đi tiên phong trong lĩnh vực khám phá, xây dựng bộ môn văn học sử Việt Nam. Các tác phẩm Quốc văn trích diễm, Việt văn giáo khoa thư và đặc biệt là công trình Việt Nam văn học sử yếu (hai tập) được tái bản đến 14 lần đã khẳng định tài năng cũng như sự uyên thâm của ông. 50 năm sau, sự “mất tích” của giáo sư mới chính thức được xác minh là hy sinh. Và ngày 5/7/2000, lễ truy điệu và trao bằng Tổ quốc ghi công cho Liệt sĩ Dương Quảng Hàm đã được tổ chức long trọng tại Câu lạc bộ văn hóa phường Hàng Bông (Hà Nội) nơi ông từng sinh sống trước đây.”

Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong là phần chúng tôi trích từ sách Việt Nam văn học sử yếu của ông do Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp xuất bản năm 1993, phần II, chương thứ tư, từ trang 430 đến trang 433.

Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong

Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời kỳ, đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông. Vậy ta cần nói đến tạp chí ấy trước.

Tạp chí Nam PhongNam Phong tạp chí xuất bản tự tháng Juillet (bảy – PT chú) năm 1917, đến tháng Décembre (12 –PT chú) năm 1934 thì đình bản, tất cả được 17 năm và 210 số. Kể trong các tạp chí đã ra đời ở nước ta, tạp chí ấy là tờ xuất bản liên tiếp và lâu hơn cả.

A)    Tình hình quốc văn hồi tạp chí Nam Phong ra đời – Muốn nhận rõ ảnh hưởng của tạp chí Nam Phong, cần phải nhắc qua lại tình hình quốc văn ở nước ta hồi tạp chí ấy ra đời. Lúc ấy, trừ các bản dịch tiểu thuyết Tàu ra tiếng ta, chưa hề có sách quốc văn xuất hiện. Trong nước, chỉ có vài tờ báo chí (Lục tỉnh tân văn ở Nam kỳ), Trung Bắc tân vănĐông Dương tạp chí ở Bắc kỳ) và thiếu hẳn một cơ quan khảo cứu về học thuật tư tưởng để cho người trong nước có thể chỉ xem quốc văn mà mở mang tri thức được.

B)    Mục đích của tạp chí Nam Phong – Tạp chí ấy có hai mục đích chính sau này:

  1. Đem tư tưởng học thuật Âu – Á diễn ra tiếng ta cho những người không biết chữ Pháp hoặc chữ Hán có thể xem mà lĩnh hội được.
  2. Luyện tập quốc văn cho nền văn ấy, có thể thành lập được.

C)    Sự thực hành của bản chương trình ấy – Muốn thực hành bản chương trình ấy, các nhà biên tập tạp chí Nam Phong làm các việc sau này:

  1. Viết các bài khảo cứu về triết học, khoa học, văn chương, lịch sử của Á Đông và của Âu Tây.
  2. Dịch các tác phẩm về triết học, văn học nguyên viết bằng chữ nho hoặc chữ Pháp.
  3. Sưu tập các thơ văn cổ của nước ta (cả chữ nho và tiếng nôm).
  4. In các sách cũ của nước ta (như bộ Lịch triều hiến chương loại chí).

D)    Ảnh hưởng của tạp chí Nam Phong – Tạp chí Nam Phong đã có ảnh hưởng về hai phương diện:

  1. Về đường văn tự, tạp chí ấy đã:

a)      sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ triết học, khoa học mới mượn từ chữ nho;

b)      luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới

  1. Về đường học vấn, tạp chí ấy đã:

a)         phổ thông những điều yếu lược của học thuật Âu Tây.

b)         diễn đạt những điều đại cương trong các học thuyết cũ của Á Đông (Nho học, Phật học, v.v) và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn hóa cũ của nước ta (văn chương, phong tục, lễ nghi).

Tác phẩm của ông Phạm Quỳnh – Ông Phạm Quỳnh vừa làm chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Nam Phong. Tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại.

A)    Loại dịch thuật – Ông có dịch các đoạn văn hoặc các tác phẩm của Âu Tây, có phần thiên về triết học (Phương pháp luận, Discours de la méthode của Descartes, Nam Phong, số 3 trở đi), luân lý (Sách cách ngôn, Manuel của Epictète, Âu Tây tư tưởng, 1929, Đời đạo lý, La vie sage của Paul Carton, Nam Phong, 1929-1932) hơn là tiểu thuyết và kịch bản (Tuồng Lôi xích, Le Cid của Corneille, Nam Phong, số 38-39; Tuồng Hòa Lạc, Horace, của Corneille, Nam Phong, số 73-75)

B)    Loại trứ tác – Trừ các bài luận thuyết, ký sự, đoản thiên đăng trên tạp chí ông có viết mấy tác phẩm ghi chép những điều quan sát, nghị luận trong các cuộc du lịch của ông: Mười ngày ở Huế (Nam Phong, số 10), Một tháng ở Nam Kỳ (Nam Phong, số 17, 19, 20), Pháp du hành trình nhật ký (Nam Phong, 1922-1925).

C)    Loại khảo cứu – Loại này là phần quan trọng nhất trong văn nghiệp của ông. Ông nghiên cứu ở các sách, rồi viết ra những bài chuyên khảo về học thuật Âu Tây như Văn minh luận (Nam Phong, số 42), Khảo về các luân lý học thuyết của Thái Tây (Nam Phong, số 92 trở đi), Khảo về chính trị nước Pháp (Nam Phong, số 31 trở đi), Thế giới tiến bộ sử (Nam Phong, số 51 trở đi), Lịch sử và học thuyết của Rousseau (Nam Phong, số 104), của Montesquieu (Nam Phong, số 108) của Voltaire (Nam Phong, số 114-115); hoặc về học thuật Á Đông như Phật giáo lược khảo (Nam Phong, số 40), Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng (Nam Phong tùng thư, 1928), hoặc về văn học nước ta như Tục ngữ ca dao (Nam Phong, số 46), Văn chương trong lối hát ả đào (Nam Phong, số 69), Hán Việt văn tự (Nam Phong, số 107 trở đi), Việt Nam thi ca (Nam Phong, số 64)

Phần nhiều những tác phẩm kể trên, sau khi đăng trên tạp chí, đều in lại trong bộ Nam Phong tùng thư (Đông Kinh ấn quán Hà nội xuất bản)

Kết luận: – Ông Vĩnh có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu Tây và phát triển những cái hay trong tiếng Nam ra; ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới. Đối với nền văn hóa cũ của nước ta, thì ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục tín ngưỡng của dân chúng, mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ văn chương của tiền nhân.

Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả. Tuy văn nghiệp của mỗi người có tính cách riêng, nhưng hai ông đều có công với việc thành lập quốc văn vậy.

D.Q.H.

*

*    *

Một số bài Dương Quảng Hàm trích văn Phạm Quỳnh vào sách giáo khoa Việt Nam thi văn hợp tuyển

(NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 1993)

  1. 1.      Cách lễ phép của người mình

Người ta ở trong xã hội, trong khi giao tế với nhau, cần phải có lễ phép, dẫu đối với người cao hơn mình, người ngang bằng mình hay người thấp kém mình cũng vậy, kẻ khôn khéo thời tùy nghi mà gia giảm, nhưng bao giờ cũng phải có lễ nhượng mới là người có giáo dục. Nhưng giữ lễ phép không phải là làm đê hạ mình đi mới là tôn trọng kẻ khác, không phải là tự nằm rạp xuống đất hay uốn gẫy mình làm đôi, mới rõ là mình kính trọng người ta. Cách lễ phép như vậy thời một là giả dối, hai là đê hèn, đều đáng khinh bỉ cả, tưởng người được hưởng sự lễ phép ấy nếu biết cũng nên khinh trước mới là phải. Xét trong cách lễ phép của người mình phần nhiều như thế cả. Đối với người dưới thời đã tuyệt nhiên không có chút lễ phép gì, thường lấy sự thô bỉ tàn nhẫn mà đãi kẻ kém mình, đối với người trên thật đê tiện quá chừng. Rụt rè, khúm núm, gãi đầu gãi tai, bẩm bẩm thưa thưa, vâng vâng dạ dạ, coi lời ăn tiếng nói, dáng đứng cách ngồi, tưởng phàm người biết trọng cái phẩm giá con người không ai tự hạ đến thế. Mà thật những người ấy không biết lòng danh dự là cái gì. Lòng danh dự là biết tự trọng mình, trọng cái nhân cách của mình, người ta là người, mình cũng là người, không có lẽ một người đối với một người mà phải tự coi mình như con giun, con dế, dẫu người kia có oai quyền thế lực đến thế nào nữa mặc lòng. Vả lại muốn biểu dương cái lòng tôn trọng với người hơn mình, không phải là tự hạ mình đi mới là kính trọng người; tự hạ mình đi là làm hạ giá cả cái lòng kính trọng của mình, không những thế, tức là khi ( như khinh – PT chú) người ta nữa, vì tự hồ như cho người ta là hẹp lượng lấy những cách khúm núm quỵ lụy của mình làm chân thành vậy

Danh dự luận

(Nam Phong tạp chí, số 25, tháng 7-1919)

  1. 2.      Triết lý của đạo Phật

Trung tâm đạo Phật là thuyết về luân hồi, nghĩa là vạn vật đã vào trong vòng sinh tử thì cứ sống đi chết lại mãi mãi, không bao giờ cùng cũng như cái bánh xe đã quay thời càng quay càng tít, không bao giờ dừng. Theo thuyết ấy thời đã sinh ra tất phải chết đi, đã chết đi tất phải sinh lại, sinh tử, tử sinh, vô cùng vô hạn, hết đời nọ đến đời kia, hết kiếp này đến đời khác, chữ phạn gọi là sâmsára, chữ Tàu dịch là luân hồi. Nhưng những đời đời kiếp kiếp, tử tử sinh sinh ấy là làm nhân quả lẫn cho nhau, không phải là vô bằng, vô cứ; các việc xảy ra ở đời này là sự thưởng hay sự phạt những việc đã xảy ra trong kiếp trước, và là nguyên nhân mầm mống những việc sẽ xảy ra về kiếp sau. Đạo Phật gọi phép báo ứng ấy là nghiệp báo (karma). Nghĩa chữ nghiệp báo là vừa chỉ các việc làm, vừa chỉ cái kết quả việc ấy sau này. Nay đệ nhất đề gọi “khổ đề” là thế nào? – Chính là phép khốc hại nó bắt chúng sinh cứ phải chết đi sống lại mãi, cứ phải qua hết đời nọ sang kiếp kia mà chịu những sự khổ não vô cùng, chính là phép luân hồi vậy. Thành ra khổ (dukha) là một chữ đồng nghĩa với chữ nghiệp (karma) và khổ với nghiệp cũng lại là đồng nghĩa với luân hồi, vì có nghiệp báo nên phải luân hồi, vì có luân hồi nên phải khổ não, ba chữ bổ nghĩa lẫn nhau, giải thích cho nhau, và là ba cái động lực rất mạnh gây ra cái thế gian “hữu tình”, cái cõi đời khốn nạn này…

Cơ mầu đã như thế, thời người trí giả phải mưu tính thế nào? Chắc là phải tìm cách ngăn ngừa sự luân hồi, trở át cái phép khốc hại ấy cho không thi hành được nữa. Nếu có thể tiêu diệt được nghiệp báo thời tiện thị là ngăn cấm được luân hồi, thoát khỏi được vòng sinh tử, cùng tránh được hết những sự khổ não nó đi kèm với cái sống cái chết, và trong một khoảng từ khi sinh ra đến khi chết đi, tiếp tục nhau mà bày ra cái cuộc đời rất sầu thảm này. Đã ngăn cấm được sự luân hồi thời không có sống, không có chết nữa. Không sống, không chết, đạo Phật gọi cảnh ấy là nát bàn (nirvâna), nghĩa là chốn an ổn vô cùng, tịch mịch vô cùng. Nhờ vậy thời đệ tam đề gọi là diệt đề (nirodha) tức là nát bàn; diệt với nát bàn, hai chữ đồng nghĩa, vì nát bàn là cái kết quả trực tiếp của sự liệt diệt: diệt được khổ não, tiện thị là nhập nát bàn vậy.

Phật giáo lược khảo

(Nam Phong tạp chí, số 40, tháng 10-1929)

3.      Đạo hiếu và đạo trung trong luân lý của Khổng giáo

Có thể nói cả cái đời luân lý của dân tộc Việt Nam là hun đúc bằng đạo Khổng, nói thế không phải là nói quá vậy. Những lời huấn dụ, những lời cách ngôn của ông Đại Hiền Triết vừa là Socrate vừa là Lycurgue của xã hội giống da vàng, trong hai ngàn năm đã tiêm nhiễm tâm hồn người Việt Nam và đã sáp nhập vào cái kho trí thức của dân chúng xứ này.

Nay luân lý đạo Khổng không phải là một lý thuyết bằng không mà kết cấu ra, chính là nguồn gốc của sự thực hiển nhiên của lẽ thường người ta, căn cứ ở đạo hiếu và đạo trung, hiếu với trung là gốc của gia đình, của tổ quốc, và gia đình với tổ quốc là hai cái hiện tượng hiển nhiên, ai ai cũng phải công nhận vậy.

Người ta là một giống ở xã hội, Aristote thì nói là một động vật sinh trưởng ở xã hội. Cái thiên tính của người là phải ăn ở trong xã hội những kẻ đồng loại với mình. Cái xã hội thứ nhất sau khi lọt lòng mẹ ra là gia đình, căn cứ ở máu mủ. Xã hội này lại thuộc một xã hội lớn hơn căn cứ ở đất nước, gọi là tổ quốc. Cả “nhân luân” là ở giữa hai cái đầu mối đó: gia đình, tổ quốc. Tưởng rằng cá nhân có một địa vị là tưởng lầm: cá nhân không có gì cả; cá nhân chỉ có địa vị là ở trong phạm vi gia đình, ở trong phạm vi tổ quốc mà thôi.

Phàm xã hội phải có trật tự. Không có gì gọi là bình đẳng cả. Auguste Comte đã nói: “Chính tạo vật đã tổ chức loài người theo lẽ tôn ti sai biệt”. Vậy thời gia đình với quốc gia phải có chủ: gia trưởng là cha, quốc trưởng là vua. Hai bậc đó bản thể không có gì sai biệt, chỉ có sai biệt ở trật tự mà thôi. Bổn phận của mỗi người đối với cha là hiếu, bổn phận của mỗi người đối với vua là trung. Đó là hai mối tình cảm thâm trầm mà sự giáo dục phải khai phát ra trong lòng người, vì đó chính là nền tảng của gia đình, tổ quốc vậy. Không có hiếu thì không có gia đình được, không có trung thì không có tổ quốc được, vì gia đình với tổ quốc không phải hai cái danh từ trừu tượng để nêu lên làm khẩu hiệu mà thôi, chính là hai hiện tượng có sinh hoạt mà nguồn gốc là tự trong thâm tâm người ta vậy.

Cổ nhân ta đã có câu rằng: xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân, nghĩa là ở trong lòng mẹ ra đã có nghĩa vua tôi với cha con rồi.

Nghĩa đó là nghĩa tùy thuộc, nghĩa phục tòng cái trật tự thiên nhiên nó chi phối sự sinh hoạt của đoàn thể. Con người ta mới sinh ra đời bé nhỏ yếu ớt đã có ngay một hoàn cảnh, một cái phạm vi sẵn sàng để đón lấy, che chở cho, bênh vực cho. Lý tự nhiên là đem mình sáp nhập vào phạm vi đó, tùy thuộc vào cuộc sinh hoạt chung của đoàn thể. Không những nghĩa phải như thế, lợi cũng khiến nên như thế. Vì cuộc sinh hoạt chung đó vẫn đã có trước mình từ bao giờ, và sẽ còn có sau mình biết bao lâu nữa. Mình có nương tựa vào đó, có sáp nhập vào đó, thì mới có cơ sinh hoạt tồn tại được, chứ không phải tự phụ đem cái cá tính đơn độc của mình mà ngang nhiên phản đối lại được, cá tính nọ cũng như cá nhân kia là hão huyền không có cả.

Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước

Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam

(Nhà in Đắc Lập, Huế)

4.      Nền luân lý cổ của dân tộc Việt Nam

Thờ gia đình, mến tổ quốc, phụng tổ tiên, tôn cổ điển những tình cảm đó nhờ giáo dục vun trồng, thói quen bồi đắp, văn chương cùng phong tục cổ lệ tán dương, dần dần tạo thành cho người nước Nam một cái thần trí vững vàng ngay thẳng, một cái tâm địa chắc chắn điều hòa, một cái hồn tính thiết thực và kiện toàn, có lẽ không được bay bổng cao xa lắm, nhưng gặp khi quan hệ đến vận mệnh gia đình tổ quốc thì cũng có thể tận tụy hy sinh được. Lòng hiếu thảo trong đạo cha con, lòng tiết nghĩa trong đạo vợ chồng, lòng trung thành với nhà vua là trạng thái đặc biệt của lòng ái quốc người Việt Nam, cổ lai vẫn gây nên những bực anh hùng liệt nữ, hoặc hiển hách, hoặc vô danh, hoặc tên đề chói lọi trong sử sách, hoặc việc chép lưu truyền trong gia phả, hay chỉ còn để lại cái bài vị trong một gian miếu nhỏ nấp dưới bóng tre xanh. Lòng vị nghĩa đó có khi siêu việt đến bậc tuẫn tử một cách oanh liệt.

Nhưng đó là những bậc anh hùng có đóng vai quan trọng trong lịch sử. Ngoài những bậc đó, còn biết bao nhiêu những người nữa, và trong những người đó thiếu chi người đàn bà, âm thầm lẳng lặng mà can đảm quyên sinh để giữ tròn danh tiết. Cho nên có câu thơ:

Khảng khái cần vương dị,

Thung dung tựu nghĩa nan.

Như vậy thời cái luân lý cổ thoát thai ở đạo Khổng mà ra đó một phần căn cứ ở thiên nhiên – là máu mủ và  đất nước – một phần căn cứ ở lịch sử, – là sự kinh lịch của đời trước – rất là hợp lý lắm, không có mâu thuẫn chút nào với đời nay, và rất có thể khôi phục lại để làm cơ sở cho sự sinh hoạt về đạo đức của dân tộc Việt Nam này. Luân lý ấy không phải là một thuyết trừu tượng ở trong sách cổ đâu; những điều giảng dạy của luân lý ấy đã tiêm nhiễm sâu xa cả thượng lưu cùng quần chúng trong nước vậy. Những danh từ dùng để chỉ các quan niệm cốt yếu của luân lý đó, như: tam cương, ngũ thường, quân tử, tiểu nhân, tam tòng, tứ đức, v.v… đã thâu nhập vào tiếng nói của bình dân từ bao giờ đến giờ ai ai cũng hiểu rõ và ai ai cũng thường dùng vậy.

Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước

Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam.

(Nhà in Đắc Lập, Huế)

Tháng Chín 5, 2014

Phạm Quỳnh năm 1945

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 3:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 9 năm 2014.

PHẠM QUỲNH NĂM 1945

Phạm Tôn

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

            “Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

            “Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

            “Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

            “Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

            “Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

            “Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”[1]

            Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.

            Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”[2] Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”[3] Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

            Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

(…)

            Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongRồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[4] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[5] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường.

Nhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945. Đúng lúc đang diễn ra cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Huế do Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên Ho Chi Minh_1945– Huế tổ chức. Từ sáng sớm, ông đã bảo các con trai lớn (trong đó có Phạm Khuê, Phạm Tuyên) và những người làm trẻ đến tham gia, còn dặn họ “nhớ mang theo cờ đỏ sao vàng”.

Sáng 30/8/1945, Hoàng Hữu Nam thưa với bác: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt”. Bác nói: “Bất tất nhiên.” (Tức: không nhất định phải như thế, có thể có cách khác). Đầu tháng 9/1945, sau khi biết tin Phạm Quỳnh bị sát hại tại Huế, bác lại nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì” và “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Năm 1946, trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau (Pháp), Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn ta, trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng. Bác nói với ông này trước mặt Vũ Đình Huỳnh và Đỗ Đình Thiện là: “Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”; ông Phạm Văn Đồng nói: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà…”

Suốt cuộc đời mình, năm mươi ba tuổi ta, Phạm Quỳnh đã sống như một người Hà Nội chân chính, hậu duệ của những sĩ phu Bắc Hà xưa, lớp người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Tạm dịch là: Giàu sang không thể làm rối lòng, nghèo khó không thể biến đổi tiết tháo, uy vũ không thể khuất phục)”.

P.T.

[1] Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

[2] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

[3] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

[4] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[5] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 9 năm 2014.

TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

KỶ NIỆM 69 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

- Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

- Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

- Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

- “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…Người dặn: “Cụ Phạm là con người của lịch sử. Lịch sử sẽ đánh giá lại sau này. Các con cháu Cụ cứ vững tâm đi theo Cách mạng”. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)[i] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[ii] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.


[i] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[ii] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.


Tháng Tám 29, 2014

Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc ở nước ta

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 9 năm 2014.

BẢO TỒN VA PHÁT HUY

VĂN HÓA DÂN TỘC Ở NƯỚC TA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân dịp nhắc nhớ tấm lòng của Thượng Chi – Phạm Quỳnh với văn hóa dân tộc, người hằng mong mỏi bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc của Blog PhamTon nhất là những bạn ở nước ngoài mà lòng luôn nhớ thương nước nhà, quê cũ một chùm bài, tin về hiện trạng văn hóa dân tộc ở trong nước qua một số vùng miền

—o0o—

CD QUAN HỌ CỔ -NGHÌN NGÀY CHỜ ĐỢI

Nguyễn Quang Hưng

(Bài đăng trên trang 12, báo Thời Nay số 419 ngày 20/1/2014 )

Mơ ước suốt nhiều năm được gửi vào một ngày ấn phẩm cổ nhạc nên vóc nên hình. Vì thế, dù tuổi người hát có ở cái ngả xế bóng chiều hôm thì ý nghĩa của sự chờ đợi vẫn nguyên vẻ thanh xuân.

Hơn bốn năm trước, gặp lại và mời các nghệ sĩ Tự Lẫm, Minh Phức, Lệ Ngải tham gia một chương trình sân khấu hóa tại Huế, tôi nghe liền anh, liền chị kỳ cựu, vang bóng một thời, nói về ước mơ giản dCD quan ho coị: Có được một ấn phẩm thể hiện các bài quan họ cổ. Để kỷ niệm cuộc đời hát, chơi quan họ từ thuở đầu xanh, đến nay đã cháu bồng cháu bế. Để có một món quà nhỏ giới thiệu với … “chúng bạn”.

“Chúng bạn” ấy là ai? Là bạn bè nghiên cứu, là bằng hữu yêu và chơi cổ nhạc, là các lứa đồng nghiệp, trong đó nhiều nghệ sĩ trung niên và trẻ tuổi, thuộc thế hệ học trò hay hậu bối, cứ theo nhau ra đĩa quan họ “tơi tới”. Rõ là những năm qua, đĩa đơn, đĩa đôi, đĩa tập thể chủ yếu là quan họ cổ có nhạc, rồi một hai đĩa không nhạc cứ tiếp nối nhau ra “lò”, được mua, được nghe rộng rãi. Thấy lớp người sau có nhiều sản phẩm, liền anh liền chị thuộc thế hệ đầu, học tập, biểu diễn quên mình để phát triển đoàn quan họ, nhưng rồi gặp nhiều nỗi thiệt thòi, hẳn cũng nghĩ ngợi. Cũng có khi chạnh lòng!

Vợ chồng nghệ sĩ Tự Lẫm, Minh Phức và nghệ sĩ Lệ Ngải, rời Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh đầu những năm 90 của thế kỷ trước trong khó khăn, thiếu thốn, bám vào công việc cần lao để sống, bám vào tiếng hát quan họ, vào cần nhị, vào dây đàn nguyệt, vào tiếng sênh, tiếng mõ… để nuôi con cái. Ngẫm lại không phải để kể khổ, mà sẽ càng thấy kiêu hãnh vì đi qua nhọc nhằn mà vẫn giữ được tình yêu, thú chơi quan họ, giữ được câu hát nền nã, chân thành và tâm mình sáng sủa, giữ được, nhớ được, hát được hàng trăm bài bản cổ học nghệ nhân các làng quan họ gốc từ năm 1969 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Hình như có những chi tiết độc đáo của quan họ, từ các nghệ nhân đã khuất bóng ấy, mà chỉ có lứa diễn viên trẻ xuống tận nơi học truyền miệng thuở nào là lưu giữ được? Hình như có cả chút ngậm ngùi khi cảm thấy nhiều năm bị… ghẻ lạnh, trong khi đời sống quan họ chung có những chuyện chưa hay, có những cái cần điều chỉnh!

