Pham Ton’s Blog

Tháng Một 27, 2012

Cùng bạn đọc tuần 1 tháng 2 năm 2012

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 12:20 sáng

Lạ lùng một cuốn sách dở dang

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 1 tháng 2 năm 2012.

LẠ LÙNG

MỘT  CUỐN SÁCH DỞ DANG

Nguyên Ngọc

Lời dẫn của Phạm Tôn: Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn vừa ấn hành 2000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Mở đầu tập sách 222 trang là bài viết này của nhà văn Nguyên Ngọc.

Nhà văn Nguyên Ngọc là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, những bút danh khác là Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim, tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5-11-1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 18 tuổi, xin gia nhập quân đội, tốt nghiệp Trường Lục Quân Khu V. Hầu hết thời gian 1951-1954, hoạt động ở vùng Tây Nguyên, chiến trường chính của Liên Khu V bấy giờ. Chính điều đó đã dẫn đến thành công của tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên (1956), được tặng giải nhất về tiểu thuyết trong Giải Thưởng Văn Học 1954-1955 của Hội nhà Văn Việt Nam. Sau đó, cho in Mạch nước ngầm (1960) và tập truyện ngắn Rẻo cao (1961). Năm 1962, trở lại Tây Nguyên và Quảng Nam, ông tiếp tục sáng tác với bút danh Nguyễn Trung Thành. Năm 1969, có tập truyện và ký Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc nổi tiếng với truyện ngắn Rừng xà nu và tùy bút Đường chúng ta đi. Năm 1971 và 1974, phần 1 và 2 tiểu thuyết Đất Quảng ra mắt bạn đọc…

Sáng tác của Nguyên Ngọc không nhiều về số lượng, nhưng gây được ấn tượng mạnh với người đọc. Ông nhận thức rõ ràng về những hạn chế mang tính lịch sử của một thời đã qua để hướng tới sự đổi mới, đó chính là kết quả của sự nhạy cảm trong tư tưởng của nhà văn. Ông nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

Dịp nhà xuất bản Tri ThứcTrung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây tổ chức buổi ra mắt bản dịch Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 của Phạm Quỳnh, nhà văn Nguyên Ngọc nói: “Đầu thế kỷ XX, chúng ta đã có những người khổng lồ như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi. Không phải mọi kiến giải của họ đều đúng đắn, nhưng những vấn đề họ đặt ra đến nay vẫn còn tính thời sự”.

Chúng tôi xin mời  các bạn đọc nguyên văn bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang như sau:

*

*    *

Cuốn sách này của Thượng Chi Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (mười một bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn vỏn vẹn một trang; và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền… Tôi đối với Truyện Kiều, Truyện Kiều đối với tôi – hay là có thể nói, tôi đối với cô kiều, cô Kiều đối với tôi…” Kiều với Đạm Tiên, một hội một thuyền. Phạm Quỳnh với Kiều, một hội một thuyền. Cả ba một hội một thuyền vậy! Đều “tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Nhưng Phạm Quỳnh không đổ lỗi cho trời, ông nhận lỗi về mình.

Ông viết những trang cuối cùng này ở nơi có tên là biệt thự Hoa Đường và tự gọi mình là “Thiếu Hoa Đường”, nương theo tên “Lão Hoa Đường” của danh nhân Phạm Quý Thích, “vị tiền bối chân Nho ôn hòa thuần túy” mà ông cho là ông đã dại dột không biết ứng xử cho bằng “Lão Hoa Đường sinh vào thời Lê Mạt Nguyễn sơ”, là đời loạn, tự biết “phận Nho quèn” không sao đương được với thời cục rối, quyết chí ẩn dật để giữ lấy tiết thanh cao, còn cao hơn biết bao nhiêu Thiếu Hoa Đường này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “Nho quèn” đương nổi sao được thời thế, ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, “chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nhà nho mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào!…”

Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta goi là “dấn thân”) ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết “Hoa Đường tùy bút”. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết, có thể là một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm.

Ở giữa tập tùy bút này là một bài có vẻ lạc giọng so với những bài khác, với cái đầu đề trông rất thản nhiên, lối kể cũng rất thản nhiên, điềm đạm, dửng dưng nữa, “Chuyện một đêm và một ngày”. Ấy vậy mà cái đêm và cái ngày ấy, mồng 9 tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương – và Phạm Quỳnh chừng nào đó ở chính trung tâm của sự kiện chấn động ấy, sự kiện cắt ngang đứt phựt cuộc đời ông – và rộng hơn, chuẩn bị cho cả đất nước bước qua một trang hoàn toàn mới của lịch sử (chính trong cái một đêm và một ngày đó Trường Chinh dã viết Văn kiện quyết định “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”). Cuối bài ông có hứa: “… (Trong một đêm và một ngày ấy) đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường?” Như ta biết, cũng là một lời hứa ảo tưởng thôi, bởi cái lịch sử ông vừa nói đó nào có cho ông “có dịp”. Nó đã hất ông ra bên lề. Ở bên lề đó, ông bắt tay chuẩn bị cho một cuộc tổng kết, những trang trông rời rạc này chính là chuẩn bị cho cuộc tổng kết ấy – tôi tin vậy, bởi hai lẽ: một người như Phạm Quỳnh, vốn sống đầy suy tư, vừa có cái chất nghệ sĩ chết người của cô Kiều, vừa dẫu đã quyết về vườn chắc hẳn vẫn chưa chịu hết trách nhiệm với xã hội và nhân quần, sau cuộc lăn lộn lấm lem mấy mươi năm trong vòng danh lợi đắng cay, ắt không thể không có điều muốn nói lại với đời, và trước hết với chính mình. Lại nữa, đọc kỹ xem, chừng rời rạc vậy mà vẫn có một nhất quán: hoặc bằng đôi ba chân dung cực ngắn mà cực tinh, rất cụ thể mà sức khái quát lớn – khiến ta không thể không nhớ những trang viết nổi tiếng Các tính cách (Les caracactères) của La Bruyère; hoặc súc tích đến chỉ vẹn một trang, mỗi câu như một châm ngôn – lại khiến ta nghĩ đến La Rochefoucault; hoặc cứ như xa xôi thâm trầm bàn về căn nguyên của con người và tính người khi ngẫm nghĩ về Keyserling…; mà hóa ra tất cả đều hướng về một điều rất quán xuyến ông viết ngay từ đầu thiên tùy bút dở dang này: “Thế thái nhân tình”. Một chuẩn bị tổng kết bi quan về cuộc đời, thói đời. “Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai; ai cũng nói vậy, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào… Dù có lạc quan gì về thế sự, thấy người đời trở mặt như bàn tay, xây lưng như chớp nhóng, cũng phải sửng sốt mà tự hỏi: “Ồ! Thói đời đen bạc đến thế ru?… Cho đến nỗi, tham sống vốn là bản năng hàng đầu của con người, nhưng rồi trải thói đời điên đảo, “người ta dù có mê sống đến thế nào cũng có lúc hốt nhiên tự tỉnh, mà trong giây phút có cái cảm giác sống là nặng nề, là cực nhọc, là đau đớn cho thân thể, là phiền não cho tinh thần, mà giá có ai doạ hỏi: “Muốn sống thì…” thì cũng thản nhiên trả lời rằng: không.

… Người ta đã đến không “muốn sống” nữa, thì là thách cả mọi sự dọa nạt của đời. Đời còn làm gì được con người đó nữa?…”

Đối lại cái bi quan cùng cực đó, Phạm Quỳnh cố đưa ra hai lối thoát: Đạo đức, mà ông gọi là “Chỉ buộc chân voi”; “Nền nếp của gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân, phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức tôn giáo đời đời dùng để ngăn cái thị dục vô nhai của người ta, ngăn cái xuẩn động vô ý của quần chúng… Cho nên những sợi chỉ vô hình đó, chúng ta phải biết giữ gìn mà tôn tọng. Mỗi khi đụng chạm đến, phải hết sức cẩn thận, vì đã đứt rồi không sao nối lại được…

Thứ nhất là kẻ có trách nhiệm trị dân trị nước, lại phải thận trọng lắm, và phải nhớ rằng một dân không biết kính nữa là một dân bất trị vậy.”

Sâu sắc lắm, tha thiết lắm, nhưng mà liệu chính ông thật có tin, khi chính ông biết những sợi chỉ ấy là vô cùng mong manh, mà “con voi” cuộc sống thì vốn hung dữ quàng xiên. Và có khi “chỉ” cũng đã đứt rồi!

Phạm Quỳnh lại vận đến đạo Phật: “Ai đã có cái cảm giác rùng mình ghê sợ đó, sống mà hãi hùng cái sống, sống mà mệt nhọc vì sống, là người đã sẵn sàng tâm trí để nếm thử mùi thiền vậy…” Thâm thúy lắm, nhưng rồi chính ông cũng không kịp nếm được cái mùi an tịnh thâm trầm đó!

Cũng có khi ông cố tìm một con đường khác nữa: bàn về văn học và chính trị, ông bảo nhà chính trị nên có thêm văn học, bởi nhà chính trị “nếu quả có tài năng thời tài năng ấy nhờ văn học chắc cũng được cường hóa, thâm hóa thêm ra”. Nghe chừng không thuyết phục lắm, bằng cái đoạn “phản thuyết” sau đây: “Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ làm chính trị… thời đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem ra trưng bày nơi đầu đường góc chợ được…” Kinh nghiệm đau đớn của chính ông là một. Và ai cũng biết, xưa cũng như nay, không chỉ có một.

Như ta vẫn thấy, tổng kết sự đời của một người thành công thường nhạt. Có mấy tác phẩm lớn viết về những cuộc đời suôn sẻ đâu. Kinh nghiệm đời quan trọng và đáng giá nhất là của những người ngấm đau vì đời. Thượng Chi Phạm Quỳnh là một người như vậy. Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang. Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy, mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm.

Tháng 8/2011.

Đôi lời về 11 bài viết cuối đời của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 1 tháng 2 năm 2012.

 Bài trên blog PhamTon lại vào sách

ĐÔI LỜI VỀ 11 BÀI VIẾT CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI -  PHẠM QUỲNH

            Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa cho ra đời 2.000 bản sách Phạm Quỳnh – Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Những trang cuối tập sách 222 trang là bày này, đã lên Blog PhamTon từ tuần  3 tháng 11 năm 2009. Toàn văn bài như sau:

—-o0o—-

Các bạn đang có trong tay đủ 11 bài viết cuối đời văn, cũng là cuối đời người của Thượng Chi Phạm Quỳnh. Đó là 1) Thế thái nhân tình, 2) Muốn sống…, 3) Chỉ buộc chân voi, 4) Văn học và chính trị, 5) Vô duyên, 6) Chuyện một đêm, một ngày, 7) Con người hiểm độc, 8) Anh chàng khoác lác, 9) Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường, 10) Tư tưởng Keyserling và 11) Cô Kiều với tôi, là bài cuối còn dang dở…

Con số thứ tự bài, chẳng qua chỉ là để tác giả biết là đã viết được mấy bài và dễ kiểm tra về sau. Tất cả theo thứ tự thời gian. Thượng Chi Phạm Quỳnh  viết những bài này sau khi từ quan tháng 3 năm 1945 về ở ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp bên bờ sông nhỏ An Cựu nắng đục, mưa trong xứ Huế. Tiếp theo công việc tuyển chọn và dịch thô 51 bài thơ của thi hào thời thịnh Đường Đỗ Phủ, người đồng cảnh, đồng điệu với ông, được xem là “để lấy đà” cho việc trở lại với văn học của ông.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân từ Hà Nội đã vào gặp và phỏng vấn Thượng Chi Phạm Quỳnh tại biệt thự Hoa Đường, nơi ông “bế môn” không tiếp khách từ lâu. Sau này, nhà báo đã viết: “Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà ra làm quan (…) Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng. Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn, tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực (…) Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa.” (Trích bài đăng trên báo Tin Điển, Sài Gòn, ngày 23/3/1952). 

Có lẽ các bạn đã thấy rõ điều đó khi đọc các bài ông viết về Thế thái nhân tình, Muốn sống…, Chỉ buộc chân voi, Vô duyên, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác Tư tưởng Keyserling. Còn về bản thân, Phạm Quỳnh rất ít khi nói về bản thân, trừ vài đoạn trong các du ký như Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký thì trong những bài cuối đời này chúng ta được đọc Văn học và chính trị, rõ ràng là rút ra từ kinh nghiệm quan trường mười mấy năm đau xót của ông. Rồi Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường với những lời than như “Thiếu Hoa Đường (Tức bản thân Phạm Quỳnh – PT chú) này, cũng sinh vào thời loạn là buổi Á-Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hòa nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp hỗn hào …” (trích bài Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường). Và tâm sự đau đớn nhất đã bật lên trong bài viết cuối còn dang dở Cô Kiều với tôi. Ông viết “năm 1924, lần đầu làm lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền (tức Nguyễn Du – PT chú), trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: “truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…” Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

Chỉ có một bài, duy nhất trong cả văn nghiệp đồ sộ của ông. Phạm Quỳnh viết về một đêm một ngày trong đời mình. Ông như tiên đoán hậu thế sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về ngày hôm đó của đất nước nên đã ghi lại tỉ mỉ những gì tai nghe, mắt thấy trong đêm 9 và ngày 10/3/1945 ấy. Và sự thật quả đã diễn ra như ông từng nghĩ. Ông là một con người của lịch sử, sẵn sàng với mọi phán xét của lịch sử, ông chỉ chuẩn bị tư liệu cho việc phán xét đó thôi.

Một điểm xin bạn đọc lưu ý là 11 bài này không phải là một tác phẩm hoàn chỉnh, cho nên ta không biết tác giả định nói gì khi viết loạt bài này. Có lẽ, chẳng qua sau bước khởi đầu lấy đà với thơ Đỗ Phủ, ông bắt đầu tùy tiện ghi lại những gì mình nghĩ ra hằng ngày. Chỉ mới là viết để một mình mình nhớ, một mình mình đọc mà thôi. Thể loại ông chọn là tạp văn, như Lỗ Tấn cuối đời đã chuyên viết thể loại này, có đến 18 tập trong tổng số 20 tập của Lỗ Tấn toàn tập. Ông có lẽ cũng định sẽ viết nhiều, cho nên sau tên ghi ở bìa tập vở học trò Hoa Đường Tùy bút, Kiến văn, cảm tưởng, ông ghi rõ con số I La Mã. Rõ ràng là ông còn định viết tiếp thật nhiều tập tạp văn khác như thế, để thể hiện trên trang giấy “ngòi bút dồi dào phong phú hơn xưa”. Nhưng, tiếc là tập vở học trò mỏng vẫn còn nhiều trang giấy trắng mà đời văn của văn hào đã dừng lại ở bài viết dở dang về đề tài gan ruột nhất của mình, viết về nhân vật đã vận vào cuộc đời mình như thế nào.

Ông chọn thể loại tạp văn, chính là chọn thể loại có thể thỏa sức tung hoành trên trường văn, trận bút, không lệ thuộc chủ đề, khuôn phép nào.

Tiếc là chim bằng đã gãy cánh khi đang dốc sức tàn để bay vút một lần nữa lên bầu trời văn học cao đẹp, mênh mông, bao la bát ngát.

Tiếc thay, thương thay một đời tài hoa, kiên cường…một lòng trung với Nước, hiếu với Dân.

TP.HCM, ngày 27/3/2009.

P.T

 

Ai là ông tổ BÁO XUÂN?

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 1 tháng 2 năm 2012.

Ai là ông tổ

BÁO XUÂN?

Phạm Văn Tú

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bài đăng trên trang 27 tạp chí Công Lý (Cơ quan của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao) số Xuân Nhâm Thìn 2012.

—-o0o—-

(…)

Khi tìm tư liệu viết bài này, nhà báo Lam Điền (báo Tuổi Trẻ) có chia sẻ cho chúng tôi bản số hóa của tờ Nam Phong Tạp Chí số Tết 1918. Bài viết đầu trên số báo xuân đầu tiên ấy có nhan đề Số Tết của báo Nam Phong, tác giả bài báo này chính là chủ bút Phạm Quỳnh. Từ nội dung bài báo này, có thể khẳng định rằng, Nam Phong Tạp Chí đúng là tờ báo đầu tiên làm báo Tết và đó là số báo Tết đầu tiên.

“Nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt”

Đây là chữ dùng của học giả Phạm Quỳnh để nói về tinh thần nội dung của tờ báo Tết đầu tiên ấy. Trong bài viết có tính chất “phát biểu đề dẫn” ấy, tác giả bên cạnh việc “thông báo lý do” phát hành số báo đặc biệt mừng năm mới, còn nêu lên quan điểm của tòa soạn về tổ chức nội dung số báo này. Gần 100 năm đã trôi qua, giờ đây đọc lại bài báo xuân ấy, chúng ta không thể không ngạc nhiên. Xin trích giới thiệu bài báo ấy:

Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tự hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm.

Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.

Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn, rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả; bánh ngũ sắc, mỗi thứ một ít, kể cả thứ bánh ngoài Bắc ta tục gọi là bánh “xã trưởng”, ngoài quả cà, trong quả táo nhưng toàn là những thức ngon miệng vậy”

Như vậy, có thể nói, Phạm Quỳnh là người đầu tiên trong làng báo Việt có sáng kiến làm báo xuân. Ông cũng là người đầu tiên đưa quan điểm tổ chức nội dung báo xuân như một ấn phẩm giải trí nhẹ nhàng nhằm mang đến niềm vui cho cộng đồng trong mùa đoàn tụ.

Từ báo xuân đến Hội báo xuân

Từ Nam Phong tạp chí với ấn phẩm đặc biệt ghi ngoài bìa Số Tết 1918 do Phạm Quỳnh khởi xướng đến nay, lịch sử báo xuân Việt Nam đã phát triển được 94 năm!

Ngày nay, công nghệ làm báo in có sự phát triển vượt bậc. Báo xuân đã liên tục cải tiến về nội dung và hình thức qua thời gian. Báo chí hiện đại còn có thêm các loại hình mới. Báo trực tuyến, báo nói, báo hình cũng vận dụng linh hoạt hình thức “báo xuân” của cha ông trên các kênh thông tin của mình.

Và một hoạt động thú vị khác từ truyền thống làm báo xuân của làng báo Việt đã hình thành những năm qua là Hội Báo Xuân.

(…)

Ngày nay, số lượng ấn phẩm báo in, tạp chí của cả nước lên hơn con số 600 (đó là chưa kể hàng chục ngàn tờ tin nội bộ do các địa phương xuất bản). Tất cả các ấn phẩm ấy đều có số đặc biệt chào đón xuân mới. Hội báo xuân là cơ hội để mọi người tiếp cận đầy đủ với rừng hoa xuân báo chí cả nước! Bởi từng tờ báo xuân là một bông hoa đẹp, là món ăn tinh thần có ý nghĩa của mọi người trong dịp Tết.

P.V.T

Tháng Một 20, 2012

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm, chúc tết nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 4 tháng 1 năm 2012.

Nhân Tết Nhâm Thìn 2012,

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG THĂM, CHÚC TẾT

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN TẠI NHÀ RIÊNG

 Blog PhamTon

Chiều 18/1/2012, tức 25 tháng chạp năm Tân Mão, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm, chúc Tết nhạc sĩ Phạm Tuyên, giáo sư Hoàng Tụy và nhà thơ Hữu Thỉnh tại nhà riêng. Trong không khí thân mật đầm ấm, Tổng bí thư chúc nhạc sĩ, giáo sư, nhà thơ và gia đình bước sang năm mới dồi dào sức khỏe, tiếp tục đóng góp tâm sức, trí tuệ và tài năng cho nhân dân, đất nước. Đảng, Nhà nước luôn coi trọng và đánh giá cao những đóng góp to lớn của các nhân sĩ trí thức, nhà khoa học vào thành tựu chung của đất nước. Trong sự nghiệp đổi mới, đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là động lực phát triển và sự đóng góp của các nhân sĩ trí thức, nhà khoa học có ý nghĩa rất quan trọng.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên, giáo sư Hoàng Tụy và nhà thơ Hữu Thỉnh đều bày tỏ niềm xúc động, và chân thành cảm ơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nói chung và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng, mong muốn tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp chung của Tổ quốc và dân tộc.

Tại nhà riêng nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau khi nhận quà của Tổng Bí thư, nhạc sĩ đã cảm ơn và xúc động tặng lại Tổng Bí thư ba cuốn sách mới xuất bản: Một tác phẩm của thân phụ và hai cuốn viết về học giả Phạm Quỳnh. Đó là: Phạm Quỳnh: Hoa Đường Tùy Bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ của Công ty Văn Hóa Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2012, Phạm Quỳnh – một góc nhìn của Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan do Nhà xuất bản Công An Nhân Dân ấn hành năm 2011 và cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của Khúc Hà Linh do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2010.

Tin của B.P.T

Tháng Một 19, 2012

Năm 16 tuổi, Phạm Quỳnh lấy vợ đồng tuổi Nhâm Thìn – Dã Thảo

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần thứ 4 tháng 12 năm 2012.

NĂM 16 TUỔI, PHẠM QUỲNH

LẤY VỢ ĐỒNG TUỔI NHÂM THÌN

Dã Thảo

Làng Thọ Vực, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh có ông ký lục Lê Văn Chấn và bà vợ họ Hoàng, gia đình cũng thường thường bậc trung, nhưng sinh được ba cô con gái da trắng nõn nà, môi đỏ như son, tóc đen nhánh, nổi tiếng xinh đẹp nhất làng. Cô cả, nhà gọi là cô Nhớn, tên Lê Thị Vân. Cô Nhỡ tên là Lê Thị Hợp, cô Bé, tên Lê Thị Mai. Con út là trai, tên Lê Văn Tốn (còn gọi là Xuân).

Một hôm ba cô theo bạn rủ nhau đi xem bói. Thầy bói nói cô Nhớn, bấy giờ 14 tuổi, “số cô vất vả thời trẻ, nhưng về già thì sẽ thành nhất phẩm phu nhân, con cái đầy đàn, trai một cỗ, gái hai cỗ”. Cô Nhỡ thì thầy nói là “số long đong, ly hương biệt quán.” Cô Bé thì “căn quả tu thờ Phật, nếu lấy chồng thì sát đến … 9 đời chồng!”. Ba chị em cười rúc rích. Nhưng, sau này thì cô Nhỡ theo chồng là cựu học sinh Đông Du, phải lẩn tránh, lên sống lẻn lút ở các đồn điền cà phê trên Yên Bái. Cô Út trốn nhà, xin nương nhờ cửa Phật, sau này trở thành vị thượng tọa trụ trì có uy tín của chùa Cầu Bây bên Gia Lâm Hà Nội.

Ông ký lục mất sớm, gánh nặng gia đình dồn cả lên vai bà mẹ và cô Nhớn. Nhà chỉ có mấy sào ruộng, cô Nhớn phải làm thêm hàng xáo, xay lúa giã gạo, làm tương, nuôi lợn, già…Khi giáp hạt thì thường thiếu ăn. Bà mẹ phải lên Hà Nội mượn tạm tiền bà chị cùng cha khác mẹ, thường gọi là bà Nhì lấy chồng họ Phạm, buôn bán ở nhà số 74 phố Hàng Áo, đến vụ gặt thì lại trả.

Mỗi lần ra Hà Nội phải mất một ngày. Những khi ra ăn giỗ, bà mẹ thường dẫn cô Nhớn đi cùng, để biết họ biết hàng, khi cần thì thay mẹ đi. Họ Phạm bên nhà chồng bà Nhì có bốn chi, chi Cụ Lang Hàng Bún là cao nhất, rồi đến chi cụ Nhì, kế đến là các chi ông Tú, ông Cả Giới và ông Hai Kỳ. Chi ông Tú có cậu Phạm Quỳnh. Bấy giờ, Phạm Quỳnh đã tốt nghiệp trường Trung học Bảo Hộ (tức trường Bưởi) và đã đi làm nhân viên phiên dịch ở Trường Viễn Đông Bác Cổ. Phạm Quỳnh vẫn sống với bà nội và cụ Tú (vợ người cho gia đình ông nội Phạm Quỳnh thừa tự). Nhưng cả hai đều đã cao tuổi, lại chăm lo săn sóc mình từ khi lọt lòng, cho đến năm lên 9 không còn cả cha lẫn mẹ, chỉ còn trông vào hai cụ, nên Phạm Quỳnh thương hai cụ lắm, cũng mong có người cùng mình đỡ đần hai cụ lúc tuổi già. Các cụ trong họ thấy đôi trai tài, gái sắc đồng tuổi Nhâm Thìn, vừa tròn 16, nên đều vun vào cho đôi trẻ. Thế là thành mối lương duyên, ai cũng mừng; mừng nhất là hai bà cụ từng vắt kiệt sức tàn nuôi nấng Phạm Quỳnh. Cô Vân sinh đầu năm Thìn, mà Phạm Quỳnh sinh cuối năm, cho nên sau này ông thường nói đùa với các con là “Me hơn thầy một tuổi, cho nên Me bảo gì thầy cũng phải nghe theo…”.

Hai vợ chồng trẻ sống cùng hai cụ bà ở nhà số I phố Hàng Trống và sinh ba con đầu lòng tại đây: Phạm Giao (1911), Phạm Thị Giá (1913) và Phạm Thị Thức (1915). Con trai thì đặt tên theo tên cha: cha là Quỳnh, thì con là Giao. Còn con gái thì đặt cho có tên mà gọi thôi. Con gái đầu, khi sinh ra mình trắng như cọng giá thì gọi là cái Giá. Con thứ cứ ngày ngủ, đêm thức suốt thì gọi là cái Thức. Tiếp đó là Phạm Bích (1919), Phạm Thị Hảo (1920), Phạm Thị Ngoạn (1921), Phạm Thị Bảy (mất lúc sáu tháng), Phạm Khuê (1923), Phạm Thị Chín (mất lúc chín tháng), Phạm Thị Hoàn (1926), Phạm Thị Yến (mất lúc năm tháng), Phạm Tuyên (1930), Phạm Thị Giễm (1932), Phạm Thị Lệ (1934), Phạm Tuân (1936) và Phạm Thị Viên (1938). Như vậy là có ba con gái mất lúc chưa đầy tuổi tôi, cho nên có khi thấy viết trong sách báo là Phạm Quỳnh có 13 con. Đến nay, các ông Phạm Giao, Phạm Bích, Phạm Khuê và các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức, Phạm Thị Ngoạn đã qua đời, chỉ còn bà Phạm Thị Hảo và ông Phạm Tuân định cư ở Mỹ, các bà Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Thị Viên định  cư ở Pháp. Ở trong nước, chỉ còn một mình nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Cô Vân, ở nhà chuyên làm ruộng, xay lúa giã gạo, nuôi lợn, gà…không được đi học cho nên không biết cả chữ Nho lẫn chữ quốc ngữ. Nhưng cô có trí nhớ tuyệt vời, thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và các truyện Nôm, trong đó tất nhiên có Truyện Kiều. Sau này bà đã giúp nhà văn, nhà báo Phạm Quỳnh nhiều trong việc cung cấp cho ông các tư liệu về văn hóa, văn học dân gian. Cho đến thời kháng chiến chống Pháp, có phong trào bình dân học vụ, một đứa cháu ngoại thương bà đã cố hướng dẫn bà ngoại viết cho được cái tên, kẻo ra đường, bị  “thanh niên diệt dốt” bắt đi qua “cổng mù” thì tội quá. Cho nên bà biết viết độc một chữ Vân tên mình. Hồi ông làm báo Nam Phong, bà được làm thủ quĩ cho Hội Tế Sinh của bà Cả Mọc, chuyên làm từ thiện ở Hà Nội và vài tỉnh miền Bắc. Hằng ngày, việc thu chi của hội đều qua tay bà, bà nhớ kỹ,  rồi tối về nói lại cho ông ghi vào hóa đơn, sổ sách, không hề sai bao giờ.

Bà còn có tính kiên quyết, không tiếc cả thân mình khi cần phải hy sinh. Năm 1935, có mang lần thứ 15 được bảy tháng thì bà lên cơn hen nặng. Thường phải thức suốt đêm, ngồi tựa lưng vào con gái thứ mới thở được. Những lúc ấy, cái thai cứ rực lên, rất mệt mỏi. Phạm Quỳnh quá lo lắng, cho mời bác sĩ người Pháp là Piqueman đến khám. Ông ta nói là bệnh nặng lắm, phải cứu lấy người mẹ, kẻo chết cả mẹ lẫn con. Ông lựa lời nói lại với vợ thì bà nói ngay: “Tôi sống thì nó sống, tôi chết nó mới chết, chứ tôi không bao giờ chịu làm cái việc thất đức đó…” Và kể cho ông nghe giấc mộng khi sắp mang thai lần này. Bà đi xe kéo ở thành nội thì có đứa bé mặt trắng môi son cứ chạy theo mà xin cho về nhà. Bà nghĩ đã có 14 con rồi, nên xua tay. Thì đứa bé chạy thật nhanh, rồi nhảy tót lên xe, ngồi ngay vào lòng bà, ôm lấy bà. Tử đấy, Phạm Quỳnh càng lo chăm sóc vợ hơn mà không nhắc gì đến chuyện đó nữa. May mắn thay, bệnh bà thuyên giảm từng ngày và đủ tháng, đủ ngày, bà sinh một trai đúng như trong mộng. Cả nhà đều mừng, cứ gọi là “Chú mình”, sau này gọi trại ra là “chú Miềng”. Và cái tên cưng đó, đến nay (2009) vẫn quen dùng, kể cả hai vợ chồng ông Phạm Tuân cũng vẫn tự xưng như vậy.

Rồi, trưa cái ngày định mệnh 23/8/1945 ấy, có mấy người mặc quân phục đến “mời ông ra làm việc tại trụ sở Ủy ban Khởi Nghĩa Thừa Thiên-Huế”, thì bà cũng có mặt. Thoáng thấy trên cánh tay một người mặc quân phục có đeo cái băng đỏ, bà như có linh cảm là việc chẳng lành, đã hét lên một tiếng thật to rồi ngất đi…Trong khi đó, ông thanh thản thay áo, đi theo họ, để rồi không bao giờ trở về nữa… Nhưng, sau cơn gia biến lớn, chính bà đã thu vén tài sản gia đình còn sót lại, cho bán tất cả sách ở chợ Đông Ba, rồi dẫn cả đoàn con, cháu 14 con người (trong đó có năm trẻ dưới 10 tuổi) từ Huế ra Hà Nội về nhà con gái trưởng. Để rồi cùng tản cư, sống những năm đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

Bà chuyên làm nông nghiệp, giỏi lo toan việc nhà, đặc biệt có tài làm tương Bắc từ nếp và đậu tương rất ngon, ngọt. Cho nên khi tản cư, gia đình thiếu thốn, “thượng thư phu nhân” lại trở về nghề cũ: làm tương, bán cho dân làng.

Bác sỹ Đặng Vũ Hỷ là con rể hiếu thảo, thu xếp cho mẹ vợ và các em cùng nhiều cháu nội ngoại tản cư về làng Vạn Lộc, phủ Xuân Trường, Nam Định, ở nhà cụ Chánh Đoán là người trong họ. Mấy năm tản cư, tiền nong cạn dần, cụ bà lại làm tương, và tương rất ngon, dân làng tìm đến mua nhiều, cụ phải làm hàng chum to mới đủ bán. Nhà có cổng lớn, dẫn vào ngõ trúc rồi mới đến sân to là chỗ cụ bà làm và bán tương. Cậu út Phạm Tuân khéo tay, mài gạch non, viết chữ đỏ ngay trên cổng quét vôi trắng “Ở đây có bán tương ngọt”. Từ đấy, càng nhiều người biết mà đến mua, không phải chỉ trông chờ vào truyền miệng như trước.

Năm ấy, biết vợ nhớ mẹ và em, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ cho người đón cụ và hai em trai, gái út về Thư Điền, Ninh Bình, nơi ông công tác và gia đình đang sống. Cụ bà ra đi, gọi cháu ngoại Tôn Nữ Việt An 15 tuổi lại dặn dò lo việc nhà, còn hàng chục miệng ăn, và đưa ít tiền cho cháu liệu chi tiêu tiết kiệm. Hai tháng sau, cụ về, cháu gái đảm đang đưa lại tiền cho cụ, không thiếu một xu. Lấy làm lạ, cụ hỏi vậy cả nhà lấy gì mà ăn. Thì cháu gái chỉ vào chum tương to đặt gần máng xối nước mưa. Hóa ra tiền bán tương đủ cho cả nhà chi dùng trong suốt thời gian bà ngoại đi vắng. Cụ mở nắp chum xem, thì thấy vẫn còn non nửa. Hỏi ra mới biết, chum tương càng dưới càng mặn, may mà … được nước mưa ở máng xối bắn vào những khi mưa to cho nên nhạt bớt mà tương vẫn ngon ngọt. Lại đã được tín nhiệm, có “thương hiệu” rồi, cho nên rất đông khách vốn lấy tương cà làm gia bản!.

