Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 17, 2013

Câu chuyện thái độ với tuổi trẻ hay là một bài học từ Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 5 năm 2013.

Câu chuyện thái độ đối với tuổi trẻ hay là một bài học từ Phạm Quỳnh

(Bài đăng trên Văn Hóa Nghệ An, thu từ http://vanhoanghean.com.vn thứ sáu, 15 tháng 3 năm 2013, 21:20)

 Lại Nguyên Ân

Phạm Quỳnh (1892-1945) là một trong những nhà hoạt động văn hóa có ảnh hưởng nhất trong những năm 1920-1945 ở Việt Nam. Cái chết tức tưởi của ông, sự đánh giá miệt thị và bất công đối với sự nghiệp và di sản tinh thần của ông từ phía dư luận chính thống ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1945-76) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ 1976) tuy cho đến nay vẫn chưa được tháo gỡ hoàn toàn, nhưng ít nhiều đã được nêu ra ở dư luận của các giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước.

Thiết nghĩ, tiểu sử và sự nghiệp Phạm Quỳnh, giá trị và ý nghĩa của di sản Phạm Quỳnh sẽ còn được tiếp tục làm sáng rõ hơn trong sự tiếp cận của các giới nghiên cứu sử học, văn hóa, văn nghệ hiện tại và tương lai.

Trong bài báo nhỏ này, chỉ xin nêu một chuyện nhỏ về ứng xử với giới trẻ trong đời Phạm Quỳnh, một ứng xử mà lẽ ra ông không nên mắc phải ở những người lớn tuổi, nhất là người thuộc giới tai mắt, giới chính khách.

Xin gọi đây là một bài học.

Chuyện xảy ra khoảng cuối năm 1931 đầu năm 1932, vào dịp Tổng trưởng Bộ thuộc địa và tư pháp của chính phủ Pháp là Paul Reynaud (1878-1966) thăm Đông Dương, phóng viên Jean Dorsenne của tờ Petite Parisien đi cùng và lúc qua Hà Nội đã có dịp hỏi chuyện Phạm Quỳnh, khi ấy đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong. Bài ghi chi tiết cuộc trò chuyện ấy đăng trên một tờ báo Pháp xuất bản tại Pháp, hẳn sẽ ít hoặc chậm được biết đến ở Việt Nam nếu như không được một tờ báo chữ Pháp xuất bản tại Hà Nội thuật lại và có thêm lời bình luận. Đó là tờ “Pháp-Việt tạp chí” (Revue Franco-Annamite), tờ tạp chí song ngữ Pháp-Việt; tác giả bài bình thuật chính là vị chủ nhiệm tạp chí: nhà báo A. E. Babut (1878-1962), một nhà hoạt động nhân quyền, một đảng viên đảng xã hội Pháp. Rồi nội dung bài báo chữ Pháp của A. E. Babut được tờ Đông Tây tuần báo ở Hà Nội dịch đăng, nhân đó chủ bút “Đông tây tuần báo” Hoàng Tích Chu mở ra một cuộc bút chiến nhắm vào thái độ đối với thanh niên của nhà báo chủ nhiệm Nam Phong.

Ta hãy nghe nội dung ý kiến Phạm Quỳnh qua lời ghi của phóng viên Jean Dorsenne, được Babut trích dẫn (bản dịch chữ Việt của Đông tây tuần báo, s. 173, ra ngày thứ tư 25 Mai (tháng 5 – PT chú) 1932):

“Ông Phạm Quỳnh thực là người làm đại biểu cho hạng nhà nho phong nhã lịch duyệt, khôn khéo mà cẩn thận. Ông khen mãi cái tài của người Pháp; ông nói cho tôi biết tất cả những điều sở đắc của ông ở tư tưởng học thuật nước Pháp. Ông cảm phục một cách chính đáng cái công cuộc tốt đẹp mà nước Pháp đã làm ở Đông Dương, ông rất lấy làm khen ngợi những đường, những sông, những cầu đã giúp cho dân nhiều điều ích lợi, mà nếu không có người Pháp chúng ta, tất không thể có được. Ông tỏ ra một người ơn nước Pháp vô cùng về sự đã làm cho 5 xứ Đông Dương được yên ổn.”…

Ý kiến này của Phạm Quỳnh mà J. Dorsenne thuật lại, nhà báo Babut không lạ, vì ông đã từng biết điều ấy không ít lần từ ngòi bút chủ nhiệm Nam Phong; tuy nhiên nhà hoạt động nhân quyền A. E. Babut vẫn muốn lưu ý: “Chúng tôi vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng: cái chính sách của nước Pháp ở Đông Dương cần phải là cái chính sách làm cho người An Nam mến người Pháp để lợi cho người An Nam chớ không phải mến người Pháp vì người Pháp”. (bài đã dẫn).

Nhưng nội dung thứ hai trong ý kiến của Phạm Quỳnh về giới trẻ đương thời, hoặc hẹp hơn, về một bọn trẻ du học từ Pháp về, đã khiến A. E. Babut không thể đồng tình. Đây là nội dung ý kiến ông chủ nhiệm Nam Phong (mà J. Dorsenne thuật lại, Babut trích dẫn, Đông tây tuần báo dịch):

“…Ông Phạm Quỳnh phàn nàn: ông không theo kịp thời buổi này. Ông trạc độ bốn mươi nhăm tuổi, người cao và mềm mại, mắt lóng lánh đằng sau đôi kính trắng, miệng nhạo đời. “Ông thử nhìn tôi xem – ông Phạm nói – tôi chưa hẳn đã già, phải không? Vậy mà tất cả những thiếu niên ở Pháp về, không kiêng nể ai, không hiểu những ý kiến của tôi. Theo ý họ, tôi là người không được hăng hái cho lắm…” Rồi ông nói, giọng chua cay: “Họ đã coi tôi là một người già lão rồi! Những hạng thiếu niên ấy đều là những ranh con vô giáo dục. Họ chằng biết kính ai cả; họ muốn phá hoại tất cả mọi việc, họ tự đắc, tưởng đã đủ tài đức để tự lập”.
“Thiếu niên nước tôi đang đua nhau học, – ông Phạm nói nối tiếp – nhưng những luật sư, y sĩ, kỹ sư còn hiếm lắm. Nếu nước Pháp bỏ mặc chúng tôi một mình, chúng tôi sẽ trở ra sao?”… (bài đã dẫn)

A. E. Babut không tán thành sự xét đoán trên đây của Phạm Quỳnh; ông còn biết nguyên do của thái độ ấy.
“Chúng tôi vẫn biết đã lâu, ông Phạm Quỳnh không ưa, không mến thiếu niên cho lắm. Về việc ấy, có lẽ riêng phần ông, cũng hơi có sự cay đắng do ở sự người ta phạm đến tính tự trọng của ông và làm ông thất ý. Chắc hẳn ông Phạm Quỳnh cũng đã có hy vọng làm hướng đạo cho thiếu niên An Nam. Ông thấy họ không theo ông nên ông đâm ghét.” (bài đã dẫn)

A. E. Babut cho rằng tuổi trẻ xứ này cũng chẳng khác gì tuổi trẻ các xứ khác, vốn có những ý kiến hăng hái, quá đáng, hay ưa những phe đảng quá khích. Ông dẫn lời chính khách Clémenceau: Khi còn trẻ cũng nên có tính ngông cuồng một chút, nên có tính khảng khái, không chịu nhường ai, nên hăng hái, rồi dần dần năm nọ sang năm kia sẽ có tính ôn hòa; đó là cách hay nhất để đến khi lớn tuổi trở nên người có tư tưởng tự do và biết tin theo lẽ phải. Babut cũng biết thanh niên Việt Nam đôi khi tự phụ đến mức khó chịu, muốn thay đổi tất cả, không muốn những thứ thuốc chỉ chữa một vài chứng bệnh, một vài cải cách, mà thường làm như đã có trong tay thứ thuốc chữa bách bệnh; họ muốn tổ quốc họ được tự do hơn tình trạng hiện tại, v.v… Nhưng theo A. E. Babut “Nếu họ lại không có một sự ham muốn gì mới thực đáng lo!” Ông viết tiếp: “Vậy chúng tôi thiết tưởng họ không đáng bị những lời bình phẩm quá nghiêm của ông Phạm Quỳnh. Chúng tôi trách ông Phạm Quỳnh đã không phân biệt kẻ hay người dở. Đối với thiếu niên An Nam ngày nay, ông chủ nhiệm Nam Phong đã nói vơ đũa cả nắm”.

Dịch đăng bài trên đây của A. E. Babut, tuần báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu (1897-1933) – vốn tự nhận là “tờ báo của thanh niên” đương thời – ngay từ đầu đã hứa sẽ có lời đáp lại sự xét đoán của Phạm Quỳnh, đồng thời tuyên bố mở rộng cột báo cho tất cả những ai là thanh niên muốn có ý kiến đáp lại nhà “học phiệt” này (“học phiệt” là chữ do nhà báo Phan Khôi mệnh danh cho chủ bút Nam Phong nhân việc ông này lờ đi không đáp lại bài bút chiến của Huỳnh Thúc Kháng, năm 1930, khơi lại cuộc luận chiến về Truyện Kiều từ nhiều năm trước).

Trong không khí làng báo đương thời, không phải ai cũng sẵn sàng lên tiếng; bởi thế, ở những việc thế này, hầu như ai nêu ra việc gì thì phải tự mình theo đuổi việc ấy. Bên cạnh Hoàng Tích Chu, đáng kể nhất là ý kiến Lãng Nhân (Phùng Tất Đắc, 1907-2008) cây bút trẻ của “Đông tây” góp chuyện bằng một bài hài đàm rất ngắn, với một nhan đề diễu nhại: “Ranh con mất dạy!”

“Mãi đến tuổi 36, Nguyễn Công Trứ mới hết đời long đong. Còn trong lúc thiếu niên, cụ chỉ là một anh “công tử sác”. Vậy mà danh tiếng cụ còn lại nghìn thu, cũng chỉ vì mấy câu ca hát buổi hàn vi, đem tài hoa ngầm giận cùng non nước.

Ông Tú Xương chỉ sống có một đời thanh niên, đem cái khí phách ngang tàng mà mỉa mai chế diễu người đời, trăm năm để tiếng con người ngông nghênh.

Racine viết xong vở kịch đầu, đem hỏi ý kiến Corneille; Corneille khuyên Racine nên biết điều thôi hẳn nghề văn tự. Về sau tên Racine rạng rỡ hơn tên Corneille.

Erasme, nhà bác học có tiếng nhất của châu Âu trong thế kỷ XVI, thuở còn nhỏ, ai cũng bảo không có khiếu gì thông minh. Đến nỗi vào làm trẻ hát trong nhà thờ mà cũng phải đuổi vì không đủ tư cách…

Erasme, Racine, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, ví hồi nhỏ có gặp nhà “học phiệt” kia thì tiên sinh kính trắng đã lại bĩu cái môi, tắc cái lưỡi là lẩm bẩm: “Đồ ranh con mất dạy!” (Đông Tây, s. 177, ngày 02 Juin (Tháng sáu – PT chú) 1932)

Sau bài của Lãng Nhân khá lâu không thấy động tĩnh gì từ phía Nam Phong, nên báo Đông Tây thông báo “xếp câu chuyện ấy” lại. Có vẻ như ông chủ nhiệm Nam Phong biết mình đã trót quá lời trước một phóng viên ngoại quốc nên rốt cuộc đành lại lấy im lặng làm giải pháp, dù có thêm một lần cấp chứng cứ cho làng báo mệnh danh mình là người “học phiệt”!

Thế nhưng Trần Khánh Giư (Khái Hưng, 1896-1947) trên tờ Phong Hóa lại lên tiếng trách chủ nhiệm Đông Tây đã từng kiếm cơm ở tờ Nam Phong mà nay lại nói phạm ông chủ của nó! Vậy là Hoàng Tích Chu buộc phải đáp lại: “Tôi đã làm cho Nam Phong. Nếu tôi đã được điều gì ở ông Quỳnh, tôi chẳng từng quên, tôi cũng đã từng nhiều lần nói lên trên báo. Nhưng ông Quỳnh không phải là ông Trời con trọn vẹn mà Kế Thương này [Kế Thương là một bút danh của Hoàng Tích Chu – người viết ghi chú] chưa hẳn là cục thịt đứng yên. Trên trường ngôn luận, trong vòng chánh giới, cái điều hay của người, ta không nên dấu, thì cái dở của người, ta có phép nào che”. (Đông Tây, s. 205, ngày 4&5 Juillet (Tháng bảy – PT chú) 1932).

Tiếp đó, Hoàng Tích Chu viết liền mấy bài ngắn, so sánh Nguyễn Văn Vĩnh với Phạm Quỳnh. Sau khi giải thích với công chúng “tôi xét ông Quỳnh bằng lối người vô học trông người có học, người trẻ tuổi nhìn người nhiều tuổi”, “ấy chỉ là một bài học cho bọn thiếu niên về môn xét người xét việc”, Hoàng Tích Chu thẳng thắn nhận xét: “ông Quỳnh hẹp lượng hơn ông Vĩnh” (Đông Tây, s. 206, ngày 6 Juillet (Tháng bảy – PT chú)  1932); ông Quỳnh lúc là học trò là “học trò chăm học”; lúc là thày ký vẫn là “thày ký chịu học”; khi là nhà báo vẫn là “nhà báo còn học”; đến khi làm quan, làm chính trị gia, vẫn là “nhà chính trị còn có mùi học”… nhưng – theo Hoàng Tích Chu – cũng vì thế mà “cái óc nghĩ của ông Quỳnh không được rộng, nó thật gay go như óc nghĩ của mấy ông đầu hói trong bộ Latinh bên Pháp: ai nói động đến là cuống lên, không mấy khi dự hội, ra phố; ghét nhà báo đến phỏng vấn” (Đông Tây, s. 208, ngày 8 Juillet (Tháng Bảy – PT chú) 1932; s. 209, ngày 9 Juillet  (Tháng Bảy – PT chú) 1932).

Quả là thiệt đơn thiệt kép cho ông chủ nhiệm Nam Phong!

Sau này, trên sách báo ở miền Nam những năm 1960, một số tác giả như Tế Xuyên, Dương Thiệu Thanh… đã nêu lại việc “gây sự” này của tuần báo “Đông tây” với ông chủ nhiệm tạp chí Nam Phong, coi vụ việc này như là cái cớ để tờ Đông Tây bị đóng cửa (sau số 222, ngày 25 Juillet (Tháng bảy – PT chú) 1932), bởi Phạm Quỳnh luôn luôn được nâng đỡ, bênh vực bởi Louis Marty, khi đó đang là cố vấn chính trị của Toàn quyền Đông Dương. Tuy vậy, đấy là một giả thuyết cần được nghiên cứu riêng.

Trở lại câu chuyện Phạm Quỳnh trót đưa ra những xét đoán quá nghiêm khắc đến mức bất công đối với một nhóm thanh niên du học trở về. Rõ ràng đây là một sự quá lời rất tai hại. Có lẽ không chỉ Phạm Quỳnh mà bất cứ người lớn tuổi nào, nhất là những người có tiếng, những chính khách, càng nên nhớ lấy bài học loại này.

16/12/2012.

 

Ngày xuân viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong – Nguyễn Thụy Kha

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 5 năm 2013.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

NGÀY XUÂN, VIẾNG MỘ CỤ CHỦ BÁO NAM PHONG

­­­­­­­­­

Nguyễn Thụy Kha

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ-Nhạc sĩ-Nhà báo Nguyễn Thụy Kha sinh ngày 7-10-1949, tại quê nhà Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Từ 1990, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện sống ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nguyễn Thụy Kha tốt nghiệp đại học thông tin và Trường viết văn Nguyễn Du. Từng phục vụ trong quân đội, từ 1972 đến 1982 là kỹ sư thông tin, từ 1982-1990 là cán bộ tuyên huấn. Sau đó, đến nay là nhà báo.

Tác phẩm đã xuất bản: Hương nắng tiếng chim (Thơ, in chung, 1982); Sóng nhà đêm biết tôi yêu (Thơ, in chung, 1986); Những giọt mưa đồng hành (Thơ, in chung, 1987); Mắt thời gian (Thơ, 1988); Lúc ấy – biển (Thơ, 1989); Văn Cao – Người đi dọc biển (Tập truyện, 1992); Hàn Mặc Tử-Thi sĩ đồng trinh (Tập truyện, 1993); Không mùa (Thơ, 1994); Một lần thơ trẻ (Truyện ngắn, 1994); Văn Cao-Cuộc đời và tác phẩm (Biên soạn, in chung, 1995).

Vốn mến phục học giả Phạm Quỳnh, ông thường gần gũi gắn bó với nhạc sĩ Phạm Tuyên. Tháng 4 năm 2003, ông viết trên tạp chí Văn Hiến Việt Nam (Hà Nội) bài Ngày xuân, viếng mộ cụ chủ báo Nam Phong và gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng bản viết tay bài thơ Dưới hàng muối xanh viết ngày 2/3/2003.

—o0o—

Ở ngoại ô Huế. Một sớm se lạnh sau Nguyên Tiêu. Chúng tôi cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên tới chùa Vạn Phước. Nơi ấy, ở góc đồi xóm Bình An là nơi yên nghỉ đời đời của cụ Phạm Quỳnh-thân sinh nhạc sĩ và là chủ báo Nam Phong xưa kia.

Ở đấy, dưới một hàng cây muối xanh mướt là nấm mồ lặng lẽ của một nhà văn hóa từng hết lòng vì quốc ngữ. Trước cửa vào mộ của cụ có đôi câu tri ngôn của cụ viết bằng chữ Nôm “Truyện Kiều còn, tiếng Ta còn- Tiếng Ta còn, nước ta còn”. Có lẽ, mọi éo le trong cuộc đời trắc ẩn của nhà báo lớn này đều khởi nguyên từ cái sự quá yêu tiếng Việt ở trong ông. Ông đã tự nhận mình là người “cúc cung tận tụy với nền quốc văn”, nhiệt liệt ca ngợi Truyện Kiều và đề xướng phong trào học Kiều. Viết về thơ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông cũng đắm đuối cùng tiếng Việt: “Tôi phục ông Hiếu là người làm văn có tài gẩy cây đàn độc huyền tiếng Nôm ta mà khéo nên được lắm giọng…”. Vì say mê với thứ ngôn ngữ “độc huyền” này, sau khi tốt nghiệp trường Thông Ngôn (tiếng Pháp) và ra làm việc ở Viễn Đông Bác Cổ ít lâu, Phạm Quỳnh đã đứng ra chủ trì tạp chí Nam Phong từ 1/7/1917. Suốt 15 năm duy trì tạp chí (từ 1917 đến 1932)-bằng 15 năm lưu lạc nàng Kiều-Phạm Quỳnh lại dùng đúng tinh thần ngôn ngữ của Truyện Kiều để suy tôn và phát triển tiếng Việt với đầy nhiệt huyết. Bộ Nam Phong tùng thư Thượng Chi văn tập của ông là những công trình nghiên cứu đồ sộ mà ở đó, ông không ngớt ca tụng tiếng Việt. Trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Phạm Quỳnh đã được ngợi ca: “Cái công Phạm Quỳnh khai thác lúc đầu cho nền quốc văn có ngày nay thật là một công không nhỏ.” Vũ Ngọc Phan còn viết: “nói như vậy không có gì quá đáng, vì nếu đem so tạp chí Nam Phong với những tạp chí xuất bản ở Pháp trong mấy năm gần đây (thời sau thế chiến I) như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Francaise, người ta đã thấy những tạp chí này đều thiên về một mặt văn học, thêm ít nhiều triết học và khoa học, còn không một tạp chí nào lại tham khảo được cả học thuật tư tưởng Đông-Tây mà chuyên cả về khảo cứu cùng biên tập thơ văn cổ kim như Nam Phong tạp chí…”.