Cho nên giấc mơ về một ấn phẩm quan họ cổ, nhỏ thôi, với số lượng bài khiêm tốn thôi, đã trở nên một thôi thúc. Anh Ba bé Đình Vũ, người làng quan họ gốc Đào Xá, học trò của cặp nghệ sĩ hát rất ăn ý suốt nhiều năm Minh Phức – Lệ Ngải, hiểu được điều ấy và năng nổ nhập cuộc. Việc ghi âm được thực hiện tại phòng thu NXB Âm Nhạc cuối hè 2012. Từ những giúp đỡ nho nhỏ, chút kinh phí, những bức ảnh chụp, thiết kế bìa…, cho đến hôm nay, CD 10 bài quan họ cổ mang tên La rằng đã hoàn thành. Nhóm nghệ sĩ, thầy trò chia thành cặp liền anh Tự Lẫm – Đình Vũ và cặp liền chị Minh Phức – Lệ Ngải, thể hiện các bài ca: Tứ hải giao tình, Duyên phận phải chiều, Phùng quan xuân hội, Chim kêu gióng giả, Thơ thẩn tìm ai, Bóng quế giãi thềm, Xuông hời, Lênh đênh duyên nổi phận bèo, Hương gối đầu ghềnh, Lấy gì làm thú giải phiền. Ấn phẩm thành hình sau hơn một năm từ khi thu âm, nhưng là sau nhiều năm mong mỏi, kịp xong trước thềm xuân hội 2014. Nhiều bằng hữu thân thiết sẽ có đĩa của Tự Lẫm, Minh Phức, Lệ Ngải, Đình Vũ để nghe cùng không khí những ngày Tết Giáp Ngọ tới đây. Gợi ý chọn cái tên La Rằng cho ấn phẩm, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long – Phó Trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Âm Nhạc nói: Không hoàn thành CD trước mùa lễ hội này thì có lỗi với “các cụ”! Đạo diễn âm thanh Phạm Trường Linh của Nhà xuất bản cho biết, sau khi thu âm, việc hoàn chỉnh các bài hát không thiên về lạm dụng kỹ thuật, không bóng bẩy, “lung linh hóa” như biểu diễn sân khấu, mà cố gắng giữ cho được chất mộc mạc, khỏe khoắn trong giọng hát nghệ sĩ và đời sống dân gian. Anh Ba bé Đình Vũ phấn chấn: Em thì không dám nghĩ mấy đến việc phát hành, mà thấy được đĩa trên kệ gian hàng băng đĩa là sung sướng rồi!

Thật ra, nghệ sĩ Vũ Tụ Lẫm thì vẫn có một chút băng khoăn: Quả tình mình cũng chưa thật ưng lắm với những gì thể hiện. Nhưng với điều kiện sức khỏe và những lần ốm thời gian qua, thì cũng khó lòng để cho toàn vẹn! Tâm sự chân thành của liền anh Tự Lẫm khiến tôi thoáng lo, về sự không ủng hộ của thời gian khi sức và tuổi những người hát, người chơi giàu vốn liếng quan họ và tâm huyết ấy đã bắt đầu giảm độ dồi dào. Tôi hay nghĩ về ước mơ từ lâu của thầy mình – nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ, giá như có được một dự án thu âm thật tốt, thật chuẩn tất cả những gì còn lưu giữ. Rồi chia sẻ của nhạc sĩ Quang Long, sau ấn phẩm này, ta có thể nghĩ đến những gì tiếp theo. Gần đến mùa xuân, báo cho Nghệ sĩ ưu tú – giọng chèo hàng đầu Đoàn Thanh Bình về CD quan họ cổ sắp hiện diện, tôi lại nghe “bà” Bình nói một dự định: Có đoàn nghiên cứu, thu âm bên Pháp, muốn sang tìm hiểu về quan họ, anh Minh (nghệ sĩ Đàm Quang Minh – thành viên, cùng với nghệ sĩ ưu tú Thanh Bình trong nhóm ca trù Kim Đức) định sẽ đưa về Bắc Ninh giới thiệu với các ông bà Tự Lẫm, Minh Phức, Lệ Ngải.

Nếu những mơ ước, những dự định, kế hoạch ấy của nghệ sĩ cùng bạn hữu, của cả những ai quan tâm nữa, nối được với nhau để từng chút một, nên công, nên của, thành tư liệu lưu trữ quý giá thì còn gì hơn!

N.Q.H.

*

*   *

HỒI SINH ĐIỆU HÁT TRÔNG QUÂN KINH BẮC

Thái Sơn, Hồng Thắng

(Bài đăng trên trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 9/8/2014)

—o0o—

Ngoài hai di sản văn hóa phi vật thể là dân ca quan họ và ca trù đã được UNESCO công nhận, Bắc Ninh còn có loại hình nghệ thuật độc đáo là hát trống quân. Người dân nơi đây luôn tự hào vì từ xa xưa làng Bùi Xá Hat trong quan(Thuận Thành) đã được vinh dự lên kinh thành Thăng Long hát cho vua nghe.

Nô nức hội trống quân

Thấy khách đến nhà, cụ Phạm Công Ngát rảo bước nhanh ra cổng đón. Ðã qua cái tuổi “thất thập cổ lai hy” từ lâu, song cụ vẫn còn nhanh nhẹn. Biết chúng tôi đến tìm hiểu về hát trống quân của làng, cụ mỉm cười hiền từ, bồi hồi nhớ lại những đêm hội xa xưa với ấn tượng khó phai. Trong tâm thức của cụ, mỗi độ tháng tám âm lịch về, làng Bùi Xá (người dân thường gọi là làng Bùi) lại tất bật chuẩn bị cho ngày hội trống quân. Trước đó cả tháng, dân làng chọn các nam thanh, nữ tú lập thành hai đội luyện tập để biểu diễn trong đêm chính hội, cũng có khi gái làng Bùi đứng ra lập thành một đội đối đáp với trai làng ngoài. Mỗi canh hát có thể kéo dài vài đêm, với hàng trăm người nô nức đến xem.

Chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào về sự ra đời của điệu hát trống quân làng Bùi. Theo các bậc cao niên, trống quân ra đời vào khoảng thế kỷ 18, tồn tại chủ yếu qua hình thức truyền miệng. Ðến những năm 50 của thế kỷ trước và trong những năm tháng chống chiến tranh phá hoại miền bắc của đế quốc Mỹ, loại hình nghệ thuật này tưởng như đã bị mai một. Cụ Ngát hào hứng: Bom đạn chiến tranh làm gián đoạn những khúc nhạc trống quân nhưng không thể hủy diệt được sự trường tồn của nó. Tiếng trống luôn âm vang trong tâm thức dân làng và chờ cơ hội để tái sinh. Năm 1994, một số người luôn đau đáu với lời ca, tiếng nhạc có từ nghìn xưa đã cùng nhau thành lập Câu lạc bộ (CLB) trống quân của làng.

Ông Lê Bá Bạo, một trong những thành viên sáng lập, đồng thời là Chủ nhiệm CLB lúc bấy giờ, cho biết: “Khi mới hình thành, chỉ có vài người góp mặt nhưng chúng tôi luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm mỗi người trong việc gây dựng và thổi bùng ngọn lửa văn nghệ truyền thống của ông cha để lại”. Theo thời gian, số hội viên tăng dần, quy tụ không chỉ các bậc lão niên, mà cả những người trung niên, trẻ tuổi cũng nhiệt tình tham gia. Trống quân làng Bùi chính thức ghi dấu ấn trở lại vào năm 2003, khi Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thuận Thành lập phường trống quân dự hội diễn văn nghệ của tỉnh. Sự ghi nhận, đánh giá cao tiết mục trống quân làng Bùi của hội đồng chấm thi và người xem đã khích lệ niềm tin đối với các nghệ nhân trong làng, thôi thúc họ mở phường hát để thỏa niềm đam mê và lan tỏa loại hình nghệ thuật đặc sắc này đến người dân các vùng lân cận.

Gọi là hát trống quân bởi khi biểu diễn người hát phải gõ vào tang trống giữ nhịp “lưu không” và cũng là để thúc giục đội bên kia phụ họa lại. Nghệ nhân Vũ Thị Kiểm (vợ cụ Ngát), 84 tuổi, gần 70 năm đi hát cho biết: “Nếu suốt canh hát ở Ðức Bác của tỉnh Vĩnh Phúc như kể cho người nghe về một câu chuyện thì trống quân ở Bùi Xá lại giống như một cuộc thi đấu, tiết tấu nhanh, diễn biến thay đổi liên tục, người hát sử dụng điệp từ, nhấn từ tạo sự lôi cuốn cho khán giả. Nếu cuộc tranh tài sau nhiều ngày chưa phân định được thắng thua thì phe hát sẽ chuyển sang lối hát “dở” giọng, là hát những câu được chuyển đổi mang âm hưởng quan họ, chèo…”.

Hat trong quan cau lac bo bui xaSự đặc sắc của trống quân làng Bùi là người hát ứng đối với đối phương bằng câu hát, cùng trăm câu đố tài tình, cho nên phải linh hoạt, nhanh trí. Hát trống quân thường chỉ có một làn điệu, chủ yếu là thể lục bát hoặc lục bát biến thể theo kiểu thập cửu (10/9). Ðặc biệt, người hát trong làng được gọi là liền anh, liền chị và ngầm hiểu trống quân như là “quan họ hai” của vùng đất Kinh Bắc. Khi hát, cần tuân thủ bốn nguyên tắc: chào, mừng, chúc, hỏi; khi kết thúc canh hát có màn giã bạn lưu luyến kẻ ở, người đi. Trong quá trình đối ứng, các bên sẽ linh hoạt mở rộng chủ đề. Hình ảnh về non sông đất nước, tình yêu lao động, yêu thương con người… được phác họa ngay trong câu hát. Chính những lời ca mượt mà, dung dị ấy giúp nhiều đôi trai gái nên duyên chồng vợ. Cụ Ngát và cụ Kiểm thành đôi cũng nhờ duyên hát.

Bảo tồn và phát triển

Thấy được giá trị và sự cần thiết phải bảo vệ loại hình nghệ thuật này, tháng 10-2008, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thuận Thành phối hợp các nghệ nhân làng Bùi mở lớp dạy trống quân cho thanh niên, thiếu niên trong làng. Bà Lê Thị Thư, 65 tuổi, nhớ lại: “Chúng tôi gửi thông báo về từng gia đình kêu gọi mọi người hưởng ứng. Thời gian đầu, nhiều người theo học nhưng về sau số học viên ít dần, trong khi những nghệ nhân lớn tuổi, nhiệt huyết luôn mong muốn truyền lại những điệu hát cho thế hệ trẻ”. Lý giải về điều này, bà Thư giải thích: “Giới trẻ bây giờ có nhiều lựa chọn. Lâu lâu chúng tôi mới tổ chức một đêm hát, không phải lúc nào các cháu cũng có điều kiện ngồi nghe để cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong từng câu ca. Khi biểu diễn trên sân khấu, không gian cảm thụ, tiếp nhận có sự thay đổi đáng kể, lại không tập trung được đông người để có màn đối đáp hấp dẫn như ngày trước nữa, cho nên lớp trẻ không mấy mặn mà”.

CLB trống quân Bùi Xá hiện có 28 thành viên, người trẻ nhất năm nay 33 tuổi. Thời gian trôi đi, những nghệ nhân lớn tuổi am hiểu sâu sắc về trống quân giờ sức khỏe và giọng hát cũng không còn được như trước. Ðiều đáng lo ngại là hát trống quân đang bị “già hóa”, lớp trẻ hầu như không chịu nhập cuộc. Ông Lê Bá Bạo trăn trở: “Chúng tôi muốn thường xuyên có những đêm diễn, khích lệ các cháu, khôi phục sự phát triển của trống quân nhưng kinh phí hoạt động không có, ngay cả việc mua dụng cụ biểu diễn cũng do các thành viên CLB tự nguyện đóng góp”.

Thuở trước, theo lời các vị cao tuổi trong làng, nhà nhà hát trống quân theo kiểu cha truyền con nối. Giờ hình ảnh cả gia đình quây quần tập hát gần như không còn. Không khí háo hức đổ về bãi điếm giữa làng trảy hội trống quân chỉ còn trong ký ức, để lại bao nuối tiếc trên những khuôn mặt hằn dấu thời gian. Ước muốn của những người cao tuổi làng Bùi bây giờ là có dịp được cùng các bạn đồng niên ngân nga câu hát. Ðôi tay các cụ tuy không còn nhanh nhẹn, hoạt bát, nhưng vẫn cố gắng tận dụng, chắp nối từng mảnh bìa giấy để may “áo mới” cho trống.

Ông Bạo vừa làm, vừa ngân nga với tôi đôi câu hát nghe thật tình tứ, vui nhộn: Tháng tám tôi đi chơi xuân/ Ðồn đây mở hội trống quân tôi vào. Khi ông ngơi tay, tôi hỏi hè này có cháu nào theo học hát không, giọng chùng xuống: “Có chứ anh, chúng nó theo được dăm bận, bắt chước nhanh lắm nhưng ngặt nỗi lâu lâu mới có một đám mời hát, thành thử lũ trẻ đâu có nhiều cơ hội để nghe. Hè này, cố gắng lắm CLB mới tổ chức được vài đêm hát được bà con nhiệt liệt tán thưởng. Tiếc rằng, do kinh phí quá eo hẹp, cho nên chúng tôi muốn diễn nhiều buổi cũng không được”.

Ngồi xem các cụ may áo cho trống, em Nguyễn Thị Lan Anh, học sinh lớp ba, Trường tiểu học Ninh Xá hồ hởi khoe: “Hôm trước cháu được mẹ đưa đi nghe hát, hay lắm. Ở xóm cháu bây giờ, trẻ em cũng chia phe để thi hát chú ạ!”. Ðối với thế hệ măng non làng Bùi, hát trống quân vẫn luôn đồng hành trong cuộc sống.

Tháng tám âm lịch đang dần đến, so với trước đây không khí cả làng nô nức chuẩn bị cho đêm hội vơi đi ít nhiều, nhưng tình yêu dành cho những câu hát vẫn hiện hữu trong tâm thức của người dân. Nếu có sự quan tâm thường xuyên, có kế hoạch đào tạo bài bản và tình yêu dành cho hát trống quân thì môn nghệ thuật này hoàn toàn có khả năng nhân rộng. Và trong tương lai gần, người dân làng Bùi có thể tự hào cất lên giọng hát để giới thiệu với bạn bè gần xa.

T.S.- H.T.

*

*   *

XẨM HÀ NỘI TÌM ĐƯỜNG CHINH PHỤC KHÁN GIẢ

Giang Nam

(Bài đăng trên trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra thứ sáu ngày 22/8/2014)

—o0o—

Từ chỗ có nguy cơ thất truyền, đến giờ, công chúng Thủ đô có thể thưởng thức hai buổi hát xẩm mỗi tuần trong khu phố cổ, vào các tối thứ sáu, thứ bảy hằng tuần. Hát xẩm đang từng bước thành công trong việc tìm đường đến với công chúng Thủ đô.

Chỉ riêng sân khấu hát xẩm tại chợ Đồng Xuân mỗi đêm thứ bảy đã có khoảng 1.000 khán giả, phần lớn là những người trẻ tuổi. Không những thế, khu phố cổ mới có thêm một địa chỉ dành cho người yêu xẩm, đó là đền Quán Đế ở 28 phố Hàng Buồm. Cứ vào tám giờ tối thứ sáu, buổi biểu diễn xẩm bắt đầu. Hàng Buồm là phố đi bộ, không gian hẹp hơn chợ Đồng Xuân, nhưng cũng thu hút hàng trăm khán giả. Những quán hàng quanh đây nhờ thế mà đông lên, khi vừa thưởng thức các món ăn, người ta vừa được nghe hát xẩm miễn phí.

Đối với những nghệ sĩ, nghệ nhân hát xẩm, việc biểu diễn ở chợ đêm Đồng Xuân của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển âm nhạc Việt Nam (phối hợp Công ty cổ phần Đồng Xuân) có thể coi là bước đột phá, tạo đà cho sự phát triển của hát xẩm Hat xamthời gian qua. Qua đây, công chúng biết đến xẩm, đồng thời, tạo một sân khấu cho những người trẻ tuổi có điều kiện biểu diễn, phát triển tài năng. Ca nương Nguyễn Thu Phương, sinh năm 1985 là một trường hợp như thế. Khi Phương đến với trung tâm, hát xẩm còn chưa được nhiều người biết đến. Cán bộ lãnh đạo trung tâm đã giao cho Phương nhiệm vụ “làm gương” cho những bạn trẻ khác, chứng minh rằng một cô gái trẻ trung, xinh đẹp có thể gắn bó với hát xẩm, qua đó, mọi người thay đổi cách nhìn về loại hình nghệ thuật này. Và Phương đã từng bước “hiện thực hóa” mong muốn của các thầy. Phương cho biết: “Mỗi dịp biểu diễn, các nghệ sĩ, nghệ nhân thường giao lưu với khán giả. Trung tâm luôn tận dụng dịp này để đưa xẩm đến với công chúng. Trong những buổi biểu diễn, các bạn trẻ thường hỏi về nguồn gốc hát xẩm, ông tổ dòng hát xẩm và những điệu hát xẩm… Khi được biết xẩm không phải là sản phẩm văn hóa “dưới mức bình dân” như nhiều người nghĩ, nhiều bạn tò mò đến tận trụ sở trung tâm để tìm hiểu. Có những bạn sinh viên dẫn cả lớp đến tìm hiểu, không ít người xin học. Có thể nói, xẩm đã chinh phục được các bạn trẻ”. Nhờ những nỗ lực không ngừng của các nghệ sĩ, nghệ nhân, xẩm ngày càng được biết đến nhiều hơn. Không chỉ biểu diễn tại khu phố cổ, nhiều nhà hàng, khách sạn lớn như: Khách sạn La Thành, nhà hàng Sen Tây Hồ… còn thường xuyên mời các nghệ sĩ, nghệ nhân hát xẩm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển âm nhạc Việt Nam đến biểu diễn phục vụ khách du lịch. Xẩm còn hiện diện tại nhiều sự kiện văn hóa, du lịch, thương mại… khác trên địa bàn.

Trên địa bàn thành phố ngày càng xuất hiện thêm các câu lạc bộ, các nhóm hát xẩm. Nhóm Xẩm Hà thành là một trong số đó. Nhóm được thành lập bởi các nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, Khương Cường, Quang Long, Đình Dũng, Văn Hải… Xẩm Hà thành có cách “lôi kéo” khán giả, nhất là khán giả trẻ đến với hát xẩm theo một cách đặc biệt: xây dựng một tiết mục xẩm đề cập đến vấn đề thời sự hiện nay. Đó là tiết mục Tiễu trừ cướp biển, được thể hiện theo điệu xẩm sai (một trong những điệu xẩm cổ). Với tiết tấu sục sôi, thậm chí có nhiều đoạn tiết tấu mạnh với nhịp trống giục liên hồi, Tiễu trừ cướp biển đã truyền tải tinh thần yêu nước của nhân dân, thể hiện sự quyết tâm đồng sức, đồng lòng của nhân dân trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bản xẩm Tiễu trừ cướp biển được coi là phiên bản của bài Tiễu trừ giặc dốt (của nghệ nhân Vũ Đức Sắc) từng được biết đến rộng rãi khi cổ vũ cho phong trào bình dân học vụ. Tiết mục này sử dụng ngôn ngữ đương đại, hóm hỉnh tạo cảm giác gần gũi với người nghe. Không những thế, đây còn được xem là tiết mục tạo đà cho những tiết mục, những bài hát xẩm mới phù hợp với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hôm nay. Rất nhiều người khi thưởng thức tiết mục này đã thay đổi hẳn quan niệm xẩm là cũ, là cổ.

Hà Nội là một trong những cái nôi của hát xẩm, hay chính xác hơn, là nơi mà nghệ thuật hát xẩm phát triển đến đỉnh cao. Không chỉ có những bài, những điệu dân dã, mà nơi đây còn có nhiều làn điệu với lời ca thanh tao như xẩm tàu điện, xẩm nhà tơ(xẩm nhà tơ là xẩm thính phòng, phục vụ tầng lớp giàu có, trí thức). Nhờ chiếm được cảm tình của công chúng, nhiều làn điệu xẩm đang từng bước được khôi phục, ngày càng có nhiều người quan tâm hơn. Nếu trước kia, những buổi biểu diễn tại chợ đêm phố cổ thường do các nghệ sĩ, nghệ nhân cao tuổi tham gia, thì nay, các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X dần thay thế, trở thành lực lượng nòng cốt. Những bậc tiền bối có thêm điều kiện để nghiên cứu sâu hơn, phục hồi những nét đẹp cổ từng mai một. Tuổi đời của những học viên tham gia lớp học xẩm do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển âm nhạc Việt Nam tổ chức cũng đang được trẻ hóa, có cả những bạn sinh sau năm 2000. Hát xẩm đã thật sự chinh phục được giới trẻ Thủ đô.

G.N.

*

*   *

BẢO TỒN NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hoàng Hải

(Bái đăng trên trang Thành phố Hồ Chí Minh số ra thứ ba ngày 14/1/2014)

—o0o—

TP Hồ Chí Minh hiện có khoảng 2.000 tài tử ca, tài tử đờn thường xuyên sinh hoạt, biểu diễn đờn ca tài tử (ÐCTT) tại các câu lạc bộ (CLB) ÐCTT ở thành phố. Tham gia bảo tồn loại hình nghệ thuật dân tộc đặc sắc của vùng đất phương nam này không chỉ là những người lớn tuổi, mà còn có không ít các bạn trẻ…

Sức sống của một loại hình nghệ thuật truyền thống

Tối chủ nhật hằng tuần, Trung tâm Văn hóa quận 12 lại ngân vang những câu ca hòa cùng nhịp song loan, tiếng đàn kìm, đàn ghi-ta phím lõm… của những thành viên CLB ÐCTT. Ðược thành lập từ năm 2010 với sáu thành viên, đến nay, CLB đã thu hút hơn 20 thành viên tham gia. Phó Chủ nhiệm CLB ÐCTT Trung tâm Văn hóa quận 12 Huỳnh Thị Kim Anh cho biết, để thu hút người dân đến với ÐCTT, mỗi tháng, CLB đều tổ chức biểu diễn phục vụ tại trung tâm và giao lưu với các CLB khác. Nhờ vậy, CLB đã thu hút đông đảo người dân thuộc nhiDon ca tai tuều tầng lớp, lứa tuổi ở các quận, huyện tham gia. Có nhiều thành viên trong một gia đình cùng tới đây sinh hoạt.

Tham gia CLB đã ba năm, ông Phan Văn Phước, 66 tuổi, ngụ quận Tân Bình bộc bạch: “Trước đây, chỉ có vợ tôi đi sinh hoạt ÐCTT. Thấy bà đi học tôi đi theo luôn. Giờ, cứ cuối tuần, vợ chồng tôi lại chở nhau tới Trung tâm Văn hóa quận 12 cùng vui ca hát. Biết hát rồi, những lúc ở địa phương tổ chức văn nghệ mình lại biểu diễn cho bà con nghe”.

Theo Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh, thành phố đã phát triển được 118 CLB ÐCTT với khoảng 2.000 tài tử ca, tài tử đờn, đông nhất trong số 21 tỉnh, thành phố phía nam có ÐCTT. Cùng với đó, thành phố cũng là nơi hội tụ nhiều nhà nghiên cứu, soạn giả ÐCTT xuất sắc. Ðó là những yếu tố góp phần tạo thêm sức sống mãnh liệt cho ÐCTT.

Theo Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh Lê Văn Lộc, để ÐCTT phát triển phải đưa “hơi thở” của cuộc sống đương đại vào nghệ thuật này và cần có sự biến tấu cho phù hợp với người biểu diễn, người nghe. Những năm qua, TP Hồ Chí Minh đã nỗ lực để bảo tồn nghệ thuật ÐCTT. Năm 2012, thành phố tổ chức cuộc thi sáng tác lời mới cho ÐCTT với kết quả hơn 700 tác phẩm mới ra đời. Mới đây, Liên hoan ÐCTT năm 2013 giải Hoa sen vàng đã thu hút 27 CLB với hơn 200 tài tử đờn, tài tử ca tham gia. Những cuộc thi này đã góp phần quan trọng làm cho ÐCTT ngày càng đứng vững trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân hôm nay.

Lớp măng non của nghệ thuật ÐCTT

Cuối tuần nào cũng vậy, cháu Hồng Anh, 7 tuổi ngụ xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh lại cùng bố tới sinh hoạt tại CLB ÐCTT Trung tâm Văn hóa quận 12. Gặp Hồng Anh lúc cháu đang học cách “nhả” chữ, ngắt nhịp trong điệu Lý con sáo, cháu hồn nhiên cho biết: “Con học ÐCTT từ năm 6 tuổi, ở nhà con hay hát theo ba con. Càng học càng thấy thích nên con tới CLB để các cô chú chỉ dạy thêm để hát hay hơn”.

Hồng Anh không phải là tài tử ca “nhí” duy nhất. Tại các CLB ÐCTT ở TP còn có rất nhiều thành viên trẻ tuổi tham gia sinh hoạt. Theo ông Lê Văn Lộc, hiện tại, không chỉ có lớp lớn tuổi hát ÐCTT, mà rất nhiều bạn trẻ cũng tham gia vào các CLB ÐCTT. Ðây là tín hiệu rất vui cho nghệ thuật ÐCTT.

Tại Liên hoan ÐCTT TP Hồ Chí Minh năm 2013 vừa rồi, em Thế Thanh, 11 tuổi, thuộc CLB ÐCTT Trung tâm Văn hóa huyện Bình Chánh đã tạo ấn tượng mạnh mẽ với giải “Tài năng trẻ”. Khi nghe Thế Thanh hát bản Giang nam (một trong 20 bản cổ của ÐCTT), chúng tôi không khỏi bất ngờ về chất giọng khỏe, cách lấy hơi, nhả nhịp rất nhuần nhuyễn của cậu bé. Thanh cho biết, em học hát ÐCTT từ khi mới 6 tuổi. Ở nhà, em được người cô dạy hát và ngày càng đam mê, không thể rời được ÐCTT. Ðể rèn được cách hát, cùng với học văn hóa, cuối mỗi tuần, em lại tới Trung tâm Văn hóa huyện Bình Chánh tham gia sinh hoạt CLB ÐCTT. “Ở CLB có bạn còn nhỏ tuổi hơn con. Ðiều này làm cho con rất vui. Cái khó của hát ÐCTT là cách ngắt hơi, lấy nhịp, con sẽ cố gắng để hát cho hay.” – Thế Thanh bộc bạch.