Thế là Phạm Quỳnh mười sáu tuổi đã lấy vợ đồng tuổi Nhâm Thìn, suốt đời sống hòa thuận, nhường nhịn nhau, bổ sung cho nhau mà tạo dựng nên một gia đình hòa hợp hạnh phúc. Cả khi ông không còn nữa, nếp nhà ấy vẫn còn, giản dị, cần cù, chân thành, không hề khệnh khạng quan cách bao giờ như người ngoài dễ lầm tưởng. Con cháu sống ở đâu cũng được nhân dân yêu mến, gần gũi, sẵn lòng giúp đỡ. Đó là cái đức của ông đã lưu lại ánh sáng về sau cho con cháu được nhờ. Đáng quí vậy thay nếp nhà mẫu mực ấy.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8/11/2009.

D.T.

Ngày xuân viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong – Nguyễn Thụy Kha

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 4 tháng 1 năm 2012.

NGÀY XUÂN, VIẾNG MỘ CỤ CHỦ BÁO NAM PHONG

­­­­­­­­­

Nguyễn Thụy Kha

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ-Nhạc sĩ-Nhà báo Nguyễn Thụy Kha sinh ngày 7-10-1949, tại quê nhà Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Từ 1990, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện sống ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nguyễn Thụy Kha tốt nghiệp đại học thông tin và Trường viết văn Nguyễn Du. Từng phục vụ trong quân đội, từ 1972 đến 1982 là kỹ sư thông tin, từ 1982-1990 là cán bộ tuyên huấn. Sau đó, đến nay là nhà báo.

Tác phẩm đã xuất bản: Hương nắng tiếng chim (Thơ, in chung, 1982); Sóng nhà đêm biết tôi yêu (Thơ, in chung, 1986); Những giọt mưa đồng hành (Thơ, in chung, 1987); Mắt thời gian (Thơ, 1988); Lúc ấy – biển (Thơ, 1989); Văn Cao – Người đi dọc biển (Tập truyện, 1992); Hàn Mặc Tử-Thi sĩ đồng trinh (Tập truyện, 1993); Không mùa (Thơ, 1994); Một lần thơ trẻ (Truyện ngắn, 1994); Văn Cao-Cuộc đời và tác phẩm (Biên soạn, in chung, 1995).

Vốn mến phục học giả Phạm Quỳnh, ông thường gần gũi gắn bó với nhạc sĩ Phạm Tuyên. Tháng 4 năm 2003, ông viết trên tạp chí Văn Hiến Việt Nam (Hà Nội) bài Ngày xuân, viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong và gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng bản viết tay bài thơ Dưới hàng muối xanh viết ngày 2/3/2003.

—o0o—

Ở ngoại ô Huế. Một sớm se lạnh sau Nguyên Tiêu. Chúng tôi cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên tới chùa Vạn Phước. Nơi ấy, ở góc đồi xóm Bình An là nơi yên nghỉ đời đời của cụ Phạm Quỳnh-thân sinh nhạc sĩ và là chủ báo Nam Phong xưa kia.

Ở đấy, dưới một hàng cây muối xanh mướt là nấm mồ lặng lẽ của một nhà văn hóa từng hết lòng vì quốc ngữ. Trước cửa vào mộ của cụ có đôi câu tri ngôn của cụ viết bằng chữ Nôm “Truyện Kiều còn, tiếng Ta còn- Tiếng Ta còn, nước ta còn”. Có lẽ, mọi éo le trong cuộc đời trắc ẩn của nhà báo lớn này đều khởi nguyên từ cái sự quá yêu tiếng Việt ở trong ông. Ông đã tự nhận mình là người “cúc cung tận tụy với nền quốc văn”, nhiệt liệt ca ngợi Truyện Kiều và đề xướng phong trào học Kiều. Viết về thơ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông cũng đắm đuối cùng tiếng Việt: “Tôi phục ông Hiếu là người làm văn có tài gẩy cây đàn độc huyền tiếng Nôm ta mà khéo nên được lắm giọng…”. Vì say mê với thứ ngôn ngữ “độc huyền” này, sau khi tốt nghiệp trường Thông Ngôn (tiếng Pháp) và ra làm việc ở Viễn Đông Bác Cổ ít lâu, Phạm Quỳnh đã đứng ra chủ trì tạp chí Nam Phong từ 1/7/1917. Suốt 15 năm duy trì tạp chí (từ 1917 đến 1932)-bằng 15 năm lưu lạc nàng Kiều-Phạm Quỳnh lại dùng đúng tinh thần ngôn ngữ của Truyện Kiều để suy tôn và phát triển tiếng Việt với đầy nhiệt huyết. Bộ Nam Phong tùng thư Thượng Chi văn tập của ông là những công trình nghiên cứu đồ sộ mà ở đó, ông không ngớt ca tụng tiếng Việt. Trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Phạm Quỳnh đã được ngợi ca: “Cái công Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay thật là một công không nhỏ.” Vũ Ngọc Phan còn viết: “nói như vậy không có gì quá đáng, vì nếu đem so tạp chí Nam Phong với những tạp chí xuất bản ở Pháp trong mấy năm gần đây (thời sau thế chiến I) như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Francaise, người ta đã thấy những tạp chí này đều thiên về một mặt văn học, thêm ít nhiều triết học và khoa học, còn không một tạp chí nào lại tham khảo được cả học thuật tư tưởng Đông-Tây mà chuyên cả về khảo cứu cùng biên tập thơ văn cổ kim như Nam Phong tạp chí…”.

Phạm Quỳnh từng tuyên bố ở Pháp: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ nước ngoài in lấp dòng chữ cũ”. Có lẽ vì quá yêu tiếng Việt, lo lắng cho sự giáo dục tiếng Việt ở trong nước, ông đã nhận lời làm thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục thời Bảo Đại, mặc dù rất nhiều bạn bè đã can gián. Và cứ thế, cuộc đời của một quan đương triều buộc phải trôi theo thời cuộc.

Vị sư chủ trì chùa Vạn Phước, nơi còn lưu giữ bảng chữ “Thổ nạp Âu Á” và nơi ông ngồi đọc sách khi xưa tại Huế những lúc rảnh rang, nói về cái thế đặc biệt của ngôi chùa này với chúng tôi. Đó là vùng đồi giáp ranh giữa đồng bằng thành phố và núi nên nơi đây luôn là nơi đi lại của những người hoạt động bí mật. Thời ta thì bảo nơi đây là nơi lén lút của bọn phản cách mạng. Thời ngụy thì bảo nơi đây là nơi ẩn náu, chứa chấp bọn cộng sản. Chỉ có đến hôm nay “Vạn Phước” mới thực là vạn phước chứ không vô phước như những năm tháng trước. Có khi vì cái duyên ấy mà đất bình an trở thành nơi yên nghỉ của một nhà báo mà “Tây thì bảo là thân Cộng, còn Ta thì bảo thích Tây”

Nhưng mọi bi kịch trong lịch sử đều sẽ được hóa giải ở hôm nay. Năm 2002, kỉ niệm 110 năm ngày sinh Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Văn học đã ấn hành cuốn Mười ngày ở Huế của ông. Những đóng góp và sai lạc của Phạm Quỳnh hẳn rồi sẽ được nhìn nhận công bằng. Niềm tin ấy dường như nằm trong đôi câu đối trên cổng con dốc vào mộ ông: “Vạn ức dòng sông nước chảy ra bốn biển biến nhơ thành sạch-Phước cho trăm họ nương về tam bảo bỏ dữ làm lành”…

DƯỚI HÀNG MUỐI XANH

Tưởng nhớ cụ Phạm Quỳnh

Chùa Vạn Phước tháng Giêng xanh mướt

hàng muối xanh

những cây muối như mái nhà che chở

dưới gốc bao năm âm thầm nấm mộ

của một Con Người bi kịch xẫm thời gian

***

Người đã chết có phải vì quá yêu

tiếng Việt mình

đã quên hiểm nguy có thể đến bất thần

miễn sao dân lành có chữ

Người đã chết vì uyên bác đến khác người

giữa thời đầy tiếng nổ

giữa thời bao oan khuất chất chồng

***

Huế giờ đã là di sản văn minh

Nấm mộ Người vẫn lặng im giữa Huế

như bao chúa, vua và bao chí sĩ

Và vẫn là nơi những cây muối mướt xanh.

2/3/2003

Chép tặng anh Phạm Tuyên

(Chữ ký)

Nguyễn Thụy Kha

Mồng một Tết, được nghe chuyện vui

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 4 tháng 1 năm 2012.

MỒNG MỘT TẾT, ĐƯỢC NGHE CHUYỆN VUI

Dã Thảo

Dã Thảo tôi có một ông em kết nghĩa trẻ hơn mười tuổi. Chú vốn con nhà nông dân Phú Thọ, được tuyển đi học lái cần cẩu to ở nước ngoài, di chuyển bằng xích sắt như xe tăng. Từ đấy, chú ôm mộng làm lính xe tăng. Nhưng, học xong, chú được tuyển về cảng Hà Nội, tất nhiên là để … lái cần cẩu to.

Đang hồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, chú tình nguyện xin nhập ngũ. Được chấp nhận, tưởng là sắp bắt đầu cuộc đời lính xe tăng rồi, nhưng ai ngờ, chỉ vì cao, to lại đẹp trai, chú bị… chuyển về đơn vị chuyên phục vụ lễ nghi đón đưa khách quốc tế và các ngày lễ trọng, ăn trắng, mặc trơn, chuyên sống ở Hà Nội. Thời chiến, nhiều người mong mà chẳng được, nhưng chú thì cuộc họp nào cũng xin “nhận khuyết điểm là không yên tâm công tác”, chỉ có một nguyện vọng là được ra mặt trận làm chiến sĩ xe tăng, trực tiếp giết giặc. Cứ thế mãi rồi đơn vị lễ nghi cũng đành chiều. Và chú thành chiến sĩ xe tăng ngay đợt tuyển đầu. Rồi ra trận. Xe tăng của chú là chiếc thứ hai tiến vào dinh Độc Lập lúc hơn 11 giờ trưa ngày 30-4-1975. Hết chiến tranh, chú về quê, cống hiến trọn đời cho các việc ích nước lợi dân, không kể lớn nhỏ, với cấp hàm đại tá.

Tết năm nào tôi cũng viết thiếp chúc Tết gia đình chú. Nhưng chú thì không bao giờ viết. Thay vào đó, là một cuộc gọi điện thoại đường dài Phú Thọ – Sài Gòn, nói thật là lâu. Lá thiếp không thể chứa nổi tình cảm của chú với anh em cũ… Tết Tân Mão này, theo lệ cũ, tôi gởi thiếp. Sáng mồng một thì về bên ngoại, họp mặt gia đình, ăn uống đến hơn hai giờ trưa mới về. Vừa mở cửa, đã nghe có tiếng chuông điện thoại. Chú ấy gọi. Và cho biết đây là lần gọi thứ bốn từ sáng đến giờ. Sau lúc hàn huyên thăm hỏi gia đình, chú nói là có chuyện rất vui chỉ chờ dịp này kể cho tôi nghe. Chuyện chú kể đai khái thế này…

Trước Tết, đi ăn cưới, chú ngồi cùng bàn với nhiều vị chức sắc và lão thành cách mạng, có lẫn vài thanh niên nay làm lãnh đạo địa phương. Đến lúc gần tàn tiệc, uống trà nói chuyện tào lao thì chú bỗng nổi hứng, lên tiếng hỏi “Các vị có biết ông Phạm Quỳnh là ai không?” Cả bàn già trẻ dè dặt nhìn ông đại tá một lát rồi mới có một vị lên tiếng: “Phạm Quỳnh thì ai chẳng biết…”. Lại hỏi “Thế ông ấy là người thế nào?…” Đáp ngay: “Phạm Quỳnh là tay sai thực dân Pháp”. Lại hỏi: “Còn gì nữa?”. Lại đáp ngay: “Phạm Quỳnh bán nước…” nhưng có hơi do dự .

Lúc ấy vị đại tá mới nói: “Thế ông có biết Phạm Quỳnh là thủ khoa đầu tiên của Trường Bưởi năm 15 tuổi, rồi đi làm ngay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên nghiên cứu về văn hóa văn học cổ nước nhà. 24 tuổi là chủ bút tạp chí Nam Phong lớn nhất nước ta. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, tranh thủ gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… bàn việc nước. Chính Nguyễn Ái Quốc đã “đích thân” chỉ đạo bạn cũ từ hồi đi tàu thủy làm một “bữa cơm Bắc thết khách Bắc” là Phạm Quỳnh. Chính vì thân thiết và hiểu nhau như thế cho nên năm 1945, Hồ Chủ tịch làm việc ở Bắc Bộ Phủ đã nói với Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Hữu Nam “vô Huế gặp cụ Phạm, trao thư tôi mời cụ”. Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, chính Cụ Hồ đã nói “Bất tất nhiên” (không nhất thiết phải làm như thế). Còn khi nghe Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thừa Thiên – Huế báo là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Và đến năm 1946, trước phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp), Bác đã nói: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì …” Ông Phạm Văn Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…”.

Cả bàn tiệc ngơ ngác, nhất là vị cán bộ nọ. Vị đại tá nói tiếp:

-    Người ta như thế, mà ông chỉ biết có hai câu tay sai với bán nước thôi sao… Vậy xin hỏi ông một câu cuối: “Ông có thuộc bài Như có Bác trong ngày đại thắng không?” Vị cán bộ đỏ mặt: “Ông say rồi mới hỏi tôi như thế, cả nước ai cũng thuộc, đến đứa trẻ con cũng thuộc, ai mà mỗi năm chẳng hát chục lần”.

-    Vậy ông có biết tác giả Phạm Tuyên chính là con trai cụ Phạm Quỳnh không?

-    Ủa, thật vậy sao?… Điều này thì tôi cũng không biết…

-    Vậy thì hôm nào rỗi rãi, ông lại tôi chơi, ta nói chuyện, xem sách cho vui. Sách của ông ấy thì nhiều lắm. Ngay ở nước ta, từ năm 2001 đến nay đã in rất nhiều, có quyển như Thượng Chi văn tập dày hơn một nghìn trang, trong ba tập sách Du ký Việt Nam mấy nghìn trang, tính ra ông ấy có hơn một quyển, chẳng thế mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là “người khổng lồ”. Hồi sang Pháp năm 1922, ông đã tự tìm cách lên được diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp để bênh vực dân mình và được cả viện vỗ tay, là điều chưa từng xảy ra ở đấy… Rỗi đến tôi chơi nhé, chứ biết ít như ông mà cứ nói nhiều thì e người ta cười cho đấy!

Đại loại chuyện vui mà ông em kết nghĩa người Phú Thọ muốn làm quà cho tôi ngày mồng một Tết Tân Mão là như vậy. Thật quả là tôi được “lì xì” quá mức dám mơ tưởng.

D. T.

Nam Phong số Tết Mậu Ngọ – 1918

Filed under: Ý kiến,Báo — phamquynh @ 5:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần thứ 4 tháng 1 năm 2012.

BÁO TẾT ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA:

NAM PHONG SỐ TẾT MẬU NGỌ – 1918

Phạm Tôn

Đầu năm âm lịch, trời xuân mát mẻ, cây cối xanh tươi, hoa nở muôn màu, người Việt Nam ta khắp cả nước vui mừng ăn Tết cổ truyền. Nói là ăn, nhưng không chỉ có thịt mỡ, dưa hành, rượu ngon, trà thơm mà bao giờ cũng có câu đối đỏ và sau này là có báo Tết. Tết sắp đến là các báo đã đua nhau ra báo Tết, nở rộ như hoa mùa xuân, muôn màu, muôn vẻ, đáp ứng yêu cầu tinh thần của đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi. Mấy năm gần đây, cả nước có đến mấy trăm loại báo Xuân, đủ để đầu mỗi năm từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đến nhiều tỉnh tổ chức ngày hội báo xuân, có bình bầu, phát thưởng hẳn hoi.