Phạm Quỳnh từng tuyên bố ở Pháp: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không phải là một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ nước ngoài in lấp dòng chữ cũ”. Có lẽ vì quá yêu tiếng Việt, lo lắng cho sự giáo dục tiếng Việt ở trong nước, ông đã nhận lời làm thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục thời Bảo Đại, mặc dù rất nhiều bạn bè đã can gián. Và cứ thế, cuộc đời của một quan đương triều buộc phải trôi theo thời cuộc.

Vị sư chủ trì chùa Vạn Phước, nơi còn lưu giữ bảng chữ “Thổ nạp Âu Á” và nơi ông ngồi đọc sách khi xưa tại Huế những lúc rảnh rang, nói về cái thế đặc biệt của ngôi chùa này với chúng tôi. Đó là vùng đồi giáp ranh giữa đồng bằng thành phố và núi nên nơi đây luôn là nơi đi lại của những người hoạt động bí mật. Thời ta thì bảo nơi đây là nơi lén lút của bọn phản cách mạng. Thời ngụy thì bảo nơi đây là nơi ẩn náu, chứa chấp bọn cộng sản. Chỉ có đến hôm nay “Vạn Phước” mới thực là vạn phước chứ không vô phước như những năm tháng trước. Có khi vì cái duyên ấy mà đất bình an trở thành nơi yên nghỉ của một nhà báo mà “Tây thì bảo là thân Cộng, còn Ta thì bảo thích Tây”

Nhưng mọi bi kịch trong lịch sử đều sẽ được hóa giải ở hôm nay. Năm 2002, kỉ niệm 110 năm ngày sinh Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Văn học đã ấn hành cuốn Mười ngày ở Huế của ông. Những đóng góp và sai lạc của Phạm Quỳnh hẳn rồi sẽ được nhìn nhận công bằng. Niềm tin ấy dường như nằm trong đôi câu đối trên cổng con dốc vào mộ ông: “Vạn ức dòng sông nước chảy ra bốn biển biến nhơ thành sạch-Phước cho trăm họ nương về tam bảo bỏ dữ làm lành”…

DƯỚI HÀNG MUỐI XANH

Tưởng nhớ cụ Phạm Quỳnh

Chùa Vạn Phước tháng Giêng xanh mướt

hàng muối xanh

những cây muối như mái nhà che chở

dưới gốc bao năm âm thầm nấm mộ

của một Con Người bi kịch xẫm thời gian

***

Người đã chết có phải vì quá yêu

tiếng Việt mình

đã quên hiểm nguy có thể đến bất thần

miễn sao dân lành có chữ

Người đã chết vì uyên bác đến khác người

giữa thời đầy tiếng nổ

giữa thời bao oan khuất chất chồng

***

Huế giờ đã là di sản văn minh

Nấm mộ Người vẫn lặng im giữa Huế

như bao chúa, vua và bao chí sĩ

Và vẫn là nơi những cây muối mướt xanh.

2/3/2003

Chép tặng anh Phạm Tuyên

(Chữ ký)

Nguyễn Thụy Kha

Đâu phải chỉ mình Phạm Quỳnh chê thanh niên ta thời ấy – Dã Thảo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 5 năm 2013.

TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

Đâu phải chỉ mình Phạm Quỳnh chê thanh niên ta thời ấy

Dã Thảo

Hơn 60 năm qua, trong sách lịch sử và văn học Việt Nam, ta thường đọc thấy câu chuyện Phạm Quỳnh năm xưa, dám chê thanh niên ta thời ấy nên đã bị họ rượt đuổi. Và cảm thấy là Phạm Quỳnh thật sai lầm, dám khinh thường lực lượng trẻ, tương lai của dân tộc.

Nhưng lần giở sách báo cách mạng ngày nay viết về thời ấy, ta lại thấy sự việc không đơn giản, thô thiển như thế.

Sách Thời dựng Đảng của Thép Mới viết: “Chung quanh họ (Ngô Gia Tự, Trịnh Đình Cửu – DT chú), số đông bạn trẻ còn đang ham chơi nhiều, nghĩ nông cạn, chỉ bàn chuyện học để làm quan, học để làm công chức, để “đào mỏ”, tức là lấy vợ nhà giàu, chỉ nghĩ đến thân sướng là trên hết. Phải thấy lúc đó Tây biết hướng con người ta có đôi chút học vấn toàn tâm toàn  ý nghĩ đến tiến thân bằng con đường cạo giấy như thế nào. Trên báo hằng ngày, đến một anh công chức bình thường tăng có một bậc lương cũng đăng chễm chệ lên mặt báo.” (Thép Mới, Thời dựng Đảng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1984, trang 60).

Và “Năm ấy, người thanh niên Hà Nội sống như thế nào? Tôi giở chồng báo cũ, cố tìm những nét nổi lên trong thời ấy: 1928 là năm phụ nữ Hà Thành bắt đầu giở mốt mặc quần lụa trắng, con trai thì đầu rẽ tăng-gô chân đi giày Nhật Bản. Muốn biểu hết sự ăn chơi rất mực thì phải thấy đó là thời bắt đầu nổi lên những ông vua thuốc lậu. Và vào xem hội chợ Hà Nội lần thứ 9 mà báo Thực nghiệp dân báo kêu gọi: “Thăm hội chợ tức là có lòng nghĩ đến tiền đồ kinh tế nước nhà. Nếu chểnh mảng với hội chợ là không thiết đến sự sinh tồn của nước nhà vậy”. Có lẽ vì nghĩ đến sự “sinh tồn” đó cho nên hai vạn người, ngay sau khai mạc, đã vào xem hội chợ.” (Sđd, trang 76-77)

Làm trai cho đáng nên trai

Uống trà Mạn Hảo, xem nôm Thúy Kiều…

Có bảy lần tim la, mười ba lần lậu mới đáng mặt thanh niên Hà Thành.

Những lời ca xằng bậy đó là câu cửa miệng của thanh niên An Nam một thời mất nước đầu thế kỷ XX.

“(…) Hội chợ là chỗ hẹn hò, là người xem người. Các cô thì “nước hoa sặc sụa”. Các cậu thì “quần áo xúng xính xanh đỏ, áo sa, áo đoạn, mồm ăn nhồm nhoàm bánh bàng, bánh quy, “moa, moa”, “toa, toa” (xưng hô bằng tiếng Tây), đốt pháo gói xì khói khét lẹt ra để trêu gái làm cho mấy cô ho “sặc sụa”. Các cậu chú ý gì nhất? Bí tất kẻ, cà vạt màu và mũ “mốt xăng”. Mũ “mốt xăng”, cả tháng lương vị tất đã mua được, các cậu chỉ dán mũi vào quầy hàng mà ngắm”. Để rồi sau hội chợ lại ngắm mãi nó mà xác định “lý tưởng” của mình ở các tủ kính của nhà hàng Gô-đa hay phố Hàng Đào. Biết bao nhiêu trí tuệ và tinh thần tiêu hao vào những tủ kính bày hàng như thế!” (Sđd, trang 77)

Bên đó, sách còn viết: “Người ta vẫn nặng lòng nghĩ đến nước non. Trên trang nhất của tờ Thực nghiệp dân báo, trung thu năm Thìn đó, đăng một bài thơ cảm hoài, đúng giọng thời dại:

Ngồi buồn nghĩ vẩn nghĩ vơ

Quái con ngựa sắt bây giờ tếch đâu

Anh hùng vắng mặt từ lâu

Trên giời phình phịch chiếc tàu nó bay” (Sđd, trang 83)

Sách Sống động sự nghiệp báo chí cũng của Thép Mới thì viết: “ Thập kỷ 20, nhất là từ sau năm 1925 trở đi, có một sự chuyển đổi rõ rệt trong tầng lớp trí thức ở Việt Nam. Tầng lớp nho sĩ cũ đã bị tầng lớp trí thức mới được đào tạo hoàn toàn theo lề lối Pháp thay thế. Lớp trí thức mới này bị cắt đứt liên hệ với văn hóa cũ, luân lý cổ truyền, được đào tạo kiểu Pháp, là đối tượng tranh thủ thực sự và lâu dài của thực dân Pháp. Ý đồ thâm độc của những kẻ hoạch định và thực hiện chính sách văn hóa của thực dân như Louis Marty là lợi dụng truyền thống trọng kẻ sĩ của dân ta, nhưng tìm cách thay đổi bản chất tầng lớp đó đi, đó là tầng lớp trí thức thư lại, trung gian, tay sai, nhưng trước xã hội Việt Nam vẫn có vẻ bề ngoài như kẻ sĩ, kẻ sĩ cá nhân chủ nghĩa phương Tây.” (Thép Mới, Sống động sự nghiệp báo chí, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, trang 103).

“Một phóng viên nổi tiếng của báo hằng ngày Sài Gòn từ trước Cách mạng tháng Tám – Tế Xuyên – cũng xuất thân từ lò báo Đông-Tây của Hoàng Tích Chu, viết (sđd, trang 104) (…) vào những năm 60 (của thế kỷ 20 – DT chú) trên báo Sài Gòn, như sau: “Khoảng năm 1930 trở về trước (…) có ký giả Pháp nổi tiếng là Pierre Mille ghé Hà Nội phỏng vấn Phạm Quỳnh về thanh niên Việt Nam. Phạm Quỳnh vốn ác cảm với thanh niên mà ông coi là ngỗ ngược. (…) Do vậy, ông ta bị sinh viên cao đẳng đuổi theo trước nhà in Lê Văn Phúc, Hàng Gai, Hà Nội. Căm ghét thanh niên nên ông Phạm Quỳnh đã trả lời Pierre Mille, chê đám thanh niên Việt nam là những bộ óc trống rỗng, không cỗi rễ. Sau khi bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Pháp, Hoàng Tích Chu trích đăng ngay vào báo Đông Tây, kêu gọi thanh niên bày tỏ ý kiến đối với lời mạt sát của chủ bút Nam Phong”. “Hoàng Tích Chu – Tế Xuyên viết tiếp – đã không tính đến khía cạnh chính trị của vấn đề. Anh đã động đến Louis Marty, người che chở cho Nam Phong. Hoàng Tích Chu chưa nhận được bài nào của độc giả gửi tới tham gia tranh luận thì đã nhận được giấy của Phủ Thống sứ đóng cửa tờ báo.” (sđd, trang 107)

Thế nhưng, đâu phải chỉ mình Phạm Quỳnh chê thanh niên ta thời ấy. Còn có ít nhất một người đương thời, trạc tuổi với ông, cũng đã nghĩ và viết như thế.

“Cách đây đã 85 năm, cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procès de la Colonisation française) ra mắt (1925) gây một tiếng vang mạnh mẽ như một sự khởi đầu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không chỉ của Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là tác giả, ở độ tuổi 35 và là người trẻ nhất trong Nhóm những người Việt Nam yêu nước sống tại Pháp. Cuốn sách kết thúc bằng một lời kêu gọi khẩn thiết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Đám thanh niên “già cỗi” mà nhà cách mạng Việt Nam nêu lên là thực trạng của đất nước ta khi đó: “Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng núi bao la, chúng ta có những người lao động khéo léo và cần cù. Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức! Bởi thế công nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không. Thế thì thanh niên của chúng ta làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ không làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì không dám rời quê nhà; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ đã xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi!”…

“85 năm, chưa đầy một thế kỷ đã trôi qua. Đọc lại những dòng viết trên, chúng ta hình dung được chặng đường đã qua của dân tộc. Chúng ta nhận thức được những thay đổi cực kỳ to lớn của đất nước và có quyền tự hào về các thế hệ thanh niên nối tiếp nhau trong cuộc chạy tiếp sức trong máu lửa cách mạng và chiến tranh cũng như trong thử thách vươn lên của công cuộc xây dựng và phát triển, Đổi mới và hội nhập trong một phần tư thế kỷ mới đây.” (Báo Sài Gòn Giải Phóng số 3/2/2010, bài Nghĩ về tuổi trẻ hôm nay của Dương Trung Quốc)

Thành ra trách một mình Phạm Quỳnh về “tội” chê thanh niên ta thời chưa có Đảng đó, mà bỏ qua hiện thực lịch sử cụ thể, cũng là một cách nói lấy được, khiên cưỡng, mà nhiều năm qua, không ít cây bút viết sử và văn đã phạm phải.

Cần phải công bằng.

Để xứng đáng được sống trong một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ngày nay.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 2010.

D.T.

Tháng Năm 10, 2013

Phạm Quỳnh trong Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 1:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 5 năm 2013.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

 

Blog PhamTon

Năm 2011, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA nổi tiếng thế giới long trọng tổ chức  kỷ niệm 10 năm ra đời, đã thực hiện bằng hơn 30 thứ tiếng với lượng truy cập hàng chục triệu lượt người.

Tháng 4/2013, chúng tôi mở mục Phạm Quỳnh trong Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA ra đọc thì thấy có nhiều đổi mới, phong phú hơn trước rất nhiều. Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 01:50 ngày 16 tháng 3 năm 2013.

Phạm Quỳnh sinh ngày 30-1-1893 tại nhà phố Hàng Trống, Hà Nội. Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng. Sau khi đỗ đầu bằng thành chung (tốt nghiệp) Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ. Làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1/7/1917. Ngày 2/5/1919, ông sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai Trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm Marseille, rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính Trị và Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, được mời làm giảng viên khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine. Từ 1925 – 1928 là hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ. 1926 làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương. 1930, đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải lập hiến pháp, qui định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, được giao chức phó hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932 giữ chức tổng thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

11/11/1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua, ông được triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, làm Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học, cuối cùng giữ chức Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ. Sau đó, bị giết cùng nguyên tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú và được cải táng ngày 9/2/1956 trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Riêng phần nhận định, đầu tiên là của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Tiếp đó là: “Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho Toàn quyền Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:

“Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung KỳBắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”.

Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn

“…Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối”.

Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).

 ”Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận”.

Giáo sư Văn Tạo

 Về gia đình, ghi rõ ông có một vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con, ba người mất từ nhỏ.

Toàn bộ mục Phạm Quỳnh tám trang A4. Phần Liên kết ngoài, đầu tiên có ghi rõ: Blog chuyên viết về Phạm Quỳnh cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến (http://www.phamquynh.wordpress.com)

Và chúng tôi vui mừng nhận thấy trong mục này, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA đã sử dụng khá nhiều thông tin, tư liệu từ Blog PhamTon chúng tôi

B.P.T.

Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc (kỳ cuối)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:13 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 5 năm 2013.

ĐƯƠNG TỎ DẦN GÓC KHUẤT MỘT GIA TỘC

Ghi chép của Xuân Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Xuân Ba, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1954 tại làng Lon, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Những tác phẩm chính đã xuất bản là Mọi linh hồn đềxuan-bau được đưa tiễn (NXB Hội Nhà văn-1991), Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (NXB Văn Học-1995), Thời chưa xa, người chưa cũ (NXB Hội Nhà văn-2004), Chuyện buồn kể muộn (NXB Họi Nhà văn-2004)… Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44,45 và 46 có đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba). Ông còn nổi tiếng vì một bài báo nữa dưới dạng một bức thư “Kính gửi ông Tổng biên tập báo Tiền Phong” bị vị tổng biên tập nọ từ chối đăng, bênh vực kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy, nhà kiến trúc phong cảnh đầu tiên của nước ta, tác giả khu Kiến trúc Phong cảnh nổi tiếng, khu nhà ở đẹp nhất Hà Nội hiện vẫn trường tồn nơi làng Võng Thị bên Hồ Tây.

Tháng 10/2005, trên tạp chí Sao Việt, rồi tháng 2/2007 trên tạp chí Nhà báo và Công luận cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam số Xuân Đinh Hợi 2007 ông cho đăng bài Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục.

Từ kỳ  tuần 1 tháng 4 năm 2013, Blog PhamTon đăng bài viết mới của nhà văn Xuân Ba, một người nặng lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh và cả gia tộc nhà văn hóa lớn này.

Bài kỳ 6 này đăng trên trang 16-17 báo Năng lượng mới số 209, thứ sáu 29/3/2013.

—o0o—

KỲ CUỐI:

Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục

Có một nhà thơ nước ngoài đã lấy đề tài về Phạm Quỳnh mà viết một bản trường ca.

Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục. Đó là tên một trường ca của thi sĩ người Đan Mạch tên là Erik Stinus. Thời điểm ông hoàn thành bản trường ca là một giai đoạn khó khăn và có thể nói là bi tráng của đất nước Việt Nam. Như những dòng ông viết kết thúc bản trường ca Copenhagen 17/9/1979. ThàMo pham quynh tai chua Van Phuocnh phố Hồ Chí Minh 11/10/1980. Trong một chuyến thăm Đan Mạch tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã mang về Việt Nam trường ca này đưa cho nhạc sĩ Phạm Tuyên. Để cho chắc, nhạc sĩ Phạm Tuyên nhắn cho bà chị ruột mình là Phạm Thị Hoàn đang định cư ở Pháp, nhờ một kênh nào đó liên lạc với Đan Mạch. Kênh liên lạc của bà Hoàn đã có kết quả. Thi sĩ Erik đã nhận được sách về Phạm Quỳnh do bà Phạm Thị Hoàn gửi tặng và ông đã sốt sắng biên thư trả lời cho bà Hoàn cùng bản sao trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục (bản tiếng Đan Mạch và tiếng Anh) do chính tay ông đề tặng.

Với bút pháp siêu thực, các chương trường ca (nếu được xuất bản) chắc sẽ mang cho người đọc nhiều sắc thái thẩm mỹ phong phú. Người chuyển ngữ ra tiếng Việt hơn 300 câu của trường ca (bản thảo hiện lưu tại gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên) có thể nói khá thành công là bà Trịnh Thị Ngọ, nghệ sĩ ưu tú, nguyên phát thanh viên tiếng Anh của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Xin trích ra đây bức thư của thi sĩ Erik Stinus gửi bà Phạm Thị Hoàn, con gái nhà văn hóa Phạm Quỳnh để bạn đọc biết thêm được cơ duyên ra đời của bản trường ca độc đáo này.

…Bà (con gái Phạm Quỳnh – NV) đã đặt cho tôi một câu hỏi rất khó. Đó là tại sao tôi lại biết đến cụ thân sinh của bà với công trình của một học giả về văn chương. Tôi đã cố gắng ôn lại những chặng đường của mình và những điều tôi đã đọc qua nhiều năm nhưng chưa thể làm sáng tỏ câu hỏi của bà được.

Như bà đã biết, tôi là một người làm thơ và hư cấu… Đã có biết bao điều xảy ra trên thế giới này với tôi, cũng vì vậy có biết bao nhiêu người đã tỏa sáng trong những trang tôi đã viết và những trang tôi sẽ viết.

Quê hương Việt Nam và nhân dân của bà đã ở trong tâm trí tôi nhiều năm và Pham Quynh Og Den Videre Historie (Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục) chính là một tựa đề như có sẵn trong bài thơ thứ sáu mà tôi viết về Việt Nam.

Tôi viết bằng tiếng Đan Mạch, một thứ ngôn ngữ chỉ dành cho 5 triệu người. Vì vậy những gì mà tôi viết ra thông thường khó được ai biết đến ngoài đất nước Đan Mạch. Vì vậy, tôi có phần lúng túng khi được biết là bà lại có thể biết (và do đâu?) về bài thơ của tôi, nhưng tất nhiên tôi đặc biệt vui mừng thấy bà lại có thể biết nó qua một bản dịch mà bà có được qua một trong những người bạn của tôi ở Việt Nam, tôi tin là như thế!