Giữa cuộc sống hối hả của một đô thị hiện đại, những lời ca, tiếng đờn của nghệ thuật ÐCTT vẫn ngân vang. Nghệ thuật ÐCTT không chỉ được bảo tồn trong nước mà đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Chắc chắn loại hình nghệ thuật truyền thống này sẽ ngày càng gắn bó hơn với cuộc sống của người dân, trong đó có cả thế hệ măng non của đất nước.

H.H.

*

*   *

LỄ HỘI QUÁN THẾ ÂM TẠI THỪA THIÊN – HUẾ

(Tin trên báo Nhân Dân ngày 16/7/2014)

—o0o—

Ngày 15-7, tại Trung tâm Du lịch tâm linh Phật giáo Quán Thế Âm (núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy), Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) tỉnh Thừa Thiên – Huế chính thức tổ chức Lễ hội Quán Thế Âm năm 2014 dưới sự chứng minh của trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Phương, Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Lễ hội Quán Thế Âm tại Thừa Thiên – Huế năm nay được tổ chức nhân kỷ niệm Ngày khánh đản của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, cầu nguyện cho “Tổ quốc vinh quang, đạo pháp trường tồn, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc”. Lễ hội diễn ra trong hai ngày với các hoạt động: lễ hưng tác thượng Phan, bạch Phật khai kinh, lễ thỉnh tiêu diện đại sĩ, khai mạc trại hạnh, lễ nhiên đăng cúng Phật, thuyết pháp, văn nghệ, phóng sanh đăng, đăng đàn chẩn tế và nguyện cầu “Quốc thái dân an, nhất tâm cầu nguyện hòa bình Biển Đông”.

PV

*

*   *

TÔN TẠO DI TÍCH THỜ TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Ngày 20-4, UBND huyện Ba Vì khởi công tu bổ, tôn tạo đền Trung thuộc di tích Tản Viên Sơn Thánh. Đền Trung còn được gọi là Trung cung nằm trên sườn phía tây dãy Ba Vì thuộc địa phận xã Quang Minh, ở phía tây núi Ba Vì và nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì. Theo một số tài liệu, đền được xây dựng từ triều Lý. Đến triều Nguyễn, Vua Minh Mạng cho Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai trùng tu lại. Hiện đền có gian thờ tam vị Đức Thánh: Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương; gian thờ dưỡng mẫu của Sơn Tinh là bà Ma Thị Cao Sơn. Các hạng mục tu bổ, tôn tạo gồm nhà Tiền tế, Đại bái và Hậu cung. Tổng kinh phí xây dựng các hạng mục khoảng 2,5 tỷ đồng, được huy động từ nguồn vốn xã hội hóa. Công trình được xây dựng trên nền móng cổ của ngôi đền và theo đúng quy hoạch kiến trúc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Dự kiến, các công trình được hoàn thành trong năm 2014.

LIÊN HOAN TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

Theo đại diện lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Liên hoan tín ngưỡng thờ Mẫu – Hà Nội 2014 sẽ được tổ chức từ tháng 4 ở cấp cơ sở. Sau đó, các nhóm, các câu lạc bộ thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất sắc của các địa phương sẽ tham gia Liên hoan Tín ngưỡng thờ Mẫu cấp quận, huyện diễn ra từ tháng 9 đến tháng 10 tại các đền, phủ thờ Mẫu đáp ứng đủ điều kiện trình diễn. Liên hoan tín ngưỡng thờ Mẫu cấp thành phố được tổ chức tại các điểm văn hóa công cộng thuộc các quận nội thành trong tháng 11. Đây là lần thứ hai, Hà Nội tổ chức liên hoan (lần đầu có tên gọi liên hoan Nghi lễ chầu văn). Đây là dịp thành phố thực hiện khảo sát, xây dựng hồ sơ kiểm kê Tín ngưỡng thờ Mẫu và các tư liệu liên quan đến các đền, phủ, điện thờ Mẫu trên địa bàn.

(Tin đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 22/8/2014)

*

*   *

DẠY ĐÁNH CỒNG CHIÊNG CHO THANH NIÊN DÂN TỘC CƠ TU

Công Hậu

(Tin đăng trên báo Nhân Dân ngày 27/8/2014)

Nhằm bảo tDay danh cong chiengồn và phát triển giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là văn hóa cồng chiêng của cộng đồng dân tộc Cơ Tu đang bị thất truyền và mai một, huyện Nam Đông (Thừa Thiên – Huế) tổ chức khai giảng lớp truyền dạy nghệ thuật đánh cồng chiêng cho thanh niên dân tộc Cơ Tu tại các xã có đông đồng bào dân tộc trên địa bàn. Khóa học kéo dài từ ngày 20-8 đến 10-9, các học viên được nghệ nhân truyền đạt những giai điệu, tiết tấu đánh cồng chiêng kết hợp với trống và một số nhạc cụ trong các nghi lễ đâm trâu, cưới hỏi, đón khách, đám tang, cúng thần linh… Các giai điệu được truyền dạy dựa trên nền tảng từ các bài chiêng, trống của đồng bào dân tộc Cơ Tu, kết hợp nét văn hóa đặc sắc của địa phương như: za zã, ba booch, co lêng, cơ lau…, từ đó đã tạo nên sự độc đáo, tinh túy riêng cho văn hóa cồng chiêng của người Cơ Tu.

C.H.

Từ thành nhà Hồ, nghĩ về Tạp chí Nam Phong và Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ  sáu, tuần 2 tháng 9 năm 2014.

TỪ THÀNH NHÀ HỒ,

NGHĨ VỀ TẠP CHÍ NAM PHONG

VÀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Trang 5 báo Nhân Dân ra ngày 19/11/2012 có bài của Nguyên Anh Bức tranh khắc họa thành công chân dung một danh nhân lịch sử.

Phần mở đầu, viết: “Triều đại nhà Hồ tồn tại cách đây hơn sáu thế kỷ đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc, trong đó Hồ Quý Ly là một nhân vật đượHo Quy Lyc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Cuộc đời và con người ông cũng là đối tượng sáng tác của văn học, nghệ thuật sân khấu và hội họa với các góc cạnh khai thác, thể hiện nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.

Nhìn lại những tác phẩm nghiên cứu và sáng tác về Hồ Quý Ly đều có chung một khẳng định, ông là một người yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm quyết liệt để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Hồ Quý Ly cũng là người mang tư tưởng cách tân với những hành động thực tế khá táo bạo nhằm đổi mới, đưa đất nước phát triển trong bối cảnh xã hội nước ta lúc đó đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Bi kịch lịch sử của Hồ Quý Ly đến nay đã phần nào sáng tỏ qua nhiều nghiên cứu để từ đó hậu thế có thể nhìn rõ hơn và ghi nhận tầm vóc tư tưởng cải cách của ông cùng những đóng góp lịch sử văn hóa của thời đại ông đã tạo dựng nên, trong đó có Thành Nhà Hồ, một công trình kiến trúc độc đáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Nghiên cứu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ tiếp cận trong suốt bảy năm qua, họa sĩ Hoàng Hoa Mai đã dày công thực hiện nhiều bức tranh chân dung về nhân vật lịch sử này. (…) mong muốn thể hiện hình tượng Hoàng đế Hồ Quý Ly với những nét khắc họa ấn tượng về tính cách, dáng vóc, dung quang phù hợp với cuộc đời và sự nghiệp đầy bi kịch của ông trong giai đoạn lịch sử biến động cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15.”

Trong bài Thành nhà Hồ, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã viết

“Trong lịch sử các kinh đô của Việt Nam, mỗi kinh thành đều được định vị và xây dựng trong từng bối cảnh địa – văn hóa cụ thể và đều có vị trí, vai trò và đặc điểm riêng, tạo nên một bộ phận vô giá của di sản lịch sử và văn hóa dân tộc. Thành nhà Hồ là một kinh thành tuy thời gian tồn tại không dài nhưng có nhiều đặc điểm và giá trị văn hóa độc đáo không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn). Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Thanh nha hoTheo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Đối chiếu với qui mô to lớn của tòa thành thì đây là một đặc điểm quan trọng, có thể là một kỷ lục trong lịch sử kinh thành của Việt Nam. (…) Theo các nhà khảo cổ khối lượng đá xây dựng ước tính trên 25.000m3, khối lượng đất đắp trên 100.000m3. Đó là chưa nói đến hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá qui mô khá lớn.

Thành nhà Hồ là một kiến trúc kinh thành qui mô lớn, đặc biệt Hoàng thành, đàn Nam Giao xây bằng đá rất bền vững và kiên cố. Giá trị độc đáo bậc nhất của Thành nhà Hồ là tòa kinh thành xây bằng đá. (…) Tất cả nói lên một kỳ tích của con người, tài năng tổ chức, điều hành của công trình sư và lao động sáng tạo của các lớp dân phu, thợ thủ công các nghề làm đá, nung gạch ngói, xây dựng và trang trí… Trên lãnh thổ Việt Nam và phương Đông có nhiều kiến trúc bằng đá, nhất là các pháo đài, đền miếu, tượng đài, lăng mộ… nhưng Thành nhà Hồ là kinh đô duy nhất xây dựng chủ yếu bằng đá lớn rất hiếm trên thế giới. (…) gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”” (Trích trang 3 đến 6 Tạp chí Xưa và Nay số 407 tháng 7 năm 2012).”

Bia Nam Phong

Trong những ngày Thành Nhà Hồ đang được vinh danh quốc tế là Di sản văn hóa thế giới và Nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, chúng tôi và không ít người có lòng với văn hóa, văn học, lịch sử nước nhà không khỏi trạnh lòng nghĩ tới Thượng Chi – Phạm Quỳnh và bộ tạp chí Nam Phong đồ sộ, như một bức trường thành chống ngoại xâm về văn hóa và bảo vệ quốc hồn quốc túy của dân tộc.

Hồ Quý Ly xưa nay vẫn bị kết tội là “cướp ngôi nhà Trần”, thậm chí còn là “kẻ phản quốc, đầu hàng giặc một cách nhục nhã”… Mà không phải chỉ có sử phong kiến mới kết tội Hồ Quý Ly, nhà Hồ, và do đó, luôn cả thành nhà Hồ cũng chẳng ai thèm đoái hoài đến.

Mãi đến gần đây, Hồ Quý Ly, nhà Hồ mới được nhìn nhận công bằng hơn.

Đến tháng 11/2000, Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau mấy chục năm gác bút, đã cho ra đời tác phẩm đồ sộ Hồ Quý Ly (Nhà xuất bản Phụ Nữ) Tiểu thuyết lịch sử dày đến 834 trang, vậy mà đông đảo người đọc cứ say mê tìm đọc, đọc ngốn đọc ngấu cho đã cơn khát chân lý!

Và đến nay, thì cả nước và cả thế giới đã biết đến và ca ngợi thành Nhà Hồ, một kiến trúc thành đá duy nhất còn tồn tại đến nay, sau hơn 600 năm xây dựng. Đó là vì dù sử viết thế nào thì những cải cách của Hồ Quý Ly vẫn còn in dấu trong sự thật lịch sử. Và dù được công nhận hay không công nhận, nhưng tòa thành đá vẫn sừng sững, “trơ gan cùng tuế nguyệt”, thách thức gió mưa, động đất, chiến tranh và thách thức cả những kẻ không ưa nhà Hồ, căm ghét Hồ Quý Ly, vì không ai dám phá một tòa thành do nhân dân đã xây trong lòng dân và được dân bảo vệ.

Bon anh Pham QuynhCũng như thế, mạng sống con người Phạm Quỳnh đã bị thủ tiêu ngót 70 năm nay, nhưng, những gì ông viết vẫn còn mãi trong lòng nhiều thế hệ người dân Việt có lương tri và thật lòng yêu nước. Tạp chí Nam Phong do ông đồng sáng lập và làm chủ bút phần quốc ngữ từ năm 24 tuổi, rồi chủ nhiệm kiêm chủ bút cho đến năm 1932, sau đó còn viết bài cho tạp chí đến năm 1934, tổng cộng 211 số (kể cả số Tết Mậu Ngọ 1918, là số báo Tết đầu tiên của nước ta). Một số bài viết đến năm 1922 được ông chọn, tập hợp thành bộ Thượng Chi văn tập ngót 1.200 trang, một số bài khác thì in thành sách trong Nam Phong tùng thư do ông làm chủ nhiệm, như Văn học nước Pháp (Đông Kinh ấn quán xuất bản, 1927), Khảo về tiểu thuyết (1929),Lịch sử và học thuyết của Voltaire (1930), L’Idéale du sage dans la philosophie Confuçéenne
(Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng) in song ngữ, 1928…. và bằng Pháp văn như Essais Franco-annamites (1929-1932) 489 trang, xuất bản tại Editions Buy Huy Tin Hué 1937 và Nouveaux essais Franco-annamites, 524 trang, 1938, v.v… Đúng là cả một bức trường thành to lớn, vững chãi. DVD Nam Phong

Tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 và chấm dứt hoạt động năm 1934 (hai năm cuối, do Nguyễn Tiến Lãng phụ trách) đến nay đã lui vào dĩ vãng, nhiều người muốn tìm đọc mà không có, đành xem các bản trích, bản vi phim, nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy. Chỉ những thư viện lớn trên thế giới mới có.

Thành nhà Hồ thì xây dựng bằng đá tảng, còn tạp chí Nam Phong thì làm bằng giấy, dễ bị thời tiết nóng ẩm, rồi mối, mọt hủy hoại. Thật bất hạnh cho văn hóa, lịch sử nước nhà…

Nhưng, may thay, tháng 6 năm 2009 người con trai út của Phạm Quỳnh và vợ đã hợp tác với Viện Việt học California (Hoa Kỳ) để giới thiệu công trình chuyển 211 số báo gồm 35.000 trang chữ từ 1917 đến 1934 vào bộ sáu đĩa DVD- Rom. Trong đĩa 1, có bản dịch ra tiếng Việt luận văn tiến sĩ Sorbonne của Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh là Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và còn có cả Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Bộ đĩa do hơn 50 người tình nguyện, phần lớn là người trẻ, đã vất vả hoàn thành trong sáu năm ròng. Gia đình Phạm Quỳnh ở Mỹ và Pháp đã biếu tặng Viện Việt học toàn bộ số tạp chí có chữ ghi chú của Phạm Quỳnh bằng bút chì mà gia đình còn giữ được, vẻn vẹn chỉ 186 số. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhờ Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung số còn thiếu. Về kinh phí làm DVD-Rom này, riêng gia đình con trai út Phạm Quỳnh là Phạm Tuân và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên đã góp 12.000 đô la, cô Nguyễn Thị Kim Ngân góp 8.500 đô la và một số người quý mến Phạm Quỳnh khác góp số chi phí còn lại.

Như vậy là hiện nay tại các thư viện lớn ở nước ta đều đã có bộ đĩa này do nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Và bức trường thành tạp chí Nam Phong lại sừng sững đứng ngay trước mắt những ai cần tìm hiểu về một thời và về một con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi Phạm Quỳnh, một con người Việt Nam chân chính.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/11/2012.

P.T.

Tháng Tám 22, 2014

1913: Nam Phong; 1932: Phong Hoa, Ngày Nay; 1945: Cờ Giải Phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 9 năm 2014.

1913: NAM PHONG ; 1932: PHONG HÓA, NGÀY NAY; 1945: CỜ GIẢI PHÓNG

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 5/8/2014 đưa tin:

Xét đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý bổ sung Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Bảo tàng Báo chí Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam quản lý, sẽ lưu giữ, phát huy giá trị của di sản báo chí Việt Nam; là nơi ghi nhận, tôn vinh sự đóng góp của báo chí và các nhà báo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tàng Báo chí Việt Nam cũng là nơi để người dân, các nhà khoa học, các nhà báo trong nước và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam, đồng thời là một địa chỉ văn hóa, điểm tham quan, du lịch. Dự kiến, Bảo tàng Báo chí Việt Nam sẽ khánh thành vào năm 2015 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 – 21-6-2015).”

Nhân dịp này, chúng tôi mời quí bạn đọc tư liệu sau mà ít người biết vì ít được nhắc tới: Đó là tư liệu được nhà báo nổi tiếng Thép Mới công bố trong hai ấn phẩm.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nthep-moi2hân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm 1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

  1. Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

Noi san Nhan Dan hoc anh truong chinh lam bao Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

(…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân VSong dong su nghiep bao chiiệt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Phạm Quỳnh trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:12 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 9 năm 2014.

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 15/8/2014 vừa đưa tin trên trang 19

“Kết thúc phiên họp ba ngày về phong trào Wikimedia tại London (Anh), đồng sáng lập trang thông tin Wikipedia Jimmy Wales tuyên bố người Anh tin tưởng trang này hơn báo chí truyền thông của nước này.

Người Anh tin tưởng Wikipedia hơn báo chí” – ông Wales tuyên bố trong tiếng vỗ tay của những khán giả tham dự hội nghị.

AFP cho biết một cuộc thăm dò gần 2.000 người trưởng thành Anh của YouGov nhận thấy có 64% người tin tưởng tác giả của các mục trong Wikipedia đang nói lên sự thật.

Trong khi đó chỉ 61% số người tham gia khảo sát bày tỏ sự tin tưởng đối với các nhà báo của đài truyền thông BBC, 45% tin tưởng các phóng viên của các tờ báo khổ lớn như The Times The Guardian và 13% cho các nhà báo của các tờ lá cải như The Sun.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của YouGov cũng cho thấy bộ bách khoa toàn thư truyền thống của nước này là Encyclopaedia Britannica vẫn nhận được nhiều sự tin tưởng nhất cho đến hiện nay. 83% người tham gia khảo sát tin tưởng vào bộ bách khoa này.

“Tôi sẽ không ngừng nghỉ cho đến khi họ tin tưởng chúng tôi hơn họ tin tưởng vào thông tin trên Encyclopaedia Britannica” – ông Wales cam kết.”

Minh chứng cho điều nay, chúng tôi xin mời quí bạn đọc phần viết về Phạm Quỳnh trong từ điển này như sau:

—o0o—

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Blog PhamTon

Năm 2011, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA nổi tiếng thế giới long trọng tổ chức kỷ niệm 10 năm ra đời, đã thực hiện bằng hơn 30 thứ tiếng với lượng truy cập hàng chục triệu lượt người.

Tháng 4/2013, chúng tôi mở mục Phạm Quỳnh trong Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA ra đọc thì thấy có nhiều đổi mới, phong phú hơn trước rất nhiều. Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 01:50 ngày 16 tháng 3 năm 2013.

Phạm Quỳnh sinh ngày 30-1-1893 tại nhà phố Hàng Trống, Hà Nội. Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng. Sau khi đỗ đầu bằng thành chung (tốt nghiệp) Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ. Làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1/7/1917. Ngày 2/5/1919, ông sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai Trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm Marseille, rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính Trị và Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, được mời làm giảng viên khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine. Từ 1925 – 1928 là hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ. 1926 làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương. 1930, đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải lập hiến pháp, qui định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, được giao chức phó hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932 giữ chức tổng thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

11/11/1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua, ông được triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, làm Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học, cuối cùng giữ chức Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ. Sau đó, bị giết cùng nguyên tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú và được cải táng ngày 9/2/1956 trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Riêng phần nhận định, đầu tiên là của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Tiếp đó là: “Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho Toàn quyền Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:

“Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung KỳBắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”.

Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn

 “…Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối”.

Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).

 “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận”.

Giáo sư Văn Tạo

Về gia đình, ghi rõ ông có một vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con, ba người mất từ nhỏ.

Toàn bộ mục Phạm Quỳnh tám trang A4. Phần Ngày sinh và mất viết:

Về ngày sinh của Phạm Quỳnh

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, trưởng Ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, tức 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả. Cho nên, ngày này là chính xác nhất trong số các ngày sinh đã được biết của Phạm Quỳnh khai ở nơi này nơi khác.

Về ngày mất của Phạm Quỳnh

  • Sách Từ điển Văn học bộ mới (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt).
  • Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936) hiện định cư tại Hoa Kỳ được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, anh và cháu Ngô Đình Diệm để tìm di hài cha. Theo lời các nhân chứng thì Phạm Quỳnh bị hạ sát vào đêm 6 rạng ngày 7 tháng 9 năm 1945, khoảng 1 giờ sáng, có trăng câu liêm, tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

Phần Liên kết ngoài, đầu tiên có ghi rõ: Blog chuyên viết về Phạm Quỳnh cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến (http://www.phamquynh.wordpress.com)

Và chúng tôi vui mừng nhận thấy trong mục này, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA đã sử dụng khá nhiều thông tin, tư liệu từ Blog PhamTon chúng tôi

B.P.T.

 

Tháng Tám 15, 2014

Phạm Quỳnh ngọn gió nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

PHẠM QUỲNH NGỌN GIÓ NAM

Đỗ Lai Thúy

(Bài trong sách Vẫy vào vô tận của Đỗ Lai Thúy – NXB Phụ Nữ, quý II/2014, từ trang 85 đến trang 110)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu phê bình văn học hiện đại PGS.TS Đỗ Lai Thúy sinh năm 1948 tại Quốc Oai, Hà Tây, Hà Nội. Mặc dù tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội, nhưng bao giờ ông cũng tự nhận mình là “người tự đào tạo”, “không được học hành một cách chính quy”. Ông chuyên viết ngDo Lai Thuyhiên cứu lý luận phê bình văn học, và tất nhiên còn dịch nữa.

Các tác phẩm chính là Con mắt thơ (xuất bản 1992, tái bản 1994, 1998, 2000); Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực (Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ tín ngưỡng phồn thực, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999); Từ cái nhìn văn hóa (NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 1999); Chân trời có người bay (Chân dung các nhà nghiên cứu, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2006). Ngoài ra còn: Luận về xã hội học nguyên thủy (Tổ chức dịch và viết giới thiệu-NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001); Nghệ thuật như là thủ pháp-Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga (biên soạn và dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002); Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật; Phân tâm học và văn hóa tâm linh (biên soạn và tổ chức dịch NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000 và 2002); Văn hóa học. Những lý thuyết nhân học văn hóa (dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002); Thơ Lermontov (1978); Kịch Ôxtrốpxki (1989), Chân trời có người bay (2006), Vẫy vào vô tận (2014)…

Hiện nay Đỗ Lai Thúy là phó tổng biên tập tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch).

—o0o—

Lấy vợ hiền hòa

Làm nhà hướng Nam

Tục Ngữ

Nếu Trương Vĩnh Ký là người mở đầu cho cuộc đối thoại Đông Tây, thì Phạm Quỳnh mới chính là người đặt nền móng cho cuộc đối thoại ấy. Đây không phải là chuyện tài năng cá nhân, mà do sự đặt để của thời đại. Từ Trương đến Phạm là từ thời kỳ sục sôi chống Pháp của nhân dân và sĩ phu Nam Bộ đến thời kỳ mọi cuộc khởi nghĩa đã bị dẹp yên trên cả nước. Như vậy, con đường cứu nước bằng đấu tranh vũ trang cho đến bấy giờ đã tỏ ra bất cập. Trong khung cảnh ấy, con đường cách tân đất nước – con đường văn hóa – khởi từ Trương Vĩnh Ký, sau được nhiều nhà Nho duy tân tiếp bước, đã được Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong đón nhận và cụ thể hóa thành một lối đi phi truyền thống nên đã gây không ít tranh cãi, ngộ nhận.

Phải nói rằng, trước khi có đụng độ văn hóa theo trục Tây – Đông (Pháp – Nam), thì khái niệm văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam còn khá mơ hồ. Suốt thời trung đại, trước sự Nam tiến của đế quốc phương Bắc, thì vấn đề đau đầu nhất của dân Nam là chủ quyền lãnh thổ. Nam quốc sơn hà Nam đế cư! Lúc này, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là sống còn, đáng để ưu tiên số một. Bởi thế, nếu có nói đến Phong tục Bắc Nam cũng khác thì cũng chỉ để nhấn mạnh vế trước, Núi sông bờ cõi đã chia. Sau đó, Việt Nam lại rơi vào một thách đố khác, cực kỳ nghịch lý: Để chống lại sự bành trướng của Trung Hoa thì, một mặt, phải xây dựng được một nhà nước quân chủ tập quyền vững mạnh như Trung Hoa, mặt khác phải có một văn hóa Nho giáo không kém Trung Hoa để giải tỏa mặc cảm “Nam man” do chính Nho giáo reo rắc. Dần dần, trong tâm thức Việt, những đụng độ Bắc – Nam (Trung Hoa – Việt Nam) chỉ còn là những xung đột thuần túy quân sự, chứ không phải văn hóa, bởi Việt Nam và Trung Hoa đã là những nước đồng văn tự bao giờ!

Khi đất nước mất về tay thực dân Pháp, việc giành lại chủ quyền lãnh thổ tạm thời bị thất bại, thì vấn đề ưu tiên hàng đầu là làm sao giữ vững được tinh thần đấu tranh giành độc lập. Dưới ảnh hưởng của thuyết Darwin xã hội qua con đường Tân thư, giới sĩ phu nói nhiều đến vấn đề nòi giống, chủng tộc, con Lạc cháu Hồng, nòi giống Tiên Rồng…, đặc biệt là hồn nước. Các nhà nho thập niên đầu thế kỷ XX đều có những bài thơ thức tỉnh hồn nước, tiêu biểu là Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc. Tuy nhiên chữ hồn của các nhà nho này chỉ cái gì đó vô hình, thiêng liêng, có khả năng tồn tại lâu dài đối lập với thể xác. Bởi vậy, khái niệm hồn nước vẫn chưa giải thích rõ như là bản sắc căn cước văn hóa dân tộc, nhất là để xây dựng một tinh thần quốc gia.