Nhớ lại những số báo Tết xưa vui tươi, nhẹ nhàng với văn Nhất Linh, Khái Hưng bay bướm, thơ Tú Mỡ dí dỏm và các tranh hài hước Lý Toét Xã Xệ châm biếm nhộn nhạo, không ít người cho rằng báo Tết có từ thời nhóm Tự Lực Văn Đoàn tung ra năm 1932 với các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Nhưng, sự thật, còn xưa hơn nữa… Các tờ báo quốc ngữ đầu tiên như Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương tạp chí… chưa nghĩ đến việc này. Nam Phong tạp chí ra đời giữa năm 1917-Đinh Tỵ. Và ngay cái Tết đầu tiên của tờ báo mới hơn sáu tháng tuổi, chủ nhiệm kiêm chủ bút phần quốc văn đã nghĩ ngay đến việc cho ra một số báo đặc biệt ngày Tết. Bài Số Tết của báo “Nam Phong. Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm số Tết, nay ta có thể coi đó như tuyên ngôn mở màn, đặt nền móng cho lệ làm báo Xuân sau này của làng báo Việt Nam trong cả nước, thành một phong tục tốt đẹp trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Ông đã viết: Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.”

Đó là tạp chí Nam Phong số Tết Mậu Ngọ -1918. Ông là người đầu tiên đã gắn cái đặc điểm của ngày Tết vui khắp mọi nhà, vui khắp cả nước với cái nghề báo hằng ngày, gắn bó với đời sống người dân. Cũng vì ông là người yêu quí, trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một lòng tha thiết đem niềm vui đến cho đồng bào.

Cuối bài, ông còn khiêm tốn viết:

“Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn, rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh ngũ sắc, mỗi thứ một ít. (…) toàn là những thức ngon miệng dễ tiêu vậy.

Mong rằng các bạn sẽ vui lòng mà nếm cái quà năm mới này. Có thức gì không vừa ý xin cũng rộng thứ cho: bản báo bước sang năm nay tính theo lối tổ quốc mới được là hai tuổi: nghề bánh trái đã khéo sao bằng các chị em!”.

Trong bài kế đó Mừng năm mới ký tên Nam Phong, ông viết: “Năm cũ Đinh Tỵ đã hầu qua, năm mới Mậu Ngọ đã sắp đến, đông tàn rồi lại sang xuân, ta chắc rằng cái ngày nguyên đán mới mẻ này, nhà nào nhà nấy, pháo đốt vang tai, đối hồng rực cửa, cơ đồ đổi mới, cảnh tượng khác xưa, kẻ lại người qua, không ai là không mừng rỡ mà chúc nhau rằng: “Năm cũ đã qua, năm mới đã đến, đinh tài lưỡng vượng, phúc lộc song toàn.” Nhưng hoa cát tường ở miệng người, như đua nhau phun nở trong ba ngày Tết.

Chúng ta đối với xã hội có cái trách nhiệm ngôn luận, trống sớm chuông khuya, tiếng vang khua động, đâu có nhẽ lại bỏ quá cái thì giờ quí báu ấy, mà im bặt không có một nhời nào để chúc mừng đồng bào ta hay sao? (…) vậy xin thắp hương rải hoa, hun bút mở giấy, mà mừng tuổi cho nước nhà.

Này, đồng bào ta ơi! Non cao núi nhớn, vòi vọi nghìn thu, sông cả nguồn sâu, thênh thênh một dải, dòng dõi thần minh, cùng nhau sum họp, vẫn còn đông đúc mãi mãi ở đây, dài dằng dặc không biết đâu là cùng, xa lăng lắc không biết bao giờ nghỉ, cái thế giới sau này chưa lại, ta tài nào mà biết được, ví cứ bắt chước nhời chúc của Phong Nhân đời xưa mà reo lên rằng: “Đại Nam vạn tuế! Vạn vạn tuế!” cũng chỉ là một câu thường sáo mà thôi. (…)

Đời thủa hồng hoang, ta không có thể xét được, ta chỉ cứ trong lịch sử ghi chép, mà sẽ kể bày ra như sau này.

Nghe rằng: Vua Hùng Vương dựng nước 18 đời trải 2222 năm, đến đời Thục An Dương Vương khởi lên được 50 năm; thuộc 3 đời vua nhà Triệu 59 năm; nội thuộc nước Tàu về nhà Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, cả thảy 652 năm; vua Lý Nam Đế khởi tự năm Giáp Tí đến năm Mậu Thìn, cả thẩy 5 năm; vua Triệu Việt Vương khởi năm Kỷ Tỵ tới năm Canh Dần, cả thẩy 22 năm; ông Lý Phật tử khởi năm Tân Mão đến đăm Nhâm Tuất, cả thẩy 37 năm; lại nội thuộc về nước Tàu, nhà Tùy, nhà Đường, đời Ngũ Quí, nhà Tấn, khởi tự năm Đại Nghiệp Nguyên Niên nhà Tùy, đến năm Thiên Phúc Tam Niên nhà Tấn, cả thẩy 306 năm; ông Khúc Thừa Hiệu tự xưng Tiết độ sứ 16 năm; ông Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ 7 năm; Ngô vương Quyền 6 năm; Dương Tam Kha 6 năm; Ngô Nam Tấn vương 15 năm; Thập nhị sứ quân 2 năm; vua Đinh Tiên Hoàng đến Thiếu đế cả thẩy 13 năm; vua Lê Đại Hành đến vua Long Đĩnh, 3 đời cả thẩy 29 năm; nhà Lý khởi tự vua Thái Tổ đến bà Chiêu Hoàng, 8 đời, cả thẩy 360 năm; nhà Trần khởi tự vua Thái Tôn đến vua Thiếu đế, cả thẩy 12 đời, 174 năm; nhà Nhuận Hồ 7 năm; nhà Hậu Trần hai vua 7 năm; thuộc về nước Tàu đời Vĩnh Lạc nhà Minh 4 năm; nhà Lê độc lập khởi tự vua Thái Tổ đến vua Chiêu Tôn, 9 đời cả thảy 109 năm; nhà Mạc 3 năm; nhà Hậu Lê khởi tự vua Trang Tôn đến vua Chiêu Thống 16 đời, cả thẩy 257 năm; nhà Tây Sơn 15 năm; đến Bản Triều dựng nghiệp định đô ở Phú Xuân kinh, niên hiệu Gia Long 18 năm; Minh Mệnh 21 năm; Thiệu Trị 7 năm; Tự Đức 36 năm; Kiến Phúc 1 năm, Hàm Nghi 1 năm; Đồng Khánh 3 năm; Thành Thái 19 năm; Duy Tân 9 năm; đến đức Vạn tuế ta bây giờ kể là năm thứ 3.

Kể tóm cả lại, thời nước ta tự vua Hùng Vương dựng nước đến giờ, đã đầy 4490 năm linh. Lấy 30 năm kể làm một đời, thời người đời vua Hùng Vương, chính là ông Thủy tổ thứ 139 của chúng ta vậy.

Này các ngài ơi! Nước ta đã trải lâu ngày như vậy, mà năm năm tháng tháng ngày ngày ở trong 4400 năm linh ấy, đều là cái thì giờ của một trăm ba bốn mươi đời tổ tôn chúng ta khai sông mở núi, gây dựng nhọc nhằn, không biết bao nhiêu công trình, góp cái thái bình hạnh phúc, để cho hàng con cháu chúng ta hưởng thụ mãi đến giờ vậy.

Kể từ đời hỗn mang rồi mà thành ra bộ thuộc, thành ra quốc gia; tự thủa đóng cửa khóa ngòi, rồi mà mở mang, mà văn hóa; năm nay tiến một bước, sang năm tiến một bước, mà thành ra một cái nước hoàn toàn.

Nhưng cái tuổi nước từ trước, thì tự tay của tổ tiên chúng ta sửa sang lấy, mà làm cho dài ra. Còn như tuổi nước bây giờ về sau, thì lại là phận vị của anh em đồng bào chúng ta, phải cùng mó tay vào mà sửa sang bồi dưỡng để nối noi mới được. Gặp cái quang cảnh năm mới như thế này, chúng ta há nên dông dài lẩn thẩn mà bỏ hoài mất cái thì giờ quí báu hơn 360 ngày sắp đến này hay sao?

Này đồng bang ta ơi! Năm mới nên quí là vì cái gì? Là vì so với năm cũ có cái hiện tượng ngày rộng tháng dài vậy (…)

nước cố nhiên đã đến cái tuổi trưởng thành thật, thế nhưng mà nước không có thể tự nhiên mà trưởng thành được, sửa sang cái cơ nghiệp trưởng thành là trách nhiệm của người dân trong nước vậy.

Kìa! Lúc nào mà rậm rạp chông gai, rừng xanh nước độc, vẫn là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà mở mang sum họp, ruộng đất cấy cầy, cũng là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà đuổi giặc Nguyên, bắt tướng Hồ, đánh Chiêm Thành, lấy Chân Lạp, nhất thống sơn hà, gây dựng cơ nghiệp, cũng là một miếng đất ấy mà thôi. Dẫu trong khoảng dó, lúc trị lúc loạn, lúc phế, lúc hưng, vận hội đổi thay, vẻ này vẻ khác, mà non sông đất nước, y nguyên còn đó trơ trơ, không biết trải bao nhiêu tháng tháng năm năm, mà phía đất Nam giao vẫn tự nhiên là một nơi bất tiêu bất diệt. Rồi từ đó mà năm bảy nghìn năm, mà muôn năm, ức triệu năm, kinh cai vô số năm, cũ qua mới lại, không biết thế nào mà kể cho hết, không biết thế nào mà tính cho cùng vậy.

Chúng ta muốn mừng tuổi nước, nhưng nước vẫn sống lâu, lọ là phải mừng, chỉ nên mừng là mừng cho người ăn ở trong nước này.

Ngày tháng như thoi đưa, kiếp người không phải sắt đá. Phàm các người bẩm tinh anh của giời đất, trung tú khí của non sông, sinh ra ở trên đất nước này phỏng được bao nhiêu năm, dẫu sống lâu cho lắm, chẳng qua bảy tám chín mươi tuổi, trừ bỏ cái thời kỳ trẻ mỏ giả nua ra ngoài, thì cái thì giờ có ích với xã hội, chẳng qua chỉ ở trong khoảng độ hai ba mươi năm mà thôi.

Các ngài ơi! Kiếp trước chúng ta, chưa chắc chúng ta đã được làm người cổ nhân, kiếp sau chúng ta, chưa chắc chúng ta lại được làm người hậu tiến, chúng ta chính là một phần người trong đất nước ở kiếp này, tiêu thụ cái quang cảnh một năm (…). Bóng sáng thoáng qua, ngày sau còn rộng, phàm những sự nghiệp duy tân của nước ta, hoặc mọc mầm ở năm trước, hoặc nở trứng tự năm nay, học thuật nên làm thế nào cho cao thâm, sinh kế nên làm thế nào cho rộng rãi, chính trị nên làm thế nào cho hoàn toàn, không việc gì là không phải việc nghĩa vụ nên làm ở trong cái năm mới này cả. Vậy dám chúc già trẻ giai gái, sĩ nông công thương, cho chí hết thảy các người trong nước, nhân dịp bước lên, đua hơn ganh được, họa may ra dòng thần dõi thánh, rạng vẻ thêm hoa, đối với người xưa mà không hổ, đối với người sau mà có danh, rồi mà cái tuổi thọ của nước nhà ta, được hưởng một cái phúc lâu dài không có kỳ hạn, ấy là cũng bởi các bậc người ở trong năm mới này, không phí thì giờ, không bỏ nghề nghiệp, đồng lòng hiệp sức, tiếp ngọn nối ngành, để làm cho một ngày một dài ra vậy. Vậy nên chúng ta đương lúc thiều quang sắp đến, muốn mừng năm mới, mà lại rất mong cho 20 triệu đồng bào ta, chớ nên phụ cái năm mới này. (PT nhấn mạnh)

Nam Phong

Thật là những dòng tâm huyết, tha thiết với Tổ quốc, với đồng bào, nhất là với lớp trẻ, tràn đầy tình yêu nước thương nòi, mong cho ngày càng tiến bộ, theo kịp người.

Trên bìa số báo Tết ghi rõ Số Tết – 1918 và dưới đó là hai chữ Nam Phong to trên đầu bức tranh vẽ vị Hành Khiển Phán Quan Đinh Tỵ tay cầm cành đào trơ trụi, buồn bã chia tay với vị Hành Khiển Phán quan Mậu Ngọ tươi tỉnh, tay cầm cành đào rộ hoa. Dưới có in rõ: “In tại Đông Kinh ấn quán (Imprimerie Tonkinoise) 14 Rue du Coton (tức phố Hàng Bông – PT chú)”

Toàn số báo có tời 122 trang, với phần quốc ngữ 70 trang và phần chữ Hán 52 trang. Trong báo rải rác có đăng tới 36 bài thơ cổ, kim, có cả diễn Nôm bài Khuê oán của Tuy Lý Vương do Dương Tự Nhu dịch, kèm các bài là 43 tranh minh họa. Rồi các bài hát nói, phú như bài phú Giặc đến nhà đàn bà phải đánh của Vô Danh, với những câu Thương thay: những lúc ba đào, chút thân bèo bọt, nhà rách vách xiêu, con đau của sót. Nào phải bồ rìn chi đứng, ngoảnh mặt làm thinh, không bụt mọc chi ngồi, đến mình phải nhót (là rút mình, se mình – PT chú). Được thua, thua được chẳng kể, có người có ta. Hết còn còn hết cũng liều, rằng hai, rằng một (…) sức còn đương bẻ gãy sừng bò, sợ chi giặc cỏ, sống chết sao mình dám bỏ (…) Dẫu cơn hoạn nạn, còn lúc nghênh ngang. Chẳng sợ gì ai, chiêng không kêu cũng đấm, đành liều một chuyến, trống dẫu thủng còn tang” Những dòng đầy ẩn ý sâu xa.

Ngoài ra còn có nhiều câu đối. Có những câu như Tết nhất gì? Không nêu, không pháo, không bánh trái, giò nem, con cháu ăn chơi coi cũng thú/Phong lưu nhỉ? Có nghĩa, có nhân, có cương thường, hiếu hữu, anh em hòa thuận thế là vui. Hoặc Dán buồng học con: Giữ lấy cương thường cho vẹn tiết/ Chăm chong đèn sách mới nên người của Tạ Quang Huy. Có cả Truyện Tàu Lý Khuê, Trịnh Xuân Nham dịch, Ngày xuân lữ thứ quê người của Hà Huy Sằn với câu kết buồn bã: “một tết thêm một tuổi, cảnh phù sinh chắc thọ được bao lâu, những hổ đem thân buộc vòng danh lợi” Rồi còn “tiểu thuyết mớiChén rượu năm mới, dài hơn tám trang do Nguyễn Bá Trác soạn, Nguyễn Bá Học dịch nôm. Và bài hát cô đầu, sẩm nhà trò, hành vân sang năm, hai bài tạp văn của Nguyễn Khắc Hiếu: Sợ vợ, Hai đồng xu. Và bài Hai con muỗi nói chuyện của Trần Văn Nguyên tóm dịch văn Tuyết Trang…Cuối số báo là Sách vàng những người An Nam giúp việc chiến tranh bên mẫu quốc gồm  các mục: Những bậc quan võ An Nam liệt đồng hàng với các quan Tây, kể tên ba người, Những bậc chiến sĩ tử trận, Những người bị thương và cuối cùng là Những bậc được tuyên công và được thưởng. Âu cũng là một việc không thể không làm ở một tạp chí do chính phủ Pháp tài trợ, song cũng là một cách “kể công”. Cũng như, ở ngay trang đầu, không thể không có mấy lời Kính chúc Hoàng-Thượng và quan Toàn-quyền, ký tên Nam Phong do Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết, kết thúc bằng một loạt khẩu hiệu “ Nay gặp hội Tân-xuân, xin tung hô Vạn-tuế”:

Đại-Nam Khải-định Hoàng-đế vạn tuế!

Toàn-quyền Xa-lộ đại-nhân vạn tuế! (Xa-lộ là Albert Sarraut – PT chú)

Đại-Nam cố quốc vạn vạn tuế!!

Đại-Pháp ân-quốc vạn vạn tuế!!”

Đáng chú ý là tập báo Tết này “là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới” như đã nói rõ trong bài Số Tết báo Nam Phong. Từ đó, thành một lệ tốt đẹp kéo dài hàng mấy chục năm cho toàn thể các báo nước ta là bạn đọc mua báo dài hạn thì hằng năm đều được tặng không một số báo Tết và không phải chịu trả thêm tiền “bù chênh lệch” khi báo tăng giá trong thời hạn mình đã đặt mua.

Nhân ngày Tết, nhắc lại một chút về lịch sử báo chí nước nhà, mong bạn đọc hiểu thêm một phần tấm lòng vì nước vì dân của nhà văn hóa Phạm Quỳnh chỉ qua một việc làm nhỏ của ông: mong làm cho ngày xuân của người dân thêm ý nghĩa và vui vẻ, nhưng không quên nhiệm vụ của mình với Tổ quốc.