Tôi đã đến Việt Nam 3 lần. Lần đầu là dịp kỷ niệm lần thứ 600 nhà thơ Nguyễn Trãi. Vào dịp đó, cùng với một số nhà thơ của nhiều nước, tôi đã có dịp gặp một số nhà văn và học giả của Việt Nam. Tôi cũng đã gặp Phạm Văn Đồng và tướng Giáp. Và tôi đã được đọc nhiều sách của Việt Nam qua những bản dịch mà tôi có được. Một trong những sách đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cũng giống như lời tựa và bài giới thiệu mà cụ thân sinh ra bà đã giới thiệu về tập thơ, nhưng cũng có thể do một trong những người dự hội thảo về Nguyễn Trãi đã nói về công trình của Phạm Quỳnh. Tại hội thảo này có nhiều nhân vật nổi tiếng tham gia, trong đó có cả một số người Việt không sống ở Việt Nam mà ở ngoài nước. Một trong số những người đó là một học giả về âm nhạc, ông ấy đã giới thiệu cho tôi về nền âm nhạc cổ điển của Việt Nam.

Những bài thơ tôi viết bằng sự tưởng tượng của riêng mình mà không hỏi bất cứ người nào khác. Trong bản trường ca đó, bà có thể thấy những trăn trở, những giấc mơ và những niềm hy vọng của tôi qua việc phác thảo những thời điểm rối ren và đầy xáo động.

Tôi hoàn thành tác phẩm của tôi trong chuyến thứ hai thăm Việt Nam.

Đó là tất cả những gì tôi có thể nói cùng bà và tôi rất vui mừng vì đối với bà, nó cũng phản ánh một chuyện có thật về thân phụ của bà, ít nhất trong một chừng mực nào đó.

Người làm thơ có thể mong mỏi một chút rằng, họ có được vài người nghe và hiểu họ. Và chính bà lại là người đã nghe được và điều đó đối với tôi quả thật là nhiều hơn một chút.

Với lời cầu chúc nồng nhiệt nhất của tôi.

Erik Stinus

VĨ THANH

Niềm thương cảm vượt không gian lẫn thời gian

LNV: Mới đây, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã trao cho tôi một bài viết, nói đúng hơn là một cuộc phỏng vấn với thi sĩ Đan Mạch, tác giả Trường ca Phạm Quỳnh, câu chuyện còn tiếp tục”…

Tác giả bài báo là ký giả Đặng Văn Nhâm, hiện đang sinh sống tại nước ngoài. Ký giả Đặng Văn Nhâm đã thực hiện bài phỏng vấn tại Đan Mạch ngày 3-7-1999.

Bài viết có tên “Giải oan lập một đàn tràng”.

Trước khi mất bà Phạm Thị Hoàn (chị ruột nhạc sĩ Phạm Tuyên) đã chuyển cho người em trai, nhạc sĩ Phạm Tuyên bài viết này.

Được phép của NS Phạm Tuyên, tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết nói trên.

Do một cơ duyên, chúng tôi có dịp tiếp xúc với bà Phạm Thị Hoàn, một ái nữ của cụ Phạm. Bà Hoàn đã vui lòng cho tôi mượn tấm chân dung kỷ niệm của cụ Phạm để in vào quyển “Lịch sử báo chí Việt Nam” do tôi soạn thảo. Sau đó không lâu tôi đã được ông bà Hoàn cho xem một bài thơ Anh ngữ Pham Quynh doc sachviết về cụ Phạm nhan đề: “Phạm Quỳnh and The Story Continued”. Và kèm theo phía dưới hàng chữ nhỏ hơn: Words about Viet Nam * part six… Bài thơ này gồm 10 đoạn, dài đến 377 câu thơ. Tôi đọc lướt qua bài thơ, chợt rơi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác!

Ngạc nhiên về nội dung đến tên tác giả. Tôi hỏi bà Hoàn:

- Xin chị cho biết trong trường hợp nào chị có bài thơ này?

- Đây là một bài thơ dịch ra từ nguyên tác bằng tiếng Đan Mạch, do một thân hữu của gia đình gửi cho, để kỷ niệm, bà Hoàn đáp.

Đúng rồi, cái tên Erik Stinus, viết bằng chữ “K” đúng vị Đan Mạch 100% rồi còn gì nữa chứ! Những ai đã sống ở Bắc Âu đều nhận ra ngay, tôi tò mò hỏi xem nguyên bản bằng tiếng Đan Mạch. Bà Hoàn tỏ ý rất tiếc và cho biết thâm tâm cũng đang ao ước truy tầm. Sau một tiếng thở dài nhẹ, bà Hoàn than:

- Gia đình đã bỏ rất nhiều công phu, từ mấy năm trời nay và đã nhờ đến nhiều người để truy tầm nguyên tác bằng Đan Mạch, nhưng đều vô vọng…

Tính hiếu kỳ bị kích thích, tôi sốt sắng đề nghị:

- Nếu chị chắc nguyên tác bằng tiếng Đan Mạch, tức thị tác giả là người Đan Mạch, vậy sẽ xin cố gắng giúp chị. Hy vọng sẽ có kết quả tốt!

Một thoáng vui hiện lên nét mặt ông bà Hoàn. Nhưng bà Hoàn còn dè dặt:

- Chúng tôi đã nhờ nhiều người thân có thân nhân ở Đan Mạch sưu tầm rồi mà cũng không xong.

Tôi đáp lời bà Hoàn:

- Trước hết, căn cứ trên nội dung bài thơ này, chắc chị cũng đã đồng ý không có gì đáng gọi là tuyên truyền cho cộng sản. Vả chăng chúng ta chưa một ai từng quen biết, giao du với tác giả hay đọc những tác phẩm nào khác của ông ta! Tôi hứa sẽ tìm ra nguyên tác để so sánh và tìm ra luôn tác giả để nói chuyện xem sao…

Nghe nói thế, ông bà Hoàn đã vui hẳn lên, trao cho tôi một bản sao của tập thơ dịch bằng Anh ngữ, ủy thác cho tôi công việc tìm. Về Đan Mạch, tôi đã đem chuyện này kể cho cháu gái đầu lòng của tôi, năm nay 40 tuổi, đã nối gót tôi, hiện đang đảm trách lớp dạy Việt ngữ cho các sinh viên và học viên người Đan Mạch trên đại học. Con gái tôi cho biết ngay, ông Erik Stinus vốn là một trong số thân hữu từ lâu và nói thêm… “Ông ta từng nói với con là đã biết ba nhiều qua sách báo. Vậy ba cứ gọi điện nói chuyện với ông ta. Chắc ông ấy ngạc nhiên và vui lắm đó!”.

Tôi liền gọi điện thoại cho Erik Stinus. Tác giả đã tiếp chuyện tôi rất niềm nở. Chúng tôi có cảm tưởng như người thân lâu ngày mới gặp lại. Khi nghe tôi ngỏ ý muốn mời đến nhà dùng cơm, để có thì giờ rộng rãi nói thêm về bài thơ viết chuyện Phạm Quỳnh, Erik đã tỏ ra hết sức vui vẻ và nhận lời ngay.

Hôm đó là thứ Hai, ngày 28/6/1999, chúng tôi đã hội ngộ và hàn huyên đủ thứ chuyện, từ công việc sáng tác, sinh hoạt văn học, báo chí ở Đan Mạch, rồi lần hồi nói đến những sinh hoạt ấy ở Việt Nam. Đặc biệt, hôm đó Erik Stinus đã không quên đem cho tôi hai bản nguyên tác bài thơ dài viết về cái chết bi thảm đầy oan khuất của Phạm Quỳnh, một danh sĩ bất tử Việt Nam, nhan đề “Pham Quynh og den videre historie, ord om Viet Nam for sjette gang”.

Erik nói: “Một bản tôi tặng anh, một bản tôi tặng bà Hoàn”. Tôi tò mò hỏi Erik: “Tại sao lại còn thòng thêm câu: “ord om Viet Nam for sjette gang”(viết về Việt Nam, bài thứ sáu)? Erik đáp: “Trước sau tôi đã đến Việt Nam cả thẩy 3 lần rồi. Lần chót cách đây 2 năm. Trong thời gian đó tôi đã viết tất cả 6 bài, gồm cả thơ và truyện. Bài này là bài thứ 6! Tôi hỏi: “Erik, anh đã viết về Phạm Quỳnh trước khi đến Việt Nam, hay sau đó?”.

- “Trước khi đến Việt Nam, tôi nhắm mục đích nghiên cứu trên lĩnh vực văn học, để viết bài cho một tờ báo ở Kobenhavn, thủ đô Đan Mạch, Cùng tháp tùng tôi còn có một nữ phóng viên nhiếp ảnh nữa. Cả 3 lần ấy, tôi đã tiếp xúc đủ mặt các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở Việt Nam. Từ Hà Nội vào miền Trung, đến Sài Gòn. Họ thuộc đủ mọi thành phần, đủ mọi khuynh hướng, từ những người có chân trong Hội Nhà văn cho đến những người cầm bút độc lập. Do đó tôi đã nghe nói đến Phạm Quỳnh…”.

Tôi hỏi tiếp: “Vậy nguyên do nào đã khiến anh cảm tác được bài thơ dài đến 377 câu như thế về Phạm Quỳnh?”.

Erik nghiêm chỉnh trả lời: “Như anh đã biết, muốn làm thơ phải có cảm hứng. Nguồn cảm hứng ấy đã đến với tôi rất mãnh liệt, sau 3 lần đến Việt Nam, lần nào tôi cũng nghe hầu như tất cả các nhà văn, nhà thơ, học giả Việt Nam… đều nhắc đến tên Phạm Quỳnh. Đặc biệt nhất là ai cũng tỏ ra hết sức thành thật thương tiếc cho cái chết của Phạm Quỳnh. Họ cho rằng đó là một sai lầm đáng tiếc của những người làm cách mạng lúc bấy giờ. Họ nêu giả thiết, nếu Phạm Quỳnh còn sống chắc chắn trong thời gian sau sẽ giúp ích rất nhiều cho dân tộc Việt Nam trên bình diện văn hóa, học thuật… Ông là biểu tượng của thế hệ thanh niên trí thức Việt Nam. Người ta cần phải soi gương cần cù hiếu học của ông!”. Ngừng một lát Erik còn chỉ cho tôi đọc thêm một đoạn văn trong phần phụ lục và nói: Tôi còn biết Phạm Quỳnh đã nói một câu trở thành danh ngôn mà người Việt Nam nào cũng nhắc đến. Đó là câu: “Truyện Kiều của Nguyễn Du còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” . Câu này tôi đã dịch ra tiếng Đan Mạch. Ngoài ra tôi còn biết thêm, ngày xưa trước khi chết Nguyễn Du đã nói câu: “Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như! Tôi ngắt lời:

- Nhưng khác với Nguyễn Du, bây giờ anh thấy Phạm Quỳnh mới chết chưa đầy nửa thế kỷ đã có khối người khóc thương rồi.

Đặc biệt trong số lại còn có cả những người mà ngày xưa các đồng chí của họ đã từng can dự vào cái chết của Phạm Quỳnh. Càng đặc biệt hơn nữa là anh – chính anh đó. Erik Stinus! – một nhà thơ ở tận Bắc Âu xa tít tắp, chẳng liên hệ gì đến Phạm Quỳnh, cũng đã làm một bài thơ dài khóc thương Phạm Quỳnh!…”. Nghe tôi nói thế, Erik cười, một cái cười thông cảm. Sau đó tôi lại hỏi thêm:

- “Anh mất bao nhiêu thì giờ để hoàn tất thi phẩm này?”. Tôi hỏi với dụng ý. Erik đáp thành thực: “Mất hơn một tuần lễ! lúc đó tôi còn ở thành phố Hồ Chí Minh!”. Nhờ câu nói đó của Erik, tôi biết được rằng, “câu chuyện về cái chết đau thương oan khuất của cụ Phạm đã gây nên một rung động sâu xa mà dư âm lâu dài, bền bỉ đến hơn một tuần lễ trong tâm hồn nhà thơ Erik Stinus, một người đã đến từ một phương trời Bắc Âu xa lạ, với một hành trang văn hóa, tư tưởng và cảm quan hoàn toàn xa lạ trước dân tộc và đất nước Việt Nam. Cái rung động và nguồn thi hứng đã đến với Erik Stinus không ngắn ngủi như một tia chớp chợt lóe lên trên vòm trời đen thẫm rồi tắt ngấm, mà là cả một nỗi niềm day dứt sâu xa trong tình nhân loại trên mặt địa cầu.

Sau hơn bốn tiếng đồng hồ ăn uống chuyện trò, chúng tôi thấy đến lúc sắp phải chia tay, Erik đã chụp chung với tôi một tấm hình kỷ niệm ngày tao ngộ, đồng thời chụp riêng một tấm chân dung, mà bên dưới tấm hình Erik còn viết thêm cho bà Hoàn đôi lời chào mừng, để nhờ tôi chuyển đến ông bà Hoàn như một kỷ niệm của người bạn chưa từng gặp mặt. Erik cũng muốn có địa chỉ của ông bà Hoàn để trực tiếp liên lạc và sau này gửi sách biếu v.v…

Trước khi ra về Erik còn cho tôi biết thêm, ông sinh năm 1934 và ông đã có 4 con cả trai lẫn gái, với nhiều cháu nội ngoại. Hiền nội của ông là một phụ nữ sinh trưởng ở vùng Nam Á, hiện nay là một viên chức của cơ quan UNICEF ở Đan Mạch. Erik đã đi thăm quê hương nhà vợ nhiều lần và ông cho biết rằng mỗi lần về quê vợ ông lại chạnh nghĩ đến đất nước và dân tộc Việt Nam. Tôi chợt hỏi câu hỏi cuối cùng:

- “Anh viết về Việt Nam như thế, có nghĩ ở hải ngoại sẽ có người Việt Nam cho rằng, anh theo Cộng sản Việt Nam không?”, Erik chợt khựng lại, đầy vẻ ngạc nhiên. Sau một thoáng suy nghỉ, anh đáp:

- Tôi không hiểu người Việt Nam đó trong đầu họ nghĩ gì. Nhưng anh cứ bảo cho họ biết nên đọc các tác phẩm của tôi, để tìm hiểu tôi, như vậy đàng hoàng hơn, chứ đừng suy diễn khi chưa biết tôi là ai.

Tôi nhìn xuống bài thơ anh vừa biếu tôi, thấy ngay câu đầu, đoạn một, những lời tha thiết sau đây:

Nha van hoa Pham Quynh“Chúng ta phải nhận rằng

Ta đã làm xằng với Phạm Quỳnh

Người đã tìm ra nước Pháp đẹp xinh

Như gã đàn ông hào hoa

Còn nước Việt Nam ví là con gái.

Ta không nên gọi ông người phản bội

Trên những biểu ngữ và truyền đơn hài tội…”

Tôi lại nhìn xuống mấy tác phẩm của ông vừa biếu tôi. Một danh sách liệt kê các tác phẩm của anh đã xuất bản từ năm 1985 đến 1998, dài kín hết trang sách, đếm được 31 tác phẩm đủ loại. Như thế chưa phải nhiều, nhưng cũng đủ chứng tỏ Erik Stinus là một nhà văn, nhà thơ “có hạng” tại Đan Mạch. Mặc dù nước này chỉ là một bán đảo bé tí teo với khoảng 5 triệu dân, nhưng dân tộc hậu duệ của dòng dõi hải tặc Viking này đã đào tạo nên hàng chục nhân tài từng đoạt giải Nobel đủ loại, từ khoa học nguyên tử, y khoa, lý học, hóa học và văn chương v.v…

Nhìn tôi đọc, Erik nói thêm: “Như anh đã biết, ở đất nước nào cũng vậy, thơ rất khó tiêu thụ, không một nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền xuất bản thơ một cách dễ dàng. Vậy mà tôi đã có cả chục thi tập phát hành rồi đó. Và tôi đã sống bằng ngòi bút của tôi!”…

Tóm lại hôm ấy chúng tôi đề cập đến vụ án thương tâm của cụ Phạm Quỳnh qua nhiều phương diện văn học và chính trị. Cuối cùng chúng tôi đã đi đến một kết luận: “Chỉ có tài năng văn học mới chuyên chở được tên tuổi và tư tưởng con người vượt mọi ranh giới không gian và thời gian, để trở thành bất tử trong lòng nhân loại”.

Đó là trường hợp của nhà học giả yêu nước Phạm Quỳnh. Cái chết của ông bi thương, nhưng không phải là một sự chấm hết. Hết tiệt như những cái chết khác. Ông chết, nhưng vẫn còn để lại một tấm lòng son với sử xanh “lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh!”.

Đặng Văn Nhâm

X.B.

 

Trường hợp Phạm Quỳnh: Thực ra chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì “theo Tây”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 5 năm 2013.

TRƯỜNG HỢP PHẠM QUỲNH

THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ mười kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 13.774 lượt người truy cập.)

Thanh Lãng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

* Bài Thực ra, chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì theo Tây là phần 4 trong toàn bộ 7 phần của bài Trường hợp Phạm Quỳnh của Thanh Lãng. Tính đến ngày 26/4/2012 đã có 13.583 lượt người truy cập.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Từ điển Văn học – Bộ mới (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2004) Trần Hải Yến viết: “Thanh Lãng (23 –XII-1924 – 17-XII-1978). Linh mục, nhà giáo dục, nghiên cứu văn học Việt Nam. Tên thật là Đinh Xuân Nguyên, sinh tại Tam Tổng, Nga Sơn, Thanh Hóa.

(…) Thời kỳ chuyên tâm nhất cho văn chương (1960-1975) Thanh Lãng đã viết (…) tập trung vào các vấn đề: lịch sử phát triển chữ quốc ngữ và quá trình hình thành văn chương quốc ngữ, chương trình giảng dạy văn chương trong nhà trường, ngoài ra, ông còn chú ý đến một số tác giả văn chương, báo chí như Nguyễn Du, Nhất Linh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Những bài viết đó cho thấy tác giả hết sức quan tâm đến lịch sử phát triển của văn học dân tộc, đặc biệt là thời kỳ chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành. (…) Hai quyển (Thượng và Hạ) của Bảng lược đồ Văn học Việt Nam tuy chỉ được viết “rất sơ lược” “các nét chính của văn học Việt Nam, tức là các thời kỳ hay thế hệ văn học cùng các trào lưu tư tưởng, trào lưu tình cảm, trào lưu nghệ thuật và những chứng nhân tiểu biểu nhất, đại diện nhất của mỗi trào lưu”, nhưng đây lại là đóng góp lớn hơn cả của tác giả cho cách nhìn và phương pháp viết lịch sử văn chương (…) Do được tiếp cận với văn hóa phương Tây, lối nghiên cứu của Thanh Lãng nổi rõ chất lý trí tỉnh táo và căn cứ tư liệu thực tế”.

(…)

Để cung cấp cho các bạn quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh, chúng tôi sẽ trích đăng dần bài viết đặc sắc, công phu của giáo sư Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh, đã đăng trên tạp chí Văn Học, xuất bản tại Sài Gòn, các số 3,4,5,6 trong các tháng 1,2,3,4 năm 1963. Đây là một tư liệu nhiều bạn cần mà nay rất khó kiếm. Chúng tôi chỉ lược bỏ một ít đoạn nay xét thấy không cần thiết và đặt nhan đề cho từng phần trích đăng để bạn đọc dễ theo dõi. Mong các bạn thông cảm.

—o0o—

4. THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

Trong khoảng này (1917-1932 – PT chú), hoạt động nói được là có hình thức chính trị, chỉ có việc Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội (Năm 1920- PT chú).

Nếu chỉ làm cái ông cố vấn của một hội đồng thành phố mà bị ghép vào tội phản dân hại nước thì chẳng riêng gì Phạm Quỳnh mà hầu hết các nhà văn hóa đương thời vẫn được quốc dân công nhận là đứng đắn như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Bá Học, và sau này, hầu hết các nhà văn như Tú Mỡ, Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, đều là công chức của Pháp. Tôi nghĩ Ngô Đức Kế đả kích Phạm Quỳnh chắc không phải vì Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội.