Phạm Quỳnh, với tư cách là một người làm học thuật, trên Nam Phong (số 164, 7-1931), đã viết bài Bàn về cái tinh thần lập quốc đề cập đến vấn đề này. Ông dẫn ý của văn hào Pháp Ernest Renan trả lời câu hỏi “Thế nào là một nước” mà cho rằng: “Cái nguyên tố dựng nên một nước không chỉ ở thổ địa, cư dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau sum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích đồng hưu, nhìn về trước ngó về sau thì cùng nhau chung một vòng hy vọng vẻ vang rực rỡ, nói tóm lại là ở cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người ta cùng nhau như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với mọi sự ngoại hoạn. Cái vô hình, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn”.

Như vậy, theo tác giả, nước là một thể cố kết cộng đồng, gồm hai phần xác và hồn. Xác mà vô hồn thì không phải là một thể sống hoàn chỉnh, còn hồn mà chưa nhập xác thì cũng vậy. Nhưng hồn còn thì còn có cơ chiêu về “Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn thì đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn thì vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có”. Vấn đề là làm sao đừng để cho cái hồn ấy tiêu tán mất, làm sao để cho “quốc hồn tỉnh tao, mạnh mẽ”.

Bởi, quốc hồn chính là văn hóa: văn hóa cổ truyền là phần hương hỏa cha ông mà chúng ta phải gìn giữ; còn văn hóa hiện đại là cái chúng ta phải xây dựng, bồi đắp. Và để làm được điều đó trước tiên chúng ta phải nhận diện văn hóa, tức phân biệt nó với chính trị. Theo Phạm Quỳnh, cái bệnh suy nhược của con người lúc bấy giờ một phần bởi ngoại cảm, còn phần lớn bởi nội thương. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tùy tình thế, tùy cơ hội mỗi lúc một mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy chỉ có một phương là bồi bổ lấy cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn kia cho mỗi ngày một mạnh mẽ, mỗi ngày một tỉnh táo lên.

Nhưng, cụ thể văn hóa Việt Nam là gì? Theo nghĩa căn cốt nhất, đó là quốc học. Nhưng trước khi đặt ra vấn đề quốc học Việt Nam như thế nào thì phải xem (cho đến thời điểm bấy giờ) chúng ta đã có quốc học chưa? Nếu chưa hoặc đã có thì làm thế nào để xây dựng hoặc tài bồi? Vấn đề này đã làm nổ một cuộc tranh luận. Có người cho là có, như Sở Cuồng Lê Dư chẳng hạn. Thậm chí ông này còn lập ra tủ sách “Quốc học tùng thư”. Nhưng cũng có người cho là không, như Phan Khôi. Thực ra, chuyện có hay không cũng khó phân định, vì mỗi người hiểu quốc học một cách khác nhau. Bởi thế, khi vào cuộc Phạm Quỳnh đã phải đưa ra định nghĩa về quốc học. Theo ông, nó “gồm những phong trào học thuật trong một nước, có đặc sắc với nước khác, và có kết tinh thành những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy”. Sau đó, tuy không trả lời trực tiếp, nhưng ông lại dưa ra một nhận xét khá xác đáng và không kém phần hóm hỉnh: “Sở dĩ phải khơi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng nhỏ nhen, eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ”

Đi tìm nguyên nhân của tình trạng trên, Phạm Quỳnh cho rằng ấy là do “cái học của ta”, cụ thể hơn cách học. Một nước nhỏ lại đứng cạnh một nền văn minh lớn thì dù muốn dù không việc học hỏi người ta là tất yếu. Nhưng hơn hai mươi thế kỷ học Tàu mà nền quốc học của ta chưa có “môn hộ” (tức trường phái học thuật) riêng, học vấn thì chưa thoát “vòng giáo khoa” (tức chỉ quẩn quanh với tri thức học đường, kiến thức phổ thông) để lên “cõi học thuật”, còn con người thì chưa thoát nổi “tư cách học trò”, “tâm lý học trò”. Kìa như Nhật Bản, ông so sánh, người ta cũng học Tàu nhưng lại có tư tưởng học thuật riêng, bởi thế có quốc học. Có nhiều nguyên nhân, ông giải thích, nhưng có lẽ chủ yếu là do người Nhật không học theo chế độ khoa cử Tàu, còn ta “học Tàu lại chỉ thuần một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả, mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc bị tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa”.

Dĩ nhiên, nỗi đau này không phải lỗi của riêng ai, Phạm Quỳnh đã phân tích các tình thế địa lý, lịch sửchính trị giữa ta (khác với Nhật) và Tàu đã dẫn đến cách học ấy. Điều này, một mặt mở ra một khả năng có thể thay đổi cách học một khi tình thế đổi thay, mặt khác cho thấy một di căn của nó đến cả thời đại Tây học. Nội dung học thì mới, nhưng cách học vẫn cũ như xưa. Bởi vậy, nói như Phan Chu Trinh xưa hủ Nho thì nay hủ Tây. Mà với tư cách học trò, nhất là trò hủ, thì vẫn thường xảy ra “cái tệ con chiên theo đạo người thường hay ngoan đạo hơn chính người nước phát hành ra đạo ấy”. (Về luận điểm “bảo hoàng hơn vua” này có thể xem thêm ý kiến của Y.Tsuboi (trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, Tri Thức, H., 2011) khi tác giả so sánh Nho giáo nhà Nguyễn với Nho giáo nhà Thanh, v.v và v.v). Hơn nữa, mọi học thật (thuật) một khi đã mang tính cách tôn giáo (dù dưới hình thức nào) thì cũng dễ thành học giả.

Thức nhận được thảm họa của cách học cũ (dù có thể mang lốt mới), Phạm Quỳnh đã đặt một cơ sở khoa học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học chân chính, một nền văn hóa mới. Đó là sự tổng hợp văn hóa Đông Tây. Thực ra, định đề này không mới, nhưng cách đặt và phân tích vấn đề thì khá thuyết phục, nhất là với tư duy bấy giờ. Thoạt tiên, Phạm Quỳnh phân biệt văn hóa Đông Tây ở hai đặc trưng lớn của nó là đạo học khoa học. “Khoa học ở đây là nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học của người Thái Tây, khởi xướng ra khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi. Khoa học là sự học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy sự thật hiển nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích”. Lối khoa học này thật mới mẻ và cũng thật khác xa với đạo học. Một đằng thì học cho đời (ứng dụng), chủ quan; một đằng thì chuộng mới, một đằng thì nệ cũ; một đằng thì càng học càng giàu có, một đằng càng học thì càng quy giản, rút lại chỉ còn mấy điều cốt yếu đủ để tự mình giác ngộ mình…

Thực ra, lối học khoa học và lối học đạo học không phải của riêng ai. Tây phương trước Phục hưng chưa có khoa học và cũng chỉ có đạo học. Nhưng rồi họ đã thực hiện một cuộc cách mạng tinh thần làm cho khoa học phát triển, dân giàu nước mạnh. Nói điều đó, hẳn Phạm Quỳnh muốn chứng tỏ rằng, các nước ngoài và sau phương Tây đã có một tiền lệ nếu muốn làm cách mạng ở nước mình. Và khoa học, xét cho cùng, cũng không có gì là mâu thuẫn với đạo học, trái lại còn bổ sung cho nó. “Cái học thụ dụng với cái học ứng dụng có thể kiêm cả cũng được. Dạy cái học thụ dụng là thuộc về cá nhân, thuộc về chủ quan, là phần riêng của mỗi người không cần và cũng không truyền dạy được; cái học ứng dụng thuộc về phổ thông, thuộc về khách quan, là chung của xã hội, có thể dùng làm lợi khí để trao đổi trí thức, để xúc tiến tư tưởng, để bồi đắp lấy một nền quốc học cho sau này được”. Như vậy, phân biệt thực chất, đặt cái nào vào đúng chỗ của cái ấy là cơ sở khoa học cho sự tổng hợp văn hóa Đông Tây, cho việc xây dựng nền quốc học mới.

Nhưng để xây dựng một nền quốc học, để thoát khỏi cảnh suốt đời làm học trò người, dù là trò giỏi, thì phải xây dựng cho được một nền quốc văn. “Nước ta sở dĩ không có một nền quốc học chân chính, phần nhiều là bởi không có một nền quốc văn xứng đáng”. Nhưng quốc văn là gì? Theo Phạm Quỳnh, đó là ngôn ngữ dân tộc (langue nationale), mà sự phát triển của nó được biểu hiện ở văn chương và học thuật. Văn chương thì chúng ta có, nhưng học thuật thì chưa. Để làm rõ kết luận này, trong bài Quốc học với quốc văn (1919), Phạm Quỳnh chia văn chương thành văn chơi văn có ích. Trước đây, cha ông ta mới chỉ có văn chơi bằng tiếng Việt, còn văn có ích thì đều bằng chữ Hán cả. Bởi thế mà tiếng ta chỉ mới phát triển phần “hình nhi hạ”, tức những từ cụ thể, giàu hình ảnh để biểu đạt tình cảm, mà không phát triển phần “hình như thượng” để có thể có tư duy trừu tượng, logíc. Ở ta, do đó, thơ ca dồi dào đến mức lạm phát, còn văn xuôi, nhất là văn luận lý, thì không có. Tiếng Việt như con chim mới chỉ bay bằng một cánh.

Đó là lỗi của việc học và dùng Hán văn (sau này là Pháp văn) làm ngôn ngữ chính thức. Học một tử ngữ là học một tử văn (culture morte). Mà, « xưa nay ở Đông phương cũng vậy, ở Tây phương cũng vậy, nước nào còn tôn sùng một cái văn hóa cổ thì không thể nào có quốc văn, có quốc học được ». Hơn nữa, quốc học là bản thể có sự thống nhất, sự đồng bộ giữa thể và chất, cứu cánh và phương tiện thì văn hóa dân tộc mới phát triển. Dùng Hán văn hoặc Pháp văn để dựng xây quốc học thì hinh chất sẽ làm hại bản thể. Bởi, ngôn ngữ không chỉ là vỏ của tư duy, mà xét cho cùng chính là tư duy. Vì thế, suy nghĩ bằng ngôn ngữ ngoại quốc thì hoặc là anh chỉ lặp lại những tư tưởng có sẵn trong ngôn ngữ đó, hoặc là anh sẽ tư duy y như người ngoại quốc. Trường hợp đầu anh sẽ trở thành một ông đồ chính hiệu (chữ đồ theo nguyên nghĩa là tô lại, lặp lại). Có thể anh cũng trở thành một người học rộng biết nhiều (bác học quảng văn), nhưng đó chỉ là cái học ký ức, chứ không phải là học trí thức ; nó không làm đầu óc ta phát triển, lòng ta say mê kiến thức, ngoại việc nhớ dai, nhất là nhớ máy móc. Trường hợp sau là của những tài năng. Học ngoại ngữ mà tư duy như người bản ngữ là tài năng. Nhất là người sáng tác được bằng ngoại ngữ. Nhưng với họ cũng sẽ xảy ra một tình trạng : một là dù giỏi đến đâu cũng không bằng người bản ngữ giỏi (thư chữ Hán Cao Bá Quát không thể hay hơn thơ Đỗ Phủ, tiểu thuyết tiếng Pháp của Phạm Văn Ký không thể hay hơn tiểu thuyết Camus), hai là một khi đã giỏi bằng họ thì sẽ không còn là mình nữa, dẫu rằng các dấu hiệu nhân chủng vẫn vậy (trường hợp các nhà văn gốc Việt thế hệ F2, F3 ở nước ngoài). Đây là những trường hợp chảy máu tài năng đáng tiếc nhất. Bởi lẽ, họ dần dần trở nên xa lạ với đồng bào, với nền văn hóa gốc của họ. Vì thế, phải phát triển ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là xây dựng một nền văn xuôi, để chắp thêm một cánh tay nữa cho nền quốc học.

Với một sự phân tích rạch ròi, sâu sắc, với một cái nhìn nhiều dự phóng tương lai, Phạm Quỳnh đã là một trong những người đầu tiên cổ vũ và xây dựng nền quốc ngữ. Nam Phong thoạt đầu là tam ngữ : Hán, Pháp, Việt dần dần chỉ còn là tạp chí quốc ngữ. Chữ quốc ngữ với sự giản tiện của nó đã làm báo chí phát triển, phổ cập hóa rất nhanh tư tưởng và tri thức. Rõ ràng đó là một công cụ hữu hiệu. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn chủ trương phải học chữ Hán, phải tận dụng những chữ Hán – Việt trong tiếng Việt, nhất là các thuật ngữ, để làm phong phú tiếng Việt.

Như vậy, tư tưởng chính của Phạm Quỳnh là muốn xây dựng một nền văn hóa Việt Nam không giống Tàu cũng không giống Tây, tuy có tiếp thu tinh hoa cả hai. Và, nếu nhìn đường dây tư tưởng của ông : quốc học => quốc văn => quốc ngữ, thì sẽ thấy ông không lấy quá khứ, mà tương lai làm chuẩn. Bởi vậy, nó mới chỉ là định hướng, một định hướng chiến lược, mà phải biết bao công sức nữa thì mới định hình. Phạm Quỳnh và các đồng chí của ông trong Nam Phong đã đi đầu trong việc xây đắp hình hài này.

Ngoài những bài có tính cương lĩnh như Bàn về quốc học, Quốc học với quốc văn, Văn quốc ngữ, Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây…, Phạm Quỳnh còn tích cực giới thiệu, dịch triết học phương Tây, trong đó ông coi Descartes là ông Tổ triết học Pháp, bởi lẽ ông này mở ra một thời đại duy lý, tác giả của công trình Phương pháp luận bất hủ. Rồi ông giới thiệu tư tưởng Keyserling ; giới thiệu văn chương Pháp (Văn học nước Pháp) với những thể loại mới như tiểu thuyết (Khảo về tiểu thuyết), nhà văn kiểu mới như Maupassant (Một nhà văn tả thực : Guy de Maupassant)… giới thiệu kiểu thơ mới (Thơ ta thơ Tây), nhà thơ kiểu mới (Thơ Baudelaire), giới thiệu cái đẹp (Đẹp là gì ?) như là mục tiêu của nghệ thuật, của mỹ học… Đồng thời từ cái nhìn mới của phương Tây, cái nhìn khoa học, Phạm Quỳnh đã xem xét lại cái vốn của văn hóa Đông Á như Khổng giáo luận, Phật giáo lược khảo, vốn của văn hóa Việt Nam ở tục ngữ, ca dao… Ngoài ra, Phạm Quỳnh còn cổ vũ cho sự phát triển của khoa học và nghệ thuật. Tức xây dựng một nền văn hóa Việt Nam phát triển từ từ từng bước, nhưng đồng bộ.

Là người dung hòa văn hóa Đông Tây, nhưng căn cốt Phạm Quỳnh, có lẽ, vẫn là một nhà Nho, một ông đồ Tây. Nên, cũng như một nhà Nho, ông muốn hành đạo đến cùng. Điều đó hẳn đã gây cho ông một ảo tưởng là nếu làm quan (Thượng thư bộ Học, rồi bộ Lại) thì sẽ dễ dàng đưa vào cuộc sống những tư tưởng tâm huyết của ông về việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam. Người ta cũng tiếc là ông vì việc làm quan này đã bỏ tạp chí Nam Phong để nó phải chết vào năm 1934. Nhưng thực ra, vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí do ông làm chủ bút với tư tưởng dung hòa văn hóa Đông Tây đã đến vãn hồi. Xã hội Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, với một tầng lớp trí thức Tây học, muốn đoạn tuyệt với quá khứ, đưa xã hội Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, theo con đường hiện đại hóa kiểu phương Tây. Họ không làm khảo cứu nữa, mà bằng những sáng tác của mình, khẳng định điều đó.

Tuy vậy, ngày nay, gần một thế kỷ trôi qua, trong hoàn cảnh dường có một cái gì đó lắp lẫn, đọc lại Phạm Quỳnh, nhất là tập Tiểu Luận (Essais 1922-1932), càng thấy quý giá cái di sản tinh thần ông để lại là đối thoại văn hóa. Nơi không có hơn kém, mà chỉ có khác nhau. Nhờ đó, Phạm Quỳnh không tự ty với văn hóa của mình, cũng không khiếp nhược trước văn hóa của người, mà thâu thái được tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Bởi thế, trước người Pháp, Phạm Quỳnh có thể hãnh diện nói về lịch sử Việt Nam, còn trước người Việt Nam ông nói về tinh hoa văn hóa Pháp mà không hề có mặc cảm chính trị. Hẳn vì thế mà Phạm Quỳnh trở thành ngọn gió nam, làm thay đổi khí hậu của một vùng nhiệt đới oi ả.

Đ.L.T.

TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM

Tiểu sử

Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi, Hoa Đường, sinh tại Hà Nội ngày 17/12/1892, quê làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, Hải Dương. Bố là nhà nho mất sớm, được bà nội nuôi ăn học.Bia Nam Phong_tieng viet

16 tuổi : Đỗ đầu trường Thông Ngôn, được bổ làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ.

Từ 1913 : Cộng tác với tờ Đông Dương tạp chí.

1917 : Nhận lời làm chủ bút Nam Phong tạp chí

1922 : Được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai Trí Tiến Đức.

1924-1932 : Được cử làm Giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán – Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội.

1925-1928 : Làm Hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

1932 : Vào Huế làm Ngự tiền văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, Thượng thư Bộ Lại.

3/1945 : Rời chính trường. Sau cách mạng ông bị bắt ở Huế và bị thủ tiêu ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.

Tác phẩm

Trên 210 số báo Nam Phong, Phạm Quỳnh viết rất nhiều thể loại.

- Về khảo luận : Văn minh luận ; Chính trị nước Pháp ; Luân lý học Thái Tây ; Lịch sử và học thuyết Ruxo ; Triết học Ôguyxtơ Côngtơ ; Triết học Becxông ; Văn học sử Pháp ; Khảo luận về tiểu thuyết ; Phật giáo lược khảo ; Người quân tử trong đạo Nho ; Tục ngữ ca dao ; Khảo về Truyện Kiều ; Hát ả đào ; Bàn về quốc học ; Quốc học và quốc văn…

- Về văn du ký : Trẩy chùa Hương ; Mười ngày ở Huế ; Một tháng ở Nam Kỳ ; Pháp du hành trình nhật ký ; Thuật chuyện du lịch Paris.

- Ngoài ra còn nhiều tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, nhiều tác phẩm dịch thuật.

- Các sách in lúc đương thời gồm Nam Phong tùng thư (2 tập), Thượng Chi văn tập (5 tập) in năm 1943.

- Hiện đã in, tái bản : Mười ngày ở Huế (Văn học, 2001), Pháp du hành trình nhật ký (Hội Nhà văn, 2001), Luận văn viết bằng tiếng Pháp 1922-1932 (Tri Thức, 2007), Thượng Chi văn tập (2006).

Đ.L.T.

*

*    *

BÀN VỀ CÁI TINH THẦN LẬP QUỐC

Phạm Quỳnh

Văn hào nước Pháp Ernest Renan trong một bài đại luận đề là Thế nào gọi là một nước? có nói rằng cái nguyên tố dựng ra một nước không phải chỉ ở thổ địa nhân dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau xum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích (cùng lo lắng) đồng hưu (cùng vui hưởng Pham Quynh ban giaythái bình) nhìn về trước thời cùng nhau chung một cuộc lịch sử đề tạo (cấu thành) gian nan, ngó về sau thời cùng nhau chung một lòng hi vọng vẻ vang rực rỡ; nói tóm lại là ở một cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành một cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người cùng như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với sự ngoại hoạn (tai hoạ vì giặc ngoài). Cái mối vô hình ấy, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn. Cái tinh thần ấy phấn chấn thời nước mạnh; cái tinh thần ấy uỷ mĩ (kém hèn) thời nước suy. Có đất có người mà cái hồn chung ấy không có thời chưa thể thành một nước được. Đất đã vào tay chủ khác, dân làm nô lệ cho người, mà cái hồn chung ấy vẫn còn, thời dẫu phân lìa tan tác, bảy nổi ba chìm, sớm trưa rồi cũng có ngày khôi phục (mất rồi lại được). Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc vào hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có.

Cái mối vô hình đó là cái mối thần thánh thiêng liêng, dẫu áp chế cũng không làm cho tiêu diệt được, càng toả chiết (trắc trở) lại càng thêm mạnh bạo hơn; cái mối vô hình đó lại là cái mối mầu nhiệm tinh vi. Có giữ gìn chăm chút thời mới chung đúc kết tinh, nếu bỏ mặc chểnh mảng thời tất phân lìa giải tán. Đã kết tinh rồi thời rắn như kim cương, khó lòng mà vỡ ra được; đã giải tán rồi thời nhẹ như hơi khói, khó lòng mà thu lại được. Cho nên một nước quí không ở đất rộng người nhiều, mà ở cái quốc hồn tỉnh táo mạnh mẽ. Nhỏ như nước Nhật, chon von mấy cái đảo giữa bể khơi, mà oai hùng chấn động cả phương cầu; lớn như nước Tàu, bát ngát bao muôn dặm trên lục địa, mà việc nước lúng túng vẫn chửa xuôi. Là bởi cái tinh thần lập quốc của Nhật đã mấy mươi đời ma luyện (rèn luyện) bằng cái đạo võ sĩ (bushi), bằng cái phong “lãng nhân” (rônin), nay thành như một thanh bảo kiếm, vừa sắc vừa bền, không sức nào bẻ cho gẫy được. Mà cái tinh thần lập quốc của Tàu thời lại mấy mươi đời trầm trệ trong cái học hư văn (văn không thiết thực), trong cái thói hủ lậu, nay ví như một thanh gươm cùn, vừa rỉ vừa nhụt, không thể sao chống nổi với ngoài.

Như vậy thời cái tinh thần lập quốc, cái quốc hồn, là một mối thiêng liêng mà cũng là một mối sinh hoạt. Khéo gây dựng thời nẩy nở phát đạt, vụng chăm nuôi thời héo hắt tồi tàn. Cái công chăm nuôi gây dựng ấy là cái công chung của cả quốc dân. Hễ bao nhiêu người trong nước đều chung một cái ý nguyện cùng nhau kết hợp thành đoàn thể, sinh hoạt được thảnh thơi, thời cái tinh thần ấy tất bàng bạc trong xã hội mà đầm thấm cả mọi người. Nếu mỗi người chỉ biết riêng một thân mình, không thoát ra khỏi cái phạm vi cá nhân mà noi lên tới cái quan niệm về quốc gia về xã hội, cùng nhau ăn ở một đất nước chung, cùng nhau thờ phụng những tổ tiên chung, mà không biết rằng đối với nhau có cái giây liên lạc vô hình, có cái mối quan hệ mật thiết, lại kỳ thị lẫn nhau, coi nhau như kẻ Việt người Tần, gây ra cái tình trạng rời rạc, cái không khí lạnh lùng, thời cái tinh thần ấy càng ngày càng bạc nhược đi, rồi đến tiêu tán đi hết. Đã đến thế thời nước còn mà là mất, dân có cũng như không, vì chẳng qua là một mớ người ô hợp, phất phơ lơ láo, phảng phất mơ màng, chỉ thoảng qua một cơn sóng gió ở ngoài, là rụng rời tan tác như bèo giạt mây trôi vậy. Ấy cổ lai (xưa nay), các dân tộc lìa tan, các quốc gia lụn bại, cũng chỉ bởi cái ý nguyện người dân, cái tinh thần lập quốc đó suy sút bạc nhược đi mà thôi.

Pham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van VinhNói tóm lại thời nước là ở lòng người; cái nguyên tố lập ra nước là tự trong lòng người không phải ở đâu xa. Hễ người ta có cái ý nguyện muốn xum vầy để sinh hoạt cùng nhau, thế là nước thành. Cái ý nguyện ấy càng đằm thắm thiết tha bao nhiêu thời đoàn thể quốc gia càng bền chặt vững vàng bấy nhiêu. Cái ý nguyện ấy đã thấy hững hờ lạt lẽo, thời là đoàn thể quốc gia bắt đầu suy vậy.

Vậy thời theo như lời ông Renan: nước là một cái hồn, một cái tinh thần mầu nhiệm (La nation est une âme, un principe spirituel). Hồn ấy còn là nước còn, hồn ấy mất nước mới mất. Mà còn hay mất là ở cái ý nguyện của người ta, như trên kia đã nói.

Nay xét trong cái nguyên tố tinh thần lập quốc đó, có hai phần: một phần thuộc về quá khứ, một phần thuộc về hiện tại. Thuộc về quá khứ là phần lịch sử: người ta không phải là bỗng chốc mà nên con người được; một nước cũng không phải là hôm mai mà thành một nước được. Tất phải có kinh lịch mấy mươi đời đề tạo gian nan mới thành được: cái lịch sử đó là cái “tư bản” vô hình của một nước. Người ta phải có một cái “vốn kỷ niệm” chung như thế, thời mới có thể sinh tồn thành quốc gia được. Lịch sử càng lắm đoạn vẻ vang, lắm hồi khổ thống bao nhiêu, thời cái “vốn kỷ niệm” ấy lại càng phong phú bấy nhiêu. Mà trong các kỷ niệm, những cái kỷ niệm khổ thống (đau khổ) lại là nhớ lâu hơn cả, vì nó để cái vết sâu trong tâm hồn người ta: đã cùng nhau chịu khổ chịu nhục thời không bao giờ quên nhau được nữa. Thuộc về hiện tại thời đã có cái “vốn” chung như thế, phải có cái chí muốn đem cái “vốn” ấy ra mà cùng nhau mở mang, cùng nhau hưởng thụ, như cái hương hoả chung của ông cha để lại cho anh em trong một nhà vậy. Nếu chểnh mảng mà để cho cái “vốn” ấy suy sụt đi thời không những có tội với tổ tiên, mà lại có tội với hậu thế, vì cái hương hoả ấy phải truyền mãi đời đời, không được đoạn tuyệt, mà mỗi đời lại phải bồi bổ gom góp thêm mãi vào cho phong phú hơn lên.