24/12/2009

P.T.

 

Tháng Một 18, 2012

Chúc mừng năm mới

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 10:50 chiều

“Ông tổ báo Tết”: Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:45 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 4 tháng 1 năm 2012.

 

“ÔNG TỔ BÁO TẾT” : PHẠM QUỲNH

Thủy Trường

Giới báo chí cũng như nhân dân ta có thêm một “truyền thống” tốt đẹp là hằng năm, đón xuân mới, có một món ăn tinh thần là báo Tết. Những thập kỷ gần đây nhà báo còn “chiêu đãi” nào báo Xuân, báo Tết Dương lịch, báo Tết âm lịch. Vì rằng Tết ngày nay “thịt mỡ, dưa hành” cũng đã “chán” rồi! Còn “câu đối đỏ” đã phải nhường chỗ cho tờ thư pháp to đắt tiền ca ngợi ông chủ… “Nêu cao” không nỡ cắm – vì rừng, rừng đầu nguồn, rừng sinh thái, rừng nứa, rừng tre… đều đã bị tàn sát. Nỡ lòng nào lại chặt thêm ngọn! “Pháo” đã cấm. Không nổ. Trừ pháo nhập lậu của Tàu. Với bánh chưng xanh, gần hết “cảnh gói bánh canh nồi”. Và cũng chẳng cần Tết đến mới có! Ngày nào mà chẳng mua được, các loại năm sáu ngàn, hai mươi, ba mươi ngàn, chín mươi, một trăm ngàn một chiếc. Chỉ cần “cảnh giác” không khéo mua phải bánh “nhân khoai tây nhuộm màu độc hại (như cốm làng Vòng)” thay cho đỗ xanh…

Cho nên các báo Tết là đúng khẩu vị ngày Tết! Thực ra, cái món ăn “cao cấp” này không phải nhà nào cũng có mà ăn! Cho nên có “buổi tiệc đứng” ăn chung, xem chung ở các Hội triển lãm báo Xuân.

Nhìn đồng bào, thanh niên, em nhỏ, các cụ cựu “chán” (chiến) binh giương mục kỉnh (kính) đọc lướt hơn 200 tờ báo, trăm hoa khoe màu, ai cũng cảm động.

Ăn quả nhớ người trồng cây, lòng ưu tư khen mãi cái ông nào nghĩ ra cái báo Xuân!

Một thế hệ, hai, ba thế hệ… đã không có điều kiện trở về cội nguồn số báo Tết đầu tiên trong làng báo Việt Nam. Nay đã rõ. Nam Phong tạp chí ra số đầu tiên vào tháng 7 năm 1917. Thế mà 6 tháng sau Nam Phong đã ra được số Tết Mậu Ngọ – năm con ngựa – khai sinh ra một “con đường” mới cho báo chí nước nhà; cho đến nay, Ngựa vẫn đang còn phi nước đại… để 6 xuân nữa sẽ dự kỷ niệm 100 năm Báo Tết!

Số báo Tết 1918 của Nam Phong có 58 trang ruột. Trừ một bài “cúng tế” Hoàng thượng và quan Toàn quyền (xin lưu ý “Hoàng thượng trước toàn quyền) còn lại đều là báo Tết, báo Xuân, năm mới…

Lời “giáo đầu ra số Tết này, Chủ nhiệm kiêm chủ bút ký tên Phạm Quỳnh: “xin hiến bạn đọc một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh ngũ sắc, … toàn là những thức ngon miệng dễ tiêu.”

Thử xem có những “thức ngon miệng” nào? Thưa, có hơn 30 “thức ngon miệng” là thơ và 10 “món” là văn… Không kể những tranh minh họa. Tất cả có chủ đề là Tết, Xuân: Mở đầu có bài của tác giả Lương Điền nhan đề Xuân Tứ, 20 câu, mỗi câu ít nhất cũng có một chữ “Xuân”…

“Ngày Xuân, xuân hãy còn dài

Tiết Xuân dẫu đổi lòng người dám thay?

(Tâm sự của tác giả chăng?)

“Chuốc Xuân một chén đưa cay

Đêm Xuân luống những tỉnh say vì tình”.

Tiếp theo là bài Mừng Xuân cũ lại đến của Thái Bình Trịnh Thu Tâm gồm 6 đoạn, đoạn nào  cũng có Xuân:

“Mong có mưa Xuân khắp cõi trần

Cỏ hoa tươi tốt vẹn mười phân

Dân ta may được văn minh cả

Chẳng những Xuân về, cảnh mới Xuân.”

Tết đến, báo Tết Nam Phong lại nhớ Tú Xương:

“Thiên hạ xác (nghèo xơ xác) rồi còn đốt pháo

Nhân tình trắng thế lại bôi vôi”

“Nằm nghe tiếng trống canh ba

Vừa giấc chiêm bao chợt tỉnh ra

Thiên hạ có khi đang ngủ cả

Việc gì mà thức một mình ta”

Và bài Thơ pháo của Tam Nguyên Yên Đổ, Nguyễn Khuyến:

“Giấy xanh, giấy trắng ở tay người

Bao nả công trình tạch cái thôi

Cao lắm lại càng xơ xác lắm

Cũng mang một tiếng ở trên đời…”

Cùng “họ hàng” thơ còn có các bài phú (Giặc đến nhà đàn bà phải đánh) hát xẩm, hát văn, hành vân, hát cô đầu… Văn có: văn sách, văn dịch (Lý Khuê, truyện Tàu), tiểu thuyết mới (Chén rượu năm mới).

Và không thể báo Tết lại không có câu đối.

Mục Câu đối Tết có nhiều “món”, xin giới thiệu vài món:

-       “Tết nhất gì? Không nêu, không pháo, không bánh trái, giò nem, con cháu ăn chơi coi cũng thú.

Phong lưu nhỉ? Có nghĩa, có nhân, có cương thường hiếu hữu, anh em hòa thuận thế là vui.”

-       “Giữ lấy cương thường cho vẹn tiết. Chăm trong đèn sách mới nên người” (Tạ Quang Huy)

(Xem ra câu đối thứ 2 này “dán” vào thế kỷ XXI này… vẫn còn là “thời sự” chán!)

Một tờ báo – một nâm cỗ – tinh thần, 60 trang mà gần 100 món, mặc dù “Tổng biên tập” Phạm Quỳnh đã khiêm tốn viết “Báo mới 2 tuổi, nghề bánh trái sao bằng chị em”, nhưng công bằng mà nói mâm cỗ báo Xuân 1918 của Nam Phong, đã hay, đã đẹp, mở đầu cho một “truyền thống” báo Tết – đang được lịch sử vinh danh.

T.T.

—–o0o—–

NAM PHONG TẠP CHÍ LÀ TỜ  BÁO RA SỐ XUÂN ĐẦU TIÊN BẰNG QUỐC NGỮ

Phạm Bá

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mục Chuyện xưa, chuyện nay trên báo Nhân Dân 17/1/2012, mở đầu bài Những tờ báo xuân đầu tiên ở Sài Gòn của Phạm Bá có viết:

 “Trong những tờ báo ra báo xuân chữ quốc ngữ, thì Nam Phong Tạp chí, ra đời năm 1917 tại Hà Nội và kéo dài tới năm 1934, ra được 211 số, là tờ báo ra báo xuân đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, số xuân ra Tết năm 1918.

Ở Sài Gòn, tờ báo xuân đầu tiên là tờ Ðông Pháp Thời báo, ra số xuân năm Mậu Thìn – 1928. (…)

Kể đến các báo ra số xuân trong nước cũng lấy chủ đề xuân làm nổi bật trong cảnh còn lệ thuộc thực dân Pháp ở ba kỳ. Các tờ Thần Chung Xuân Canh Ngọ 1930, Phụ Nữ Tân Văn Xuân Canh Ngọ 1930, Công Luận Xuân Tân Mùi 1931, Trung Lập, Xuân Ất Hợi 1935, Ðuốc Nhà Nam Xuân Ất Hợi 1935…”

P.B.

Tháng Một 13, 2012

Tìm lại tờ báo xuân đầu tiên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:17 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 1 năm 2012.

TÌM LẠI TỜ BÁO XUÂN ĐẦU TIÊN

Lam Điền

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên trang 12 mục Vấn đề và Sự kiện tạp chí Tuổi Trẻ Cuối Tuần (15/01/2012).

—-o0o—-

Nhân Tết Nguyên đán sắp ghé, nói về chuyện làm báo xuân, thấy có những bàn luận khác nhau về việc đâu là tờ báo xuân đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam. Theo sách Báo chí Việt Nam – những sự kiện đầu tiên và nhất (1) thì tờ báo đầu tiên có ra số xuân là Nam Phong tạp chí, số xuân Mậu Ngọ – năm 1918.

 Có ý kiến cho rằng tờ báo đầu tiên trong làng báo Việt Nam có ra số đặc biệt kỷ niệm xuân là tờ Phụ Nữ Tân Văn xuân Canh Ngọ, ra năm 1930. Lý do của những người tìm kiếm tờ báo xuân đầu tiên mà bỏ qua tờ Nam Phong tạp chí là vì cho rằng đến nay không ai còn thấy tờ báo xuân ấy nữa.

Ngay cả trong tập sách Báo chí Việt Nam – những sự kiện đầu tiên và nhất (NXB Trẻ tổ chức bản thảo và xuất bản tháng 6/2006), nhóm các tác giả sở dĩ xác định Nam Phong tạp chí là tờ báo đầu tiên có tổ chức làm báo xuân như một số đặc biệt kỷ niệm một dịp đặc biệt là do dựa vào một câu của Vương Hồng Sển trong quyển Thú chơi sách: “Nam Phong có cả thảy hai trăm mười một cuốn vì tết 1918 có cho ra một tập riêng, toàn thơ văn có giá trị và nếu không lầm, tập ấy lả thủy tổ các số báo xuân, báo tân niên, báo đặc biệt vậy”. Dựa theo đó, các tác giả sách Báo chí Việt Nam – những sự kiện đầu tiên và nhất khẳng định: “Đây được xem là tờ xuân đầu tiên của làng báo Việt Nam”. Bên cạnh đó, các tác giả sách còn kể thêm tờ báo xuân thứ hai là Đông Pháp thời báo năm 1928, Thần Chung xuân Kỷ Tỵ 1929, Phụ Nữ Tân Văn xuân Canh Ngọ 1930, Công Luận xuân Tân Mùi 1931…

Như vậy, thứ tự ai trước ai sau trong số các tờ báo xuân đầu tiên trong làng báo Việt Nam đã được xác định rõ ràng. Theo cái sự “nếu không lầm” của cụ Vương Hồng Sển thì Nam Phong ra số xuân đầu tiên vào năm 1918, và theo thứ tự ấy thì Phụ Nữ Tân Văn xếp hàng thứ 4, ra số xuân năm 1930, đứng sau các sự kiện làm báo xuân của Nam Phong tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần Chung và cách số xuân của Nam Phong tạp chí những 12 năm.

Lý do “không ai còn thấy tờ Nam Phong tạp chí  xuân 1918” của giới nghiên cứu là có thể chia sẻ. Ngay cả đến năm 2006, nhóm các tác giả sách Báo chí Việt Nam – những sự kiện đầu tiên và nhất cũng chỉ có cứ liệu từ cụ Vương Hồng Sển, chứ phần xác định tờ báo xuân đầu tiên sách này cũng không in hình số xuân đang bàn của Nam Phong tạp chí năm 1918.

Nhưng cho đến nay, khi học giới trong và ngoài nước đã lần lượt số hóa các bộ báo cũ và quan trọng thì việc tìm kiếm và hệ thống lại các số Nam Phong tạp chí cũng nằm trong không khí này. Nay, chúng tôi xin giới thiệu và khảo tả sơ nét về bản chụp bìa số xuân đầu tiên của Nam Phong tạp chí, các bài viết đầu tiên của Phạm Quỳnh và tòa soạn Nam Phong.

Toàn bộ số xuân Nam Phong tạp chí có 126 trang, bìa màu có vẽ hình hai ông Thọ cầm biển Đinh Tỵ và Mậu Ngọ chào nhau. Bài đầu tiên ký Nam Phong, có tựa là “Kính chúc hoàng thượng và quan toàn quyền”, cuối bài có câu “Đại Nam Khải Định hoàng đế vạn tuế”. Bài tiếp theo ký tên Phạm Quỳnh, có nêu lý do của việc Nam Phong quyết định ra số xuân. Đó là vì Nam Phong bấy lâu phê phán lối hư văn, chủ trương lập ngôn “thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm”, nên không chú ý đến “lối văn chương tiêu khiển”. Nay Phạm Quỳnh cho rằng “nhưng cái thái độ nghiêm khắc tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa như gẩy khúc đàn sai dịp (2) vậy”. Sau đó, Phạm Quỳnh nói cụ thể hơn: “Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai dịp với khúc đàn chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.”

Sau bài của Phạm Quỳnh dài hai trang là bài của tòa soạn Nam Phong dài bốn trang, cũng nhân không khí báo xuân nhắc lại phận sự làm dân trong một nước sao cho tiến bộ…

Như vậy, số xuân của Nam Phong tạp chí đúng là số đặc biệt, ra riêng số Tết năm 1918, số tết này nằm giữa số 8 (tháng 2-1918) và số 9 (tháng 3-1918). Về nội dung thì chủ trương nói chuyện vui vẻ, khác phong cách thường ngày của tờ tạp chí chuyên bàn những chuyện nghiêm túc.

L.Đ.

————–

(1)     NXB Trẻ, 2006

(2)     Dịp = nhịp

Tháng Một 12, 2012

Hơn một triệu lượt người đã truy cập Blog PhamTon

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 3:57 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 1 năm 2012.

 

Hơn một triệu lượt người đã truy cập blog PhamTon

Blog PhamTon

Tin vui đã đến với Blog PhamTon ngay trước khi năm mới 2012 bắt đầu: Tính đến 22:00 ngày 31/12/2011, Blog PhamTon đã đạt số lượng lượt người truy cập lên đến 1.001.157, tức là hơn một triệu! Điều đó chứng tỏ lòng người hướng về Thượng Chi – Phạm Quỳnh còn nhiều. Và phương châm chúng tôi theo đuổi một cách nghiêm nhặt nhất từ khi ra mắt bạn đọc ngày 22/2/2009 đã được đông đảo bạn  đọc đồng tình và ủng hộ. Đó là: Nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật. Nhờ kiên trì phương châm đó mà chúng tôi đã ngày càng được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước tin yêu và bảo vệ.

Chúng tôi đã được nhiều bạn đọc chỉ bảo nên đưa lên Blog PhamTon những nội dung gì, nên tránh nội dung gì, đính chính giúp những thiếu sót có trong một số bài, nhiều bạn chẳng những đọc mà còn giới thiệu cho bà con, bạn bè, những người quen biết cùng đọc, thậm chí còn phát lại trên blog cá nhân của mình. Đáng chú ý là đã có những bài trên Blog PhamTon được đưa lên tạp chí, và bắt đầu vào sách.

Nhưng đáng mừng hơn cả là: vì tin yêu mà Blog PhamTon chúng tôi đã được bạn đọc bảo vệ.

Còn nhớ năm 2009, tờ báo có số phát hành lớn nhất nước ta đã công bố trên tạp chí cuối tuần của mình một châu bản thời Bảo Đại liên quan đến quần đảo Hoàng Sa. Chỉ vì muốn tránh nhắc đến tên Phạm Quỳnh trên báo của mình, cả nhà nghiên cứu đồng thời là người đã phát hiện ra châu bản trên, cùng một tiến sĩ sử học và toà soạn báo đều đồng tình công bố tờ châu bản có tầm quan trọng khẳng định chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa một cách thật kỳ quặc, trái với đạo lý, phạm phải lỗi nghề nghiệp lớn nhất đối với người nghiên cứu khoa học và người làm báo là không trung thực. Thay vì đề tên Phạm Quỳnh dưới dòng chức vụ “ngự tiền văn phòng” là người đề nghị nhà vua phê duyệt khen thưởng đơn vị lính khố xanh “lập đồn phòng thủ ở đảo Hoàng Sa”, thì họ lại lấy tên một người dưới quyền ông là Trần Đình Tùng để thay thế! Khi bài báo đó được phát trên kênh VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam, chúng tôi lập tức nhận được điện thoại của nhiều bạn ở Hà Nội cho biết đã thấy rõ chữ ký dưới chức vụ chính là của Phạm Quỳnh. Chúng tôi liền có ngay bài nói rõ chuyện đó và công bố hai trong số ba chữ ký Phạm Quỳnh chúng tôi hiện có trong tay, giống hệt chữ ký trên tạp chí nọ. Nhiều bạn cũng xác định chữ ký đó là của Phạm Quỳnh; có bạn còn cho biết gia đình còn lưu giữ trong tủ sách 11 tác phẩm do Phạm Quynh đề tặng, có chữ ký của ông là tác giả những sách ấy, bạn sẵn sàng công bố 11 chữ ký ấy nếu chúng tôi yêu cầu… May là một tuần sau, ngay số kế tiếp, tạp chí hằng tuần nọ đã đưa tin: “Báo XX cuối tuần và tác giả xin chân thành cáo lỗi độc giả: chữ ký trong tờ châu bản là của ông Phạm Quỳnh”

Bạn đọc đã bảo vệ Blog PhamTon như thế đó.