Nếu không phải vì cái chức cố vấn mà lúc ấy, năm 1924, Phạm Quỳnh còn đang nắm giữ, thì phải chăng vì một bài báo viết ra mãi từ năm 1917, bài báo mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã trích một đoạn với lời buộc tội là Phạm Quỳnh “đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân trong khi biết bao nhà ái quốc ngã gục trước họng súng của cái chủ nghĩa mà Phạm Quỳnh cho là nhân đạo, là xả kỷ”.

Về cái bài Khái luận về văn minh học thuật nước Pháp này, điều thứ nhất ta cần nhận định đó là một nhận định không phải do Phạm Quỳnh viết ra mà chỉ là tường thuật bài La civilisation (Nền văn minh – PT chú) của ông Victor Giraud viết năm 1916. Có đọc cả cái bài khái luận này mới thấy rằng chủ trương của bài khái luận không phải là biện minh cho chế độ thực dân.

Bài khái luận chia làm 6 phần, phân tích những đặc tính của nền văn minh của Pháp là một nền văn minh lấy “nhân đạo” làm cốt yếu. Giraud minh chứng tính cách nhân đạo ấy của nền văn minh Pháp được bộc lộ qua văn chương Pháp, qua triết học Pháp, qua tôn giáo Pháp, qua  lịch sử Pháp. Chính do cái phần Victor Giraud phân tích tính cách nhân đạo của Pháp qua lịch sử của Pháp này mà giáo sư Nguyễn Văn Trung buộc tội Phạm Quỳnh là muốn biện hộ, đề cao chế độ thực dân.

(…)

Tôi chưa có dữ kiện đủ để biện hộ cho Phạm Quỳnh là một chiến sĩ quốc gia chống Pháp mà tôi cũng chưa thấy có gì đáng ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước qua một đoạn văn viết như trên kia.

(…) Do sự phân tích trên đây, tôi thấy không thể chỉ vì một đoạn văn vỏn vẹn có ngần ấy câu mà ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước, là đề cao hay biện hộ cho chế độ thực dân.

Và Ngô Đức Kế, khi đả kích Phạm Quỳnh năm 1924, chắc không phải vì các đoạn văn vỏn vẹn ấy viết ra từ năm 1917.

Đàng khác, nếu chỉ căn cứ vào một đoạn văn mà buộc tội thì tôi thiết tưởng người ta có thể buộc tội cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà cách mạng và anh hùng dân tộc ở đầu thế kỷ, vậy mà cả hai nhà đại cách mạng đều lâm thời chấp nhận sự kiện bảo hộ như là một sự kiện nếu không cần thiết thì cũng không thể tránh được.

Phan Chu Trinh, trong bức thư gửi cho chính phủ Pháp ngày 15/8/1918, hình như không những chấp nhận sự kiện bảo hộ của Pháp mà còn coi đó như một điều cần thiết cho sự an toàn của dân ta trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy: “Ôi, ham mến tự do, mưu toan độc lập, xấu hổ làm nô lệ cho người, lấy cái đó mà ngờ cho dân tộc Âu châu là phải rồi, chớ còn như lấy đó mà ngờ cho dân An nam thì có khác gì ngờ người có bệnh tê bại leo tường ăn cắp, ngờ đứa con nít ba tuổi đốt nhà giết người; chẳng qua cái thói đa nghi đó mà thôi. Chớ cứ nói thật ra, trong một nước mà học thuật không ra sao, phong hóa bại hoại, liêm sỉ mất hết, kiến thức không có một chút gì, ngay đến trong một làng, một ấp mà cũng coi nhau như cừu địch thì còn mong mỏi gì liên kết đoàn thể mà chống giữ với ai? Mà ví thử có muốn đem võ lực để kháng cự với chính phủ bảo hộ đi nữa, thì không những đất dụng võ không có, tàu to súng lớn không có, lương thực không có, mà cứ nói ngay ra ví thử bây giờ người Pháp cho người Nam độc lập, giao cho mấy ngàn khẩu súng, cấp cho đất đai mấy tỉnh, rồi cho tự trị lấy, không hỏi gì đến nữa, thì chỉ trong vòng mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi, còn mong gì mở mày mở mặt với thế giới được; ấy mình đối với mình còn thế, còn mong gì đối với ai.” (Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh , Tân Việt, trang 97-98).

Qua đoạn văn trên này, Phan Chu Trinh nhận định hai điều:

Điều thứ nhất là dân tộc ta trong hoàn cảnh đương thời không thể nào đánh lại được người Pháp.

Thứ hai có vẻ cay đắng, bi đát hơn, đó là việc giả sử người Pháp có trao quyền tự trị hay độc lập cho dân tộc mình thì người mình lúc ấy cũng không cai trị nổi nhau mà chỉ có cấu xé lẫn nhau “chỉ trong mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù, báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi”.

(…) Đã có chủ trương rõ rệt như vậy, cho nên Phan Chu Trinh chống bạo lực, muốn thành tâm cộng tác với Pháp chứ không muốn nổi dậy làm cách mạng bạo động. Đó là ý tưởng ông bàn đến nhiều lần trong bài diễn văn Đạo đức và luân lý Đông Tây ông đọc tại Sài Gon đêm 19/11/1925.

Trong bài đó tôi chú trọng đến đoạn sau này hơn cả:

Cái thương nước tôi nói đây không phải là xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu! Tôi xin thưa: Nước ta đã hư hèn bị mắc trong tay người ta rồi, thì bây giờ ta phải đem lòng thương nước, bênh vực lẫn nhau, mà giúp cho nhau để cứu chuộc lại cái danh giá cùng lợi quyền của ta về sau. Hễ người ta làm việc gì bất công thì mình phải hiệp sức nhau lại mà chống, còn làm việc gì phải chăng thì mình cũng phải nhìn nhận, chớ có thấy chính quyền mình mất rồi mà đem lòng căm tức không kể đến việc hay của người ta. Thế thì lòng thương nước của dân Việt Nam có làm gì hại đến quyền lợi người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!. Dân Việt Nam thấy người nào làm hại cho nước nó thì nó ghét, ấy là lẽ tự nhiên”.

(Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh, Tân Việt, trang 144).

Theo Phan Chu Trinh, lòng yêu nước, tức tinh thần quốc gia, tức bổn phận làm một công dân yêu nước, một chiến sĩ quốc gia không cần phải xung đột với Pháp: “Thế thì lòng yêu thương nước của dân Việt Nam có làm hại gì đến quyền lợi của người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!”

Đây chưa phải là chỗ thẩm định tư tưởng của Phan Chu Trinh mà chỉ muốn trích hai văn kiện của một nhà Đại Cách Mạng Việt Nam được mọi giới yêu kính, văn kiện thứ nhất đề năm 1918, văn kiện thứ hai đề năm 1925, để minh chứng rằng, thuộc vào khung cảnh lịch sử của nó, những bài văn, bài báo như của Phan Chu Trinh hay của Phạm Quỳnh không thể hiểu thẳng băng theo ngữ ngôn của thời đại ta. Mà nếu hiểu theo ngữ ngôn của thời đại ta thì Phan Chu Trinh có vẻ còn đề cao, còn biện hộ cho chế độ thực dân mạnh hơn Phạm Quỳnh nhiều.

Không những xem ra đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân mà Phan Chu Trinh còn kết án cả cái lối làm cách mạng theo lối Ngô Đức Kế nữa kia, điều mà Phạm Quỳnh trong thâm tâm không biết ông nghĩ thế nào, chứ chưa hề công khai dám tuyên bố táo bạo như Phan Chu Trinh:

“Cái thương nước tôi nói đây không phải xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này, cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu.”

Nếu bài báo của Ngô Đức Kế ra đời sau năm 1924 là năm rồi đây Phạm Quỳnh sẽ tham gia nhiều hoạt động có tính cách chính trị, nhất nữa là ra đời vào khoảng sau năm 1933 là năm Phạm Quỳnh sẽ chìm sâu vào chính trị thì sự giải thích của giáo sư Nguyễn Văn Trung có lẽ mới thích hợp. Ngô Đức Kế viết bài Chánh học cùng tà thuyết vào thượng tuần tháng 9 năm 1924, nghĩa là hơn một tuần sau khi có cuộc lễ kỷ niệm Tiên Điền Nguyễn Du vào tuần cuối tháng 9 năm 1924. Tôi muốn nói: Từ năm 1924 trở về trước, cuộc đời của Phạm Quỳnh chưa có gì đáng cho Ngô Đức Kế hay dư luận nghi là buôn dân bán nước, là theo Tây.

Hình như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã bắt Ngô Đức Kế nhìn thấy cả đời chính trị của Phạm Quỳnh về sau này, khi ông viết bài Chánh học cùng tà thuyết năm 1924.

Thực ra giáo sư Nguyễn Văn Trung biết Phạm Quỳnh đã làm chính trị, đã làm thượng thư, một thứ thượng thư Bộ Học rồi đến Bộ Lại mà chưa tranh đấu được gì cả cho dân tộc như người ta từng chờ mong, chứ Ngô Đức Kế thì không những năm 1925, ông không thể biết các việc ấy được, mà cho ngay sau này ông cũng chẳng có thể đoán được là Phạm Quỳnh có sẽ làm thượng thư hay không, vì Ngô Đức Kế chết năm 1930 mà mãi đến 1933 Phạm Quỳnh mới ra tham chính. Tôi nêu lên sự kiện này là có ý lưu ý giáo sư Nguyễn Văn Trung là rất có thể chúng ta đem ghép cho Ngô Đức Kết cái tâm tính của ta về Phạm Quỳnh. Thực ra tôi cũng như giáo sư Nguyễn Văn Trung, chúng ta chỉ biết Phạm Quỳnh như một đại thần của triều đình Huế, nghĩa là một người mà tuổi thanh niên chúng ta lúc ấy (khoảng năm 1938 – 1945) mong phải có những hành động kinh thiên động địa. Thú thật chính tôi cũng đã rất ghét Phạm Quỳnh hồi ông đang làm thượng thư. Chứ thời kỳ ông còn ở báo Nam Phong thì tôi còn nhỏ xíu, ngay đến năm 1924 khi xẩy ra cuộc cãi lộn giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh, thì cả giáo sư Nguyễn Văn Trung lẫn tôi chưa một ai sinh ra.

Như vậy Phạm Quỳnh có thể bị ghét về nhiều phương diện, chúng ta những người sinh sau, đã ghét Phạm Quỳnh về phương diện chính trị vì chỉ biết hay chỉ nghe nhiều về Phạm Quỳnh chính trị, Phạm Quỳnh Thượng Thư mà không ngờ rằng Phạm Quỳnh còn có thể bị ghét về nhiều phương diện khác nữa. Có thể ta đã bắt Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh theo phương diện của ta đang khi thực ra Ngô Đức Kế có thể ghét Phạm Quỳnh về một phương diện không giống chúng ta. Chúng ta ngày nay đã nhìn tổng lược cả cuộc đời của Phạm Quỳnh mà bị ám ảnh bởi cuộc đời làm quan của Phạm Quỳnh hơn là cuộc đời làm văn hóa của ông, nhưng Ngô Đức Kế lo sợ sẽ cuốn bay tất cả, phá hoại tất cả không phải là thái độ theo Tây hay chống Tây của các học giả mà là thái độ đề cao Kiều có vẻ quá mức của các ông hồi bấy giờ.

Tôi còn tiếp tục đọc lại bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung và còn tiếp tục đặt ra các nghi vấn.

T.L.

Tháng Năm 3, 2013

Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc – Kỳ 5

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 1:28 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 5 năm 2013.

ĐƯƠNG TỎ DẦN GÓC KHUẤT MỘT GIA TỘC

Ghi chép của Xuân Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Xuân Ba, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1954 tại làng Lon, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Những tác phẩm chính đã xuất bản là Mọi linh hồn đều được đưa tiễn (NXB Hội Nhà văn-1991), Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (NXB Văn Học-1995), Thời chưa xa, người chưa cũ (NXB Hội Nhà văn-2004), Chuyện buồn kể muộn (NXB Họi Nhà văn-2004)… Cuối năm 2005, trên Tiền Phoxuan-bang Chủ Nhật các số 44,45 và 46 có đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba). Ông còn nổi tiếng vì một bài báo nữa dưới dạng một bức thư “Kính gửi ông Tổng biên tập báo Tiền Phong” bị vị tổng biên tập nọ từ chối đăng, bênh vực kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy, nhà kiến trúc phong cảnh đầu tiên của nước ta, tác giả khu Kiến trúc Phong cảnh nổi tiếng, khu nhà ở đẹp nhất Hà Nội hiện vẫn trường tồn nơi làng Võng Thị bên Hồ Tây.

Tháng 10/2005, trên tạp chí Sao Việt, rồi tháng 2/2007 trên tạp chí Nhà báo và Công luận cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam số Xuân Đinh Hợi 2007 ông cho đăng bài Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục.

Từ kỳ  tuần 1 tháng 4 năm 2013, Blog PhamTon đăng bài viết mới của nhà văn Xuân Ba, một người nặng lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh và cả gia tộc nhà văn hóa lớn này.

Bài kỳ 5 này đăng trên trang 16-17 báo Năng lượng mới số 208, thứ sáu 29/3/2013.

—o0o—

KỲ 5:

Ông Phạm Quỳnh: Có lẽ ngay giữa bữa tiệc này tôi thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão quân chủ lập hiến. Nói đến quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột bậc và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hòa khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng đàn anh trên toàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên thừa hành bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế chúng ta có một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình. Chớ như chế độ cộng hòa hay dân chủ thì sợ mỗi khi, sau 4 năm có thay đổi tổng thống thì thay đổi tất cả làm cho guồng máy hành chánh trong nước phải bị xáo trộn trầm trọng.

Từ ngày tôi sáng lập Tạp chí Nam Phong đến nay, tôi có nhiều dịp đi đó đây tiếp xúc với rất đông đồng bào ba kỳ thì phần đông mà xin quả quyết là đại đa số đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.

Ông Phạm Quỳnh vừa dứt lời thì tôi ngó qua ông kỹ sư Cao Văn Sến. Biết đến phiên biện giải, ông Sến tiếp lời ngay để nói đường lối đấu tranh của mình: Thú thật tôi tiêm nhiễm sâu sắc văn hóa Pháp và cũng nhận thấy văn hóa này có thể giúp dân tộc ta tiến lên đài văn minh, tiến bộ như mọi dân tộc khác trên hoàn cầu. Tôi thấy họ văn minh thật sự về mọi mặt. Nhưng từ ngày tôi ở đây, luôn chống đối Chính phủ Đông Dương vì tôi nhận thấy cũng là người Pháp văn minh ấy mà mỗi khi bước chân xuống tàu qua Đông Dương thì bắt đầu có trong khối óc họ những chủ trương thực dân hà chánh tàn khốc mà tôi không thể chấp nhận được cho đồng bào cả ba kỳ, mặc dầu ở Nam Kỳ dân khí đã tiến bộ khá mạnh, người Pháp đã chẳng dám ăn hiếp như ở hai kỳ kia. Vì thế, tôi nhờ tài liệu nước nhà mà anh em thủy thủ hàng hải thường vui lòng cung cấp cho tôi dùng làm báo để chống đối chế độ thực dân ở Đông Dương. Tôi thành thực mà thưa rằng, tôi chưa có một chủ thuyết rành mạch như 4 ông vừa giải thích rành mạch. Tôi chỉ có thái độ chống bọn thực dân xấu xa, bỉ ổi.

Ông Cao Văn Sến được cử tọa nhiệt liệt hoan hô vì ông khiêm nhượng không dám đưa ra một chủ thuyết gì mới mà chỉ nói lên lời nói chân thành của con tim người dân yêu nước, yêuNhac si Pham Tuyen cam ap phich 30-4 đồng bào.

Nhận thấy năm diễn giả đã nói lên lập trường của mình và ai cũng biện minh chủ thuyết của mình là hay, là đúng. Tôi muốn tìm cách dung hòa, đúc kết làm sao mà sau khi về nhà ai nấy cũng sẽ có một hệ thống gì để lại sau lưng chúng ta, khả dĩ tiếp tục tranh đấu đến thắng lợi. Lời nói thì hay, nhưng để như vậy ra về thì thiếu thống nhất cho đường lối đấu tranh về tương lai.

Tôi khẩn khoản xin Quý Cụ là bậc tiền bối nên thảo ngay một kế hoạch hay hệ thống nào để làm việc cho hiệu quả về sau.

Anh Quốc bảo ngay: “Thì chú nói ngay ý kiến chú ra”. Tôi tiếp lời: “Cũng như anh đã trả lời cho cụ Phan mấy hôm trước đây, tôi muốn nghe ngóng tất cả để sau này áp dụng một chủ nghĩa thực tiễn lấy văn hóa Việt Nam làm gốc. Có thế mới hợp với tình hình dân tộc Việt Nam”. Hành động gì bây giờ là thất bại ngay mà cũng như cụ Phan Tây Hồ đã trịnh trọng cảnh cáo:

Vô bạo động, bạo động tắc tử. Vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dự hữu nhất ngôn dĩ cáo ngộ đồng bào. Viết: Bất như “Học’’. (Không bạo động, bạo động tất chết. Không cầu viện bên ngoại vì cầu viện là ngu. Chỉ có câu này xin bố cáo cùng đồng bào. Câu ấy là Học!).

Anh Quốc nói lớn: “Thưa cụ Tây Hồ, nếu cụ qua làm Toàn quyền Đông Dương, thay mặt thực dân thì cũng nói thế thôi. Bó tay mà chịu lầm than được sao? Không được!”.

Tôi sợ anh Quốc đi quá trớn, đứng lên thưa ôn hòa: “Tôi xin anh suy nghĩ về lời khuyên của cụ Phan. Nếu chúng ta khôn khéo thì bất chiến tự nhiên thành”.

Anh Quốc cau mày: “Lại thêm chú này nữa kìa…”. Nhưng tôi lại được dịp kịch liệt bác bỏ và bênh vực chủ thuyết của cụ Tây Hồ: “Tôi có được đọc và rất chú ý đến mấy lời kết luận của một bài diễn văn của Tổng trưởng Thuộc địa Albert Sarraut vừa đọc tại Trường Cao học Thuộc địa như thế này:

Chúng ta nên thành thực khai hóa thuộc địa mênh mông của chúng ta khắp năm châu. Biết đâu một ngày nào đó chẳng xa, sau khi được khai hóa và tiến bộ đến mức, các dân tộc này sẽ trỗi dậy, dũng mãnh như làn sóng thôi hậu (vagues de ressac: sic) và sẽ là sức mạnh vô biên cho toàn thể Liên Hiệp Pháp với dân số trăm triệu”. Xin anh Quốc hiểu cho, đó là thâm ý của tôi khi nói mấy chữ bất chiến tự nhiên thành. Nhưng chúng ta phải nghe lời tiền bối như cụ Phan Tây Hồ. Hãy bắt đầu Học và hăng hái Học.

Anh Quốc không chịu và nói: “Chớ nghe bọn ru ngủ chúng ta mà bỏ lỡ công cuộc tranh đấu cho Tổ quốc, ngồi chờ làn sóng thôi hậu thì ngớ ngẩn quá, chớ nghe chúng phỉnh nịnh”.

Tôi không chịu nhượng bộ mà vội vã tiếp: “Xin anh Quốc quay lại lịch sử nhân loại mà suy ngẫm câu nói chí lý của nhà văn hào La Mã Horace gần hai nghìn năm nay như thế này:

Hy Lạp bại trận dưới gót giày xâm lăng của La Mã bị văn hóa La Mã tràn ngập. Nhưng Hy Lạp đã khôn khéo tiêu hóa nền văn minh kia để bồi dưỡng văn hóa truyền thống của mình, mà rồi nhờ đó chiến thắng lại kẻ đã đánh bại mình trước kia và đem văn hóa phối hợp của mình đi chinh phục và khai hóa lại La Mã. Xin anh Quốc nên suy ngẫm rằng, bánh xe lịch sử sẽ tiếp tục lăn và đến ngày dân tộc Việt Nam ùa theo làn sóng thôi hậu mà vùng dậy thì cũng chẳng có sức mạnh nào mà ngăn nổi.