Đã tiếp thu được cái hương hoả của đời trước, lại có cái chí nguyện thiết tha muốn bảo tồn lấy cái hương hoả ấy, khuếch trương cho nó phong phú thêm, để truyền thụ cho đời sau, đời đời kế tục nhau như thế, thời quốc vận sẽ vững vàng như Thái sơn Bàn thạch, cùng với núi sông hoa cỏ sinh tồn mãi mãi trong thiên địa gian vậy.

Như nước Nam ta, kể cũng có thể là một quốc gia hoàn toàn. Không những đất rộng người nhiều, chủng tộc, tôn giáo, ngữ ngôn, phong tục từ Nam chí Bắc cũng là một, không gì gián cách nhau, mà cái tinh thần lập quốc xưa kia cũng đã từng lắm phen tỏ ra mạnh mẽ tỉnh tao vô cùng. Không nói tự đời Trưng vương Triệu Ẩu, nước còn là bộ lạc có lẽ cái tinh thần ấy còn phảng phất mà chưa chung đúc lại thành quốc hồn; nhưng hồi Trần hưng Đạo đánh giặc Nguyên, hồi Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, cử quốc (cả nước) đều cùng một lòng theo ông tướng tài, ông vua giỏi mà chống cự với quân ngoại địch, đến thu phục được giang sơn nước nhà ở tay kẻ cường lân (láng giềng mạnh), thời cái quốc hồn của ta bấy giờ kể cũng đã quật cường lắm vậy. Mà cái lịch sử của ta kể cũng đã vẻ vang lắm thay! Thuộc về quá khứ như thế, mà thuộc về hiện tại thế nào? Xưa kia quật cường bao nhiêu, bây giờ (1931-PT chú) xem như uỷ mĩ bấy nhiêu; xưa kia vẻ vang bao nhiêu, bây giờ xem ra suy đồi bấy nhiêu. Nhà thuật số (nghiên cứu bát quái, ngũ hành suy ra hoạ phúc con người) thời cho cái vận hội nước nhà đến hồi như thế, qua hồi này, rồi đến hồi khác, cũng giang sơn ấy, cũng anh hùng ấy, cũng có ngày vẻ vang quật cường, có kém chi xưa. Nhà tâm lý, nhà xã hội thời cho là cái tinh thần lập quốc của ta có suy nhược đi nhiều; cái chí nguyện chung của quốc dân có phần sút kém, không được vững bền như xưa; cái lòng tín ngưỡng ở tổ tiên, tự tin ở sức mình, là cái năng lực của kẻ anh hùng hào kiệt, cũng bị thời thế, bị hoàn cảnh nó tiêu ma mà mai một đi mất. Cái bệnh suy nhược của quốc gia ta ngày nay, bởi ngoại cảm cũng có, mà bởi nội thương phần nhiều. Muốn bồi bổ cho bình phục lại và phấn phát lên thời liệu trị ở ngoài đã đành mà điều dưỡng ở trong lại cần lắm. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị là thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tuỳ tình thế, tuỳ cơ hội mỗi lúc mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy có một phương: là bồi bổ cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn tỉnh tao lên. Đó là cái nghĩa vụ chung của cả quốc dân. Nội thương đã trị được thời ngoại cảm tất cũng cũng phải trừ. Quốc hồn đã khôi phục thời mọi vấn đề chính trị sớm trưa ắt sẽ giải quyết xong. Cốt nhất là quốc dân phải tỉnh ngộ mà sớm nên chú trọng về phần hồn, dẫu gặp cảnh yếu hèn cũng chớ nên cam tâm yên phận, biết tin ở nước, tin ở mình, phấn phát (cố gắng) tự cường, thời trở lực nào mà ngăn được cái sức mạnh tinh thần đó? Lại cốt nhất là phải đồng tâm hiệp lực với nhau, cố kết cùng nhau, thời yếu mà cũng trở nên mạnh được, dẫu mỏng như cánh bèo cũng có thể che được mặt nước, chắn được trời xanh. Đời nhà Mạc, tướng Tàu Mao Bá Ôn muốn đem quân sang đánh nước Nam, có ý khinh nước ta, ví như cái bèo trên mặt nước, vịnh bài thơ bèo rằng:

“Cái bèo kia mọc theo ruộng nước nhỏ như cái kim mọc ở chỗ nào cũng không được sâu; cây không có gốc rễ mà không có cán (thân cây), thể sao có ruột với có cành được; chỉ biết mọc xúm lại một chỗ, rồi tan đi đâu không biết, chỉ biết lúc nổi trên mặt nước, rồi chìm lúc nào không biết; gặp khi chiều trời cơn gió ác, quét ra hồ bể biết đâu mà tìm! – Cụ Trạng Giáp Hải họa lại bài thơ ấy rằng:

“Bèo kia mọc ken như vẩy gấm, khó luồn được cái kim vào; cành rễ liền nhau mọc rất sâu. Thường cùng với đám mây ráng trên trời mà tranh mặt nước, không để cho mặt trời chiếu xuống lòng nước được. Sóng đánh nghìn trùng không phá vỡ được; gió thổi muôn lần không đánh chìm được. Nào cá nào rồng ẩn cả trong đám bèo ấy, đến cần câu ông Lã Vọng cũng không biết đâu mà tìm!”

Ấy cái bèo nước Nam ngày xưa hùng như thế; tranh được cả bạch vân (mây trắng), chắn được cả hồng nhật (mặt trời đỏ), mà dung được bao nhiêu kẻ hào kiệt anh hùng. Có lẽ ngày nay để cho phong trào thế giới quét sạch ra bể hồ hay sao? Nếu không biết cố kết lấy nhau, mọc ken như vẩy gấm, mà nối lá liền rễ cùng nhau, thì đến thế thật.

P.Q.

Tháng Tám 14, 2014

Vẫy vào vô tận

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:49 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

Sách mới của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy:

VẪY VÀO VÔ TẬN

TÙY BÚT CHÂN DUNG HỌC THUẬT

Bao gồm các bài viết về Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nhất Linh, Đinh Gia Trinh, Văn Tâm, Hoàng Ngọc Tiến, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Văn Tấn, Nguyễn Tài Cẩn, Đặng Tiến, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Dương. Sách do NXB Phụ Nữ ấn hành, quí II năm 2014, 464 trang.

Đề từ của sách ở trang 7 như sau:

Giơ tay ta vẫy vào vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai

                                                                                                Phạm Hầu

     (Vọng Hải Đài)

Đầu tập sách là Đôi lời thưa trước:

“Tôi thích viết về các nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng. Họ là những người bị đời thường che khuất, thậm chí chịu oan khuất. Cái oan khuất của những người nguyện hiến cuộc đời mình cho sự kiếm tìm sự thật, mà sự thật nào thì cũng là một cái khác, hay ít nhất cũng làm đổi khác một nếp cảm, nếp nghĩ, hay một cái nhìn đãVay vao vo tan đóng cặn. Điều này gây sự bất ổn cho đám đông.

Tuy nhiên, bi kịch thực sự của con người nằm trong chính thân phận của họ. Một sinh thể hữu hạn, bị quy định của ở đây và bây giờ, lại ham muốn cái vô hạn, cái toàn hiện, nằm ngoài không gian và thời gian. Tuy vậy, chính cái cuồng vọng ấy mới làm cho con người trở thành con người, dù sự cố công của họ, xét cho cùng, cũng chỉ là một cái vẫy tay vào vô tận. Nhưng là những cái vẫy tay của người bay ở chân trời.

Từ Chân trời có người bay (Văn Hóa Thông Tin, 2002, 2006) đến Vẫy vào vô tận (Phụ Nữ, 2014) là cùng một bút pháp: những tùy bút chân dung, chân dung nhìn nghiêng, chân dung học thuật. Nhưng nếu ở cuốn trước, các vấn đề chủ yếu được triển khai theo chiều ngang, chiều xã hội, hữu thức, tâm linh. Tuy vậy, bạn đọc cũng có thể tìm thấy tọa độ của hai chiều kích này tỏ mờ ở từng bài viết.

Nếu Chân trời có người bay trước đây có 17 chân dung thì với 17 chân dung lần này, trong Vẫy vào vô tận, giúp bạn đọc hình dung được con đường hình thành người trí thức Việt Nam, tài năng và nhân cách của họ, đặc biệt đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng con đường học thuật và tư tưởng của đất nước.

Con đường ấy chạy theo sơ đồ con lắc. Người này đi hết mình về phía A, mở rộng được đường biên thêm một nấc nữa thì lại bộc lộ nhược điểm. Người khác, để khắc phục nhược điểm ấy, lại đi hết mình về phía B và cũng lại bộc lộ nhược điểm. Người thứ ba lại đi về phía A. Cư như vậy, hành trình khoa học tiến lên qua những lần mở rộng biên độ ấy. Bởi thế, nói đến thành công của một nhà khoa học cũng là nói đến sự lấn rộng đường biên khoa học của người đó.

Con đường ấy cũng là con đường chuyển đổi từ hệ hình học thuật này sang hệ hình học thuật khác, từ chân trời nay đến chân trời khác. Thế hệ các nhà khoa học đã qua hoặc không có chân trời, hoặc chỉ có một chân trời mà họ cố công tìm kiếm. Đây là chiến công và cũng là giới hạn của họ. Thế hệ khoa học mới bây giờ đã có nhiều chân trời để bay. Vấn đề là khát vọng bay và, quan trọng hơn, biết bay. Viết Chân trời có người bay Vẫy vào vô tận, tôi không tôn vinh quá khứ, mà để kiến thiết một Hiện tại.

23/8/2013.

 

Xa-văn-na-khệt năm xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

XA-VĂN-NA-KHỆT năm xưa

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề của chúng tôi là phần trích trong bài Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh viết từ năm 1931 trong Tạp chí Nam Phong các số 158-159 các tháng 1 và 2 năm 1931, in lại trong tập I Du Ký Việt Nam của NXB Trẻ năm 2007 từ trang 413-458

—o0o—

Đường xa chớ ngại Ngô, Lào…

Ngày xưa, đi sang Tàu với sang Lào là gian nan hiểm trở vô cùng. Nhưng sang Tàu còn là sự thường, cống sứ vãng lai, không mấy năm không có người Nam Việt đi đến Yên Kinh.

(…)

Chứ đi sang Lào thì không mấy ai đi. Đường đi đã cách trở, mán mọi còn thú gì. Tục có câu: “Sang Lào ăn mắm nhái”, đủ biết cái phong vị dã man kham khổ là dường nào! Trừ lính đi viễn chinh, tù phải phát vãng, mới mon men đến giáp ranh nước Lào, thời rừng sâu nước độc, mười người đi một người về, những ngheVoi o Lao nói đã rùng mình, còn ai hứng đi du lịch?

(…)

Gần đây đường giao thông với Ai Lao đã mở mang, người Nam ta sang làm ăn bên ấy mỗi ngày một đông, các thành phố mới lập như Thakhek, Vientiane, Savannakhet, người mình có lẽ nhiều hơn người bản dân.

Đã lâu nay tôi vẫn có ý muốn đi Lào một chuyến, để trước là biết qua phong thổ đất Lào, sau là thăm đồng bào ta ngụ cư bên đó.

Gần đây có dịp, tôi cùng quan Tổng đốc Hoàng Trọng Phu đi du lịch xứ Lào.

Đi Lào hiện có hai đường chính: đường Vinh – Thakhek và đường Đông Hà – Savannakhet. Chúng tôi định đi một đường, về một đường, cho biết cả hai. Vậy bữa đi đi đường Quảng Trị, bữa về về đường Nghệ An.

(…)

Tự đây trở đi là vào địa phận Ai Lao, phong cảnh lại càng rừng rú lắm. Về địa phận An Nam, còn có người đi lại, từ đây thời hàng chục cây số, trên đường vắng vẻ, hầu như không có một người nào. Đường chạy ngang với con sông Sé Pone, cho đến Ban Tha Kong là nơi hợp lưu với sông Sé Bang Hiên, hiện đương bắc cái cầu sắt 165 thước chưa xong. Trước Ban Tha Kong mấy cây, có một cái làng to tên là Tchépone, cách đường cái 800 thước, được ngót ba nghìn người, vừa An Nam vừa Lào, có quan đại lý Tây, thuộc tỉnh Savannakhet. Gần đây có mấy cái mỏ thiếc đương khai, nên người đi lại cũng có.

Từ đây là hết địa phận giống Kha Lơ ở, đến địa phận Phu Thai, là một giống Lào. Phong cảnh cũng khác hẳn. Không có rừng rậm núi cao nữa, chỉ toàn rừng thưa đất cát mà thôi, xe chạy bụi bay lên như mây.

(…)

Con đường thuộc địa thứ 9 này hiện đương sửa sang làm rộng ra, cu li An Nam sang làm đông lắm, xem ra cũng chịu được thủy thổ và cũng được đủ ăn. Phần nhiều là người Quảng Bình, Quảng Trị, người Nghệ Tĩnh và người Bắc Kỳ cũng có, làm ăn lẫn cả với người Lào, nhưng làm cai, thầu khoán thì hầu hết là người An Nam cả.

(…)

Cách ba bốn chục cây đến Savannakhet thời rừng thưa đã đổi làm rừng rậm, trông cảnh sắc cũng biết rằng đã gần đến bờ sông lớn vậy.

Đến Savannakhet thời đã tối mịt, đi tự Huế tới đây ngót 400 cây số, chỉ nghỉ có vài giờ đồng hồ buổi trưa ở Tchépone để ăn cơm. Chính con đường thuộc địa số 9 thời có 328 cây, đường này sửa xong thì rộng rãi và tốt lắm, mùa nắng mùa mưa đi được cả, chứ đường Vinh – Thakhek thì chỉ đi được mùa tạnh mà thôi.

Savannakhet là một tỉnh lỵ lớn, ở trên bờ sông Cửu Long, dân số được 3000 người, phần nhiều là người An Nam cả. Buôn bán đường thủy đường bộ cũng to. Đường bộ thì các rừng các bạn (bạn, tiếng Lào là làng xóm) chung quanh đem những nông sản lâm sản đến đấy bán; đường thủy thì tầu ghe ở miền dưới lên, miền trên xuống tất đỗ ở đó rồi mới đi. (…) Tự Savannakhet cho đến Vientiane là triền bằng phẳng hơn cả, cho nên có phiêu tầu của công ty Messageries fluviales chạy đều đặn mỗi tuần lễ hai lần, chở hàng hóa cùng hành khách dem pho co Thakhekcả hai bên bờ Xiêm và Lào.

(…)

Cách người Lào ở khác hẳn người ta. Họ toàn ở nhà sàn cả, giàu nghèo cũng như nhau. Nhà làm bằng gỗ, lợp lá, hoặc lợp ngói, tầng dưới bỏ không, có cái thang lên, tối cất đi. Gian mới bước lên để trống như cái hiên, tức là phòng khách đó, còn vào trong che kín là chỗ ở. Đàng sau là bếp nước. Toàn ở trên sàn cả. Dưới thì nuôi các súc vật.

Ở làng xóm cũng như ở trong phố, nhà nọ nhà kia trông thấy nhau được, cũng có khi trồng chuối trồng dừa, nhưng là để cho xanh mát mà thôi, chứ không phải để làm rào chắn.

Savannakhet có một vài phố nhà Lào như thế, coi ra cái cảnh nhà quê, không có gì là vẻ thành thị. Còn những phố phường buôn bán thì toàn người Nam và người Khách cả.

Tôi có vào cửa hàng một người đàn bà Xiêm lai Khách, nói tiếng An Nam được, xem cách họ bán hàng với người Lào lạ lắm. Có một bọn năm sáu người chừng ở nhà quê xa ra, da đen như đồng đen, ống chân vẽ chằng chịt, – cái tục vẽ mình ở Lào thịnh hành lắm, – vào hàng hỏi mua quần cộc và áo nịt. Họ ngồi cả xuống chiếu, như khách vào chơi. Chủ đưa hàng ra, mỗi người xem một lượt, bàn soạn với nhau. Trước mặt đã bày sẵn một lượt bát, như bát mở họ vậy. Định mặc cả bao nhiêu thì lấy tiền trong túi ra bỏ vào bát. Người chủ không bằng lòng lắc đầu, nói rẻ quá không thể bán được. Trong bọn có người nào muốn trả hơn thì bỏ vào trong bát mình thêm lên năm xu một hào gì nữa. Nếu được giá, nhà hàng thuật bán, thì người nào mua cũng phải theo giá ấy cả. Khác nào như một cuộc bán đấu giá vậy, nhưng bình tĩnh yên ổn lắm, không có tiếng mặc cả ồn ào, kẻ nói đi người nói lại như các cửa hàng ta. Thật là ung dung lắm mà người nào cũng có mặt vui vẻ tươi cười.

Nghe nói những người nhà quê đó, thứ nhất là người Khá nuôi voi, có khi trong nhà có mầy nghìn bạc, vì bán một con voi cũng đủ được cái vốn to rồi. Nhưng họ có bạc họ chôn, chứ cũng không biết tiêu dùng gì.

Savannakhet, xem qua phố phường rồi, lại xem một cái chùa Lào nữa. Nhưng chùa ở dây tầm thường lắm, phải lên Vientiane mới có chùa đẹp. Chùa nào cũng có một nơi chính điện thờ Phật, xây bằng gạch, hình chữ nhật, chạy dọc hai mái thật dốc như cái dấu mũ vậy. Còn ở ngoài là các tịnh xá của sư, cũng lối nhà sàn như trong dân gian. Chùa nào cũng có một cái nhà sàn lớn bỏ không, như cái quán, gọi là sala, để cho khách thập phương đến trọ. Sư toàn khoác áo cà sa sắc vàng, để trần một cánh tay, chùa nào cũng đông lắm.

(…)

Định ăn cơm trưa sớm, rồi một giờ lên đường đi Thakhek. Nếm một món ăn phổ thông của Lào, – không phải là mắm nhái đâu! – Là một thứ canh bún, như bún bung của ta, gọi là khaopun: bún chan một thứ canh có nước nghệ, nước dừa, có thịt có cá, có các thứ rau, ăn cũng lạ miệng. Thứ này người Lào thích ăn lắm, ngoài đường phố thường có người bán. Nhưng làm theo đúng như lối họ thì phải dùng một thứ mắm cũng nặng mùi như mắm tôm của ta, không quen thì khó ăn. Nên hôm ấy giảm bớt thứ gia vị ấy, mà nấu theo lối Tây một chút, làm nóng nẩy dễ ăn lắm. Cũng là Lào mà Lào đã “duy tân” rồi, không phải là Lào ròng vậy!

Sản vật của Lào, ai cũng biết rằng duy chỉ có thứ gấm dùng để làm xiêm, làm yếm cho đàn bà, là đẹp hơn cả. Gấm ngũ sắc, dệt đủ các huỳnh miếng trám, lại có xen đường chỉ bạc chỉ vàng, công phu lắm,và coi cũng vui mắt. Nhưng gần đây, họ dùng tơ chuối nhiều lắm, không mấy mảnh là được thuần tơ thật, nên coi thì bóng bẩy mà chẳng bao lâu rách nát ngay. Nghĩ dệt công phu như thế mà dùng tơ giả, thật uổng công quá. Họ thường dệt thành từng mảnh, đủ làm cái xiêm hay cái yếm mà thôi, nên ta dùng cũng không được việc gì.

(…) Người Lào hay người Phu Thai thì tính vui vẻ, nhưng lười biếng, không chịu khó làm ăn. Đối với khách lạ có bụng hoan nghênh. Có tục hễ nhân dịp vui vẻ gì liền mở hội, họp nhau lại mà hát đúm, tiếng Lào gọi là làm bun.

Bữa ở Vientiane, chúng tôi có đến một làng cách đấy hai cây số xem họ làm bun. Bấy giờ là buổi tối vào tám chín giờ. Nơi ấy là một nơi chùa làng, chung quanh có sân rộng. Ngoài sân làm mấy dẫy quán bằng tre bằng lá, trong quán trải chiếu xuống đất, các phu sao tức là con gái vùng ấy mặc xiêm mặc yếm sặc sỡ coi vui mắt lắm, đến ngồi cả từng dẫy dài, ăn trầu nói chuyện với nhau. Bấy giờ những phu bao là con trai đi lượn chung quanh, thấy người con gái nào vừa ý thì đến ngồi ngay trước mặt, đem cái kèn gọi là khene dến thổi và hát, toàn những giọng phong tình như hát trống quân hay hát quan họ bên ta. Duy có khác là chỉ có con trai hát, còn con gái thì ngồi nghe không phải đáp lại. Ởi giữa sân thì các nhà hàng chong đèn lên bán những quà bánh cho khách đi xem. Trong đám hội đó kể có nghìn người, mà không có cái cảnh ổn ào náo nhiệt như ở bên ta. Đó cũng là do cái tính người Lào hiếu tĩnh, dù khi hội hè cũng không có huyên náo..

Có một điều lạ, là ở trong quán có đặt giường để các vị sư ngồi hình như chứng kiến cho cuộc vui đó. Hỏi ra thì lệ thường ở đây phàm khi mở hội như thế này, trước có hát đúm, rồi sau thì lễ Phật, cho nên các nhà sư đến đấy là túc trực để sớm mai tụng kinh làm lễ. Lễ này là lễ dâng hoa, con trai con gái trong làng đem hoa đến dâng sư và cúng Phật.

Hội hè mà coi cảnh tượng có vẻ êm đềm tự nhiên lắm. Đó chính là cái tâm lý của người Lào, chỉ biết thủ thường yên phận, vui vẻ tự nhiên, không muốn khó nhọc lo lắng gì cả. Cái tính cách đặc biệt của người Lào đó, tiếng họ gọi là sừ sừ. Sừ sừ nghĩa là cứ tự nhiên, gặp sao nói vậy, sống ngày nào biết ngày ấy, cẩu thả qua thời, không lo xa nghĩ ngợi gì cả. Vì cái tâm lý đó mà người Lào xem ra khó lòng tự lập được ở đời này (…)

Làng nào cũng có chùa, chung quanh chùa có tháp, tiếng Lào gọi là thát. Người Lào theo đao Phật thuộc về Nam Tôn Tiểu Thừa, như Cao Miên, Xiêm La vậy. Sư ở đây là hạng thượng lưu học thức, nên được dân gian tôn trọng lắm. Nhà tử tế ai cũng cho con đi ở chùa để học chữ học đạo, người nào phát nguyện đi tu thì ở luôn, còn thì ở một vài năm rồi lại về nhà.

Đó là phong tục chính của người Lào, còn người Khá thì cách ăn ở hãy còn mộc mạc thô lỗ lắm. Thờ cúng toàn thờ cúng các ma rừng, họ gọi là phi, cũng có những thầy mo thầy cúng như các dân mạn ngược ta. Có khi trong làng họ có cái hèm gì thì họ đóng cửa, nội bất xuất ngoại bất nhập, rồi họ làm lễ ăn uống với nhau hàng mấy ngày. Họ có cái tục uống rượu cần cũng như người Tầy hay người Mọi. Hễ có khách lạ đi qua thì họ đem rượu ra thết, để trong cái hũ bắc cần mà hút.

Tiếng Lào hơi na ná tiếng Xiêm, thuộc loại tiếng Thái, âm vận nhiều chỗ giống với tiếng Nam ta. Các nhà bác ngữ học cho rằng tiếng An Nam ta hồi xưa cũng là một chi trong dòng tiếng Thái, sau này chịu giáo hóa bằng chữ Tàu mà càng ngày càng sai biệt đi. Nghe người Lào nói hay hát xa xa có khi phảng phất như tiếng An Nam vậy.

Ấy đại khái tính tình, phong thổ, tôn giáo, ngữ ngôn của các dân Ai Lao như vậy.

(…)

Đất Ai Lao vẫn rộng rãi, có đủ chỗ dung được mọi người. Người An Nam sang ở đấy không sợ bao giờ đến đông quá mà trở ngại cho người Lào. Hiện nay và sau này, bao giờ người Nam cũng là cần cho sự mở mang kinh tế xứ Ai Lao vậy.

Tháng 1 + 2/1931

P.Q.

*

*   *

SỨC SỐNG MỚI Ở XA-VĂN-NA-KHỆT

Bài và ảnh: Trần Duy Tân

(Bài trên trang Quốc Tế báo Nhân Dân số ra ngày 9/8/2014)

Xa-văn-na-khệt giờ đây đã khoác trên mình tấm áo mới với những công trình khang trang đem lại sức sống mới cho cả thành phố và những bản làng. Một cuộc sống tươi vui, ấm no, hạnh phúc của người dân trên vùng đất lửa đạn năm xưa đang ngày càng khởi sắc.

Thăm Xa-văn-na-khệt, chúng tôi có dịp rong ruổi dọc đường 9 là nơi ghi dấu những chiến công lẫy lừng của Quân đội nhân dân Việt Nam hiệp đồng chiến đấu với Quân đội giải phóng nhân dân Lào, đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719″ của địch hồi năm 1972. Và giờ đây, con đường 9 là huyết mạch quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, thương mại của tỉnh Xa van na khetNam Lào này. Rộng 21.774 km 2 , gồm 15 huyện, với 1.543 làng, từ lâu đây là tỉnh thuần nông, có tới 84% diện tích trồng lúa. Hai bên đường là những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Lúa gặt được chất đống trên bờ. Thấp thoáng ven làng những chú bò vàng nhẩn nha gặm cỏ. Những xóm nhỏ yên bình sau lũy tre xanh, rặng chuối, vườn đu đủ, dừa, mít… gợi nhớ cảnh miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Trong vòng xoáy của toàn cầu hóa, nhưng Xavăn-na-khệt vẫn giữ được không khí yên ả, thanh bình, nếp sống nhân hậu, trật tự, kỷ cương nay được nói tới như một miền đất lành chim đậu.