Có lần, cũng năm 2009, chúng tôi bác luận điểm của một nhà sử học gốc Việt ở Canada cho rằng “hai con gái Phạm Quỳnh đã gặp Hồ Chí Minh sau ngày cha bị sát hại”, trái với sự thật là “ngay sau khi cha bị bắt” để từ đó vu cáo Hồ Chí Minh là “dối trá” khi nói là không biết về việc xảy ra sau khi ông đọc Tuyên ngôn độc lập “vì khi ấy tôi chưa về”. Căn cứ của nhà sử học này là “Hôi ký viết tại Paris của bà Phạm Thị Thức, con gái Phạm Quỳnh”. Lập tức có bạn đọc ký tên là Nói Thật (một bút danh đáng nể) viết một email bênh vực nhà sử học, căn cứ của bạn là điều chúng tôi viết trong một bài khác, theo đó “có thể có chuyện bà Thức ở Paris và bà Thức viết hồi ký”, chứ không như chúng tôi đã bác là bà chưa khi nào ra khỏi đất nước. Chúng tôi lập tức trả lời sau khi đưa nguyên văn email của bạn Nói Thật vào chuyên mục Bạn hỏi, chúng tôi trả lời. Và ngay sau đó, nhận được thư điện tử của bạn: “Đúng là tôi đã đọc không kỹ, xin cáo lỗi” và bạn còn góp ý với Blog PhamTon cách làm sao cho người đọc dễ tìm tư liệu Blog PhamTon đã đăng hơn. Đúng là Nói Thật!

Gần đây nhất là bài chúng tôi viết đáp lại bài Sau 66 năm, lịch sử và công lý nào cho vụ án Phạm Quỳnh? phát từ Mỹ trên tạp chí Thế giới mới. Bài của chúng tôi nhan đề Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?. Bài này đã gây nên một cơn sốt thực sự cả trong và ngoài nước: lên Blog PhamTon 5/10/2011 mà đến 31/12/2011 đã có 45.408 lượt người truy cập, vượt xa tất cả các bài chúng tôi đã đưa.

Bài đó viết gì mà lại có tác động lớn như vậy?

Trong bài này, chúng tôi nêu thật rõ ràng và giản dị quan điểm của mình là phản đối tất cả những ai nhân danh là người yêu kính, bảo vệ Phạm Quỳnh chỉ để nấp sau tấm bia tin yêu Phạm Quỳnh dựng trong lòng người dân Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay, để thả sức bắn phá Tổ quốc Việt Nam mà ông hàng yêu quí và đã đem hết tâm sức để góp phần vào việc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng tôi cũng nói rõ là những người như thế chẳng qua chỉ làm nghề chửi Tổ quốc để kiếm ăn mà thôi!

Cho đến nay, chưa có một ý kiến nào phản đối, kể cả từ đối tượng của bài này, mà chỉ có số người đọc cứ tăng lên hằng ngày. Chúng tôi tin là đông đảo bạn đọc đã đồng tình với quan điểm của chúng tôi và bảo vệ chúng tôi bằng cách đọc và bảo nhau đọc.

Nhân dịp Blog PhamTon đạt được hơn một triệu lượt người truy cập, chúng tôi càng biết ơn bạn đọc trong và ngoài nước đã chẳng những giúp đỡ, ủng hộ chúng tôi mà còn bảo vệ chúng tôi nữa. Các bạn mong Blog PhamTon trường tồn, để nói lên chân lý về một con người suốt đời Trung với Nước, Hiếu với Dân. Chúng tôi biết, một blog cá nhân, lại chỉ nói về một con người thì việc đạt được con số một triệu đó sẽ không thể có được nếu thiếu đi tấm lòng của bạn đọc Việt Nam ở trong nước, cũng như ngoài nước thương tiếc Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Năm nay là năm 2012, cũng là năm Nhâm Thìn, năm tuổi của Phạm Quỳnh. Nếu còn sống, Phạm Quỳnh vừa tròn 120 tuổi. Mong vận rủi sẽ không còn đeo bám Ông như hơn 60 năm qua…

B.P.T.

Ca trù thành phố Hồ Chí Minh: Bảo Tồng Còn Khó, Nói Gì Phát Triển

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:55 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 1 năm 2012

Ca trù thành phố Hồ Chí Minh:

BẢO TỒN CÒN KHÓ, NÓI GÌ PHÁT TRIỂN

Thu Nga

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Thời Nay số 185 ngày 17/10/2011 có bài Ca trù thành phố Hồ Chí Minh: Bảo tồn còn khó, nói gì phát triển của bạn Thu Nga trong mục Thời sự Văn nghệ. Xin giới thiệu để các bạn tham khảo.

—-o0o—-

Chỉ là một nhánh của loại hình nghệ thuật tao nhã này, theo chân các thầy thông, thầy phán, thầy ký và các nhà văn, nhà báo mà du nhập vào nam, nhưng những năm 50, không khí ca trù ở đất Sài Gòn khá xôm tụ. Các cô đào tài danh Như Tuyết, Kim Dung, Huệ Đăng, Bích Câu hay “bốn chàng tài tử” Hai Xe, Ba Pháo, Tư Mã, Năm Chốt từng làm chao đảo các quán hát cô đầu nổi tiếng khu vực Chi Lăng, Đại Đồng, Thái Lập Thành – Phan Xích Long (thuộc quận Bình Thạnh và Phú Nhuận bây giờ). Trên đài phát thanh Pháp-Á (Radio France-Asie) hồi dó cũng có chương trình hát ca trù gọi là chương trình ca bắc. Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, đài Pháp-Á cũng rút theo nên chương trình ca trù trên sóng phát thanh chuyển sang đài Sài Gòn.

Tiếc thay, tới khoảng năm 1960, Ngô Đình Diệm ban hành lệnh cấm mở quán ca trù. Ca sĩ, nhạc công buộc phải chuyển nghề. Ca trù dần bị lãng quên, cho tới ngày giải phóng…

Nói về việc phục dựng ca trù ở Sài Gòn, không thể không nhắc tới  tâm huyết của hai con người đặc biệt bắn gó với loại hình nghệ thuật độc đáo này.

Đầu tiên là Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê. Năm 1976, sau khi từ Pháp trở về, ông đã làm hết sức để giới thiệu loại hình nghệ thuật độc đáo này ra thế giới. Tâm huyết của ông đã thúc đẩy dự định phục dựng ca trù trong anh giáo Nguyễn Nhã – một người con đất Bắc. Năm 1993, ông giáo Nhã lặn lội tìm lại các ca sĩ, nhạc công ca trù xưa, lấy nhà riêng của ông trên đường Trần Kế Xương làm nơi luyện tập, biểu diễn. Năm 2000, khi trở thành một trong những thành viên sáng lập Trường Đại học Dân lập Hùng Vương, ông Nhã tiến thêm một bước bằng quyết định thành lập Câu lạc bộ Ca trù Đại học Hùng Vương, thu hút thêm nhiều sinh viên của trường tham gia. Tuy nhiên, suốt 10 năm, tổng số thành viên Câu lạc bộ chỉ khoảng 30 người. Khi tiến sĩ Nhã về hưu, ông rút Câu lạc bộ từ trường về, đổi tên thành Câu lạc bộ ca trù và hát thơ Lạc Việt, nhưng số thành viên là học sinh – sinh viên rút lui dần.

Hiện ngoài Câu lạc bộ tư nhân của tiến sĩ Nguyễn Nhã, ở Sài Gòn còn có một Câu lạc bộ của Trung tâm Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh với 14 đào nương, phần lớn đều ở tuổi trên dưới 60; tám kép đàn và năm trống chầu (trong đó ba người đóng được cả hai vai kép dàn và trống chầu). Một số lượng quá ít ỏi so với thành phố tám triệu dân. Địa bàn hoạt động lại càng thu hẹp.

Những người tâm huyết vẫn âm thầm nỗ lực, như tiến sĩ Nhã đang tổ chức những hình thức biểu diễn mới như ẩm thực ca trù, ca trù xen lẫn hát thơ, hát ả phiền, còn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ định kỳ hằng tháng tại tư gia, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê vẫn dành riêng các chủ đề về ca trù. Nhiều người cũng đề cập tới xu hướng giao lưu giữa các Câu lạc bộ ca trù với nhau hoặc vấn đề bồi dưỡng kiến thức văn học thơ ca cổ điển, thể loại thơ lục bát, đường luật, hát nói… chương trình học văn ở nhà trường… Nhưng nếu không có tài trợ, thiếu tri âm – tri kỷ thì nỗi lo “thành phố Hồ Chí Minh sẽ là địa phương không còn di sản ca trù” của ông Lê Văn Lộc, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, là nguy cơ có thật.

T.N.

Văn chương trong lối hát ả đào (phần 2)

Filed under: Báo — phamquynh @ 3:49 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 1 năm 2011.

 

VĂN CHƯƠNG TRONG LỐI HÁT Ả ĐÀO

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chiều 16/4/2010, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban UNESCO của Việt Nam đã tổ chức lễ đón bằng của UNESCO ghi danh dân ca quan họ Bắc Ninh – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và ca trù – di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp cho tỉnh Bắc Ninh và 14 tỉnh thành khác là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Nam Định, Phú Thọ, Quảng Bình, Nghệ An, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc là các địa phương đang lưu giữ và phát triển hai loại hình âm nhạc này. Bà Catherine Muller Martin, Trưởng đại diện UNESCO tại Hà Nội đã trao bằng ghi danh này cho đại diện di sản quan họ và ca trù Việt Nam.

Công trình Văn chương trong lối hát ả đào là bài diễn thuyết của Thượng Chi tại Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội, đã đăng trên Tạp chí Nam Phong số 69 ra tháng 3 năm 1923 trên các trang 171-188. Tại buổi diễn thuyết ấy, có kèm theo đào nương ca hát và kép gảy đàn.

Trong lần dự lễ mừng thượng thọ nữ Nghệ sĩ Nhân dân lão thành Bảy Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, do con gái cụ là Nghệ sĩ Ưu tú Kim Cương tổ chức, Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã có nhắc đến bài này với nhiều lời lẽ xúc động chân thành. Sau này, năm 2006, ông có kể lại cho chúng tôi chuyện đó qua điện thoại và nói thêm là ông rất quí mến những người con hiếu thảo với cha mẹ, đã biết vinh danh cha mẹ về những đóng góp cho nền văn hóa nước nhà như nghệ sĩ Kim Cương và các bà con gái Phạm Quỳnh mà ông quen biết ở Pháp như tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, bà Phạm Thị Hoàn.

Để các bạn có cảm xúc như người đọc Tạp chí Nam Phong cách đây 87 năm, chúng tôi đăng lại nguyên các trang báo xưa cũ ấy.

 

Tháng Một 5, 2012

Văn chương trong lối hát ả đào

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:17 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 2 tháng 1 năm 2011.

 

VĂN CHƯƠNG TRONG LỐI HÁT Ả ĐÀO

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chiều 16/4/2010, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban UNESCO của Việt Nam đã tổ chức lễ đón bằng của UNESCO ghi danh dân ca quan họ Bắc Ninh – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và ca trù – di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp cho tỉnh Bắc Ninh và 14 tỉnh thành khác là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Nam Định, Phú Thọ, Quảng Bình, Nghệ An, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc là các địa phương đang lưu giữ và phát triển hai loại hình âm nhạc này. Bà Catherine Muller Martin, Trưởng đại diện UNESCO tại Hà Nội đã trao bằng ghi danh này cho đại diện di sản quan họ và ca trù Việt Nam.

Công trình Văn chương trong lối hát ả đào là bài diễn thuyết của Thượng Chi tại Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội, đã đăng trên Tạp chí Nam Phong số 69 ra tháng 3 năm 1923 trên các trang 171-188. Tại buổi diễn thuyết ấy, có kèm theo đào nương ca hát và kép gảy đàn.

Trong lần dự lễ mừng thượng thọ nữ Nghệ sĩ Nhân dân lão thành Bảy Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, do con gái cụ là Nghệ sĩ Ưu tú Kim Cương tổ chức, Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã có nhắc đến bài này với nhiều lời lẽ xúc động chân thành. Sau này, năm 2006, ông có kể lại cho chúng tôi chuyện đó qua điện thoại và nói thêm là ông rất quí mến những người con hiếu thảo với cha mẹ, đã biết vinh danh cha mẹ về những đóng góp cho nền văn hóa nước nhà như nghệ sĩ Kim Cương và các bà con gái Phạm Quỳnh mà ông quen biết ở Pháp như tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, bà Phạm Thị Hoàn.

Để các bạn có cảm xúc như người đọc Tạp chí Nam Phong cách đây 87 năm, chúng tôi đăng lại nguyên các trang báo xưa cũ ấy.

(Còn tiếp)

—-o0o—-

CA TRÙ TRỞ LẠI PHỐ CỔ HÀ NỘI

 

Nguyễn Phương Liên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên trang Văn Hóa – Văn Nghệ – Thể Thao báo Nhân Dân ngày 14/10/2011.

Ca trù trở lại là chủ đề đêm diễn đầu tiên tại nhà cổ 87 Mã Mây, điểm diễn thứ hai trong phố cổ Hà Nội của Giáo phường ca trù Thăng Long, đánh dấu sự trở lại ấn tượng của một loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc, di sản văn hóa quý giá của Việt Nam và thế giới.

Ðây không phải là điểm diễn đầu tiên và duy nhất của Giáo phường ca trù Thăng Long, mà trước đó, tháng 10-2010, vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ca trù Thăng Long đã ra mắt tại đền Quan Ðế (28 Hàng Buồm) vào các tối thứ bảy hằng tuần. Hai điểm biểu diễn ra đời trong thời gian chưa đầy một năm là thành công đáng ngạc nhiên của các nghệ sĩ trong nỗ lực đưa hình thức hát ả đào (một tên gọi khác của ca trù) trở lại với phố cổ Hà Nội, với đời sống nghệ thuật Thủ đô và nước nhà. Là đêm diễn mở đầu nên khá đông người xem, cả khách tây, khách Việt. Ngôi nhà gỗ cổ xưa được bài trí đẹp. Trên sân khấu là chiếc sập gỗ lớn, các nghệ nhân và ca nương say sưa biểu diễn. Làn điệu Bắc phản do hai nghệ nhân hàng đầu Nguyễn Thị Chúc và Nguyễn Phú Ðẹ dặt dìu, nhuần nhuyễn với tiếng đàn, giọng ca điêu luyện không kể tuổi tác. Ca nương Phạm Thị Huệ đệm đàn đáy cho đào nhí (con gái) Nguyễn Huệ Phương 12 tuổi nắn nót với Làn điệu Tỳ bà hành. Các ca nương Ðặng Thị Hường, Phạm Thị Mận, Thùy Chi ca rất ngọt các làn điệu Chơi Hồ Tây, Hát phú, Hát nói… Trong tiết thu se lạnh lất phất mưa, tiếng phách giòn giã, tiếng trống chầu rộn vang, nhịp nhàng cùng tiếng ca nương ngân nga, khoan nhặt đem đến cho phố cổ một không gian đậm nét xưa, đầy dẫn dụ, mê hoặc lòng người.