Tôi đặt nhiều hy vọng vào tương lai dân tộc Việt Nam vì sức mạnh vô biên của văn hóa Việt Nam có những bí quyết tồn chủng mà dân tộc khác không nghĩ đến.

Cử tọa nghe tôi biện bạch là cứ ôn hòa chờ đợi thời cơ thuận tiện để tranh đấu.

Thấy anh Quốc không chịu phục, tôi nói thêm, lịch sử Trung Hoa Hán Sở tranh hùng mà nhấn mạnh rằng: Cái thắng lợi cuối cùng không thuộc về kẻ mạnh mà kẻ yếu biết khôn khéo dùng thế và cơ để thắng cuộc! Lúc ấy ai mạnh cho bằng Hạng Võ, ai yếu cho bằng Lưu Bang? Nhưng Lưu Bang rút lui về Hán Quốc là nơi khỉ ho có gáy để tìm kỳ được cho cái thế rồi sau khi ngồi trên thế sẽ dùng đến cơ mà đánh bẹp Hạng Võ phải tự ải ở Ô Giang! Làm chính trị phải suy luận chín chắn bài học của lịch sử và tôi khẩn khoản xin anh nghe lời cụ Phan Tây Hồ.

Tôi ngỏ lời cùng ông Đức, cảm kích các vị đã đến dự bữa tiệc.

Trước khi chia tay, tôi còn thưa cùng quý khách đôi lời: Bất cứ chánh sách gì cho Tổ quốc Việt Nam ngày mai mà không dựa Di but cua Pham Quynhvào nền tảng văn hóa và văn hiến ngàn xưa của dân tộc sẽ bị thảm bại. Vì dân ta đã thâm căn cố đế tiêm nhiễm sâu sắc với những tập quán cha truyền, con nối bằng một tinh thần cố hữu đã được đơm hoa kết quả tốt đẹp qua bao cuộc thăng trầm.

Phần đông các vị hôm ấy đều có xe. Nhiều người đổ xô ra mời cụ Phan và anh Quốc lên xe để họ đưa về. Nhưng anh Quốc rỉ tai cùng tôi bảo: “Chú đưa mình về, vì mình không muốn ai biết cái nghèo của mình”.

Cuộc gặp với nhà văn Sơn Tùng khiến tôi có thêm một tư liệu nữa. Nhà văn đã kể cho tôi nghe những lần nhà văn, trước và sau năm 1975 có gặp cụ Đào Nhật Vinh và Bùi Dị. Cụ Đào Nhật Vinh và Bùi Dị (sau này còn có tên là Bùi Lâm. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Bùi Lâm được Bác cho vào làm việc trong Bắc Bộ phủ và sau này từng giữ chức Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao). Cụ Đào Nhật Vinh và Bùi Lâm đã từng gặp Bác Hồ hồi Nguyễn Tất Thành còn làm trên các chuyến tàu biển đi đến châu Mỹ và được Nguyễn Tất Thành dạy chữ quốc ngữ. Sau này Đào Nhật Vinh và Bùi Lâm ở Pháp thường hay đến nhà số 6 Villa des Gobelins gặp Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc.

Ông Bùi Lâm kể lại lần đó, ông Chu Đình Xương và ông Lê Giản (hai yếu nhân của nha Công an Bắc Bộ) đưa bản án đề nghị xử lý Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh thì Cụ Hồ đã bác! Ông Bùi Lâm ỷ thế là chỗ thân tình chạy vào phản đối: Anh nhân đạo kiểu gì vậy? Sao anh lại tha những tên có nợ máu với nhân dân? Cụ Hồ liền nghiêm sắc mặt: Đây là văn phòng Chủ tịch nước chớ không phải là sàn tàu đâu mà chú sồn sồn như vậy? Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới… Tôi quyết định như vậy là đúng.

Khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và hốt hoảng báo cái tin “Phạm Quỳnh bị xử mất rồi…” thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu… Sau khi biết được nguyên nhân ngớ ngẩn dẫn đến cái chết của Phạm Quỳnh (sẽ đề cập dưới đây) thì Cụ nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?… Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… Đó không phải là người xấu!”.

Cái chết của Phạm Quỳnh

Có không ít tư liệu lẫn sự đồn thổi về cái chết của nhà văn hóa Phạm Quỳnh rằng, ông bị cách mạng xử án tử hình (!?). Có hẳn cả một phiên tòa! Ngay cuốn Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX, mục về Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng có một dòng: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính quyền nhân dân khép án tử hình!”

…Tôi may mắn có vài chuyến đi công tác với nhà sử học Văn Tạo. Ở tuổi bát tuần mà nhà sử học cao niên nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam vẫn liên miên những chuyến đi điền dã khắp đất nước, tìm tòi, thu thập tư liệu để phục vụ cho công tác nghiên cứu của mình. Tình cờ, tôi được biết giáo sư cùng quê với nhà văn hóa Phạm Quỳnh. Một lần, tôi đã hỏi giáo sư về cái chết của Phạm Quỳnh. Giáo sư đã kể lại câu chuyện dưới đây:

…Cách đây gần 10 năm, khi còn là huyện Cẩm Bình (Cẩm Giàng, Bình Giang họp lại) tôi được huyện ủy mời về thăm và làm việc trong một tuần lễ. Sau khi đi thực tế về, huyện ủy có hỏi tôi: “Nay trong các xã của huyện đang quy hoạch lại cơ sở hạ tầng để nâng cao kinh tế, phát triển văn hóa, vậy đối với Lương Đường các di tích họ Phạm, nhất là gia đình họ Phạm Quỳnh nên như thế nào?’’.

Tôi nói sử học chúng tôi trọng công minh lịch sử, vốn là thuộc tính của ngành khoa học, vì có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội. Xét về nhà trí thức Phạm Quỳnh ở tỉnh ta thì mọi lịch sử vẫn nên bảo tồn. Thực tế ông ra làm quan trong thời bĩ thì dẫu chúng ta không mê tín vào phong thủy “Mộ Trạch quan thiên hạ an. Lương Đường sĩ, thiên hạ bi” thì cũng khách quan thấy được rằng, sinh thời của ông là lúc phong kiến đi xuống đất nước bị thực dân nô dịch khiến chính vua Bảo Đại, người dùng Phạm Quỳnh làm Ngự tiền văn phòng cũng than rằng, mình cũng chỉ là ông vua bù nhìn. Khi thoái vị còn nói: “Làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Phạm Quỳnh với danh nghĩa là văn phòng thì làm sao tránh khỏi phải thực thi mệnh lệnh của triều đình. Còn xét về hành động thì Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đầy các nhà yêu nước và cộng sản như Vi Văn Định chẳng hạn.

Phạm Quỳnh đã ra làm chủ bút báo Nam Phong do trùm mật thám Đông Dương (inspecteur des affaires politiques de l’Indochine) Louis Marty chủ trì. Với chức danh đó, ông Nhac si Pham Tuyen thoi gian tiep quan thu docó thể có vài sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc. Nhưng mặt khác, ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận. Về đóng góp của Phạm Quỳnh thì đến nay không ít nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam đã ghi lại lời Phạm Quỳnh nhân kỷ niệm Nguyễn Du (Nam Phong năm 1919): “Truyện Kiều còn! Tiếng ta còn! Tiếng ta còn, nước ta còn!”. Coi đó là lời nói có ý nghĩa tích cực đáng ghi nhận!

Gần đây vẫn có người cho rằng, vì ông phản động nên Việt Minh đã thủ tiêu ông? Với những tài liệu mà tôi có được thì thấy thực không hẳn là thế! Năm 1945 khi Bảo Đại vừa thoái vị, trao ấn kiếm cho chính phủ lâm thời thì có tin Pháp thả dù biệt kích và gián điệp xuống vùng ngoại vi thành phố Huế mang theo chỉ thị của Chính phủ Đờ Gôn là phải tiếp xúc cho kỳ được Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh?! Lúc đó Bảo Đại đã được đưa ra Thanh Hóa còn Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh vẫn ở Huế nên có lệnh cấp tốc di dời hai vị này ra khỏi cố đô, đề phòng những chuyện bất trắc không hay sau này.

Chuyến di dời này có 4 người là Ngô Đình Khôi, anh ruột Ngô Đình Diệm. Phạm Quỳnh và con trai Ngô Đình Khôi cùng Nguyễn Tiến Lãng, con rể Phạm Quỳnh. Nhưng phương tiện lúc ấy dời đi chỉ có một cái xe ọc ạch chỉ đưa được 3 người là Phạm Quỳnh và cha con Ngô Đình Khôi cùng nhóm du kích áp tải. Nguyễn Tiến Lãng phải ở lại đi bằng phương tiện khác. Chẳng may nhóm du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì nghe tiếng tàu bay Pháp ầm ì ở trên đầu, tưởng đâu như tiếng máy bay thả biệt kích nên các bố du kích nhà ta hoảng quá, thần hồn nát thần tính, sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời nên đã tự động thủ tiêu cả 3 người mà không chờ chỉ thị của cấp trên!

(Cũng có một chi tiết nữa, cần phải được kiểm chứng kỹ, có người cho rằng, trong số người đi áp tải chuyến di dời đó có thân nhân gia đình Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán?!).

Sự việc diễn ra như vậy thuộc về cái ngẫu nhiên lịch sử, tuy có phản ánh cái tất yếu nhưng cái tất yếu chưa nhận thức được đầy đủ. Nó cũng đã để lại những dấu ấn tiêu cực trong các mối quan hệ nhân quả, không lường trước được. Cụ thể, trong cuộc gặp gỡ với đồng chí Vũ Ngọc Nhạ (một anh hùng tình báo của ta vừa qua đời) tại cuộc hội thảo khoa học do Viện Bảo tàng chứng tích chiến tranh vào cuối năm 2001, tôi đã được nghe Vũ Ngọc Nhạ cho biết: “Có lần Ngô Đình Diệm đã bộc lộ lòng kính trọng Cụ Hồ nhưng lại nói, tôi không thể đi với Việt Minh được, vì nếu vậy thì tôi biết ăn nói gì với gia đình tôi về việc Việt Minh đã giết anh ruột tôi?”.

Thế đấy, một sự kiện lịch sử nếu được làm sáng tỏ cũng có thể có ích cho mối quan hệ giữa những người có liên quan, nhất là những nhân vật có trọng trách với quốc gia.

Cũng như vậy, sự kiện về Phạm Quỳnh qua đời nay vẫn còn chưa được làm rõ. Ngày 4-10-2002, nhân gặp đồng chí Cù Huy Cận, một trong ba người tước ấn tín của Bảo Đại sau Cách mạng Tháng Tám ở cuộc nghiệm thu một công trình khoa học tại Hạ Long, tôi hỏi về cái chết của Phạm Quỳnh thì đồng chí Cù Huy Cận nói: “Chính tôi đã được Bác Hồ giao cho việc đi đón bà Phạm Quỳnh và con gái xin vào gặp Bác Hồ để minh oan. Vừa tới nơi, Bác đã ân cần hỏi thăm sức khỏe và nói ngay với bà Phạm Quỳnh: “Bà ơi! Đã lỡ mất rồi…”. Bác còn dặn dò là bà Phạm cố gắng dạy dỗ con cháu, tích cực làm việc cho dân cho nước”. Các con cháu bà cho đến nay đã thực hiện được lời khuyên của Bác như các ông Phạm Khuê, Phạm Tuyên…

Một tư liệu nữa.

Năm 1945 Bác gặp đồng chí Chu Đình Xương, Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ để chỉ thị về việc thả Ngô Đình Diệm. Bác còn nói thêm, nếu cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) còn thì nay chúng ta cũng mời cụ ra giúp nước! Không rõ tư liệu chính xác tới mức nào nhưng qua mấy sự kiện trên, ta có thể thấy cái ngẫu nhiên lịch sử nên vẫn cần được làm sáng tỏ.

Kết thúc cuộc trao đổi, Giáo sư Văn Tạo nói thêm, đối với quê hương Hải Dương chúng tôi, nên làm rõ được sự kiện lịch sử này thì cũng có lợi cho việc thực hiện tính công minh lịch sử, nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội đúng với mục tiêu Đảng đề ra, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.

Tôi chợt nhớ cái thở dài của nhà văn Sơn Tùng rằng, cái lầm lỗi tai hại của tốp tự vệ nông nổi trong những ngày mùa thu tháng Tám ấy đã vô tình làm mất đi một nhà văn hóa lớn. Ta nhớ lại Cách mạng Pháp năm 1789 đã vô tình làm mất nhà bác học danh tiếng Lavoisier của nước Pháp. Nhưng công bằng mà nói rằng, nước Pháp mất một Lavoisier còn có nhiều nhà bác học khác nối công trình nghiên cứu của Lavoisier, còn nước Việt Nam mất đi ông chủ bút Nam Phong, một nhà báo, nhà văn kiêm học giả, một nhà văn hóa lớn mà thời gian nửa thế kỷ chưa lấp đầy khoảng trống trên diễn đàn ngôn luận và văn học!

(Xem tiếp kỳ sau)

X.B

 

Vài suy tư về Ngày 30 tháng Tư

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:20 sáng

Blog Pham Ton năm thứ  năm, tuần thứ 2 tháng 5 năm 2013.

 

Vài suy tư về Ngày 30 tháng Tư…

(Bài đăng trên trang 8 báo Nhân Dân ngày 30/4/2013)

Trần Chung Ngọc

 Nhân kỷ niệm 30-4 – Ngày thống nhất đất nước, GS Trần Chung Ngọc đã công bố một bài viết trên sachhiem.net trình bày suy nghĩ của ông về cuộc chiến kết thúc cách đây 38 năm, về một số người còn chưa chấp nhận thất bại, về sự đồng tâm của dân tộc trong sự nghiệp mới của đất nước… Báo Nhân Dân xin trích đăng một phần của bài viết để bạn đọc hiểu rõ hơn về suy nghĩ của những người con nước Việt, dù ở xa, vẫn hướng về Tổ quốc.

 ”…Sau khi Mỹ tháo chạy và miền nam sụp đổ, nước nhà thống nhất, nam bắc đã thành một khối, không còn sự phân biệt như trong thời chiến, thì tính cách tạm thời do Mỹ dựng lên đã không còn. Ðây là một sự kiện lịch sử bất khả phủ bác, có chấp nhận hay không thì cũng không thể thay đổi được gì. Nên biết, Hiệp định Geneva cũng như Thỏa hiệp Paris đều coi toàn thể nước Việt Nam là một, không làm gì có nước Nam30-4 Việt Nam, hay nước Việt Nam cộng hòa. Câu đầu tiên trong Thỏa hiệp Paris là “Ðiều 1. Mỹ và mọi nước khác tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, sự thống nhất, và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã được công nhận bởi Hiệp định Geneva 1954 về Việt Nam. Hiệp định Geneva không hề chia cắt đất nước làm hai miền riêng biệt bắc và nam. Vĩ tuyến 17 chỉ là một phân định tạm thời để hai bên, Pháp và Việt Minh, rút quân và người dân được tự do chọn lựa nơi mình muốn sinh sống, chờ ngày Tổng tuyển cử vào năm 1956 để thống nhất đất nước bằng giải pháp chính trị. Trong bản Tuyên ngôn đơn phương của Mỹ về Hội nghị Genève, Mỹ không bao giờ nói đến nam hay bắc mà chỉ nói đến một nước Việt Nam. Vậy thì từ đâu mà đẻ ra cái gọi là nước nam Việt Nam riêng biệt. Ðó chỉ là đứa con đẻ của Mỹ, và tàn dư của đứa con đẻ này chỉ là những nhóm người muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống cộng ở hải ngoại… Do đó những người thốt ra những từ như “quốc hận” hay “mất nước” là những người không ý thức được thế nào là “quốc”, là “nước”, “quốc” của họ chỉ có trong những cái đầu với sự hiểu biết rất hạn hẹp về hai cuộc chiến ở Việt Nam. Họ không đủ lý trí để nhận ra là mình đã dùng những cụm từ vô nghĩa, tệ hơn nữa họ còn muốn lấy cái hận, cái mất của một thiểu số để mà áp đặt lên cộng đồng những người Việt mà họ cho rằng tất cả đều phải là tị nạn cộng sản, hay cho cả nước và hy vọng mọi người phải đồng ý với mọi điều họ đưa ra, bất kể những điều đó ngu xuẩn như thế nào. Họ muốn giữ chặt mối hận của họ trong đầu và hung hăng chống đối bất cứ ai mà họ hoang tưởng cho là có mưu đồ xóa bỏ cái hận của họ, trong khi chẳng có ai quan tâm đến và phải mất công để mà xóa bỏ những cụm từ mà tự thân chúng đã vô nghĩa…

Muốn hiểu tại sao miền nam lại có một kết cục như vậy, chúng ta cần nhắc lại vài nét về các chế độ ở miền nam. Ai cũng biết là chế độ Ngô Ðình Diệm cũng như miền nam là do Mỹ dựng lên, không phải là do người dân miền nam bầu chọn hay muốn như vậy… Còn về những chế độ quân phiệt của Ðệ nhị Việt Nam Cộng hòa thì chúng ta hãy đọc vài lời thú nhận của các vị lãnh đạo cao cấp nhất ở miền nam, như Nguyễn Văn Thiệu: Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Ðộc Lập; Nguyễn Văn Ngân: Miền nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi; Nguyễn Cao Kỳ: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê; Cao Văn Viên: Chúng ta không có trách nhiệm chiến tranh (!), trách nhiệm chiến đấu là của người Mỹ. Chính sách đó do Mỹ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi. Với những lời thú nhận như trên, có thể coi miền nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, theo đúng nghĩa của một quốc gia được không?…

Có đi du lịch nhiều nơi trên thế giới mới thấy chiến thắng của Việt Nam đã được ngưỡng mộ như thế nào. David G.Marr, Giáo sư nghiên cứu về Thái Bình Dương ở Ðại học Quốc gia Úc, viết trong Phần dẫn nhập cuốn Vietnamese Tradition On Trial 1920-1945, trang 1: Năm 1938: Ít nhất là 18 triệu người Việt nằm trong vòng kiềm tỏa của chỉ có 27.000 binh lính thuộc địa. Tuy vậy mà chỉ 16 năm sau, lực lượng thuộc địa tới 450.000 quân mà không thể tránh khỏi cuộc thảm bại về chiến thuật ở Ðiện Biên Phủ và bắt buộc phải di tản chiến lược xuống miền nam vĩ tuyến 17. Sau cùng, trong những năm 1965 – 1975, nhiều tổ hợp của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa, Nam Hàn, và các lực lượng quân sự đồng minh khác, tổng số lên tới 1,2 triệu người cũng bị thảm bại, cuối cùng cũng bị đánh bại bởi Mặt trận giải phóng miền nam và Quân đội nhân dân Việt Nam…

Ngày 30-4-1975 cũng là ngày hòa bình đã đến đất nước Việt Nam, không còn chiến tranh bom đạn chết chóc phi lý và một thế hệ mới đã có thể bắt tay vào việc xây dựng đất nước. Bất kể những hô hào chống đối của một thế lực đã nổi tiếng là phi dân tộc cũng như của một số người đã sống với những “ảo tưởng” về quá khứ ở miền nam, tình người Việt Nam đã tỏ rõ trong sự kiện hàng năm có nhiều trăm ngàn người Việt về thăm quê hương… Riêng với cá nhân tôi, trước ngày 30-4-1975 mấy ngày là ngày tôi quyết định ly hương. Không được sống trên quê hương đất Tổ, nhưng ngày nay, tôi muốn về thăm quê hương khi nào cũng được. Và tôi đã thực hiện bốn chuyến về thăm quê hương trong các năm 1996, 1998, 2007 và 2010, đi từ bắc vào nam, từ nam ra bắc, và thấy Nước vẫn còn đó, Sài Gòn vẫn còn đó, chẳng có “mất” đi đâu cả… Về chiến tranh Việt Nam, chúng ta đã thua, hay là không thắng theo quan niệm của Mỹ (Mỹ quan niệm không thắng là thua), và một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống cộng ở hải ngoại, chống cộng vì những mất mát cá nhân về quyền thế, về tôn giáo, hay tài sản, hay người thân, v.v…, nói chung, với lý do chúng ta là “nạn nhân của cộng sản. Nhưng trong chúng ta, có ai đặt câu hỏi: “Thế nạn nhân của Mỹ và của phía quốc gia thì sao?”. Ai có can đảm trả lời trung thực câu hỏi này. Nên nhớ, chính quyền Ngô Ðình Diệm đã giết khoảng 300.000 người vô tội trong chính sách “tố cộng”, cộng với những thảm bom trải từ B52, vùng oanh kích tự do, Bến Tre, chiến dịch Phụng Hoàng, Agent Orange, Mỹ Lai, v.v… của Mỹ đến Việt Nam với danh nghĩa bảo vệ dân chủ, tự do, nhân quyền cho người Việt. Và sự thật là, trong cuộc chiến, số người chết, bị thương của miền bắc gấp mấy lần của miền nam. Khoan nói đến những sự tàn khốc của chiến tranh, những người chết và thân nhân gia đình họ ở phía bên kia có phải là người không, những người còn sống có đau khổ trước những sự mất mát to lớn đã đến với họ không? Hơn nữa những nạn nhân của chiến tranh do ảnh hưởng của chất độc da cam còn kéo dài cho tới ngày nay, vậy họ có quyền thù hận chúng ta không?