Tôi là con nhà nông. Vác cày đưa trâu ra đồng. Sống với ruộng đồng, nghề nông, lời ca mộc mạc trong bài hát rất quen thuộc của đồng bào các dân tộc nơi đây (Dên xạ bai xao na, Hạnh phúc người nông dân) nói rằng, tại Xa-văn-nakhệt này nghề nông là nghề chính. Nhưng đó là khoảng 26 năm trước kia, khi đất nước chưa tiến hành cải cách. Từ ngày mở cửa, tỉnh đã phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm, xây dựng nhiều nhà máy xi-măng, có nhà máy công suất 500 tấn/ngày; phát triển trồng cây cao-su, sản xuất phân bón, khai thác gỗ, lâm sản, vàng… xuất khẩu tới 15 nước. Cơ cấu ngành nghề cũng khác trước, công nghiệp đóng góp 23%, dịch vụ hơn 22% vào nguồn thu của tỉnh.

Thị trưởng Xu-phăn Kẹo-mixay cho biết, Xa-văn-na-khệt không có bất cứ hạn chế nào đối với các nhà đầu tư. Điều kiện rất thông thoáng, thuận lợi, cụ thể với công ty 100% vốn nước ngoài, thời hạn thuê đất từ 50 đến 70 năm; không đánh thuế sản phẩm xuất khẩu; thuế 0% vật liệu xây dựng, thiết bị, máy móc nhập khẩu. Năm 2013, tỉnh cấp phép cho 13 dự án đầu tư của Thái-lan, 10 dự án của Việt Nam, sáu dự án của Trung Quốc, các dự án của Ô-xtrâyli-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po… với tổng giá trị vốn đăng ký gần 450 triệu USD. Các lĩnh vực được các đối tác quan tâm nhất là trồng cao-su, trồng mía. Tỉnh kêu gọi đầu tư vào các dự án mới như lúa chất lượng cao, nước nóng thiên nhiên, sản xuất hàng mây tre, đồ gỗ, trồng cây công nghiệp, y học dân tộc…

Hành lang kinh tế đông-tây (EWEC) dài 1.450 km đi qua bốn nước, bắt đầu từ TP cảng Mô-la-mi-in (bang Mon) đến cửa khẩu My-a-oa-đi (bang Kay-in) trên biên giới Mi-an-ma – Thái-lan; ở Thái-lan, chạy từ Me Xọt qua bảy tỉnh: Tạc, Xukhố-thai, Ka-la-xỉn, Phít-xạ-nulốc, Khỏn-kèn, Y-a-xô-thon và Mục-đa-hản; ở Lào chạy từ Xavăn-na-khệt đến cửa khẩu Đen-xa-vẳn và ở Việt Nam chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua Quảng Trị, Huế và kết thúc tại cực đông là cảng Tiên Sa (TP Đà Nẵng). Đây là tuyến đường bộ duy nhất nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, mở đường ra biển cho khu vực đông – bắc của Thái-lan và Lào. Chính vì thế, chuyện làm ăn của người Xa-văn-na-khệt giờ đây còn gắn với hành lang này trong khuôn khổ các dự án hợp tác khai thác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS).

Trao đổi ý kiến với chúng tôi về chiến lược của tỉnh để khai thác tốt cơ hội mà dự án mở ra, Phó Thị trưởng TP Xa-văn-nakhệt Phô-thi-lát cho biết: EWEC có khoảng 80 dự án, tập trung vào các lĩnh vực giao thông, năng lượng, viễn thông, du lịch, thương mại, nông nghiệp, khu công nghiệp… rất phù hợp nhu cầu phát triển của Lào. Tỉnh vạch chiến lược phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn để đón đầu. Về nông nghiệp, chú trọng giống tốt, ứng dụng công nghệ sinh học bằng các biện pháp khuyến nông, làm ra sản phẩm nông nghiệp sạch để xuất khẩu. Về thủ công mỹ nghệ, tăng sản lượng hàng mây tre đan, chạm khảm, khắc gỗ, vải nhuộm, chất lượng cao, bảo đảm uy tín thương hiệu để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản và châu Âu. Mở rộng buôn bán với Cam-pu-chia, Thái-lan, khai thác tốt các điểm du lịch sẵn có, mở các tuyến du lịch mới với Việt Nam và Thái-lan, thu hút du khách tham gia các loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch di tích lịch sử, bằng đường bộ và một điều thú vị, trên hành trình này du khách còn được trải nghiệm “Một ngày ăn cơm ba nước” (sáng ở Thái-lan, trưa ở Lào và tối ở Việt Nam).

Trong khuôn khổ các dự án hợp tác GMS, các doanh nghiệp Xa-văn-na-khệt và các tỉnh miền trung Việt Nam đã và đang đẩy mạnh giao lưu trên nhiều lĩnh vực. Đà Nẵng xúc tiến các thỏa thuận về thương mại, tư vấn thiết kế, xây dựng, công – nông nghiệp với các tỉnh của Lào, trong đó có Xa-vănna-khệt; đã triển khai một số hợp đồng như Công ty cơ khí Đà Nẵng xây dựng Nhà máy phân vi sinh Xa-văn-na-khệt; Tổng công ty xây dựng miền trung hợp tác với Xa-văn-nakhệt thi công hồ thủy lợi Xê-lanong, đào nền quốc lộ 12A, làm mặt đường biên giới Việt -Lào; hỗ trợ heo giống và còn xây dựng trạm nghiền thức ăn gia súc cho hai tỉnh Xa-la-văn và Xê-coong, v.v.

Việc hình thành EWEC sẽ liên kết các ngành công nghiệp của Việt Nam, Lào và Thái-lan với nhau, tạo nên chuỗi điểm nhấn liên hoàn Đà Nẵng – Phú Bài – Lao Bảo (Việt Nam) – Xavăn-na-khệt (Lào) – Mục-đahản (Thái-lan), tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại, mở cơ hội lớn cho tăng trưởng du lịch và hình thành các ngành công nghiệp mới, hiện đại như công nghiệp điện tử, tin học. Đất lành Xa-vănna-khệt sinh sôi, mang lại cho hơn tám nghìn dân lợi ích thiết thực và lâu dài.

D.T.

Tháng Tám 5, 2014

Xét Tật Mình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 8 năm 2014.

XÉT TẬT MÌNH

Nguyễn Văn Vĩnh

(Bài trong sách Vẫy vào vô tận của Đỗ Lai Thúy – NXB Phụ Nữ, quý II/2014, từ trang 80 đến 84)

—o0o—

(Nói hết để biết hết, để chữa hết)

TOUT DIRE POUR TOUT CONNAȊTRE,

POUR TOUT GUÉRIR

E.ZOLA

« Le Dr. Pascal »

Các nết xấu, các hủ tục của người Việt Nam ta, cần nói ra hết, đừng có giấu giếm, ai cũng biết thì mới sửa được. Luân lý phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầm mống điều thiện để tự giác làm điều thiện. Nếu cứ nói cứ bắt buộc phải thế này không được thế kia thì khó nghe, uổng công nói, mà phải cho biết rõ làm việc thiện lợi thế nào, làm điều xấu hại ra sao thì người ta dễ theo. Người có bệnh phải biết rõ bệnh, căn nguyên bệnh thì mới uống thuốc mà khỏi. Trong xã hội có nhiều hủ tục, đã thành thói quen của cộng đồng, một người hay một thiểu số knguyen van vinhhông đủ sức đấu tranh để sửa mà nên phô bầy ra, rõ ràng cái xấu, căn nguyên cái hại để Nhà nước biết, để đa số nhân dân biết, khi đó lệnh của Nhà nước hợp với ý dân thì mới sửa được.

Vì vậy mỗi số sau sẽ trình bày cụ thể một tệ hủ bại, phân tích rõ gốc rễ và điều hại cho dân cho nước để cùng nhau sửa (từ Đông Dương tạp chí số 6)

Năm xưa tôi có đăng báo mấy bài luận về các nết xấu, và các hủ tục của người An-nam ta.

Bây giờ cũng nhiều người thích xem những bài nghị luận ấy, mà cũng có người trách tôi, sao lại cứ đi bới xấu người minh ra cho thiên hạ chê cười.

Ông nào trách chê cũng là trách lầm mà ví dù có người chê cũng là chê lán.

Có một ông sĩ-danh Lang-sa đã nói rằng : đời nào nhân loại cũng vẫn có bấy nhiêu cái điên-dồ, cũng có bấy nhiêu cái dại dột mà tiêu dùng. Điên dồ và dại dột của loài người tự hồ như một cái vốn, đặt tiền nắm lãi chạy, hoặc dùng cách này, hay dùng cách khác, cũng vẫn sinh tức ra bấy nhiêu cho mà tiêu, mà vốn vẫn không hao mòn đi chút nào.

Thì dẫu bên Âu châu cũng vậy, bên Á châu ta cũng vậy, cái dại dột của người ta cũng không có kém gì nhau.

Cái văn minh Âu châu cao hơn ta, là vì người Âu châu cũng có bấy nhiêu dại, nhưng mà nhiều người biết dại, mà cách xét học sự dại sâu sắc vô cùng.

Người ngu, dở sách tiểu thuyết Tây ra coi, thấy bầy phơi các cựa gà kín của muôn việc con người ta hằng ngày làm ra, thì mới cười. Còn người trí thì chịu ngay Âu châu học cao về cái cách chiết vặn vụn ra hết cả những xó góc nhân tâm ấy.

Cứ suy xét như thế thì cái căn thiện ác của người ta nó rành rành ra đó, người ta có xem thấy cái gốc rễ mọi việc của mình, thì ăn ở trên đời này mới theo được chính đạo.

Ví nếu cứ khuyên người đừng làm cái này, nên làm điều kia, mà không xét cho ra rằng làm cái này, điều kia vì cớ gì, thì sách dạy luân lý vẫn cứ uổng mãi, vì điều thiện điều ác, điều hay điều dở, thì dù cái hay ngay bên cạnh tay, làm dở vẫn hoàn dở.

Cho nên chính luân lý là cách để người ta biết gốc rễ điều ác, để mà tránh những thế phải làm ác ; biết mầm giống điều thiện, để mà gây nên điều thiện, chớ không phải là sách dậy nên các từ ác theo thiện, là dạy nhảm uổng công người dạy, lại trái ý khi nghe, vì nhời thằng Lợi bao giờ vẫn êm tai hơn nhời ông Nghĩa.

Vậy thì đạo tu thân ngày nay cốt ở việc xét mình. Như người có bệnh muốn chữa khỏi phải biết mình có bệnh chi, mà bệnh căn ở đâu, thì uống thuốc mới công hiệu. Chớ có bệnh mà lại cứ chuyên học một câu : nên mau khỏe đừng nên ốm, thì học mà làm gì.

Bởi thế, tôi trộm nghĩ rằng : dân An-nam ta ngày nay muốn chóng theo được dấu văn minh, trước hết phải học cho kỹ xem mình có những thói xấu gì, căn nguyên bởi đâu mà ra, để mà đầu tiên hãy cố mà từ bỏ cái tệ ấy trước nhiên hậu mới học được cái khôn sau, chớ muốn học văn minh Âu châu mà thói hủ vẫn còn giữ, thì e răng đã chẳng học được điều hay, vì điều hay mới, mấy thói hủ xưa không dung được nhau, mà lại còn ghi chép được cái bề xấu văn minh mà thôi.

Nước Nam ta ngày nay học mà chưa có chút nào, thì dễ khiến hơn là những trình độ dở dang của mấy nước lân cận, văn minh cữ có mấy điều hay vứt bỏ đi mất rồi, mà văn minh mới thì chưa chép được điều gì thực hay thực ích.

Tính người An-nam, tiếng thế, được một điều nghĩ chín lắm. May ra có phần khôn hơn người. Học văn minh biết cho làm học lấy duyệt lịch, chứ chẳng phải thấy làm sao hào hao làm vậy.

Thế là định nói xấu mình, mà đầu tiên hãy đã tự khen. Gọi là để đồng bào ta dỗ ngọt nhau, trước khi xoi mói cái tệ.

An-nam ta ngày nay đối với nhà nước Lang-sa tự hồ như người ốm với ông thầy thuốc. Muốn thầy chữa bệnh cho khỏi thì phải kể cho thầy biết bệnh não mình thế nào.

Thuốc văn minh uống nhầm công phản lại tệ hơn thuốc bệnh.

Ta chớ nên làm như người bệnh hiểm nặng, mà cứ thẹn thò đành chết còn hơn phải dở nơi trọng thương cho thầy xem.

Các tật xấu của ta hết thảy chỉ có một cái căn, là cái cách đoàn thể, cách lập hương thôn, sinh ra một cách giáo dục riêng, làm cho người ta lớn lên, hội một cái ý thắt buộc về phận làm người, về xã hội.

Đoàn thể của ta nên để vậy hay là nên đổi cái gốc nó đi, thì điều ấy tôi lấy làm quan hệ lắm, không phải một người dám đem tư tưởng riêng của mình, mà bàn làm phương tuyệt diệu.

Trong cách đoàn thể ta, có nhiều điều tệ, nhưng mà lại có cách tiện cho việc chánh trị vô cùng, làm cho chánh phủ nào cũng phải nghĩ sâu xa, rồi mới dám sẽ tay mà đụng đến.

Tôi tưởng chỉ nên tỏ ra cho nhà nước biết hết những các tục hủ thói tệ, do lối đoàn – thể ta mà sinh ra, làm nên một cái thành cao, hào sâu ngăn đón không cho văn minh Âu châu lọt vào được óc dân ta.

Tôi mong rằng, khi nhà nước sẽ rõ hết những tính tệ ấy, mà dân An-nam ta cũng tự hiểu, thì lòng dân cùng hợp với ý nhà nước mà cải lương, mới thực được công hiệu.

Vì bằng nhà nước lòng thực muốn sửa đổi cho ta khá, mà dân ta lại cứ khư khư cho những tệ hủ của mình là điều hay, nhà nước có bỏ đi, ta chẳng biết ơn lại còn cho là uất ức, thì sao cho việc duy tân chóng hóa được.

Sau này, tôi xin mỗi lần tỏ một việc hủ bại của mình ra, mỗi điều tôi xin cứu cho cái gốc rễ bởi đâu.

Rồi các quan xem báo sẽ biết rằng chẳng phải là bới xấu ta cho người cười đâu, tự biết dại ấy là đã giơ chân bước vào đường văn minh đó.

Đông Dương Tạp Chí, số 5

Giáo sư Hồ Sĩ Quý: Rất cần một bảng giá trị không lệch lạc (P2)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 8 năm 2014.

GIÁO SƯ HỒ SĨ QUÝ:

RẤT CẦN MỘT BẢNG GIÁ TRỊ KHÔNG LỆCH LẠC

Thảo Nguyên (thực hiện)

(Bài thu từ www.vanhoanghean.com.vn phát ngày thứ sáu, 9/3/2012 lúc 4:04g)

—o0o—

(Tiếp theo và hết)

n Hóa Nghệ An: Gần đây, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã ra nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng. Xét cho cùng đây cũng chính là vấn đề Con Người, vấn đề văn hoá, tất nhiên là khu biệt ở cộng đồng cán bộ, đảng viên của Đảng. Để có thể có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề này từ trong chiều sâu tâm thức văn hoá, đặt vấn đề trong tổng thể cộng đồng dân tộc, Văn Hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với giáo sư, tiến sĩ triết học Hồ Sĩ Quý – Viện trưởng Viện thông tin Khoa học xã hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Tôi đồng ý với Giáo sư, từ nhận thức đến chính sách là một khoảng cách, từ chính sách đến thực hiện chính sách lại Ho Si Quylà một khoảng cách lớn hơn. Giáo sư lý giải như thế nào về điều Giáo sư vừa nói, hiện nay ta đang thiếu một bảng giá trị không lệch lạc để điều chỉnh hành vi.

HSQ: Theo tôi, bảng giá trị điều chỉnh hành vi ở ta đang lệch lạc, thậm chí khá lệch lạc.

Nếu lần theo những hiện tượng kinh tế – văn hóa – xã hội cụ thể, có lẽ không mấy khó khăn để nhận ra, mục đích thực, mục đích kép, hoặc mục đích ẩn giấu đằng sau không ít các hiện tượng đó không trùng với hoặc không giống như mục đích mà chủ nhân của những hiện tượng ấy trình diễn trước công luận. Ngày nay, khi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân… trá hình hoặc công nhiên can thiệp vào các kế sách, thì giá trị nào chi phối các động cơ của con người cũng không quá khó để nhận diện. Dư luận và báo mạng gần như than vãn hàng ngày về những lợi ích đằng sau một số dự án, công trình, kế hoạch… Cái điều chỉnh hành vi của những người vụ lợi trong các công trình dự án đó, hẳn không phải là những lợi ích quốc kế dân sinh. Không hề quá nếu nói rằng, đôi khi những thành tích quốc kế dân sinh, rất tiếc, lại chỉ là hệ quả của một lợi ích khuất tất khác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Hội nghị TW 4 mới đây đã phải ra Nghị quyết nhằm chặn lại hiện tượng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” Thậm chí, Nghị quyết chỉ rõ, hiện tượng tệ hại đó đang “thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”[3]. Bởi vậy, nói lệch lạc về giá trị có thể cũng còn là nhẹ.

Nếu động cơ tối thượng thúc đẩy sự ra đời ồ ạt của các trường đại học những năm vừa qua nằm ngoài sứ mệnh thiêng liêng của giáo dục, thì giá trị thực dẫn dắt và điều chỉnh hoạt động của những trường đó, trước hết, hẳn không phải là tri thức, cũng không phải là nâng cao dân trí hay đào tạo nguồn nhân lực[4]. Và, cũng từ đó, nếu động cơ thúc đẩy người học đến trường không phải là tri thức… thì giá trị điều chỉnh hành vi của người học hẳn cũng không thể là trí tuệ, hay cao hơn, học để làm việc, làm người. Nhà trường và người học gặp nhau ở điểm này – mục tiêu cao nhất trên thực tế chỉ còn là mảnh bằng. Bằng thật, đương nhiên, nhưng kiến thức thì giả hoặc gần như giả. Ai đó nói vương quốc giả dối đã lên ngôi cũng không hề quá.

Hiện nay giá trị nào ở ta được tôn vinh xếp ở bậc thang cao nhất trong bảng các giá trị làm người. Rất tiếc, dù ít ai công khai thừa nhận, lại chính là “làm quan”giàu có. Tôi không nghĩ làm quan giàu có không phải là các giá trị đáng được trân quý. Nhưng làm quan giàu có là những giá trị cao hơn mọi giá trị khác, xếp đầu bảng trong bảng các giá trị, được tôn vinh từ công sở đến gia đình, thì ở đây đúng là có sự lệch lạc. Dĩ nhiên, những người thực sự mơ được làm quan và được trở thành giàu có không nhiều. Nhưng tôi nói bảng giá trị lệch lạc, vì biết rằng không ít cá nhân đã phải lỡ dở về sở trường sở đoản cá nhân, phải hy sinh niềm đam mê riêng của mình về văn chương, nghệ thuật, khoa học, hay thậm chí nhàn tản… để lao vào làm giàu và phấn đấu làm quan, vì nếu không như thế thì khó mà chịu nổi tiếng thở dài của vợ con, bố mẹ và những người thân, trước khi hứng chịu sự chê bai của xóm giềng, đồng nghiệp và xã hội. Người thành đạt được cộng đồng thừa nhận, ở ta, trước hết phải là người giàu có, hoặc “làm quan”, rồi mới đến các “tước vị” khác. Giải thưởng quốc tế và quốc gia về chuyên môn, dẫu có một không hai, cũng chưa phải là cao, nếu người nhận giải vẫn nghèo khó hoặc là người nằm ngoài vòng hoạn lộ (宦路). Nghệ sỹ tài ba, nhà khoa học tiếng tăm, người thày mẫu mực… cũng không tránh khỏi bị người thân và đồng nghiệp đo bằng thu nhập và chức vị.

Tình trạng này nếu còn kéo dài thì quả thực là nguy hiểm.

PV: Cha ông có câu “thuốc đắng dã tật”. Thuốc nào cho căn bệnh nói trên? Văn hóa và luật pháp? Hay là cái gì khác…? và văn hóa có phải là phương thuốc cơ bản nhất?

HSQ: Giải pháp hữu hiệu và triệt để cho căn bệnh nói trên, cũng là giải pháp hữu hiệu và triệt để cho mọi căn bệnh khác ở Việt Nam trên đường chuyển đổi để phát triển, theo tôi, là công khai tất cả những gì có thể công khai và loại trừ bằng được lợi ích cục bộ.

Ở tầm vĩ mô, tôi nghĩ đây là giải pháp trị được tận gốc mọi cái xấu trong xã hội. Mọi giải pháp khác chỉ là hệ quả của giải pháp này trong những lĩnh vực và hiện tượng cụ thể. Giải pháp này đụng đến cơ chế, xuyên qua các chính sách, gây sức ép đến từng người và tất cả các thiết chế xã hội, nên nó buộc cái xấu phải trả lại cho luật pháp tính nghiêm minh của luật pháp, trả lại cho văn hóa tính nhân văn của văn hóa, trả lại cho kinh tế tính chính đáng của lợi ích kinh tế, và trả lại cho chính trị tính “vị dân” của chính trị.

Thành tựu của sự phát triển đất nước từ những năm đổi mới đến nay, do rất đáng kể nên đã khiến chúng ta ít nhiều lãng quên ngăn ngừa lợi ích cục bộ và không chú ý thỏa đáng đến nhu cầu công khai của đời sống xã hội. Nay, tệ thiếu công khai và sự lộng quyền của lợi ích cục bộ đã cản trở sự phát triển đến mức báo động. Chúng đang “thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”.

PV: Xin cám ơn Giáo sư!

T.N.

[1]Hồ Ngọc Đại. Cần sự nổi dậy của tư duy giáo dục. http://dantri.com.vn/c0/s0-249651/can-su-noi-day-cua-tu-duy-giao-duc.htm

[2]Hoàng Tụy. Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống.

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=4793&CategoryID=42

[3]Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. http://www.cpv.org.vn/CPV/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30257&cn_id=502700

[4] Trong “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 ngày 26/5/2010, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho biết, từ 1998 đến 2009, đã có 304 trường đại học, cao đẳng được thành lập,trong đó có 230 trường được nâng cấp từ bậc học thấp hơn; 9 trường đại học được nâng cấp từ khoa trực thuộc đại học Quốc gia, đại học vùng; 7 trường đại học được thành lập theo phương thức sáp nhập, chia tách và có 58 trường đại học, cao đẳng được thành lập mới hoàn toàn. 35/63 tỉnh, thành phố có thêm trường đại học, cao đẳng mới. Năm 1997, cả nước mới chỉ có 15 trường đại học ngoài công lập, đến hết tháng 9/2009 con số này là 78 trường. Nghĩa là bình quân trong thời gian này cứ 1 tháng có tới gần 3 đại học mới ra đời.  Xem: Báo cáo số 29/BC-UBTVQH12 ngày 26/5/2010 của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5-6/2010).

Theo Tạp chí Viện Thông tin Khoa học xã hội giới thiệu:

Giáo sư Hồ Sĩ Quý: Rất cần một bảng giá trị không lệch lạc

17/3/2012

Gần đây, Ban cháp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng. Xét cho cùng dây cũng chính là vấn đề Con Người, vấn đề văn hóa, tất nhiên là khu biệt ở cộng đồng cán bộ, đảng viên của Đảng. Để có thể có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề này từ trong chiều sâu tâm thức văn hóa, đặt vấn đề trong tổng thể cộng đồng dân tộc, Văn hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Triết học Hồ Sĩ Quý – Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn cuộc trao đổi.

Phạm Quỳnh – Một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ  sáu, tuần 3 tháng 8 năm 2014

PHẠM QUỲNH – MỘT NHÂN CÁCH

VỀ LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ chín kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 14.142 lượt người truy cập.)

Nguyễn Thúc Chuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Bài này của nhà giáo hưu trí thành phố Huế Nguyễn Thúc Chuyên đã đăng trên tạp chí Huế xưa & nay, số 94 tháng 9, 2009 (các trang 63-69).

—-o0o—-

Năm tôi học bậc tiểu học trường Pháp – Việt, lúc rảnh rỗi thường lấy Nam Phong tạp chí của cha tôi mua để xem (cha tôi là nhà nho). Thấy tôi ham đọc, cha tôi bảo: “Báo này đọc có ích, con lấy mà xem, chẳng khác gì cuốn bách khoa thư”! (Tất nhiên có nhiều nội dung tôi không hiểu). Hồi đó và kể cả khi lên học bậc trung học, tôi chỉ biết Phạm Quỳnh qua báo Nam Phong, cũng như chỉ biết Đào Duy Anh qua cuốn Hán Việt từ điển. Học sinh, sinh viên ngày nay, có lẽ chỉ biết Phạm tiên sinh qua câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

Cuộc đời của cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh, theo tôi nghĩ, thời ông làm chủ bút tạp chí Nam Phong suốt trong 15 năm (hai năm sau người khác làm) là “đắc ý nhất”. Đây là nơi ông gửi gắm lòng tự hào dân tộc, sự tôn trọng, yêu mến nền văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó có nền Quốc văn… Về sau ông ra làm quan cho Nam triều. Thông cảm với Phạm tiên sinh, nhà văn Nguyễn Công Hoan xây dựng nên truyện ngắn Kép Tư Bền, phản ánh cuộc “ép duyên” của thực dân Pháp, dẫn đến sự “tiến thoái lưỡng nan” của ông chủ bút Nam Phong, cũng như Kép Tư Bền phải lên sân khấu làm trò cười cho khán giả, trong lúc ở nhà cha mình đang hấp hối… Cuộc đời làm quan của ông, từ ngự tiền văn phòng đến thượng thư bộ Học rồi bộ Lại, cả thảy hơn 12 năm. Bấy giờ tôi học trung học ở Huế, thỉnh thoảng vẫn thấy ông ngồi trên xe tay kéo sơn đen, gọng đồng, đầu đội khăn xếp, mặc áo dài thâm, đi giày, mang kính trắng, không hề thấy đeo bài ngà, với vẻ hồn nhiên như một thư sinh. Ông là người có thể rất tâm đắc với hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị:… “Thuở ra sân khấu không làm rộn/ Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi”, chăng! Do đó nhiều người cảm thấy hình như ông không chút “mặn mà” gì khi nhận các chức vụ trên. Sau cuộc đảo chính Nhật lật đổ Pháp (9/3/1945), ông về hưu, làm kẻ ẩn sĩ, trong nhà “không có gì là sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có đồ cổ đắt tiền…” (dẫn theo Nhật Hoa Khanh, Xưa và Nay, số 269, tháng 10 năm 2006).