Thịnh hành từ thế kỷ XV, ca trù được công nhận là đã có đóng góp lớn vào văn hóa Việt Nam. Từ ca trù, một thể thơ độc đáo ra đời và trở nên có vị trí sáng giá trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc, được ưa chuộng qua nhiều thế kỷ, đó là thể thơ hát nói. Ngoài ra, đàn đáy và phách đã trở thành những nhạc khí đặc trưng của ca trù, góp phần đưa ca trù trở thành thể loại thanh nhạc kinh điển của Việt Nam. Với bề dày lịch sử, chiều sâu nghệ thuật và mang đậm bản sắc dân tộc, ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới. Ngày 1-10-2009, nghệ thuật ca trù chính thức trở thành di sản văn hóa thứ tư của Việt Nam được UNESCO công nhận. Ca trù được xếp vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Sau nhiều thập kỷ vắng bóng, năm 2006 Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long được hai bậc nghệ nhân lão thành Nguyễn Thị Chúc, Nguyễn Phú Ðẹ và học trò Phạm Thị Huệ đồng sáng lập. Họ đã truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ với mong muốn gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Ca trù Thăng Long đã thành công trong việc đưa ca trù trở lại với không gian diễn xướng đình làng trong các dịp lễ hội 2009-2010 ở Hà Nội và các vùng phụ cận. Tháng 3-2010, Câu lạc bộ làm lễ nâng cấp và ra mắt Giáo phường Ca trù Thăng Long với 15 thành viên nòng cốt, tài năng và tâm huyết với vốn cổ của cha ông.

Ca nương Phạm Thị Huệ, học trò cưng của hai nghệ nhân lão thành, là người quản lý giáo phường. Ngày 1-9-2011 vừa qua, Phạm Thị Huệ vinh dự được nhận bằng chứng nhận World Master (Nghệ nhân Thế giới) do Ban tổ chức Lễ hội Di sản Văn hóa phi vật thể châu Á World Master (WMOC) trao tặng. Chị sinh năm 1973, hiện là giảng viên đàn tỳ bà tại Học viện Âm nhạc quốc gia, là đại diện thứ ba của Việt Nam nhận danh hiệu Nghệ nhân Thế giới. Trước đó, Nghệ sĩ nhân dân Xuân Hoạch (đàn nguyệt) và Nghệ  sĩ ưu tú Kim Chung (múa dân gian) đã được nhận danh hiệu này. Phạm Thị Huệ là người đầu tiên trong lịch sử đương đại của ca trù có khả năng vừa đàn vừa hát (gọi là đào đàn). Chị bộc bạch: “Mặc dù điểm diễn tại đền Quan Ðế tạo được lượng khách ổn định nhưng thu nhập vẫn không đủ trả lương cho đào kép cũng như trang trải các chi phí vì công việc quá ít. Tôi đã tự bỏ tiền đầu tư cho ca trù năm năm nay, hy vọng điểm diễn mới thành công, ca nương sẽ sống được bằng nghề”.

Ðêm diễn mở đầu tại địa điểm 87 Mã Mây của Giáo phường Ca trù Thăng Long có sự góp mặt của một vị khách đặc biệt: Giáo sư Trần Văn Khê. Buổi tối trời mưa se lạnh, ông phải ngồi xe lăn. Cả khán phòng lặng đi xúc động trước tâm tình của ca nương Phạm Thị Huệ với bậc trưởng lão trong nền nghệ thuật nước nhà, người có công lớn để ca trù được vinh danh trên thế giới: “Thưa thầy, con không nghĩ ngày hôm nay lại là hiện thực. Ðó không chỉ là mơ ước của riêng con, mà còn của bao nghệ nhân ca trù đã khuất bóng và cả nhiều lớp nghệ sĩ mai sau…”.

N.P.L.

—-o0o—-

 

TIẾNG PHÁCH GIẢI OAN

Hương Giang

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày xuân, ông cha ta xưa thường tổ chức và tham gia các cuộc hát ca trù. Ngoài các tác giả bài ca trù, tên tuổi các đào nương và kép đàn tài danh cũng được lưu truyền trong dân gian, đi cả vào huyền thoại. May mắn, đầu năm nay chúng tôi nhận được bài sau đây của bạn Hương Giang viết về ca nương Nguyễn Thị Đào, con gái của Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc, cũng là một tác gia ca trù.

*

*    *

Sử cũ chép rằng Nguyễn Trãi và vợ thứ là Phạm Thị Mẫn có một cô con gái, đặt tên là Nguyễn Thị Đào. Cô Đào là chị ruột của Nguyễn Anh Võ (Vũ).

Năm con Hổ 1434, gia đình Nguyễn Trãi bị oan trong vụ án “vườn vải” – Lệ chi viên. Tám năm bị giam cầm trong ngục tối, tháng 8 âm lịch năm Nhâm Tuất (19-9-1442), bấy giờ đã 62 tuổi, quan phục hầu Nguyễn Trãi bị chu di ba họ… “Khi cha ngộ nạn” Nguyễn Thị Đào còn “măng sữa” có lẽ mới hai – ba tuổi (vì khi bà Mẫn trốn chạy, Anh Võ mới có ba tháng, còn nằm trong bụng mẹ).

Nguyễn Thị Đào không bị chém mà được quan bộ Hình giao cho một quan hoạn nuôi, đợi lớn lên sẽ bắt làm nô tỳ. Cha nuôi thường kể gốc tích dòng họ cho cô Đào nghe. Đào bị câm không nói được, nhưng hiểu rõ. Năm Đào 13, 14 tuổi (1455-1456?), viên quan hoạn nọ qua đời, cô Đào lưu lạc, xin vào một nhà đào nương – hát ca trù – không hát mà chỉ gõ phách. Tiếng phách của cô Đào có âm thanh như hút hồn người nghe, bứt rứt, ai oán, cay đắng, âm thầm, thế nào đó mà khách không sao hiểu nổi…

Sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi vua vào năm 1459, một lần vua sai đón một gánh đào nương vào cung. Nguyễn Thị Đào, theo bạn vào hầu, gõ nhịp. Các đào nương khác đều hát, duy chỉ có cô Đào ngồi yên, lạnh như một tảng băng… Các đào nương đã hát xong, Lê Thánh Tông vẫn chưa thấy ai trong họ “hát được”. Chỉ còn một cô gõ phách. Vua hỏi:

-       Còn cô kia, sao không hát?

Không rõ, trời xanh có mắt, hay hồn thiêng Nguyễn Trãi phù hộ mà từng bị câm mười mấy năm trời trong oan ức, khổ ải, không được chia sẻ cùng ai, nay được người, lại là vua, là người của những người đã sát hại ba đời con cháu nhà mình lên tiếng hỏi, hoặc có thể là theo tâm linh, không có oan nào không giải được – nếu đúng là oan, mà Nguyễn Thị Đào bỗng òa lên khóc, và cất tiếng hát… Bài hát của cô với giọng hát trời cho, nhạc điệu bài hát như những dòng nước mắt đau khổ tủi hờn, cay đắng, xót xa bị đè nén từ bao lâu nay bỗng thanh thoát bay bổng lên trời, làm vua Thánh Tông sửng sốt, lạ kỳ…

Hoàng hậu Quang Thục của Lê Thánh Tông có mặt tại đấy, hồi tưởng lại một giấc mơ cũ, cũng chưa rõ tông tích Nguyễn Thị Đào, bèn chỉ dụ cho cô Đào vào cung. Cô Đào được Lê Thánh Tông yêu quí, cho giữ chức chiêu nghi, cai quản các cung tần…

Không rõ cuộc hát ca trù lịch sử,  huyền thoại này diễn ra vào năm nào, sử chỉ cho biết đến năm Giáp Thân – năm con Khỉ – mà Khỉ là tổ cụ của con người – 1464 – Nguyễn Thị Đào mới tâu vua, nói lên sự thật về thân phận mình, sau 30 năm oán hận trong vụ ông bà, cha mẹ, anh em bị giết. Cũng năm đó, Lê Thánh Tông đã xuống chiếu “rửa tội”, giải oan cho Nguyễn Trãi, lệnh tìm con cháu Nguyễn Trãi cho phục hồi quyền lợi… (Anh Võ sau đó được trọng dụng, hai con của Anh Võ đều đỗ tiến sĩ).

Ngày xưa, vụ án “Lệ Chi Viên” kéo dài đến 30 năm – nửa đời người- nhờ một đào nương gõ phách nhạc mà thức tỉnh Đất Trời, Vua Chúa… đã được coi là quá dài, quá lâu.

Ngay nay, có những vụ án mờ ám, 50, 60, 65 năm rồi vẫn âm ỉ thiêu đốt lòng dạ hàng triệu người dân Việt Nam ta trong đó có “vụ án Phạm Quỳnh”, sao Thiên – Địa – Nhân (Trời – Đất – Người) vẫn chưa có được một “tiếng phách giải oan”?…

Mô Phật

H.G.

Tháng Mười Hai 30, 2011

Chúc mừng năm mới 2012

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 5:54 sáng

Việt Nam ta lần đầu tiên diễn kịch nói

Filed under: Báo — phamquynh @ 5:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 1 tháng 1 năm 2012

 

Nhân kỷ niệm 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội (11/12/1911-11/12/2011)

VIỆT NAM TA LẦN ĐẦU DIỄN KỊCH NÓI

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Nhân Dân ngày 10/12/2011 đăng trên trang nhất tin 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội: Ngày 9-12, tại Hà Nội đã diễn ra lễ kỷ niệm 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội (11-12-1911 – 11-12-2011). Ðến dự, có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Ủy viên Trung ương Ðảng: Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ.

Ðại diện các bộ, ban, ngành hữu quan; các đoàn thể Trung ương và Hà Nội; các Ðoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế cùng đông đảo các nhà văn hóa, lịch sử, văn nghệ sĩ, lãnh đạo và cán bộ, nhân viên Nhà hát Lớn nhiều thế hệ cùng có mặt.

Ngày 11-12-1911, sau 10 năm xây dựng, Nhà hát Lớn Hà Nội được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Ðây là một công trình kiến trúc Pháp độc đáo, quy mô và hoành tráng có ý nghĩa như một chứng nhân lịch sử đặc biệt, chứng kiến những sự kiện lịch sử, cách mạng và văn hóa diễn ra tại Hà Nội suốt 100 năm qua.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà hát Lớn và quảng trường nhà hát là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử và văn hóa cách mạng. Sau ngày đất nước thống nhất đến nay, nơi đây đã chứng kiến bao sự chuyển mình của nền văn nghệ Việt Nam qua các chương trình sân khấu, âm nhạc; là địa điểm gặp gỡ, giao lưu với nghệ thuật thế giới qua những chương trình biểu diễn của các ban nhạc, nghệ sĩ lừng danh… Nhà hát Lớn đồng thời còn là nơi tổ chức thành công nhiều hoạt động hội nghị, hội thảo, lễ kỷ niệm lớn trong nước và quốc tế.

Tròn 100 tuổi, Nhà hát Lớn xứng đáng là công trình kiến trúc với những giá trị xuất sắc về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và mỹ thuật của Thủ đô Hà Nội và cả nước. Trong dịp này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trao Bằng xếp hạng Di tích quốc gia, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cho Nhà hát Lớn và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám; trao Bằng khen tặng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý nhà hát. Ban Quản lý Nhà hát Lớn vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng nhì, Giám đốc Hoàng Xuân Nam nhận Huân chương Lao động hạng ba do Chủ tịch nước trao tặng.

Tin của báo Tuổi Trẻ cùng ngày trên trang 13 viết:  “Nhà hát lớn Hà Nội qua nhiều thăng trầm lịch sử đã vượt lên chức năng và giá trị tự thân của một công trình văn hóa để mãi mãi trở thành một trong những hình ảnh, biểu tượng quen thuộc, không thể thiếu của thủ đô Hà Nội” – đó là đánh giá của Bộ trưởng Bộ Văn Hóa-Thể Thao & Du Lịch Hoàng Tuấn Anh tại lễ kỷ niệm Nhà hát lớn Hà Nội tròn 100 tuổi sáng 9-12.

Ông Hoàng Tuấn Anh nhấn mạnh với những giá trị đặc biệt, Nhà hát lớn Hà Nội là chứng tích thiêng liêng, ghi dấu và lưu truyền những sự kiện lịch sử, cách mạng quan trọng bậc nhất của quốc gia cũng như của thủ đô… Tại buổi lễ, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh đã trao bằng xếp hạng di tích quốc gia di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Nhà hát lớn Hà Nội và quảng trường Cách mạng Tháng Tám cho ban quản lý Nhà hát lớn Hà Nội.

Nhà hát lớn Hà Nội tại số 1 Tràng Tiền được xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911 theo mẫu của nhà hát Opera Garnier (Paris, Pháp).

Báo Thời Nay ngày 12/12/2011 cho biết: Công trình Nhà hát Lớn Hà Nội: Tên gọi ban đầu là Théâtre Municipal (Nhà hát thành phố). Tọa lạc trên khu đất vốn là đầm lầy, sau Hương ước ngày 31/8/1874 thuộc khu nhượng địa. Năm 1886 Đốc lý Hà Nội là Halais cho mở trục đường mang tên Paul Bert – Tràng Tiền, Hàng Khay – Tràng Thi – Cửa Nam… Nhà hát thành phố được đặt trên quảng trường, quay mặt ra trục đường này, chiếm giữ vị trí khởi đầu của một trục, nối kết các thành phần cấu thành đô thị. Năm 1899, toàn quyền Foures chấp thuận cho xây công trình nhà hát, với vốn đầu tư ban đầu là 800.000 francs. Khởi công ngày 7/6/1901. Diện tích khu đất 8.800m2 (theo hiện trạng); diện tích xây dựng 2.000m2; chiều dài ngôi nhà 87m2; chiều rộng 30m2; chiều cao đỉnh chóp 34m2. Hoàn thành vào năm 1911.

Nhân dịp này, xin mời các bạn đọc bài sau đây dưới nhan đề Viện Nam ta lần đầu diễn kịch nói của chúng tôi, các đoạn chúng toi trích trong bài của Phạm Quỳnh tường thuật buổi diễn kịch nói đầu tiên của Việt Nam ta tại chính nhà hát này nhan đề Một sự thí nghiệm đã nên côngCuộc diễn kịch của “Hội Khai Trí Tiến Đức”, đăng trên báo Nam Phong năm 1920, sau này đưa vào tập Thượng Chi văn tập. Bản chúng tôi sử dụng là Thượng Chi văn tập do Nhà xuất bản Văn học, xuất bản năm 2006.

*

*   *

Ngày chủ nhật 25 tháng tư năm 1920 sẽ thành một ngày đáng kỷ niệm trong lịch sử Hội “Khai Trí Tiến Đức”, trong lịch sử diễn kịch ở nước ta, trong lịch sử quốc văn ta nữa. (…)

Ngày ấy là ngày người Việt Nam diễn lần thứ nhất, một bản cổ kịch Pháp dịch ra tiếng Việt Nam, tại nhà hát Lớn Hà Nội, Hội “Khai Trí Tiến Đức” chủ trương để trợ quyên vào Hội “Đông Dương kỷ niệm” bên Pháp. Bản kịch ấy là một hài kịch của Molière, tay danh kịch nước Pháp về thế kỷ thứ 17, người dịch là ông Nguyễn Văn Vĩnh, một nhà Tây học có tiếng ở Bắc kỳ, và người diễn là một ban tài tử vì nhiệt thành về sự nghiệp cải lương (đổi mới – PT chú) diễn kịch mà dám đánh bạo đảm đương một việc rất mới lạ, xưa nay chưa ai làm bao giờ. Sự thí nghiệm này không phải là một việc thường, thành công hay không, rất có quan hệ về sau lắm. Lúc khởi hành không ai ngờ làm được, vì bao nhiêu cái khó hình như đấu sức lại để mà đố cái tài sáng khởi, cái chí kiên nhẫn của người mình: khó ở sự phiên dịch bài kịch Tây ra lời ta thế nào cho khỏi mất tinh thần của nguyên bản, khó ở sự kén chọn những tay tài tử thế nào cho xứng đáng với các vai tuồng; khó ở cách ăn mặc, cách bài trí thế nào cho hợp với thời đại, vì bài kịch này là tự ba trăm năm về trước, thể cách không giống như bây giờ; khó ở dáng bộ, khó ở giọng nói, khó ở cách tập luyện thế nào cho mỗi người không những là nhập điệu cái vai của mình phải đóng mà lại lĩnh hội được thâm ý của tác giả, khiến cho đến khi ra trò bấy nhiêu vai đều hòa hợp với nhau mà diễn thành một trò hồn nhiên như một, hiển nhiên như thực, không có mâu thuẫn, có gián cách một chút nào. Ngoài bấy nhiêu cái khó, lại còn phải có gan không ngã lòng nản chí, bạo dám hạ thủ quyết tâm. Thế mà làm thành được, không những không mắc míu tí gì, lại được trọn vẹn khắp cả, khiến cho dư luận Pháp Nam đều đồng thanh tán tưởng, nhất luật vỗ tay, đó chẳng là một sự đắc thắng danh dự của phái thanh niên tân tiến dư?