Vậy nếu họ cũng kéo dài thù hận như chúng ta, thì sự thù hận này bao giờ mới chấm dứt, oan oan tương báo. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia vô trí ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía cộng sản không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc, v.v… nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Những người chống cộng chỉ đưa ra những luận điệu một chiều để chứng minh chỉ có cộng sản là ác, còn “quốc gia” hay Mỹ thì không. Họ cố tình lờ đi, không bao giờ nhắc đến những hành động đối với dân, với kẻ thù, của người lính quốc gia cũng như của người lính Mỹ mà ngày nay chúng ta không thiếu tài liệu, những tài liệu nghiên cứu của chính người Mỹ và của các bậc khoa bảng. Nhưng cũng may là sự thù hận này phần lớn chỉ có một chiều, tập trung trong một thiểu số ở hải ngoại mà đa số trong đó thuộc thế lực đen, một thế lực đã nổi tiếng trong dân gian, mà lịch sử đã ghi rõ, là “mất gốc” và “hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc”, đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại… Quá khứ đã qua lâu rồi, những hiểu biết một chiều của chúng ta về cuộc chiến 30 năm ở Việt Nam đã tạo nên lòng thù hận kéo dài một cách phi lý, cần phải xóa bỏ trước những sự thật lịch sử. Việt Nam đang nhìn về và tiến tới tương lai. Tương lai quốc gia ra sao, theo thể chế nào, là do người trong nước quyết định, làm lịch sử cho đất nước của họ. Người ở ngoài nước, nếu có lòng với quốc gia, chỉ có thể góp ý xây dựng một cách chân thành, bất vụ lợi, với mục đích mong cho quốc gia tiến bộ về mọi mặt, song song với thế giới. Chúng ta chắc hẳn ai cũng muốn cho nước nhà phát triển, tiến bộ và tự do dân chủ như những nước tân tiến. Nhưng có mấy ai thực sự hiểu thế nào là dân chủ, là tự do, là nhân quyền. Những quyền này không thể tách rời khỏi trách nhiệm xã hội của người dân. Người dân phải được giáo dục kỹ về trách nhiệm xã hội trong những vấn đề như tự do, dân chủ, nhân quyền, trước khi họ có thể sử dụng những quyền này. Chưa ý thức được thế nào là trách nhiệm xã hội, thì sử dụng các quyền trên một cách vô trách nhiệm chỉ làm loạn xã hội…”.

T.C.N.

Phạm Quỳnh – Một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 5 năm 2013.

PHẠM QUỲNH – MỘT NHÂN CÁCH

VỀ LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ chín kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 14.142 lượt người truy cập.)

Nguyễn Thúc Chuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Bài này của nhà giáo hưu trí thành phố Huế Nguyễn Thúc Chuyên đã đăng trên tạp chí Huế xưa & nay, số 94 tháng 9, 2009 (các trang 63-69).

—-o0o—-

Năm tôi học bậc tiểu học trường Pháp – Việt, lúc rảnh rỗi thường lấy Nam Phong tạp chí của cha tôi mua để xem (cha tôi là nhà nho). Thấy tôi ham đọc, cha tôi bảo: “Báo này đọc có ích, con lấy mà xem, chẳng khác gì cuốn bách khoa thư”! (Tất nhiên có nhiều nội dung tôi không hiểu). Hồi đó và kể cả khi lên học bậc trung học, tôi chỉ biết Phạm Quỳnh qua báo Nam Phong, cũng như chỉ biết Đào Duy Anh qua cuốn Hán Việt từ điển. Học sinh, sinh viên ngày nay, có lẽ chỉ biết Phạm tiên sinh qua câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

Cuộc đời của cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh, theo tôi nghĩ, thời ông làm chủ bút tạp chí Nam Phong suốt trong 15 năm (hai năm sau người khác làm) là “đắc ý nhất”. Đây là nơi ông gửi gắm lòng tự hào dân tộc, sự tôn trọng, yêu mến nền văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó có nền Quốc văn… Về sau ông ra làm quan cho Nam triều. Thông cảm với Phạm tiên sinh, nhà văn Nguyễn Công Hoan xây dựng nên truyện ngắn Kép Tư Bền, phản ánh cuộc “ép duyên” của thực dân Pháp, dẫn đến sự “tiến thoái lưỡng nan” của ông chủ bút Nam Phong, cũng như Kép Tư Bền phải lên sân khấu làm trò cười cho khán giả, trong lúc ở nhà cha mình đang hấp hối… Cuộc đời làm quan của ông, từ ngự tiền văn phòng đến thượng thư bộ Học rồi bộ Lại, cả thảy hơn 12 năm. Bấy giờ tôi học trung học ở Huế, thỉnh thoảng vẫn thấy ông ngồi trên xe tay kéo sơn đen, gọng đồng, đầu đội khăn xếp, mặc áo dài thâm, đi giày, mang kính trắng, không hề thấy đeo bài ngà, với vẻ hồn nhiên như một thư sinh. Ông là người có thể rất tâm đắc với hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị:… “Thuở ra sân khấu không làm rộn/ Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi”, chăng! Do đó nhiều người cảm thấy hình như ông không chút “mặn mà” gì khi nhận các chức vụ trên. Sau cuộc đảo chính Nhật lật đổ Pháp (9/3/1945), ông về hưu, làm kẻ ẩn sĩ, trong nhà “không có gì là sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có đồ cổ đắt tiền…” (dẫn theo Nhật Hoa Khanh, Xưa và Nay, số 269, tháng 10 năm 2006).

Là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí, ông đã thu hút nhiều cộng tác viên nổi tiếng thời bấy giờ với số lượng kể đến hàng trăm người. Đó là nhờ nhân cách và học vấn của ông. Số cộng tác viên của Nam Phong tạp chí có nhiều vị vào hàng khoa bảng như: Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, phó bảng Hoàng Yến, cử nhân Bùi Kỷ… cùng với các vị đường quan tuần vũ Trần Mỹ, Tế tửu Quốc tử giám Ưng Trình, án sát Nguyễn Đình Chi, đốc học Trần Thất Phán, huấn đạo Nguyễn Kinh Chu…và các học giả, nhà văn, nhà thơ khác như: Phan khôi, Dương Quảng Hàm, Phạm Duy Tốn, nữ sử Đạm Phương, thi sĩ Tương Phố… và có các anh sinh viên Đặng Nguyên Khu (trường Cao đẳng Thương mại), Tôn Quang Phiệt (trường Cao đẳng Sư phạm Đông dương)… Nhiều cộng tác viên không chỉ viết một đôi bài mà viết hàng chục bài. Ông chủ bút Nam Phong rất tôn trọng các tác giả. Đó cũng là nét nhân cách đẹp của Thượng Chi tiên sinh. Ví dụ, khi tác giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết trong mục “Tồn cổ lục” nêu bà Nguyễn Thị Điểm diễn Nôm khúc ngâm “chinh phụ” là em gái tiến sĩ Nguyễn Trác Luân, người huyện Đông Hào, tỉnh Hải Dương…, ông chủ bút Phạm tiên sinh vẫn để nguyên xi sự lầm lẫn trên của tác giả và cho đăng tải lên báo Nam Phong tạp chí với một câu chú thích rất tế nhị: “Sách Đăng Khoa lục cho bài là người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Tang thương ngẫu lục cho bà là người Bắc Giang, bà ấy là họ Đoàn không phải họ Nguyễn, không biết lời nào nói phải?”. Với một bài báo khảo cứu ai là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc đăng trên báo Nam Phong số 24 tháng 6 năm 1919, cách đây gần 90 năm, đã khuấy động nhiều học giả, giáo sư, các nhà nghiên cứu… tốn không biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu cuộc hội thảo khoa học…mà nay vẫn còn tồn nghi. Gần đây (2007) giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tỏ ra nghi ngờ, nên đã viết một bài báo khuyên các thầy cô giáo: … “Khi giảng Chinh phụ ngâm cũng nên chọn một hai đoạn hay của Đoàn Thị Điểm, trước khi chọn các đoạn của Phan Huy Ích để học sinh thấy đúng được thực tế tiến lên của lịch sử văn học” (Văn hóa Nghệ An, số 110).

Đối với một số ít tác giả cố tình làm tổn thương tinh thần tự tôn dân tộc, thì Phạm Quỳnh tiên sinh không chút ngần ngại vạch mặt trên báo. Sự việc được thể hiện qua sự đối đáp của ông với một vị “Tây dương[1]” về một bài báo ông này dịch từ chữ Hán trên báo Nam Phong ra tiếng Pháp, rồi đưa đăng trên tờ báo Avenir du Tonkin (tức Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú) xuất bản tại Hà Nội. Dịch giả đã cố ý dịch sai. Ông đọc bài báo này thấy đụng đến lòng tự trọng và tự tôn dân tộc, ông bèn đi “thương thuyết” với Louis Marty nhờ viết một bài báo bằng tiếng Pháp, dịch lại cho ông “Tây dương” nọ thấy chỗ dịch sai, rồi đăng lên báo Nam Phong số 24 (tháng 6 năm 1919) kèm theo bài viết bằng tiếng Việt của ông chủ bút họ Phạm với tiêu đề Về mấy bài bình phẩm báo Nam Phong. Mấy câu đầu Phạm tiên sinh viết đại ý: Ngài quá khen bỉ nhân cùng bạn đồng sự là Nguyễn chủ bút (tức Nguyễn Bá Trác, phụ trách phần chữ Hán – TG)… “Chúng tôi lấy làm vinh dự và cảm ơn ngài lắm… Ngài cũng biết rằng chúng tôi một lòng yêu thương nước chúng tôi, là một nước cổ mấy ngàn năm đã từng có một cuộc lịch sử cũng lắm phen hiển hách vẻ vang. Chúng tôi yêu thương nước chúng tôi, đó cũng là cái thường tình của người ta, phàm những trí thức ai cũng có bụng ấy… Duy trong bài ngày 20 Juin (Tháng 6 – PT chú) 1919, thượng nhân có dịch một đoạn Hán văn của ông Nguyễn Bá Trác, phải câu cuối cùng dịch sai nghĩa…, có thể khiến cho người không biết xét lầm và nghi cái bụng thành thực của chúng tôi. Bởi vậy, chúng tôi có cậy quan cai trị Marty thảo mấy lời thuyết minh bằng tiếng Pháp, trước là chỉ rõ thượng nhân biết sự sai lầm đó, có thiệt hại cho danh dự của bản báo đối với chính phủ, sau là nhân thể bộc bạch cho những người Pháp hay có tính đa nghi biết cái thái độ của chúng tôi là rất phân minh, rất chính đáng vậy” (PH.Q – Nam Phong tạp chí số 24).

Năm 1922, Phạm Quỳnh tiên sinh có đi mấy tháng sang Paris (Pháp) với tư cách đại diện hội “Khai trí tiến đức” dự cuộc đấu xảo Marseille, lại được toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết ở một số trường học lớn tại Ba Lê; ông đã đăng đàn 4 lần về các đề tài: 1. Về thi ca Việt Nam; 2. Sự tiến hóa chữ quốc ngữ; 3. Sự tiến hóa của dân An Nam; 4.Tình trạng giáo dục ở An Nam. Một năm sau (1923) những bài diễn thuyết trên được tập hợp in thành sách, xuất bản tại Pháp với tiêu đề: À propos des Quelques conférences à Paris de Monsieur Pham Quynh (dịch: Lời bình phẩm về sách: “Mấy bài diễn thuyết ở Paris của Phạm Quỳnh) Sách xuất bản ở Pháp, thì mấy tháng sau đã thấy xuất hiện ở Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia). Một trí thức người Pháp, có bút danh là Sérénus đọc khen hay và rất tán thưởng, bèn viết một bài bình phẩm bằng tiếng Pháp đăng trên báo France – Indochine, một tờ báo có uy tín ở Bắc kỳ thời bấy giờ. Phạm Quỳnh tiên sinh đã xem bài báo này; có người đề nghị ông dịch ra Quốc ngữ để đăng tải ở Nam Phong tạp chí. Ông đã từ chối. Về sau, bạn bè ông là trí thức Tây học cũng đã đọc bài báo này, liền đến gặp ông khen và phân tích giải bày với ông, dần dà ông bị “lung lay”, từ thái độ từ chối, dẫn đến sự do dự, ngập ngừng… cuối cùng ông đã suy nghĩ rằng: “Lời khen của vị quan ấy không phải là khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công chúng cùng lãm” (ghi theo lời chú thích – Nam Phong tạp chí số 75 tháng 9 năm 1923).

Thượng Chi Phạm Quỳnh sinh ra trong một gia đình nhà Nho có nền nếp (cụ thân sinh mất sớm). Với kiến thức uyên bác Đông Tây kim cổ, ông đã thấm nhuần lời dạy của thánh nhân: “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (lời nói viết ra, bốn ngựa đuổi không kịp). Khi làm chủ bút Nam Phong, ngoài một số bài báo do Pháp điều khiển (vì Pháp tài trợ hằng tháng) còn lại phần lớn những bài ông cho đăng trên báo, về mặt khách quan nói chung, đều là những điều bổ ích cho người đọc. Một vị thượng thư trí sự ở Huế (Vĩ Dạ) đã nói với cha tôi rằng: “Ông ấy trẻ nhưng suy nghĩ và tài năng hơn chúng ta”. Với sự giao lưu nền văn hóa Pháp, Phạm tiên sinh được tiếp xúc văn học Pháp từ nhỏ. Tôi chắc rằng ông đã đọc sách Pháp khá nhiều, trong đó có các tác phẩm của nhà văn Alphonse Daudet (1840-1897). Trong một tác phẩm của nhà văn này có truyện ngắn Buổi học cuối cùng (La dernière classe), A. Daudet viết: (dịch) “Khi một nước đã bị hãm vòng nô lệ, mà còn giữ được quốc văn cho hoàn toàn, thì cũng hình như là giữ được cái chìa khóa để mở cửa ngục giam mình vậy” (nguyên văn: … “Quand un peuple tombe esclave, tant qu’il tient bien sa langue, c’est comme s’il tenait la clef de sa prison”Contes du Lundi, page 12. (Những mẩu chuyện ngày thứ hai, trang 12 – PT chú). Theo chú thích của A.Daudet thì ý tưởng này là của Fréderic Mistral[2]). Cùng với ý tưởng trên, ngoài câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn…” của Phạm tiên sinh, thì trong tạp chí Nam Phong số 101 tháng 12 năm 1925, ông còn có viết câu: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn; tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa”. Ngày nay khi khảo cứu về nội dung báo Nam Phong, trừ các mặt tiêu cực do Pháp lợi dụng, nhìn chung, Phạm tiên sinh đã có vai trò góp phần phát triển kho từ vựng chữ quốc ngữ và tiếng nói của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XX. Với sự điều hành của ông chủ bút họ Phạm, kiêm phụ trách phần tiếng Việt, kết quả khách quan đưa lại là chữ quốc ngữ được sử dụng như một phương tiện để biểu đạt các loại vấn đề mà trước đó hàng chục thế kỷ chữ Hán giữ vai trò độc tôn nhưng lại khó hiểu đối với quần chúng.

Ngày 31 tháng 5 năm 1922 (thứ tư), trong bài diễn thuyết về đề tài: “Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt bảo hộ Pháp” tại Trường Thuộc địa (bộ Thuộc đại Pháp) có 300 người dự, Phạm tiên sinh mặc quốc phục khăn đen áo dài làm lễ phục, đã chững chạc và hùng hồn diễn thuyết bằng tiếng Pháp rất trôi chảy, rằng: “Người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi là một quyển sách dày, đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho phù hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ… Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không có quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn, không có tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc đia cũ của Pháp…”[3]

Cũng trên Nam Phong tạp chí, số 107 tháng 7 năm 1926, Phạm tiên sinh viết bài báo với nhan đề Văn hóa và Chính trị, một bài luận thuyết hay, trả lời tác giả Trần Văn Tăng ề bài báo Quá khứ và hiện tại đăng ở báo Nam Phong số 106 (tháng 6-1926). Sau một hồi phân tích mục đích bài báo của tác giả họ Trần là muốn giúp cho công việc “Vãn hồi quốc vận, phù cứu quốc nguy”. Mục đích chánh đáng vô cùng. Phàm kẻ làm văn, kẻ tư tưởng ở nước ta ngày nay, không thể có mục đích khác được… “Tôi cũng xin vì mục đích ấy mà thể cái lòng nhiệt thành của tác giả, muốn xét lại cái vấn đề trên kia về một phương diện thiết thực với thời thế hiện nay là: Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn?… Hai câu đó mới xét tựa hồ như rời nhau, một câu thuộc về hiện tại, một câu thuộc về tương lai; có giải quyết được câu thứ nhất thời mới giải quyết được câu thứ nhì; nhưng xét kỹ hai câu cũng là một, câu trên thuộc về chính trị, câu dưới thuộc về văn hóa, mà chính trị rút lại cũng gồm ở trong phạm vi văn hóa… Sau đây xin bàn rõ về hai phương diện chính trị và văn hóa và chứng giải rằng trong hai phương diện ấy, phương diện văn hóa thật là quan hệ và bao quát hơn, dẫu có lúc tùy từng thời thế, tùy cơ hội, phải chuyên chủ về phương diện chính trị cũng không thể nhãng bỏ phương diện văn hóa, một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thì ngọn mới tốt được… Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị, điều đó cũng hiển nhiên ai cũng biết… Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: Một cách bạo động, một cách ôn hòa…”

Cụ Phạm Quỳnh là một con người say mê trong sự nghiệp “văn chương chữ nghĩa”. Chỉ một tờ bìa của Nam Phong tạp chí mà đã làm tôi ngạc nhiên và mến phục tài ứng xử, đối đáp khéo léo để thắng đoạt mọi sự phản đối của ông quan cai trị Louis Marty. Đó là việc ông chủ bút họ Phạm đã thay đổi biểu trưng (logo) trên bìa 1 của tờ báo. Mấy năm đầu thì logo in hình “con gà trống Gôloa” (Gaulois)[4] đứng toàn thân trong hình vành khăn với 3 từ tiếng Pháp dàn đều quanh vòng: Liberté (Tự do) Égalité (Bình đẳng) Fraternité (Bác ái), đến năm 1920 thì hủy bỏ logo này, thay vào biểu trưng hình bầu dục với hai đường viền xung quanh, ở giữa in hai từ tiếng việt: “Nam Phong” lồng vào nhau. Từ năm 1926 về sau thì logo lại là một con dấu hình chữ nhật có 3 đường viền đậm nhạt khác nhau, in hai chữ Hán “Nam Phong” kiểu chữ triện. Sự thay đổi của ông chủ bút Nam Phong thể hiện rất rõ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc. Năm 1931, nhân dịp Tổng trưởng Thuộc địa Pháp Paul Reynaud qua Đông Dương kinh lý, Phạm tiên sinh đã gửi bức thư ngỏ yêu cầu Chính phủ Pháp “hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ; vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Phải chăng các ý tưởng trên đây là sản phẩm của nhân cách Phạm Quỳnh, ông phát biểu và viết ra đem in trên tờ Nam Phong tạp chí để đến với công chúng bạn đọc.