Là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí, ông đã thu hút nhiều cộng tác viên nổi tiếng thời bấy giờ với số lượng kể đến hàng trăm người. Đó là nhờ nhân cách và học vấn của ông. Số cộng tác viên của Nam Phong tạp chí có nhiều vị vào hàng khoa bảng như: Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, phó bảng Hoàng Yến, cử nhân Bùi Kỷ… cùng với các vị đường quan tuần vũ Trần Mỹ, Tế tửu Quốc tử giám Ưng Trình, án sát Nguyễn Đình Chi, đốc học Trần Thất Phán, huấn đạo Nguyễn Kinh Chu…và các học giả, nhà văn, nhà thơ khác như: Phan khôi, Dương Quảng Hàm, Phạm Duy Tốn, nữ sử Đạm Phương, thi sĩ Tương Phố… và có các anh sinh viên Đặng Nguyên Khu (trường Cao đẳng Thương mại), Tôn Quang Phiệt (trường Cao đẳng Sư phạm Đông dương)… Nhiều cộng tác viên không chỉ viết một đôi bài mà viết hàng chục bài. Ông chủ bút Nam Phong rất tôn trọng các tác giả. Đó cũng là nét nhân cách đẹp của Thượng Chi tiên sinh. Ví dụ, khi tác giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết trong mục “Tồn cổ lục” nêu bà Nguyễn Thị Điểm diễn Nôm khúc ngâm “chinh phụ” là em gái tiến sĩ Nguyễn Trác Luân, người huyện Đông Hào, tỉnh Hải Dương…, ông chủ bút Phạm tiên sinh vẫn để nguyên xi sự lầm lẫn trên của tác giả và cho đăng tải lên báo Nam Phong tạp chí với một câu chú thích rất tế nhị: “Sách Đăng Khoa lục cho bài là người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Tang thương ngẫu lục cho bà là người Bắc Giang, bà ấy là họ Đoàn không phải họ Nguyễn, không biết lời nào nói phải?”. Với một bài báo khảo cứu ai là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc đăng trên báo Nam Phong số 24 tháng 6 năm 1919, cách đây gần 90 năm, đã khuấy động nhiều học giả, giáo sư, các nhà nghiên cứu… tốn không biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu cuộc hội thảo khoa học…mà nay vẫn còn tồn nghi. Gần đây (2007) giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tỏ ra nghi ngờ, nên đã viết một bài báo khuyên các thầy cô giáo: … “Khi giảng Chinh phụ ngâm cũng nên chọn một hai đoạn hay của Đoàn Thị Điểm, trước khi chọn các đoạn của Phan Huy Ích để học sinh thấy đúng được thực tế tiến lên của lịch sử văn học” (Văn hóa Nghệ An, số 110).

Đối với một số ít tác giả cố tình làm tổn thương tinh thần tự tôn dân tộc, thì Phạm Quỳnh tiên sinh không chút ngần ngại vạch mặt trên báo. Sự việc được thể hiện qua sự đối đáp của ông với một vị “Tây dương[1]” về một bài báo ông này dịch từ chữ Hán trên báo Nam Phong ra tiếng Pháp, rồi đưa đăng trên tờ báo Avenir du Tonkin (tức Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú) xuất bản tại Hà Nội. Dịch giả đã cố ý dịch sai. Ông đọc bài báo này thấy đụng đến lòng tự trọng và tự tôn dân tộc, ông bèn đi “thương thuyết” với Louis Marty nhờ viết một bài báo bằng tiếng Pháp, dịch lại cho ông “Tây dương” nọ thấy chỗ dịch sai, rồi đăng lên báo Nam Phong số 24 (tháng 6 năm 1919) kèm theo bài viết bằng tiếng Việt của ông chủ bút họ Phạm với tiêu đề Về mấy bài bình phẩm báo Nam Phong. Mấy câu đầu Phạm tiên sinh viết đại ý: Ngài quá khen bỉ nhân cùng bạn đồng sự là Nguyễn chủ bút (tức Nguyễn Bá Trác, phụ trách phần chữ Hán – TG)… “Chúng tôi lấy làm vinh dự và cảm ơn ngài lắm… Ngài cũng biết rằng chúng tôi một lòng yêu thương nước chúng tôi, là một nước cổ mấy ngàn năm đã từng có một cuộc lịch sử cũng lắm phen hiển hách vẻ vang. Chúng tôi yêu thương nước chúng tôi, đó cũng là cái thường tình của người ta, phàm những trí thức ai cũng có bụng ấy… Duy trong bài ngày 20 Juin (Tháng 6 – PT chú) 1919, thượng nhân có dịch một đoạn Hán văn của ông Nguyễn Bá Trác, phải câu cuối cùng dịch sai nghĩa…, có thể khiến cho người không biết xét lầm và nghi cái bụng thành thực của chúng tôi. Bởi vậy, chúng tôi có cậy quan cai trị Marty thảo mấy lời thuyết minh bằng tiếng Pháp, trước là chỉ rõ thượng nhân biết sự sai lầm đó, có thiệt hại cho danh dự của bản báo đối với chính phủ, sau là nhân thể bộc bạch cho những người Pháp hay có tính đa nghi biết cái thái độ của chúng tôi là rất phân minh, rất chính đáng vậy” (PH.Q – Nam Phong tạp chí số 24).

Năm 1922, Phạm Quỳnh tiên sinh có đi mấy tháng sang Paris (Pháp) với tư cách đại diện hội “Khai trí tiến đức” dự cuộc đấu xảo Marseille, lại được toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết ở một số trường học lớn tại Ba Lê; ông đã đăng đàn 4 lần về các đề tài: 1. Về thi ca Việt Nam; 2. Sự tiến hóa chữ quốc ngữ; 3. Sự tiến hóa của dân An Nam; 4.Tình trạng giáo dục ở An Nam. Một năm sau (1923) những bài diễn thuyết trên được tập hợp in thành sách, xuất bản tại Pháp với tiêu đề: À propos des Quelques conférences à Paris de Monsieur Pham Quynh (dịch: Lời bình phẩm về sách: “Mấy bài diễn thuyết ở Paris của Phạm Quỳnh) Sách xuất bản ở Pháp, thì mấy tháng sau đã thấy xuất hiện ở Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia). Một trí thức người Pháp, có bút danh là Sérénus đọc khen hay và rất tán thưởng, bèn viết một bài bình phẩm bằng tiếng Pháp đăng trên báo France – Indochine, một tờ báo có uy tín ở Bắc kỳ thời bấy giờ. Phạm Quỳnh tiên sinh đã xem bài báo này; có người đề nghị ông dịch ra Quốc ngữ để đăng tải ở Nam Phong tạp chí. Ông đã từ chối. Về sau, bạn bè ông là trí thức Tây học cũng đã đọc bài báo này, liền đến gặp ông khen và phân tích giải bày với ông, dần dà ông bị “lung lay”, từ thái độ từ chối, dẫn đến sự do dự, ngập ngừng… cuối cùng ông đã suy nghĩ rằng: “Lời khen của vị quan ấy không phải là khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công chúng cùng lãm” (ghi theo lời chú thích – Nam Phong tạp chí số 75 tháng 9 năm 1923).

Thượng Chi Phạm Quỳnh sinh ra trong một gia đình nhà Nho có nền nếp (cụ thân sinh mất sớm). Với kiến thức uyên bác Đông Tây kim cổ, ông đã thấm nhuần lời dạy của thánh nhân: “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (lời nói viết ra, bốn ngựa đuổi không kịp). Khi làm chủ bút Nam Phong, ngoài một số bài báo do Pháp điều khiển (vì Pháp tài trợ hằng tháng) còn lại phần lớn những bài ông cho đăng trên báo, về mặt khách quan nói chung, đều là những điều bổ ích cho người đọc. Một vị thượng thư trí sự ở Huế (Vĩ Dạ) đã nói với cha tôi rằng: “Ông ấy trẻ nhưng suy nghĩ và tài năng hơn chúng ta”. Với sự giao lưu nền văn hóa Pháp, Phạm tiên sinh được tiếp xúc văn học Pháp từ nhỏ. Tôi chắc rằng ông đã đọc sách Pháp khá nhiều, trong đó có các tác phẩm của nhà văn Alphonse Daudet (1840-1897). Trong một tác phẩm của nhà văn này có truyện ngắn Buổi học cuối cùng (La dernière classe), A. Daudet viết: (dịch) “Khi một nước đã bị hãm vòng nô lệ, mà còn giữ được quốc văn cho hoàn toàn, thì cũng hình như là giữ được cái chìa khóa để mở cửa ngục giam mình vậy” (nguyên văn: … “Quand un peuple tombe esclave, tant qu’il tient bien sa langue, c’est comme s’il tenait la clef de sa prison”Contes du Lundi, page 12. (Những mẩu chuyện ngày thứ hai, trang 12 – PT chú). Theo chú thích của A.Daudet thì ý tưởng này là của Fréderic Mistral[2]). Cùng với ý tưởng trên, ngoài câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn…” của Phạm tiên sinh, thì trong tạp chí Nam Phong số 101 tháng 12 năm 1925, ông còn có viết câu: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn; tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa”. Ngày nay khi khảo cứu về nội dung báo Nam Phong, trừ các mặt tiêu cực do Pháp lợi dụng, nhìn chung, Phạm tiên sinh đã có vai trò góp phần phát triển kho từ vựng chữ quốc ngữ và tiếng nói của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XX. Với sự điều hành của ông chủ bút họ Phạm, kiêm phụ trách phần tiếng Việt, kết quả khách quan đưa lại là chữ quốc ngữ được sử dụng như một phương tiện để biểu đạt các loại vấn đề mà trước đó hàng chục thế kỷ chữ Hán giữ vai trò độc tôn nhưng lại khó hiểu đối với quần chúng.

Ngày 31 tháng 5 năm 1922 (thứ tư), trong bài diễn thuyết về đề tài: “Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt bảo hộ Pháp” tại Trường Thuộc địa (bộ Thuộc đại Pháp) có 300 người dự, Phạm tiên sinh mặc quốc phục khăn đen áo dài làm lễ phục, đã chững chạc và hùng hồn diễn thuyết bằng tiếng Pháp rất trôi chảy, rằng: “Người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi là một quyển sách dày, đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho phù hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ… Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không có quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn, không có tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc đia cũ của Pháp…”[3]

Cũng trên Nam Phong tạp chí, số 107 tháng 7 năm 1926, Phạm tiên sinh viết bài báo với nhan đề Văn hóa và Chính trị, một bài luận thuyết hay, trả lời tác giả Trần Văn Tăng ề bài báo Quá khứ và hiện tại đăng ở báo Nam Phong số 106 (tháng 6-1926). Sau một hồi phân tích mục đích bài báo của tác giả họ Trần là muốn giúp cho công việc “Vãn hồi quốc vận, phù cứu quốc nguy”. Mục đích chánh đáng vô cùng. Phàm kẻ làm văn, kẻ tư tưởng ở nước ta ngày nay, không thể có mục đích khác được… “Tôi cũng xin vì mục đích ấy mà thể cái lòng nhiệt thành của tác giả, muốn xét lại cái vấn đề trên kia về một phương diện thiết thực với thời thế hiện nay là: Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn?… Hai câu đó mới xét tựa hồ như rời nhau, một câu thuộc về hiện tại, một câu thuộc về tương lai; có giải quyết được câu thứ nhất thời mới giải quyết được câu thứ nhì; nhưng xét kỹ hai câu cũng là một, câu trên thuộc về chính trị, câu dưới thuộc về văn hóa, mà chính trị rút lại cũng gồm ở trong phạm vi văn hóa… Sau đây xin bàn rõ về hai phương diện chính trị và văn hóa và chứng giải rằng trong hai phương diện ấy, phương diện văn hóa thật là quan hệ và bao quát hơn, dẫu có lúc tùy từng thời thế, tùy cơ hội, phải chuyên chủ về phương diện chính trị cũng không thể nhãng bỏ phương diện văn hóa, một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thì ngọn mới tốt được… Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị, điều đó cũng hiển nhiên ai cũng biết… Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: Một cách bạo động, một cách ôn hòa…”

Cụ Phạm Quỳnh là một con người say mê trong sự nghiệp “văn chương chữ nghĩa”. Chỉ một tờ bìa của Nam Phong tạp chí mà đã làm tôi ngạc nhiên và mến phục tài ứng xử, đối đáp khéo léo để thắng đoạt mọi sự phản đối của ông quan cai trị Louis Marty. Đó là việc ông chủ bút họ Phạm đã thay đổi biểu trưng (logo) trên bìa 1 của tờ báo. Mấy năm đầu thì logo in hình “con gà trống Gôloa” (Gaulois)[4] đứng toàn thân trong hình vành khăn với 3 từ tiếng Pháp dàn đều quanh vòng: Liberté (Tự do) Égalité (Bình đẳng) Fraternité (Bác ái), đến năm 1920 thì hủy bỏ logo này, thay vào biểu trưng hình bầu dục với hai đường viền xung quanh, ở giữa in hai từ tiếng việt: “Nam Phong” lồng vào nhau. Từ năm 1926 về sau thì logo lại là một con dấu hình chữ nhật có 3 đường viền đậm nhạt khác nhau, in hai chữ Hán “Nam Phong” kiểu chữ triện. Sự thay đổi của ông chủ bút Nam Phong thể hiện rất rõ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc. Năm 1931, nhân dịp Tổng trưởng Thuộc địa Pháp Paul Reynaud qua Đông Dương kinh lý, Phạm tiên sinh đã gửi bức thư ngỏ yêu cầu Chính phủ Pháp “hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ; vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Phải chăng các ý tưởng trên đây là sản phẩm của nhân cách Phạm Quỳnh, ông phát biểu và viết ra đem in trên tờ Nam Phong tạp chí để đến với công chúng bạn đọc.

Thay lời kết:

Gần đây, trong một buổi giới thiệu sách dịch: Phạm Quỳnh, những tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, có đông người đến dự, trong đó có nhiều giáo sư, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các dịch giả, các nhà khoa học…, giáo sư Nguyễn Đình Chú có nói một câu tự đáy lòng rằng: “Phạm Quỳnh đối với riêng tôi là một cuộc sửa sai chính mình, một cuộc nhận thức lại những định kiến…Tôi cảm thấy xấu hổ”. Còn ông Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, nơi phối hợp xuất bản cuốn sách, đã nói: “Tôi quan niệm người trí thức đích thực là người truyền bá được những giá trị khoa học, văn hóa, người có ý thức trách nhiệm với dân tộc… đóng vai trò trung tâm hướng dẫn dư luận xã hội, Phạm Quỳnh chính là người trí thức như thế” (Văn hóa Nghệ An, số 116).

Huế, tháng 8 năm 2009.

N.T.C.

Tài liệu tham khảo:

-          Phạm Quỳnh. Pháp du hành trình nhật ký, Nxb Hội Nhà Văn và Công ty Văn hóa Phương Nam.

-          Nam Phong tạp chí các số: 13, 24, 46, 75, 101, 106, 107, 159…

-          Nguyễn Hoàng Diệu Thúy. Phạm Quỳnh, một nhận thức lại (Văn hóa Nghệ An số 116 tháng 1 năm 2008)

-          Vĩnh Ba. Nhà văn hóa Phạm Quỳnh (Huế Xưa và Nay số 82).


[1] Bút danh: Tây Dương

[2] F. Mistral (1830-1914): “S’il tient sa langue, il tient la clef qui, de ses chaines, le délivre” (tạm dịch: Nếu ai giữ được tiếng nói, tức là nắm được chìa khóa để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ). F.Mistral nhận giải thưởng Nobel năm 1904.

[3] Trong sách Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (ESSAIS 1922-1932) do nhà xuất bản Tri thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, xuất bản năm 2007, ta thấy ông lại nhấn mạnh ý này trong bài diễn văn đọc trước Viện Hàn lâm Pháp ngày 22/7/1922, nhan đề là Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi (PT chú)

[4]Con gà trống Gôloa”: Biểu trưng cho xứ Gaule thời cổ đại về nhà nước của người Gaulois; có thời biểu trưng này được trang trí trên ngọn cờ cách mạng Pháp, sau bị xóa đi thời Đế chế, sau lại xuất hiện (1830) rồi lại bị xóa bởi Napoléon III. Lịch sử Pháp có câu: “Tổ tiên ta là người Gôloa” (Nos ancêtres sont les Gaulois). Thực dân Pháp đã đưa câu này dạy cho học sinh Việt Nam trong các trường Pháp – Việt từ bậc tiểu học.

Tháng Bảy 31, 2014

Giáo sư Hồ Sĩ Quý: Rất cần một bảng giá trị không lệch lạc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:40 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 8 năm 2014.

GIÁO SƯ HỒ SĨ QUÝ:

RẤT CẦN MỘT BẢNG GIÁ TRỊ KHÔNG LỆCH LẠC

Thảo Nguyên (thực hiện)

(Bài thu từ www.vanhoanghean.com.vn phát ngày thứ sáu, 9/3/2012 lúc 4:04)

—o0o—

n Hóa Nghệ An: Gần đây, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã ra nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng. Xét cho cùng đây cũng chính là vấn đề Con Người, vấnHo Si Quy đề văn hoá, tất nhiên là khu biệt ở cộng đồng cán bộ, đảng viên của Đảng. Để có thể có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề này từ trong chiều sâu tâm thức văn hoá, đặt vấn đề trong tổng thể cộng đồng dân tộc, Văn Hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với giáo sư, tiến sĩ triết học Hồ Sĩ Quý – Viện trưởng Viện thông tin Khoa học xã hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Mỗi cá nhân thông thường đều có những nét riêng về phẩm chất, tính cách. Tuy vậy, trong phạm vi một cộng đồng thì sự khác biệt của các cá nhân đó lại không làm mất đi những phẩm chất và những tính cách chung, mà người ta thường gọi là mẫu số chung về tính cách cộng đồng. Chúng tôi quan niệm đó là bảng giá trị nhân cách của cộng đồng. Nếu chấp nhận cách hiểu này thì, theo Giáo sư, trong bảng giá trị đó, cộng đồng người Việt Nam chúng ta có những phẩm chất nào được coi là tiêu biểu nhất, và những cái gì tạm gọi như là những thói xấu cố hữu chưa gột bỏ được?

GS.HSQ: Nét tích cực tiêu biểu và những thói xấu cố hữu trong tính cách người Việt là chuyện được bàn nhiều ở vài năm trước, lúc tâm thế xã hội còn tràn đầy không khí lạc quan, cái không khí khiến nhiều người tin hơn ở những đức tính tốt đẹp của người Việt, coi đó có thể là nguyên nhân lớn tạo nên sự phát triển. Một phần nữa, lúc đó cuốn sách Người Trung Quốc xâu xí của Bá Dương, tác giả người Đài Loan, mới được biết đến nên cũng gây ảnh hưởng, tạo cảm hứng mới mẻ cho sự bàn cãi. Mấy năm nay, đời sống kinh tế xã hội tuy vẫn phát triển nhưng đã nảy sinh nhiều vấn đề nổi cộm, có những điểm tắc nghẽn rất khó khai thông nên việc bàn đến tính cách người Việt có phần nhạt đi. Hiện thời, có lẽ anh Vương Trí Nhàn là một trong số ít những người còn mặn mà với chủ đề này.

Sự thực, đây là vấn đề rất căn bản, nằm ở tầng rất sâu trong văn hóa. Nó sẽ đeo bám sự phát triển trong mọi bước ở tương lai. Nghĩa là điều hay, nếu đạt tới, nó cũng có công, và cái dở, nếu mắc phải, nó cũng là một trong những kẻ tội đồ.

Trong một số bài báo và trả lời phỏng vấn, tôi cũng đã vài lần khẳng định cái hay, cái dở ở người Việt. Nay, lùi xa hơn một chút để suy ngẫm, tôi thấy, vẫn đủ cơ sở để một lần nữa khẳng định, thông minh, năng động, học giỏi và ít nhiều chịu khó là phẩm chất khó phủ nhận của người Việt, trong so sánh với bất kỳ cộng động tương đương nào. Và, thiếu triệt để trong tư duy và hành động, thiếu đại lượng khi nhìn nhận cá nhân, khi đánh giá người bên cạnh mình, và thiếu một bảng giá trị không lệch lạc để điều chỉnh hành vi là những điểm dở nhất trong tính cách người Việt, kể cả người Việt sống ở nước ngoài.

P.V Giáo sư có thể nói kỹ hơn…

GS. HSQ: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên các trang tin Online, lâu nay nhiều ý kiến đã tỏ ý hoài nghi các phẩm chất thông minh, năng động, học giỏi và chịu khó của người Việt. Các bằng cớ đưa ra cũng không dễ cãi. Cũng đã có những nghiên cứu định lượng công phu với ý định nhằm khẳng định một lần cho dứt điểm về vấn đề này. Nhưng sự thật không đơn giản thế, ấy là chưa nói đến việc nghiên cứu định lượng ở ta cũng chưa đạt tới trình độ thật tin cậy. Thành thử mọi ý kiến, kể cả ý kiến của tôi hôm nay, cũng chỉ là những cảm nhận, những suy tư, khái quát có phần cảm tính.

Nhưng thật khó phủ nhận, tại sao từ thời (Theo chúng tôi, có lẽ giáo sư muốn nói về thời các vị học giả này đưa ra những nhận xét về các phẩm chất của người Việt cả mặt hay lẫn dở – tức đầu thế kỷ 20 – PT chú) cụ Đào Duy Anh, cụ Nguyễn Văn Huyên, cụ Phạm Quỳnh đến tận ngày nay, lúc nào cũng có những tiếng nói và quan trọng hơn, những hiện tượng, những chứng cứ chứng minh cho những phẩm chất đẹp này ở người Việt. Xin không nhắc lại những hiện tượng đáng tự hào của nhiều cá nhân và cộng đồng người Việt ở Đức, ở Pháp, ở Mỹ … và trong các kỳ thi tranh tài quốc tế, dù không ít cuộc thi chỉ là những thi cử ở tầm học trò. Người Việt trong cạnh tranh, giao tiếp với các cộng đồng bên ngoài, thường bộc lộ khá rõ tư chất thông minh, dù đôi lúc thông minh có phần “láu cá”. Tính năng động, độ nhạy bén, khả năng thích nghi với hoàn cảnh, cũng là phẩm chất khá trội, dù không ít trường hợp vẫn chưa vượt quá trình độ “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Còn tinh thần hiếu học, thì xưa nay luôn là giá trị dễ thấy nhất, dù mục đích của việc học thường vẫn bị chê trách là học “để làm quan”, học để có bằng cấp, và nhiều lắm là học để làm việc, chứ rất ít người học với tinh thần “yêu thích tìm ra sự thật hơn là làm vua Ba Tư”. Và, tính cần cù, sự chịu khó trong kiếm sống nữa. Ngày nay, người cần cù có thể ít hơn, nhưng cũng chưa hề quá lời khi không ít người vẫn bị chê là “cần cù đến cù lần”.

Tôi nghĩ rằng, nếu cộng đồng, các tổ chức xã hội, bộ máy giáo dục và các quan chức có trách nhiệm, có cái nhìn “đãi cát tìm vàng”, chứ không phải “bới lông tìm vết”, với những hiện tượng này, ít ra phải được như cụ Tạ Quang Bửu ngày trước, thì tình hình sẽ khả dĩ hơn rất nhiều. Không đánh giá thích đáng những hiện tượng này, có thể sẽ là một sự lãng phí ngớ ngẩn. Ý tôi muốn nói là, nếu không đủ đại lượng để có cái nhìn ưu ái với những hiện tượng này, để nâng đỡ, khuyến khích, sử dụng và phát huy những hiện tượng này, xã hội sẽ lãng phí một nguồn lực quý – nguồn lực trí tuệ, nguồn lực con người.

Cũng cần nói thêm rằng, nhu cầu xã hội về một cái nhìn đại lượng ưu ái đối với phẩm chất thông minh, năng động, học giỏi và chịu khó khi đánh giá con người, mà tôi muốn nói đến ở đây, không phải chỉ là nhu cầu cần có một thái độ, một “lòng tốt”, hay là một “quan chức anh minh”…, mà là nhu cầu trong hoạt động, trong thực tế với các chính sách, chế độ, cơ chế… đảm bảo cho các phẩm chất đẹp có cơ hội nảy nở, thể hiện mình và phát triển. Chỉ nghĩ trong đầu mà chưa thể hiện thành hành vi, thành chính sách thì vẫn chưa thể coi là có thái độ đúng.

P.V. Thế còn cái xấu của người Việt, thưa Giáo sư?

Như vừa đề cập, trong tính cách người Việt, những điểm hạn chế đáng ngại nhất, khi đối chiếu với nhu cầu của sự phát triển đất nước ở thời điểm hiện nay, đó là thiếu triệt để trong tư duy và hành động, thiếu đại lượng khi nhìn nhận cá nhân, khi đánh giá người bên cạnh mình, và thiếu một bảng giá trị không lệch lạc để điều chỉnh hành vi.