(..)

Ông Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu dịch mấy bản kịch của Molière đã ba bốn năm trước, đăng trong Đông Dương tạp chí. Chủ ý ông là muốn dịch rồi đem ra diễn trên sân khấu; để giúp việc cải lương diễn kịch ở nước ta, nên cách ông dịch là thoát dịch, cốt lấy ý và lời cho gọn tiếng ta, có thể đem ra diễn được, không câu nệ đúng như nguyên văn chữ Pháp. (…) Vậy muốn sửa đổi lối tuồng hát của mình theo phép diễn kịch tây, tất phải mượn những tay tài tử muốn vượt lề lối mà ra thí nghiệm, không thể nhờ ở bọn nhà nghề được. Đã biết thế, nhưng kén được tay tài tử cho xứng đáng, không phải là việc dễ. Có người nhiệt thành về việc cải lương mà không đủ tư cách ra sân khấu, có người có tư cách diễn được mà không đủ bạo dạn đường đột ra trước công chúng; lại có người sợ thiên hạ bình phẩm, vì nghề tuồng hát xưa nay vẫn coi là một nghề đê tiện. (…) Hội “Khai trí tiến đức” mới thành lập được một năm, định sang năm này là năm thứ hai mở một cuộc hội lớn để làm cách quảng cáo cho quốc dân biết và mở mang cho Hội được to tát thêm, Hội đương tìm cách mở một cuộc vui chơi cho có đặc sắc, xứng đáng với mục đích của Hội mà lại có ích lợi chung cho xã hội nữa. (…)  Bấy giờ ông Vĩnh nguyên có chân trị sự trong Hội, mới nhớ đến cái chí cải lương diễn kịch của ông, bèn bàn với hội đồng xin diễn một bài hài kịch của Molière mà ông đã dịch. Ban trị sự tuy biết rằng việc khó thật mà cũng đồng thanh tán thành công Vĩnh, cố giúp cho làm được vì việc này mới thật là một việc có đặc sắc, hợp với chủ nghĩa của Hội. Lại nhân dịp bên Pháp có điện sang xin với Chánh phủ Đông Dương mở một cuộc lạc quyên để giúp vào Hội “Đông Dương kỷ niệm”, là một Hội đặt ra để bảo tồn phần mộ cho những lính và thợ bên ta sang tùng chinh cùng làm việc bên Pháp mà chẳng may bị chết trong khi chiến tranh, Hội Khai trí liền định mở cuộc diễn kịch để giúp cho việc thiện ấy. (…)

Ông Vĩnh bàn với Hội xin diễn một bản kịch của Molière (…) Hội giao cho ông chủ trương việc đó. Ông gặp được ngay hai ông Trịnh Văn Hợi và Nguyễn Đình Thông là hai tay du học ở Pháp về, rất nhiệt thành hăng hái, cam đoan xin giúp ông cho đến được mới nghe. Thế là bọn tân tài tử ta nhóm thành từ đó. Nhưng trong mấy bản kịch Molière mà ông Vĩnh đã dịch ra quốc ngữ, bấy giờ chưa định rõ là diễn bản nào, trước định diễn bản  Le Bourgeois gentilhomme (Trưởng giả học làm sang), sau mới định hẳn là bản Le malade imaginaire (Bệnh tưởng). Ông Vĩnh muốn phấn lệ anh em, tự nhận đóng vai Argan (tức là Nũng Công) là vai chính và nặng nhất trong bài ấy, và để vai Beralde (tức là Nịu Công) cho ông Hợi, vai Cléante (tức là cậu An), cho ông Thông. Cho hay thanh khí lẽ hằng xui cho kẻ có chí lại gặp người đồng chí: Ông Phạm Văn Duyệt, hội viên Hội Khai Trí, cũng là một người sốt sắng về việc cải lương diễn kịch như ông Vĩnh. Nghề tuồng cổ ông rất sành, đã nhiều phen ra diễn chơi trên các rạp hát Hà Nội; nghề tuồng mới ông cũng hiểu, đã từng soạn mấy vở kịch theo lối hài kịch Âu châu, chí ông chỉ muốn đem ra diễn thử trước công chúng mà bực vì chưa gặp người đồng chí. Ông thấy Hội sắp mở một cuộc diễn kịch mới, ông lấy làm cổ võ lắm, tình nguyện xin giúp vào một vai, và quả quyết thế nào làm cũng thành. Thế là bọn tài tử lại thêm được một tay nữa, mà thật là một tay cự phách vậy. Ông Vĩnh biết tài ông Duyệt, xin nhường cho ông đóng vai chính là vai Nũng Công, và cố tìm các vai khác cho đủ bộ. Đến đây mới xuất hiện ra một vấn đề khó giải, là vấn đề các vai đàn bà. (…) Nhưng bậc “giai nhân” ở nước ta bây giờ thời con nhà khuê các được mấy người là am hiểu những lề lối tân thời; con gái nhà tử tế mà ra diễn tuồng trên sân khấu, là một sự phong tục chưa công nhận vậy. (…) Rút lại thời xem ra bà nào cô nào cũng có ý muốn giúp mà không thể thoát li được quyền chuyên chế của phong tục. Đến kỳ hội đồng sau cùng, cử tọa đều quyết nghị nhờ đến các cô trong nghề vậy, tưởng là bất đắc dĩ phải dùng kế đó là kế cùng, ai ngờ chính là cách tối hảo. Vì nhà nghề thế nào cũng dạn dĩ hơn người thường, đem ra tập luyện lối mới tất dễ hơn. (…) Ở Hà Thành có sạp “Sán Nhiên Đài” (…) có cô Tửu và cô Ba Tuất chịu ra giúp đóng vai Toinette (tức con Nhài) và Béline (tức Nũng Bà), hai cô nhờ có ông Trần Phềnh là tay danh họa ở Bắc Kỳ, lại vừa là người nhiệt thành về diễn kịch, chỉ dẫn cho, ra công học tập, đến sau phải thành, nhất là cô Tửu đóng vai con Nhài một cách rất dĩnh ngộ, người Tây đến xem cũng phải khen là tài. Trong bài Bệnh tưởng có bốn vai đàn bà con gái, thời thế là đã tìm được hai vai rồi, còn một vai Angélique (tức là Cô Lan) và vai Louison (tức là Cô Cúc) thời may sao gặp được bà Kao ở “Kinh kỳ hí viện” và con nuôi là cô Liên, mới có 12 tuổi, đóng thật là xứng đáng. Trong bọn tài tử thời ngoài ba ông Duyệt đóng Argan (Nũng Công), Hợi đóng Béralde (Nịu Công), Thông đóng Cléante (Cậu An), đến chính ông Vĩnh đóng Diafoirus (Lang Ế), ông Vượng đóng Thomas Diafoirus (Ế Sinh) ông Ngan đóng Purgon (Đại Hoàng tiên sinh), ông Quang đóng Fleurant (Nhân Ngôn tiên sinh), ông Lục đóng Bonnefoi (Chân Tín tiên sinh). Thế là giai nhân tài tử đã đủ bộ rồi, nay phải ra tập cho xứng vai vậy.

(…)

Các vai đã chia đâu vào đấy, bắt đầu từ đầu tháng tư Tây, khởi tập diễn ngay ở nhà Hát Tây, trước còn mỗi tuần lễ vài ba lần, rồi đến tuần lễ sau cùng thời ngày nào cũng tập luôn từ tám giờ tối đến 12 giờ đêm. Mấy bữa đầu còn lúng túng ngượng ngập lắm, nào người giọng không được, nào người dáng chưa in, ông quản lý (đạo diễn – PT chú) bắt bẻ từng tí, chữa sửa từng li, như thày giáo cầm tay sửa giọng cho học trò vậy. Đến khi công đã thành, thiên hạ đến xem lấy làm vui thú, khen cho một tiếng “được”, hồ dễ mấy người lượng được cái công phu khó nhọc trong lúc tập thành. Nhưng ngay từ mấy buổi đầu có mấy vai đã rõ hẳn là được rồi, là vai Nũng Công (ông Duyệt), vài con Nhài (cô Tửu) và vai cô Cúc (cô Liên), mỗi ngày một thấy hay thêm lên, chứ không còn khuyết điểm gì nữa. Đến gần ngày “đại tập” (Tổng duyệt – PT chú) thời vai nào cũng là xứng đáng cả. Bữa đó Hội mời vài trăm người, toàn người nhà cùng bà con những người đóng kịch và các nhà báo Tây đến xem thử, thời hết thảy đều đồng thanh khen ngợi và quyết đoán rằng bữa sau thế nào cũng được “toàn thắng”.

Chính nhật là ngày hôm sau 25 tháng tư, quả được “toàn thắng” thật, ông Toàn quyền, các quan khách và người Tây đến xem đều lấy làm kinh dị, nói không ngờ rằng người Việt Nam diễn kịch Tây được hệt, được khéo như vậy, không ngờ nhập điệu được tinh thần bài kịch Tây đến bậc ấy. Các tài tử giai nhân ta bữa ấy thật là phô hết nghề hay tài giỏi, bao nhiêu cái hay mấy bữa trước chưa lộ ra, hôm nay hình như theo dịp vỗ tay của công chúng mà nẩy nở ra như hoa như gấm vậy. Ông Duyệt thật là một vai Nũng Công tuyệt phẩm: (…) Thứ đến cô Tửu, quả thị là một con Nhài hoạt bát linh lợi, (…) tựa hồ như nhạo báng chủ mà kỳ thực là thương yêu chủ, tựa hồ như điên đảo giảo quyệt, mà kỳ thực là trung hậu thật thà. Nhiều người Tây cho vai này là giỏi nhất, mà lạ rằng cô Tửu không từng sang Tây bao giờ. (…) Ông Vĩnh thời rõ ra ông Lang Ế, mặt dung y ngồi đối chuyện với ông lão lẫn, nói gẫy gọn khúc chiết, trẻ hoe như ngồi tính đơn thuốc vậy. (…) Ông Lục đóng vai luật sư cũng xứng lắm, cách ăn mặc gọn ghẽ và hệt với y phục đương thời, chính ông Toàn quyền đã khen rằng trông phảng phất như hình Molière vậy. – Nói tóm lại thời vai nào cũng xứng đáng cả, và mấy vai nặng nhất lại là mấy vai được hơn nhất.

Ngoài cuộc diễn kịch, có phụ thêm mấy trò nữa, như ả đào Thái Hà Ấp múa bài bông và hát chúc thọ, các hội viên Hội Trí Hòa họa đàn Tàu và đàn ta, phường tuồng rạp Quảng Lạc ăn bận áo xiêm chỉnh tề đi diễu trên sân khấu, bấy nhiêu trò là để thay vào những trò múa hát sau mỗi hồi trong nguyên kịch; đủ làm cho cuộc vui tối hôm ấy thật là hoàn toàn. Vả thiên hạ mới nghe tin mở cuộc diễn kịch mới đã hoan nghênh cổ võ lắm; nhà hát Tây có chừng một nghìn chỗ ngồi, mà người đến xem tới nghìn rưỡi, phải để ghế phụ thêm, lắm người phải đứng; thế mà vẫn còn nhiều người phàn nàn không được xem, Hội phải định diễn một lần thứ hai nữa.

Bữa sau các báo Tây ở Hà Nội, Hải Phòng kỷ thuật (tường thuật – PT chú) về cuộc diễn kịch ấy đều đồng thanh ngợi khen là được cả.

P.Q.

(1920)

 

Phạm Quỳnh và Hoa Đường Tùy Bút

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:53 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 1 tháng 1 năm 2012.

 

Sách mới của công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà Văn.

PHẠM QUỲNH VÀ HOA ĐƯỜNG TÙY BÚT

Nhã Nam giới thiệu

Phạm Quỳnh sinh năm 1893, mất năm 1945, hiệu là Thượng Chi, bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân. Ông từng làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ, là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, người sáng lập đồng thời là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Ông từng tham gia chính quyền Bảo Đại, giữ các chức vụ như Ngự tiền Văn phòng, Thượng thư Bộ Học và Thượng thư Bộ Lại. Sau khi Nhật Đảo chính Pháp, ông lui về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường, Huế.

Trước đây, từng có nhiều đánh giá chưa khách quan về ông, nhiều người coi ông là tay sai đắc lực của thực dân Pháp. Tuy nhiên, gần đây, bắt đầu có sự đánh giá công bằng hơn. Từ điển Văn học – bộ mới (2004) coi ông là người có tinh thần dân tộc, ôm ấp một chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng ôn hòa, lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại hồn nước. Bên cạnh đó, ông cũng thường được nhắc đến với tư cách là người đi đầu trong công cuộc quảng bá chữ Quốc ngữ.

Những tác phẩm của ông đã được xuất bản ở Việt Nam gồm:

- Mười ngày ở Huế, NXB Văn học – 2001;

- Luận giải Văn học và Triết học, NXB Thông tin, 2003;

- Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, 2004;

- Thượng Chi văn tập, NXB Văn học, 2006

- Du ký Việt Nam, NXB Trẻ, 2007

- Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp , NXB Tri Thức, 2007

Hoa Đường tùy bút là tập hợp 11 bài tạp văn và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ. Các bài tạp văn như  Thế thái nhân tình, Muốn sống, Chỉ buộc chân voi, Văn học Chính trị, Vô duyên, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác, Tư tưởng Keyserling, Lão Hoa Đường Thiếu Hoa Đường, Cô Kiều với Tôi… là những bài viết giản dị, mộc mạc, lưu giữ ký ức cuối đời, đồng thời thể hiện rõ “thái độ ôn hòa, nho nhã”, nhưng tiềm ẩn nhiều cảm xúc, rung động của Phạm Quỳnh trước thời buổi “Á Âu xung đột”. 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ cho thấy dường như Phạm Quỳnh có ý làm một phép so sánh ngầm. Trong sự ám dụ với Đỗ Phủ, ông gián tiếp thể hiện những chiêm nghiệm của mình về cuộc đời và về tình người.

Ngoài ra, theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, bản thảo Hoa Đường tùy bút vốn được Phạm Quỳnh trao cho nhà thơ Đông Hồ, sau này gia đình nhà thơ Đông Hồ mới trao trả lại cho gia đình tác giả. Nguyên mẫu của nhân vật chính trong bài viết Con người hiểm độc là một vị Thượng thư trong triều, vì có hiềm khích với Phạm Quỳnh nên nhiều lần rắp tâm hãm hại ông. Và có lẽ, cái chết của Phạm Quỳnh cũng có liên quan đến nhân vật giấu mặt này.

N.N.

Bức thư đầu xuân

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 1 tháng 1 năm 2012.

 

BỨC THƯ ĐẦU XUÂN

T.s Ngô Hương Giang

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi mới nhận được lá thư sau đây của Tiến sĩ Ngô Hương Giang, xin mời các bạn cùng xem

Blog PhamTon có cho biết “nguoiconnamdinhvk30@gmail.com có phàn nàn rằng Ts Ngô Hương Giang “lại đề tên tôi, và lại “chua” thêm học vị không có thực là “Ts” đằng trước”, rằng “ai đó ném đá dấu tay” v.v và v.v.

Xin thưa:

Tôi năm nay đã ngoài 80 tuổi đời, 62 năm tuổi Đảng, “đỗ” tiến sĩ cách đây gần 30 năm, viết báo, viết sách, ký nhiều bút danh khác nhau, trong số này có Sông Hương, Ngô Hương Giang

Xin cám ơn nguoiconnamdinh…vì rằng qua thư của quý bạn (cụ, ông, anh?)… lại thấy rõ trách nhiệm, lương tri của người làm sử với Tổ quốc, Dân tộc, Nhân dân, Xã hội, Thời đại…

Cũng không dám trách ai, cho đến nay “Vụ án Phạm Quỳnh” tuy đã được sáng tỏ, nhưng cũng đang chờ một “Tiếng phách giải oan” (xin đọc bài này của tôi trên Blog PhamTon tuần 2/1/2012).

Trong cái không hay có cái hay, “trong rủi lại có may” – câu của Bác Hồ… Mong rằng qua “Vụ” này, nguoiconnamdinh và hy vọng còn cả các nguoiconvietnam (dù ở đâu trên hành tinh này) đều có một quan tâm, suy nghĩ tới “nhà văn hóa lớn Phạm Quỳnh” (Câu tôn vinh của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Hải Dương)…

Xin kính chúc một mùa Xuân mới thanh thoát, tốt lành!

Amen!

Ts. Ngô Hương Giang

Trang sau »

Theme: Rubric. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.