Thay lời kết:

Gần đây, trong một buổi giới thiệu sách dịch: Phạm Quỳnh, những tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, có đông người đến dự, trong đó có nhiều giáo sư, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các dịch giả, các nhà khoa học…, giáo sư Nguyễn Đình Chú có nói một câu tự đáy lòng rằng: “Phạm Quỳnh đối với riêng tôi là một cuộc sửa sai chính mình, một cuộc nhận thức lại những định kiến…Tôi cảm thấy xấu hổ”. Còn ông Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, nơi phối hợp xuất bản cuốn sách, đã nói: “Tôi quan niệm người trí thức đích thực là người truyền bá được những giá trị khoa học, văn hóa, người có ý thức trách nhiệm với dân tộc… đóng vai trò trung tâm hướng dẫn dư luận xã hội, Phạm Quỳnh chính là người trí thức như thế” (Văn hóa Nghệ An, số 116).

Huế, tháng 8 năm 2009.

N.T.C.

Tài liệu tham khảo:

-          Phạm Quỳnh. Pháp du hành trình nhật ký, Nxb Hội Nhà Văn và Công ty Văn hóa Phương Nam.

-          Nam Phong tạp chí các số: 13, 24, 46, 75, 101, 106, 107, 159…

-          Nguyễn Hoàng Diệu Thúy. Phạm Quỳnh, một nhận thức lại (Văn hóa Nghệ An số 116 tháng 1 năm 2008)

-          Vĩnh Ba. Nhà văn hóa Phạm Quỳnh (Huế Xưa và Nay số 82).


[1] Bút danh: Tây Dương

[2] F. Mistral (1830-1914): “S’il tient sa langue, il tient la clef qui, de ses chaines, le délivre” (tạm dịch: Nếu ai giữ được tiếng nói, tức là nắm được chìa khóa để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ). F.Mistral nhận giải thưởng Nobel năm 1904.

[3] Trong sách Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (ESSAIS 1922-1932) do nhà xuất bản Tri thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, xuất bản năm 2007, ta thấy ông lại nhấn mạnh ý này trong bài diễn văn đọc trước Viện Hàn lâm Pháp ngày 22/7/1922, nhan đề là Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi (PT chú)

[4]Con gà trống Gôloa”: Biểu trưng cho xứ Gaule thời cổ đại về nhà nước của người Gaulois; có thời biểu trưng này được trang trí trên ngọn cờ cách mạng Pháp, sau bị xóa đi thời Đế chế, sau lại xuất hiện (1830) rồi lại bị xóa bởi Napoléon III. Lịch sử Pháp có câu: “Tổ tiên ta là người Gôloa” (Nos ancêtres sont les Gaulois). Thực dân Pháp đã đưa câu này dạy cho học sinh Việt Nam trong các trường Pháp – Việt từ bậc tiểu học.

Chuyện kể của một chiến sĩ xe tăng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 5 năm 2013.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

CHUYỆN KỂ CỦA MỘT CHIẾN SĨ XE TĂNG

Dã Thảo

Dã Thảo tôi có một ông em kết nghĩa trẻ hơn mười tuổi. Chú vốn con nhà nông dân Phú Thọ, được tuyển đi học lái cần cẩu to ở nước ngoài, di chuyển bằng xích sắt như xe tăng. Từ đấy, chú ôm mộng làm lính xe tăng. Nhưng, học xong, chú được tuyển về cảng Hà Nội, tất nhiên là để … lái cần cẩu to.

Đang hồi giặc Mỹ leo thang chiến tranh, chú tình nguyện xin nhập ngũ. Được chấp nhận, tưởng là sắp bắt đầu cuộc đời lính xe tăng rồi, nhưng ai ngờ, chỉ vì cao, to lại đẹp trai, chú bị… chuyển về đơn vị chuyên phục vụ lễ nghi đón đưa khách quốc tế và các ngày lễ trọng, ăn trắng, mặc trơn, chuyên sống ở Hà Nội. Thời chiến, nhiều người mong mà chẳng được, nhưng chú thì cuộc họp nào cũng xin “nhận khuyết điểm là không yên tâm công tác”, chỉ có một nguyện vọng là được ra mặt trận làm chiến sĩ xe tăng, trực tiếp giết giặc. Cứ thế mãi rồi đơn vị lễ nghi cũng đành chiều. Và chú thành chiến sĩ xe tăng ngay đợt tuyển đầu. Rồi ra trận. Xe tăng của chú là chiếc thứ hai tiến vào dinh Độc Lập lúc hơn 11 giờ trưa ngày 30-4-1975. Hết chiến tranh, chú về quê, cống hiến trọn đời cho các việc ích nước lợi dân, không kể lớn nhỏ, với cấp hàm đại tá.

Tết năm nào tôi cũng viết thiếp chúc Tết gia đình chú. Nhưng chú thì không bao giờ viết. Thay vào đó, là một cuộc gọi điện thoại đường dài Phú Thọ – Sài Gòn, nói thật là lâu. Lá thiếp không thể chứa nổi tình cảm của chú với anh em cũ… Tết Tân Mão 2011, theo lệ cũ, tôi gởi thiếp. Sáng mồng một thì về bên ngoại, họp mặt gia đình, ăn uống đến hơn hai giờ trưa mới về. Vừa mở cửa, đã nghe có tiếng chuông điện thoại. Chú ấy gọi. Và cho biết đây là lần gọi thứ bốn từ sáng đến giờ. Sau lúc hàn huyên thăm hỏi gia đình, chú nói là có chuyện rất vui chỉ chờ dịp này kể cho tôi nghe. Chuyện chú kể đai khái thế này…

Trước Tết, đi ăn cưới, chú ngồi cùng bàn với nhiều vị chức sắc và lão thành cách mạng, có lẫn vài thanh niên nay làm lãnh đạo địa phương. Đến lúc gần tàn tiệc, uống trà nói chuyện tào lao thì chú bỗng nổi hứng, lên tiếng hỏi “Các vị có biết ông Phạm Quỳnh là ai không?” Cả bàn già trẻ dè dặt nhìn ông đại tá một lát rồi mới có một vị lên tiếng: “Phạm Quỳnh thì ai chẳng biết…”. Lại hỏi “Thế ông ấy là người thế nào?…” Đáp ngay: “Phạm Quỳnh là tay sai thực dân Pháp”. Lại hỏi: “Còn gì nữa?”. Lại đáp ngay: “Phạm Quỳnh bán nước…” nhưng có hơi do dự .

Lúc ấy vị đại tá mới nói: “Thế ông có biết Phạm Quỳnh là thủ khoa đầu tiên của Trường Bưởi năm 15 tuổi, rồi đi làm ngay ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên nghiên cứu về văn hóa văn học cổ nước nhà. 24 tuổi là chủ bút tạp chí Nam Phong lớn nhất nước ta. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa, tranh thủ gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… bàn việc nước. Chính Nguyễn Ái Quốc đã “đích thân” chỉ đạo bạn cũ từ hồi đi tàu thủy làm một “bữa cơm Bắc thết khách Bắc” là Phạm Quỳnh. Chính vì thân thiết và hiểu nhau như thế cho nên năm 1945, Hồ Chủ tịch làm việc ở Bắc Bộ Phủ đã nói với Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Hữu Nam “vô Huế gặp cụ Phạm, trao thư tôi mời cụ”. Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, chính Cụ Hồ đã nói “Bất tất nhiên” (không nhất thiết phải làm như thế). Còn khi nghe Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thừa Thiên – Huế báo là: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi” thì Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Và đến năm 1946, trước phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp), Bác đã nói: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì …” Ông Phạm Văn Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…”.

Cả bàn tiệc ngơ ngác, nhất là vị cán bộ nọ. Vị đại tá nói tiếp:

-    Người ta như thế, mà ông chỉ biết có hai câu tay sai với bán nước thôi sao… Vậy xin hỏi ông một câu cuối: “Ông có thuộc bài Như có Bác trong ngày đại thắng không?” Vị cán bộ đỏ mặt: “Ông say rồi mới hỏi tôi như thế, cả nước ai cũng thuộc, đến đứa trẻ con cũng thuộc, ai mà mỗi năm chẳng hát chục lần”.

-    Vậy ông có biết tác giả Phạm Tuyên chính là con trai cụ Phạm Quỳnh không?

-    Ủa, thật vậy sao?… Điều này thì tôi cũng không biết…

-    Vậy thì hôm nào rỗi rãi, ông lại tôi chơi, ta nói chuyện, xem sách cho vui. Sách của ông ấy thì nhiều lắm. Ngay ở nước ta, từ năm 2001 đến nay đã in rất nhiều, có quyển như Thượng Chi văn tập dày hơn một nghìn trang, trong ba tập sách Du ký Việt Nam mấy nghìn trang, tính ra ông ấy có hơn một quyển, chẳng thế mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi ông là “người khổng lồ”. Hồi sang Pháp năm 1922, ông đã tự tìm cách lên được diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp để bênh vực dân mình và được cả viện vỗ tay, là điều chưa từng xảy ra ở đấy… Rỗi đến tôi chơi nhé, chứ biết ít như ông mà cứ nói nhiều thì e người ta cười cho đấy!

Đại loại chuyện vui mà ông em kết nghĩa người Phú Thọ muốn làm quà cho tôi ngày mồng một Tết Tân Mão là như vậy. Thật quả là tôi được “lì xì” quá mức dám mơ tưởng.

D. T.

Tháng Tư 26, 2013

Giỗ tổ Hùng Vương trang trọng và thành kính

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 5 năm 2013.

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG TRANG TRỌNG VÀ THÀNH KÍNH

(Tin đăng trên trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/4/2013)

Ngày 19-4 (mồng 10-3 âm lịch), cùng với tỉnh Phú Thọ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân tại các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tổ chức trọng thể, thành kính Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng.

 Tại thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy, Hội Ðồng Nhân Dân, Uỷ Ban Nhân Dân, Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc thành phố Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng VươngNguyen Tan Dung_Den Hung tại Khu tưởng niệm các Vua Hùng thuộc Công viên Lịch sử Văn hóa dân tộc, quận 9. Tham dự buổi lễ, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; các đồng chí Ủy viên Trung Ương Ðảng: Ðặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Lê Hoàng Quân, Chủ tịch UBND thành phố, cùng đại diện các cấp, các ngành và đông đảo đồng bào, chiến sĩ.

Phát biểu khai mạc buổi lễ, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc thành phố Hồ Chí Minh Võ Thị Dung đã ôn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đầy oai hùng, vẻ vang của dân tộc. Trong chặng đường lịch sử đó, cha ông ta đã luôn luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, chấp nhận đương đầu và vượt qua gian lao, thử thách để lao động, sáng tạo, xây dựng đất nước, đồng thời dũng cảm đấu tranh, ngoan cường chống lại mọi kẻ thù xâm lược, giữ gìn và bảo vệ giang sơn. Ngày Giỗ Quốc Tổ là dịp để đồng bào, nhân dân cả nước khắc sâu thêm sự nghiệp to lớn và truyền thống tốt đẹp quý báu của tổ tiên, của thời đại các Vua Hùng đã có công dựng nước.

* Sáng19-4, tại Ðiện Kính Thiên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, thuộc Khu di tích lịch sử đặc biệt quốc gia Ðền Hùng, tỉnh Phú Thọ Doan hanh leđã tổ chức trọng thể Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng. Tham dự buổi lễ, có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ; Ðại tướng Trần Ðại Quang, Bộ trưởng Công an; đồng chí Huỳnh Ðảm, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố; lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân và Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh Phú Thọ cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân trên mọi miền Tổ quốc, kiều bào và du khách quốc tế.

Ngay từ sáng sớm, trên các ngả đường vào Ðền Hùng đã chật kín người hành hương về viếng mộ Tổ, thành kính dâng hương tưởng nhớ các Vua Hùng. Ðúng 7 giờ sáng, đoàn hành lễ từ sân trung tâm Lễ hội lên Ðền Thượng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh uy nghiêm, ngút ngàn linh khí. Ði đầu đoàn hành lễ là các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam rước Quốc kỳ, cờ hội và vòng hoa mang dòng chữ “Ðời đời nhớ ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước”. Theo sau là 14 thiếu nữ mang hương, hoa, lễ vật và 100 con Lạc, cháu Hồng cầm cờ hội. Lễ vật được rước lên Ðền Thượng gồm hương hoa, bánh chưng, bánh dầy gắn liền với truyền thuyết về vị hoàng tử Lang Liêu.

Ðúng 7giờ 30 phút, đoàn hành lễ tề tựu trang nghiêm trước Ðền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng. Trong không khí trang nghiêm, thành kính, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Công an Trần Ðại Quang, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Huỳnh Ðảm và các đại biểu đã vào thượng cung dâng hương hoa, lễ vật, thắp hương tưởng niệm thành kính tri ân công đức các Vua Hùng.

Thay mặt Ban tổ chức, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Phú Thọ Hoàng Dân Mạc đã đọc Chúc văn khẳng định ý nghĩa to lớn của Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương; ca ngợi công lao trời biển của các Vua Hùng đã có công dựng nước và giữ nước. Bài Chúc văn cũng thể hiện tâm tư, tình cảm của toàn dân hướng về cội nguồn dân tộc, khích lệ tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình, đoàn kết quốc tế, sự đoàn kết gắn bó củ Con lac chau honga cả dân tộc trong công cuộc đổi mới, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng đàng hoàng, to đẹp.

Sau lễ dâng hương tại Ðền Thượng và đặt vòng hoa, thắp hương tại Lăng Hùng Vương, các đại biểu đã đặt hoa, thành kính tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh bên bức phù điêu “Bác Hồ nói chuyện với Ðại đoàn quân tiên phong” tại ngã năm Ðền Giếng.

Theo Phó Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Phú Thọ, Trưởng Ban Tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Ðền Hùng năm 2013 Hà Kế San, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; khẳng định tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là biểu tượng của giá trị văn hóa vô cùng sâu sắc, thể hiện tinh thần đại đoàn kết,  nhớ về tổ tông cùng nhau làm nên sức mạnh Việt Nam trong tiến trình dựng nước và giữ nước.

Trong ngày hôm trước, Ban Tổ chức lễ hội ước tính có khoảng gần hai triệu lượt khách trên mọi miền đất nước hành hương về dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng.

* Trước đó, chiều 18-4, Ðoàn lãnh đạo TP Hà Nội do đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy dẫn đầu, đã lên thắp hương tưởng niệm các Vua Hùng tại Khu di tích lịch sử Ðền Hùng. Trong không khí trang nghiêm của Ðiện Kính Thiên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, trước anh linh các Vua Hùng, thay mặt Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội, đồng chí Phạm Quang Nghị cùng Ðoàn đại biểu đã kính cẩn dâng hương, hoa, lễ vật, tỏ lòng thành kính tri ân công đức tổ tiên; cầu cho quốc thái dân an, bách gia trăm họ vạn đại trường tồn, nguyện cùng nhân dân cả nước xây dựng nước Việt Nam ngày càng thịnh vượng.

* Tại các tỉnh Tây Nguyên cũng diễn ra nhiều hoạt động dâng hương, tưởng nhớ và tri ân công đức các Vua Hùng. (…) Các đại biểu đã làm lễ dâng hương, dâng lễ vật, chiêm bái, tri ân ghi tạc công đức của các Vua Hùng, các bậc tiền hiền, những người đã có công khai phá, tạo dựng giang sơn đất nước. Sau phần nghi thức là phần hội với các hoạt động biểu diễn múa lân sư – rồng, diễn tấu cồng chiêng; dâng lễ vật đặc sản của địa phương…

(…)

* Tại Ðền thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở phường Bình Ða (Ðồng Nai), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ðồng Nai phối hợp Ủy Ban Nhân Dân thành phố Biên Hòa tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương với nghi thức dâng hương tưởng nhớ cùng nhiều hoạt động như: Hội thi nấu bánh chưng, bánh dầy, thi kết mâm ngũ quả Long Phụng; trò chơi dân gian và chương trình văn hóa – văn nghệ với chủ đề “Hướng về cội nguồn” và thi Hát xoan- một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất Tổ Hùng Vương. Ban Tổ chức cùng mở nhiều cuộc thi thể thao dân gian, trong đó có thi đấu cờ tướng, nhảy bao bố, đẩy gậy, kéo co, thu hút đông nhân dân và thanh niên tham gia.

* Các cấp chính quyền, đoàn thể và nhân dân tỉnh Kiên Giang đã tổ chức trọng thể Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương tại Ðền thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở ấp Ðông Bình, thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp (Kiên Giang) với sự tham gia của đông đảo nhân dân trong tỉnh và một số tỉnh trong khu vực. (…)

* Trong ngày 10-3 âm lịch, tỉnh Bến Tre tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương tại Ðình An Hội, phường 2, TP Bến Tre. (…)

* Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long tổ chức tại Nhà thờ Hùng Vương thuộc Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long.

* Sáng 19-4, tỉnh Khánh Hòa long trọng tổ chức Lễ dâng hương tại Ðền Hùng Vương (173 Ngô Gia Tự, TP Nha Trang).

* Sáng 19-4, nhiều địa phương trong tỉnh Ðồng Tháp đã trang trọng tổ chức Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương. Tại đình Tân An Trung, xã Tân Khánh Trung, huyện Lấp Vò, đông đảo chị em phụ nữ trong 13 đội đã tham gia dự thi gói bánh chưng, trưng bày sản phẩm và thuyết trình. Ngoài ra, tại hội thi còn có các trò chơi dân gian. Ở thị xã Sa Ðéc, đông đảo giáo viên, học sinh Trường THCS Hùng Vương đã tổ chức Lễ giỗ với nhiều hoạt động hướng về cội nguồn dân tộc. Hoạt động này thầy và trò Trường THCS Hùng Vương đã duy trì suốt 21 năm qua kể từ khi trường vinh dự mang tên Hùng Vương.

—o0o—

TỪ MUÔN PHƯƠNG TỤ VỀ ĐẤT TỔ

Huy Thắng

(Bài đăng trên trang 1 báo Nhân Dân ngày 20/4/2013)

Từ thuở nhỏ, chúng tôi đã thuộc lòng câu ca: “Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”. Nhằm tiết Thanh minh năm nay, hòa trong dòng người tấp nập trảy hội Ðền Hùng, chúng tôi cùng nhau trở về đất Tổ.

Tự hào với truyền thống

Không phải là năm giỗ chẵn, nhưng Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay có một sự kiện quan trọng. Ðó là Lễ tôn vinh, đón nhận Bằng của UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng HùngVương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện quan trọng này thể hiện sự đánh giá cao của cộBieu dien nghe thuatng đồng quốc tế đối với một sinhhoạt văn hóa truyền thống thiêng liêng của những người con đất Việt hướng về cội nguồn, tổ tiên.