GS. Trần Đình Hượu trước đây đã cảnh báo đại ý rằng, người Việt ai cũng biết làm một vài câu thơ, nhưng chẳng có nhà thơ nào và tác phẩm thơ nào được tôn vinh như là biểu tượng của cả nền văn hóa. Ngay cả Nguyễn Du cũng chưa được như Tagore trong văn hóa Ấn Độ, hay Đỗ Phủ, Lý Bạch trong văn hóa Trung Hoa. Cả dân tộc đánh giặc ngoại xâm gần như liên tục trong nhiều thời đại, nhưng chẳng có tướng sĩ nào được tôn vinh thành tượng đài thiêng liêng của ý chí dân tộc; hình tượng Trần Hưng Đạo được biết đến trong tâm thức dân gian, trên thực tế, là tượng đài của một Đức Thánh Trần, chứ không phải là tượng đài của một nhà quân sự tài ba. Chiến sỹ – nông dân áo vải cờ đào thì mới chỉ là đám đông anh hùng, không hề có một gương mặt cụ thể với những nét tính cách cụ thể. Nếu Chiến tranh thế giới II để lại ở Nga một số con phố mang tên những chiến sỹ binh nhất binh nhì, thì Chiến tranh chống Mỹ ở ta, đến nay, ngay các vị tướng cũng chưa được nhắc tới. Và, điều đáng ngại là ở chỗ, chúng ta thấy thế là bình thường.

Triệt để trong tư duy và hành động thường có nguy cơ, và đôi khi buộc phải, rơi vào cực đoan. Nhưng ở ta, mẫu người cực đoan, trong lĩnh vực nào cũng thế, lại rất ít nhận được sự thiện cảm của cộng đồng, nếu không muốn nói là thường bị ghẻ lạnh. Trong khi đó, ở phương Tây, người cực đoan có “đám đông” của họ, và rất nhiều phát minh, sáng tạo, sáng chế, tác phẩm… đã ra đời từ những ý tưởng cực đoan ở những con người cực đoan. Cực đoan, trong không ít trường hợp là đi đến tận cùng lý lẽ của vấn đề, là tư duy “vét cạn” toàn bộ sự việc, buộc sự việc phải lộ ra bản chất của nó. Cực đoan, mặt tốt của nó là triệt để. Đây là cái mà người Việt rất thiếu. Ngày nay, nhìn vào các hiện tượng văn hóa – xã hội, dù đã qua nhiều năm hội nhập và GDP đã vượt qua ngưỡng 1000 USD đầu người năm, nhưng đâu đâu ta cũng thấy những hiện tượng cải tiến, chắp vá, “có mặt nọ có mặt kia”…; rất ít có những hiện tượng là sản phẩm của tư duy triệt để, nhất quán, làm một lần là xong và không phải làm lại.

PV. Có phải Giáo sư cho rằng triệt để thì phải cực đoan?

GS.HSQ: Mọi sự triệt để đều có màu sắc cực đoan. Nhưng rất nhiều hiện tượng cực đoan lại chẳng mang thái độ triệt để hay tư duy triệt để nào cả. Đây là điều không dễ phân biệt nên trước cộng đồng, những người có tư duy triệt để thường phải chịu thiệt thòi. Trong cộng đồng người Việt, không nhiều người đủ đại lượng để nhận ra trong số những người cực đoan thì ai là người có tư duy triệt để, có cái nhìn xuyên thấu logic của sự việc. Vậy nên, các liệu pháp sốc, các phương án toàn diện – tổng thể, các giải pháp chấp nhận hy sinh… thường rất khó được tán đồng; chưa kể, những khó khăn khách quan cho những giải pháp kiểu này lại luôn rất lớn.

Thực tế đời sống ở Việt Nam cho thấy, những khó khăn khách quan luôn có xu hướng khuất phục được rất nhiều người có tư duy triệt để, khiến mọi ý đồ triệt để nhất rồi cũng phải thỏa hiệp hoặc chùn bước. Nhiều sự khởi đầu đầy hăng hái nhưng do thiếu một sự cực đoan cần thiết, nên rồi, kết quả vẫn không như mong đợi. Những ý tưởng to lớn không hiếm khi vẫn chỉ cho ra những kết quả bé tý, thường là do thiếu một phương thức thực hiện hợp lý với những cách làm và cách nghĩ triệt để. Nền văn hóa ở ta không khuyến khích những người dám chết để làm điều mình cho là có ích. Cộng đồng luôn nhân danh những giá trị của tiền nhân về dại và khôn, lợi và hại, cho và nhận, tâm và tài… để răn dạy các cá nhân không nên quá mạo hiểm với đời sống của mình. Điều này cũng có ý nghĩa tích cực của nó. Nhưng về một phương diện khác thì nó cản bước sự sáng tạo, làm thui chột ý chí vươn tới đỉnh cao và kéo dài sự sống của những cái lạc hậu. Điều này rất khác với văn hóa duy lý châu Âu.

Cách đây ít lâu, đứng trước những vấn nạn của nền giáo dục nước nhà, GS. Hồ Ngọc Đại nhận xét: “Tình trạng loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… là thực trạng buồn của giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì ta lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu”[1]. Tôi chú ý đến sự nhắc nhở của ông về tính triệt để trong tư duy và hành động. Với nền giáo dục đã có vài thập niên cải cách mà càng làm càng rối, thì tư duy chắp vá, thiếu triệt để, kém đồng bộ, chỉ “cải cách phần ngọn”… là thứ cần phải tính đến. Nghĩa là, cần có các giải pháp toàn diện – đồng bộ với tư duy triệt để. Nói như GS. Hoàng Tụy, sự trục trặc ở đây đã thuộc về lỗi hệ thống. Hệ thống vận hành của giáo dục đã không còn đủ sức tự sửa những lỗi của nó nữa. “Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học”[2].

Dĩ nhiên, cắt nghĩa sự yếu kém của giáo dục mà chỉ tìm nguyên nhân ở nếp tư duy, ở phẩm cách con người hay ở văn hóa thì rất không đầy đủ và do đó, rất dễ lệch lạc. Bởi đó là những nguyên nhân xa. Còn những nguyên nhân gần, nguyên nhân trực tiếp hơn của tình trạng yếu kém của giáo dục hiện đang thuộc về lợi ích, thuộc về bộ máy quản lý giáo dục, và cơ chế vận hành bộ máy quản lý ấy.

(Còn tiếp)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:32 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 8 năm 2014.

Một Phạm Quỳnh viết du ký

(Bài thu từ báo điện tử Đại biểu Nhân Dânhttp://daibieunhandan.vn hồi 8:39 ngày 13/2/2014)

Hương Sen

—o0o—

Không chỉ là nhà lý luận tiên phong về văn học hiện đại Việt Nam, một trí thức nặng lòng với văn hóa dân tộc, Phạm Quỳnh còn là nhà viết du ký xuất sắc thế kỷ XX.

Học giả Phạm Quỳnh (1892 – 1945) sinh tại làng Lương Ngọc, tổng Ngọc Cục, phủ Bình Giang, nay thuộc xã Thúc Kháng, Bình Giang, Hải Dương. Với các bút danh Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân, ông dành trọn cuộc đời để viết báo, làm chủ bút tạp chí Nam Phong, làm giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội, sáng lập hội Khai TrPham Quynh_deo bai ngaí Tiến Đức… Tên tuổi Phạm Quỳnh đã được khẳng định trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, công trình nghiên cứu, chuyên khảo, luận văn. Từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay, nhiều tác phẩm của ông đã lần lượt được sưu tập và công bố như: Mười ngày ở Huế (2001), Luận giải văn học và triết học (2003), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong (1917 – 1934), 3 tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007)…, và mới nhất là Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (NXB Tri thức).

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, tác giả Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký nhấn mạnh: các trang du ký của Phạm Quỳnh thể hiện niềm tự hào dân tộc và cảm xúc chân thành trước vẻ đẹp non sông đất nước. Nhiều trang du ký của ông thực sự có giá trị sử liệu để xem xét nhiều sự kiện văn hóa – xã hội và định vị hoạt động tổ chức hành chính của giai tầng công chức thượng lưu dưới thời thực dân phong kiến. “Qua những chuyến du hành vượt biên giới, du ký của Phạm Quỳnh đã mở ra những chân trời nhận thức mới, đưa lại niềm phấn khích bởi những trang ghi chép, miêu tả sống động của người trải nghiệm. Phạm Quỳnh đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng ở thể tài du ký hồi đầu thế kỷ XX”.

Quá trình thực hiện Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký, Ts Nguyễn Hữu Sơn đã chọn in các bài viết hay về những nơi Phạm Quỳnh đi qua như: Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Trảy chùa Hương, Pháp du hành trình nhật ký, Thuật chuyện du lịch ở Paris, Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng, Du lịch xứ Lào. Trong từng tác phẩm, độc giả thấy được sự đan xen, hòa quyện của một ngòi bút đa phong cách – khi mang màu sắc của một nhà báo, một ông chủ báo; lúc mang văn phong của một nhà văn; khi viết trong tâm thế một nhà chính trị, một học giả. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, cho rằng, đọc các tác phẩm của Phạm Quỳnh, độc giả như theo chân ông viễn du từ Á sang Âu, từ Nam tới Bắc, đồng thời được thưởng thức tinh hoa văn học du ký – thể loại thịnh hành đầu thế kỷ XX và đang được ưa thích trở lại trong một vài năm gần đây.

Các tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh thỏa mãn người đọc ở hai điều: kiến thức địa lý và những trải nghiệm thuộc về tinh thần. Trong Mười ngày ở Huế, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp phong cảnh Huế mà còn đúc rút được nhiều kinh nghiệm du lịch đất Huế thuở đó: “… Muốn đi xem lăng phải đi vào ngày gió thu hiu hắt, giời đông u ám thì mới cảm nhận được hết cái thú thâm trầm…”. Một tháng ở Nam Kỳ lại là những trang viết sống động về Sài Gòn – Gia Định, “từ cách đặt đường phố cho đến cách dựng cửa nhà, từ cách thắp đèn điện cho đến cách đặt máy nước ở các nhà, cho đến cách tuần phòng vệ sinh trong phố xá, nhất nhất đều tiến bộ hơn Hà Thành ta cả. Ở Sài Gòn thật là có cái cảm giác một nơi đô hội mới, nghĩa là một nơi đô hội theo lối Tây…”. Trong Pháp du hành trình nhật kýDu lịch xứ Lào, người đọc không chỉ được theo chân học giả tới những quốc gia khác mà còn được biết thêm những tư liệu mang giá trị lịch sử, để từ đó hiểu hơn nhiều sự kiện văn hóa – xã hội, hoạt động của giai tầng công chức thượng lưu thời thực dân phong kiến… Trảy chùa Hương thể hiện niềm vui khi khám phá một danh lam thắng cảnh, với những trang viết đầy tính nghệ thuật. Hay kết thúc Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng ông cũng nặng lòng với trách nhiệm của nhà văn ở đời là người gióng lên tiếng kêu cho mọi người nghe thấy đồng điệu mà đồng tình, đồng thanh mà đồng cảm. Tinh thần tự hào trước vẻ đẹp non sông đất nước, cùng với khát vọng thức tỉnh, thúc giục đồng bào trong nước tiến lên cho bằng người.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, đọc các tác phẩm của Phạm Quỳnh, tìm hiểu con người ông, về những năm tháng ông sống ở Huế và Nam Kỳ giai đoạn 1932 – 1945 cho thấy, ông đã nghĩ tới niềm mong mỏi của dân đối với đất nước: “… Tôi càng đi du lịch trong Nam Kỳ lại càng thấy cái cảm giác rõ ràng rằng người Nam người Bắc thật là con một nhà, nếu biết đồng tâm hiệp lực thì cái tiền đồ của nước Nam ta không thể nào hạn lượng cho được…” (Một tháng ở Nam Kỳ). Từ đó, chân dung Phạm Quỳnh hiện ra như hình ảnh một trí thức giàu tâm huyết, một học giả uyên thâm, một nhà báo sắc sảo, một nhà văn hóa nhiệt tâm với quê hương đất nước. “Phạm Quỳnh cùng với các tác phẩm của ông đã đóng góp một phần quan trọng trong vấn đề thống nhất đất nước, thống nhất quốc gia, là những di cảo xuất sắc trong thế kỷ XX” – nhà sử học Dương Trung Quốc nói.

Đóng góp của Phạm Quỳnh không chỉ là kiến thức và tư liệu, mà còn là lối viết văn theo hướng hiện đại, gãy gọn, khúc triết và trong sáng. Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đình Chú khẳng định trong bài Thượng Chi bàn về tiểu thuyết: “Trong lịch sử văn học Việt Nam, trước Phạm Quỳnh, chưa ai nói về thể loại tiểu thuyết một cách có hệ thống và phong phú như thế. Dù không phải là người làm lý luận văn học, lý luận tiểu thuyết, ông có nhiều ý kiến đúng và xứng đáng là nhà lý luận tiên phong về văn học hiện đại Việt Nam”.

H.S.

Phỏng vấn một khách du lịch

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:25 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 8 năm 2014.

 PHỎNG VẤN MỘT KHÁCH DU LỊCH

Lê Thị Liên Hoan

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài viết sau đây của tác giả Lê Thị Liên Hoan đăng trên trang 42, mục Phản Chiếu báo Thể Thao và Văn Hóa số 40 (25/4/2006) nhân Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh mới được tái bản.

 —-o0o—-

 PV: Thưa anh, trong khi đi du lịch cơ bản anh làm gì?

Khách: À, đã đi du lịch thì cơ bản là… nhìn ngó.

PV: Vậy giữa các điểm ngó thì sao?

Khách: Thì tôi ngồi trên xe, và đọc sách.

PV: A, sách hướng dẫn phải không? Chỉ ra những nơi giảm giá? Le Hoang

Khách: Ồ, đâu có. Nhiều thứ đáng đọc hơn. Chẳng hạn Pháp du hành trình nhật ký của tác giả Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, ông Vương Trí Nhàn chú giải.

PV: Tôi biết Phạm Quỳnh là một trong những nhà văn hóa lớn đầu thế kỷ

Khách: Đúng vậy. Nhưng có lẽ nếu chưa đọc cuốn sách này, ít người biết ông ấy cũng là một nhà du lịch lớn.

PV: Du lịch? Lớn theo nghĩa nào?

Khách: Theo hai nghĩa: Đầu tiên, vào những năm 20 của thế kỷ trước, đối với một người Việt Nam (lúc đó còn gọi là An Nam) đi theo một chặng đường dài qua nhiều nước như vậy là điều rất hiếm.

PV: Không thể gọi là rất mà phải gọi là rất – rất –rất hiếm hoi.

Khách: Vâng. Rồi sau đó, gần như toàn bộ chuyến đi, những suy nghĩ của Phạm Quỳnh chủ yếu thiên về văn hóa.

PV: Văn hóa.

Khách: Đúng thế. Hãy nhớ rằng vào năm 1922, năm mà chuyến du lịch ấy được thực hiện, Việt Nam còn ở trong một tình trạng xã hội phong kiến nặng nề, nói thẳng ra là vô cùng lạc hậu. Đùng một cái, Phạm Quỳnh tới nước Pháp, một xã hội tư bản phát triển, y hệt như anh đang đi guốc leo vào thang máy.

PV: Tôi cũng đọc cuốn đó rồi. Phạm Quỳnh không những nhìn thấy thang máy, mà thấy cả tàu điện ngầm, trong khi bản thân vừa mới bước xuống từ…xe kéo

Khách: Nhưng khách du lịch Phạm Quỳnh (tôi chỉ nói về khía cạnh này thôi) đã làm một điều rất hay mà khách du lịch ngày nay khối người không làm được.

PV:Chắc là ông ấy khảo giá được hết các mặt hàng, và mua được toàn đồ rẻ?

Khách: Bậy nào. Phạm Quỳnh chả để ý gì tới hàng hóa. Ông chỉ quan tâm đến văn hóa mà thôi.

PV: Vậy sao?

Khách: Đúng. Toàn bộ những ghi chép của ông, từ lúc tàu rời cảng Hải Phòng, đều hướng về điều đó. Ông quan sát, ông đối chiếu và ông tự rút ra bài học cho mình.

PV: Một cách sâu sắc?

Khách: Vào những năm ấy, suy nghĩ như thế rõ ràng là sâu sắc. Nhưng đánh giá nó là tùy mỗi người. Điều tôi thích ở Phạm Quỳnh là thái độ của ông. Một thái độ học giả hoàn toàn.

PV: Suốt ngày, Phạm Quỳnh chui vào thư viện hay sao?

Khách: Không chỉ thư viện thôi đâu. Ông lắng nghe người ta diễn thuyết, ông dạo quanh các bảo tàng, ông tới nhà hát.

PV:A, những thứ đó thì tôi cũng đến

Khách: Nhà báo đến là do được…người ta hướng dẫn, hoặc đến để cho oai, để chụp hình về treo tủ kính. Còn Phạm Quỳnh thì đến vì tự thân. Ý thức học hỏi của ông rất cao

PV: Chỉ học hỏi thôi à?

Khách: Phạm Quỳnh còn phân tích nữa. Ví dụ ở trang 321 ông viết: “Nghĩ trong các vấn đề thiết yếu của người mình không có gì bằng vấn đề giáo dục…Nước Việt Nam là một nước cổ, vốn đã có một nền văn hóa cũ, nhưng cái văn hóa cũ ấy ngày nay không thích hợp với thời thế nữa, cần phải có văn hóa mới thời nay thì mới có thể sinh tồn được trong thế giới bây giờ…Nhưng ngặt thay, dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì cũng được, tức là một tập giấy đã có sẵn chữ từ mấy đời đến bây giờ rồi. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên, thì e thành giấy lộn mất…”

PV: Nghĩa là Phạm Quỳnh không phải loại trí thức “thuộc địa” lắm!

Khách: Không! Nhưng đó không phải vấn đề của bài này. Cái tôi muốn nhấn mạnh là thái độ du lịch của ông.

PV: Thái độ du lịch à? Chữ dùng lạ đấy.

Khách: Lạ ư. Nhưng tôi không tìm ra chữ khác. Thái độ của Phạm Quỳnh rõ ràng là của nhà nghiên cứu. Nó đầy suy ngẫm, đầy liên tưởng và cũng nhiều khi mỉm cười phê phán.

PV: Chà, giá như ngoài mỉm cười, ông ấy có chút mỉa mai…

Khách: Đừng đòi hỏi nhiều quá. Sự mỉa mai chỉ đến sau này…

Tóm lại Pháp du hành trình nhật ký là một cuốn sách đáng đọc, không chỉ dành cho người sắp định đi đâu.

 LTLH

 

 

Tháng Bảy 24, 2014

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 8 năm 2014)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:00 chiều

Cung ban doc (tuan 1 thang 8 nam 2014)

Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý: Di sản tư liệu dung chứa nhiều bài học từ lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:17 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý:

Di sản tư liệu dung chứa nhiều bài học từ lịch sử

Luân Vũ (thực hiện)

(Bài đăng trong mục Trò chuyện cuối tuần trang 8 báo Nhân Dân cuối tuần số 21 (1321) 25/5/2014)

*

*      *

Châu bản triều Nguyễn vừa được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cùng với 82 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội, Mộc bản triều Nguyễn và Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, các di sản tư liệu vô cùng đặc sắc này đang lưu giữ rất nhiều giá trị văn hóa, lịch sử có ý nghĩa đặc biệt với đời sống xã hội. Song song với những nỗ lực gìn giữ, vấn đề khai thác, quảng bá những giá trị tư liệu vô giá này đang được đặt ra cấp thiết. TS Lê Thị Minh Lý, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chia sẻ nhiều băn khoăn, trăn trở về vấn đề này.

Hoang sa trong dai nam thuc luc- Thưa bà, đã có đến bốn di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO công nhận, ghi danh vào chương trình Ký ức thế giới. Có điều gì khác biệt giữa các di sản này với hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thế giới?

- Di sản thông tin tư liệu là loại hình di sản vừa có tính vật thể, vừa có nguồn gốc phi vật thể. Tức là nó có dạng vật chất, và có sáng tạo của con người để lại trong các dạng vật chất ấy. Nhưng di sản tư liệu không phải là di sản phi vật thể hiểu theo nghĩa là do con người đang lưu giữ, con người đang thực hành. Sở dĩ người ta nghĩ đến loại hình di sản này vì nó thật sự rất quý giá. Nó là văn hóa, nó cũng đang mai một và cần được bảo vệ khẩn cấp. Chính vì vậy, UNESCO đang có chương trình ghi danh các di sản thông tin tư liệu. Hiện chương trình này đang tiến tới việc xây dựng công ước để bảo vệ như đối với di sản vật thể và phi vật thể. Như vậy, có thể thấy nhân loại đã có một cái nhìn toàn diện về các loại hình di sản và có các cách thức khác nhau để bảo vệ.

- Bà có thể nói rõ hơn về tiêu chí công nhận của loại hình di sản này?

- Trước hết, đó phải là sự độc đáo, ở cả vật mang tin và cả thông tin. Vật mang tin có thể là mộc bản, có thể là bia đá, văn bản bằng giấy… nhưng là một hình thức độc đáo, một sự sáng tạo, và độc bản. Điều quan trọng hơn, thông tin trên đó phải là những điều đặc biệt, nó chứng minh những giai đoạn phát triển, đánh những dấu mốc quan trọng trong lịch sử. Ngoài ra, còn có những tiêu chí khác nữa như sự tích cực của người dân trong việc bảo vệ di sản này, vai trò của Nhà nước trong việc quan tâm bảo vệ di sản, đặc biệt là ý nghĩa xã hội nếu như di sản đó được đưa vào danh sách của UNESCO. Việc ghi danh này không phải để nhằm xác định danh hiệu, mà hướng đến mục tiêu khẳng định rằng đây là những tài sản quý giá của dân tộc đó, của nhân loại, và mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ.

- Có một vấn đề đang rất được dư luận trong nước quan tâm, đó là các thông tin liên quan đến vấn đề chủ quyền quốc gia được ghi nhận trong hệ thống các di sản tư liệu đã được thế giới công nhận?

- Chúng ta cần hiểu chính xác về vấn đề này. Đối với việc ghi danh các di sản, nhất là các di sản tư liệu, có những nội dung liên quan đến lịch sử và chính trị, nhưng với các chuyên gia quốc tế, khi xem xét các tài liệu này, họ không can thiệp vào các vấn đề chính trị của các quốc gia, mà chỉ đánh giá nó trên khía cạnh phản ánh văn hóa và giá trị di sản. Thí dụ, trong các di sản tư liệu có những thông tin liên quan đến vấn đề của Hoàng Sa, Trường Sa, thì đó là câu chuyện của quốc gia đó, tại thời điểm đó. Họ không đào sâu vào vấn đề tài liệu đó nói như thế có đúng hay không, mà họ chỉ đánh giá là thông tin đó được ghi vào thời điểm đó, và nó thuộc về văn bản đó.

- Mang chứa rất nhiều thông tin lịch sử có giá trị như vậy, tuy nhiên, sau những nỗ lực lập hồ sơ công nhận danh hiệu, và chú trọng đầu tư bảo vệ, lưu giữ, hoạt động quảng bá, giới thiệu nội dung các di sản tư liệu này với cộng đồng dường như chưa được quan tâm thỏa đáng?

- Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm thuộc cộng đồng quản lý. Nhà nước đã quan tâm, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho phép thực hiện một đề án và ba đề tài cấp nhà nước để làm cho mộc bản đó được sống trong đời sống đương đại, với các phần việc khác nhau: trưng bày, giới thiệu bằng các cách tiếp cận khác nhau (có thể là bản gốc, có thể là bản phục chế, có thể là bản điện tử). Quan trọng hơn, các nội dung đó sẽ được nghiên cứu, dịch thuật và tìm ra các giá trị kết nối với đời sống ngày hôm nay để làm sao cho người dân nhận biết được giá trị vô giá của di sản và học được điều gì đó từ lịch sử.

Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn đang được Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước bảo quản trong điều kiện rất tốt. Tuy nhiên, tại những nơi này chưa hình thành quyền tiếp cận dễ dàng để nghiên cứu, đó cũng là vấn đề. Trong thời gian tới, cần phải có những dự án để tạo cách thức giúp cộng đồng tiếp cận dễ dàng hơn với di sản, tìm hình thức để quảng bá di sản rộng rãi trong đời sống xã hội. Cần nhớ, yêu cầu của UNESCO là di sản phải được tiếp cận và bảo vệ trên cơ sở tôn trọng.

- Xin cảm ơn bà đã dành thời gian cho cuộc trò chuyện này.

L.V.

Châu bản là một loại văn bản hành chính của vương triều Nguyễn (1802- 1945). Trên các Châu bản này còn lưu lại các dấu tích bút phê của vua triều Nguyễn bằng son đỏ. Trong hơn 700 Châu bản được lưu giữ, có 18 Châu bản thể hiện rất cụ thể việc triều Nguyễn thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua việc liên tục cử người ra hai quần đảo này để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ. Hiện nay, chỉ duy nhất triều Nguyễn có các Châu bản khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài Việt Nam, không một nước nào có Châu bản về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo này. Châu bản cũng là tư liệu gốc để các nhà sử học triều Nguyễn biên tập bộ Đại Nam thập lục – bộ sách có giá trị để nghiên cứu và có nhiều nội dung khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ lịch sử xa xưa. Mộc bản bộ sách này thuộc khối di sản tư liệu Mộc bản triều Nguyễn cũng đã được công nhận Di sản tư liệu của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

 

Trang sau »

The Rubric Theme. Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 26 other followers