Suốt trong một tuần lễ từ ngày 4 đến 10-3 Âm lịch, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trở thành trung tâm lễ hội của cả nước. Những con đường sạch đẹp, trang hoàng rực rỡ, những lễ hội đường phố tái hiện các hoạt động sinh hoạt độc đáo của cư dân vùng đất Tổ, những triển lãm tranh, ảnh của các nghệ sĩ Việt Nam và quốc tế càng làm không khí lễ hội thêm rộn ràng.

Ðêm khai mạc Lễ hội Ðền Hùng năm nay với chủ đề “Linh thiêng nguồn cội – Ðất Tổ Hùng Vương” tổ chức ngày 4-3 Âm lịch thật sự trở thành ngày hội văn hóa thiêng liêng và sôi động. Buổi Lễ tôn vinh “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” vinh dự có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tham dự cùng đại diện của tám tỉnh thay mặt cho nhân dân 63 tỉnh, thành phố trong cả nước về “góp giỗ”. Từ nghìn trùng xa xôi, hơn 60 kiều bào đại diện cho cộng đồng người Việt ở 16 quốc gia cũng về dự buổi giỗ Tổ, tưởng nhớ tổ tiên.  Ðiều vinh dự hơn nữa là buổi lễ có đại diện của 24 quốc gia trong Ủy ban Di sản thế giới. Trong suốt quá trình buổi lễ kéo dài gần hai giờ, không khí linh thiêng của tập tục thờ cúng Hùng Vương được tái hiện đầy đủ với những phong tục, lễ hội mang đậm hơi thở văn hóa dân gian đặc sắc vùng đất Tổ. Người dân 13 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Phú Thọ vinh dự và tự hào được thay mặt nhân dân cả nước ngày đêm giữ gìn thái miếu tổ tông, để lưu truyền mãi cho hậu thế truyền thống văn hóa biết ơn tổ tiên, hiểu về nguồn cội, giống nòi.

Chứng kiến cảnh tượng hoành tráng tại buổi lễ khi ông Clê-măng Ê-chiên, đại diện tổ chức UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương trao Bằng công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và tỉnh Phú Thọ, chúng tôi nhớ lại những khoảnh khắc huy hoàng  tại trụ sở UNESCO ở thủ đô Pa-ri, CH Pháp ngày 6-12-2012. Tại Kỳ họp lần thứ 7 của Ủy ban liên chính phủ về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, có 36 hồ sơ được đề cử lên Ủy ban xem xét công nhận. Suốt hai ngày bình xét, các phóng viên thường trú chúng tôi theo dõi hội nghị được sống trong tâm trạng hồi hộp. Khi ông Ác-lây Gin, người Grê-na-đa, Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gõ búa biểu quyết ghi tên “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, cả hội trường vỗ tay chúc mừng đoàn đại biểu Việt Nam. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, mắt nhòe lệ. Những lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong phòng họp thân thương và quá đỗi tự hào.

Không khí ở cổng Ðền Hùng nơi chân núi Tây những ngày lễ thật đặc biệt. Dòng người hành hương  nườm nượp qua cổng đền để lên Ðền Thượng. Phải khó khăn lắm, chúng tôi mới nhích lên được vài chục mét. Ðiều lạ là trong cảnh chen chúc đông đúc như thế, không hề có sự khó chịu hay trách cứ. Mọi người đều hồ hởi, nét mặt rạng rỡ. Ai cũng cảm thấy những người chung quanh thật thân thiết, gần gũi. Thân thương hai chữ đồng bào là đây. Trong thời đại công nghệ thông tin, khi nhịp sống ngày càng trở nên gấp gáp, lòng thành kính tổ tiên, nguồn cội là sức mạnh để con người hiện đại có thể nương tựa, sống bao dung hơn, hướng thiện hơn…

Như suối nguồn luôn luôn chảy mãi

Trở về với cội nguồn, chúng tôi được nghe, được chứng kiến nhiều câu chuyện cảm động.

Ngắm dòng người xếp hàng lên Ðền Thượng trong những ngày Giỗ Tổ tháng ba Âm lịch này, bạn đồng nghiệp là phóng viên thường trú tại Phú Thọ cho biết, từ đêm giao thừa đầu năm, người dân sinh sống chung quanh Ðền Hùng đã tới thắp hương nơi đây. Với cư dân vùng đất Tổ, đến Ðền Hùng thắp hương vào dịp giao thừa hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên trước khi về nhà xông đất đã trở thành phong tục, thành thói quen không thể thiếu. Ðó chính là truyền thống văn hóa, là yếu tố tâm linh để các thế hệ người Việt luôn khẳng định giá trị nguồn cội, ý thức rõ ràng về mạch nguồn tiếp nối.

Chúng tôi gặp đoàn khách hành hương đến từ huyện Hạ Hòa, một trong những đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang tiêu biểu và là cái nôi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của tỉnh Phú Thọ. Ông Phạm Quang Cảnh vui vẻ kể: “Như chim có tổ, nước có nguồn, con người ta luôn phải có tổ tiên. Hằng năm cứ vào dịp Lễ hội Ðền Hùng là gia đình chúng tôi về đây thắp hương Giỗ Tổ. Sáng nay, chúng tôi xuất phát từ lúc 6 giờ sáng từ xã Ðại Phạm để kịp về thắp hương các Vua Hùng. Năm nay, chúng tôi rất phấn khởi khi theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng, chứng kiến buổi lễ đón nhận Bằng của UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa thế giới. Ðó là niềm tự hào đối với mỗi người dân chúng tôi. Ðến với lễ hội Ðền Hùng  lần này, thấy không khí tấp nập, nhộn nhịp hơn mọi năm, chúng tôi càng thêm vui sướng”.

Chứng kiến những hoạt động rộn ràng trong những ngày lễ hội như các cuộc thi gói bánh chưng, bánh dầy dâng lễ các Vua Hùng, các cuộc thi hát dân gian như hát xoan, hát ghẹo, các phong tục đâm đuống (đánh trống đồng của người Mường), giã gạo, các trò vui dân gian đấu vật, đánh võ, bắn cung, bơi chải… chúng tôi càng hiểu thêm những giá trị to lớn của Lễ hội Ðền Hùng. Tự bao đời nay, trong tâm thức của mỗi người dân đất Việt, dù sinh sống nơi đâu, mỗi người đều ý thức mình có chung đức Quốc Tổ Hùng Vương, có đất Tổ và đền thờ Tổ. Các hình thức sinh hoạt dân gian ấy nhằm tôn vinh truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng nhớ công lao của các Vua Hùng đã có công lập nên Nhà nước Văn Lang, định ra phép tắc, phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Tinh thần bất khuất, thượng võ thời Hùng Vương dựng nước là di sản quý báu để các thế hệ tiếp tục gìn giữ.

Những ngày lễ hội rộn ràng, chúng tôi có dịp tham dự Triển lãm ảnh nghệ thuật “Văn hóa đất Tổ – cội nguồn dân tộc Việt Nam” và tranh của các họa sĩ Xơ-un đến từ Hàn Quốc tổ chức ở Bảo tàng Hùng Vương. Tại triển lãm, người xem được chiêm ngưỡng những bức ảnh đẹp mô tả các hoạt động tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Các sinh hoạt dân gian độc đáo của cư dân Phú Thọ hướng tới tổ tiên là những nét đẹp được người xem cảm nhận qua nhiều góc nhìn mới lạ. Trong dịp này, các họa sĩ đến từ thủ đô Xơ-un trưng bày các tác phẩm mô Du khach ve Dat Totả thiên nhiên và con người bằng thủ pháp nghệ thuật độc đáo. Ðây là một cuộc giao lưu ấn tượng giữa những đại diện của hai nền văn hóa. Nhiều  khán giả Việt Nam phải trầm tư trước những bức tranh của các họa sĩ Hàn Quốc vẽ theo trường phái trừu tượng và ấn tượng được  trưng bày tại triển lãm. Trong khi đó, các đại diện đến từ xứ sở kim chi lại trầm trồ trước những bức ảnh ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ của các sinh hoạt thờ cúng Hùng Vương. Nữ họa sĩ Sôn Sung Du, giảng viên Ðại học Hi-u-sung vẫn chưa hết ngỡ ngàng với đêm lễ hội cho biết: “Tôi cảm thấy vô cùng may mắn được dự đêm lễ hội nhân dịp các bạn đón nhận Bằng của UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa của nhân loại. Qua đêm diễn, tôi được biết thêm nhiều về giá trị văn hóa của Việt Nam.  Chắc chắn là tôi có rất nhiều cảm hứng thông qua chuyến đi Việt Nam lần này. Ðây sẽ là nguồn sáng tạo mới  giúp tôi tiếp tục sáng tác. Với tư cách là một giáo viên mỹ thuật, tôi sẽ đưa các sinh viên Hàn Quốc tới Việt Nam để các em có thể cảm nhận và tìm hiểu những nét đẹp ẩn chứa trong nền văn hóa lâu đời của các bạn”.

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh, nền văn hóa dân tộc Việt Nam đậm đà  bản sắc đã được các bạn bè quốc tế trân trọng và đánh giá cao. Ðó cũng là cơ hội và thách thức để chúng ta gìn giữ, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam trong dòng chảy của lịch sử. Xin được trích ý kiến của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ, Trưởng Ban tổ chức Lễ hội Ðền Hùng 2013 Hà Kế San về những định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” thay cho lời kết:  Thứ nhất, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, quảng bá để đồng bào trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế hiểu biết nhiều hơn về một di sản văn hóa rất đặc biệt của Việt Nam. Thứ hai, chúng ta phải hỗ trợ cho cộng đồng để tín ngưỡng thờ cúng này được trao truyền từ những người lớn tuổi cho các thế hệ trẻ. Giống như nó đã được hình thành từ hàng nghìn năm nay, trải qua các triều đại lịch sử, các chế độ chính trị nhưng việc thờ cúng tổ tiên và thờ cúng các Vua Hùng vẫn trường tồn mãi mãi. Thứ ba, chúng ta phải tổ chức tốt hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm ở   Ðền Hùng và những nơi có đền thờ Vua Hùng và các vợ, con Vua Hùng, các danh nhân, danh tướng thời Hùng Vương trong cả nước nhằm thể hiện tấm lòng tri ân với những người có công với nước. Một điều quan trọng nữa là, thông qua các hình thức, nội dung phù hợp đưa việc tuyên truyền ý nghĩa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vào công tác giáo dục thế hệ trẻ, giúp con cháu chúng ta hiểu rõ hơn về sinh hoạt văn hóa này cũng như những nét đẹp văn hóa Việt Nam.

Người đồng hành cùng lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 5 năm 2013.

NGƯỜI ĐỒNG HÀNH CÙNG LỊCH SỬ

(Bài đăng trong mục Tác phẩm và Dư luận, trang 5 báo Lao Động Cuối Tuần số 22 từ 8-10.6.2012)

Nguyễn Thụy Kha

Việc nhạc sĩ Phạm Tuyên được vinh danh trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật cùng nhạc sĩ Văn Chung là tin vui chung cho giới nhạc sĩ Việt Nam. Với hơn 60 năm sáng tác, Phạm Tuyên là một trong không nhiều nhạc sĩ cách mạng luôn có những nhạc phẩm đồng hành cùng lịch sử.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh ngày 12.1.1930 (tức 13 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ 1929) nên ông vẫn mang tuổi Tỵ. Ông sinh tại căn nhà số 5 phố Hàng Da và là người con thứ chín của ông Phạm QuỳnNhac si Pham Tuyen - nguoi dong hanh cung lich suh – chủ bút báo Nam Phong. Năm 2 tuổi, ông theo cha vào Huế. Chính ở đây, tâm hồn ấu thơ của Phạm Tuyên đã chìm đắm trong âm thanh nhã nhạc cung đình. Đến khi vào Quốc học Huế, Phạm Tuyên được học nhạc lý phương Tây, chơi trong cùng ban nhạc với Nguyễn Tăng Hích (sau là nhạc sĩ Trần Hoàn). Phạm Tuyên bắt đầu viết ca khúc là những bài ngợi ca lịch sử như Trận Tây kết, Sóng sông Hương … nhưng phải đến khi gia nhập quân đội, học sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, năng khiếu âm nhạc của ông mới thực sự phát lộ qua những ca khúc như Vào lục quân, Đường về trại, Đây khóa chuẩn bị tổng phản công và qua những ca khúc thiếu nhi như Thiếu sinh quân ở một nơi thật vừa. Cùng Trường thiếu sinh quân Việt Nam sang Quế Lâm (Trung Quốc) từ năm 1951 một thời gian sau, Phạm Tuyên rời quân ngũ và trở thành giáo viên văn hóa, đồng thời phụ trách văn – thể – mỹ của Khu học xá Trung ương tại Nam Ninh. Nhiều ca khúc thiếu nhi còn nổi tiếng đến ngày hôm nay đã được Phạm Tuyên viết trong thời kỳ này như Ngày em được quàng khăn đỏ, Chiếc đèn ông sao, Em làm trực nhật, Em vui chơi ngày hôm nay, Tiến lên đoàn viên … Phạm Tuyên về Việt Nam năm 1958 và công tác tại Ban Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam. Ở đây, ông vẫn tiếp tục có những ca khúc thiếu nhi hay như Em được nghe chuyện Bác Hồ … và bắt đầu một sự nghiệp sáng tác đồ sộ bằng những ca khúc như Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Bài ca người thợ rừng và đặc biệt là hợp xướng Miền Nam anh dũng và bất khuất.

Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ trút bom xuống miền Bắc cũng là khi âm nhạc Phạm Tuyên cất lên mạnh mẽ những giai điệu vừa hùng tráng, vừa trữ tình. Ra đất mỏ vàng đen, ông viết Bài ca người thợ mỏNhững vì sao ca đêm. Vào tuyến lửa Quảng Bình ông viết Quảng Bình chiến thắng, Bám biển quê hương”. Về đất Cảng Hải Phòng kiên cường ông viết Nếu anh Cảnh còn sống. Vào con đường Trường Sơn huyền thoại ông viết Yêu biết mấy những con đường. Bàn chân hăm hở của Phạm Tuyên đã để lại dấu vết trên mọi nẻo quê hương. Về quê lúa Thái Bình, ông viết Lá thư hậu phương, tới đồng chiêm Ninh Bình, ông viết Những cô gái đồng chiêm, sang Hà Tây nơi có phong trào “Chiếc gậy Trường Sơn” ông viết Chiếc gậy Trường Sơn – một ca khúc thúc giục hàng triệu thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Đến Hàm Rồng ông viết Bài ca tuổi trẻ Nam Ngạn anh hùng. Chiến tranh càng ác liệt, âm nhạc Phạm Tuyên càng bỏng cháy những khát vọng độc lập tự do. Hướng về chiến trường miền Nam, ông viết Những cánh chim Hồng Gấm, cheo leo cùng đội tuần tra biên giới ông viết Đêm trên Cha Lo. Hướng về cuộc đấu tranh của thanh niên- sinh viên đô thị miền Nam, ông viết Tiếng hát những đêm không ngủ. Chia sẻ với phong trào âm nhạc chống chiến tranh ở Mỹ ông viết Gẩy đàn lên hỡi người bạn Mỹ. Quay về Hà Nội những ngày tháng Chạp 1972 đánh trả B52, ông có Hà Nội – Điện Biên PhủHà Nội những đêm không ngủ. Vào những thời khắc hiếm hoi của thanh bình, ông lại thơ thới với Từ một ngã tư đường phố, Phố ngoại ô.

Đối với Bác Hồ – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, Phạm Tuyên đã có dịp được gặp Bác khi đến thăm Khu học xá Trung ương ở Nam Ninh từ năm 1955. Đó là nguồn cảm xúc để ông viết ca khúc thiếu nhi Em được nghe chuyện Bác Hồ sau lần gặp ấy. Đến khi Bác vĩnh viễn ra đi, cảm xúc tiếc thương lại dâng trào chất ngất, ông đã viết Từ làng Sen, Việt Bắc nhớ Bác HồSuối Lê-nin (thơ Trần Văn Loa). Cho tới trưa 30.4.1975, khi Sài Gòn được giải phóng, Phạm Tuyên vẫn luôn nghĩ rằng chính giây phút thiêng liêng này của dân tộc Bác vẫn hiện diện giữa triệu triệu con tim. Bài Như có Bác trong ngày đại thắng đã được ông viết rất nhanh và ngay lập tức được thu thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi được phát ngay trên làn sóng điện vào lúc 17 giờ ngày 30.4.1975, cùng thông báo với toàn thế giới tin Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất sau 30 năm kiên cường đấu tranh. Tình cảm của Phạm Tuyên với Bác Hồ còn được tái hiện dạt dào ngay tới ngày kỷ niệm 10 năm giải phóng năm 1975 qua ca khúc  Thành phố mười mùa hoa (thơ Lệ Bình) khi Sài Gòn đã có nhiều năm mang tên thành phố Hồ Chí Minh.

Sau ngày thống nhất đất nước, Phạm Tuyên càng thăng hoa trong những giai điệu thanh bình, xây dựng và tin yêu như Gửi nắng cho em (thơ Bùi Văn Dung), Con kênh ta đào (thơ Bùi Văn Dung), Màu cờ tôi yêu (thơ Diệp Minh Tuyền). Màu cờ tôi yêu đã cùng Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng, Đảng đã cho ta cả một mùa xuân trở thành cỗ xe tam mã bằng âm thanh đưa con người đến với lý tưởng thiêng liêng.

Bên trong một nhạc sĩ Phạm Tuyên với các ca khúc nổi tiếng dành cho người lớn, còn có một  “nhạc sĩ của tuổi thơ”. Từ những nhạc phẩm đầu tay cho thiếu nhi, cho đến nay khi ông đã qua tuổi bát tuần, gia tài những ca khúc thiếu nhi của Phạm Tuyên thật là đồ sộ với những giai điệu mà không chỉ thiếu nhi mà người lớn cũng yêu thích. Không chỉ sáng tác, Phạm Tuyên còn phổ rất nhiều bài đồng dao thành những giai điệu dí dỏm cho trẻ nhỏ dễ thuộc, dễ hát như Bà còng đi chợ, Bầu và bí, Gánh gánh gồng gồng, Mau mau tỉnh dậy, Nhớ ơn, Con chim chích chòe, Cái cò đi đón cơn mưa

Nhạc sĩ Phạm Tuyên còn là nhạc sĩ dịch rất nhiều bài hát nước ngoài. Trong tập nhạc in ronéo của Khu học xá, ông có biết bao nhiêu lời dịch giấu tên nhưng biết bao thế hệ vẫn hát.

Đóng góp thì lớn lao, nhưng tính tình lại rất giản dị và khiêm nhường. Đó là phẩm chất vàng của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Bằng những nhạc phẩm hơn 60 năm qua của mình, Phạm Tuyên đúng là một nhạc sĩ đồng hành cùng lịch sử với những giai điệu dễ thuộc, dễ nhớ nhưng cũng vô cùng sâu sắc.

N.T.K.

 

Phạm Quỳnh trong từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:35 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 5 năm 2013.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

PHẠM QUỲNH

trong Từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới

Nguyễn Duy Quý

Lời dẫn cảu Phạm Tôn: Ngày 20/4/2011, nhạc sĩ Phạm Tuyên được Giáo sư Nguyễn Duy Quý đưa cho một trang bản in thử của Từ điển 10.000 danh nhân và nhân vật nổi tiếng thế giới của Trung tâm dịch thuật (thuộc Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam) dự kiến sẽ xuất bản trong năm nay. Trang này có mục từ Quỳnh, Phạm (Phạm Quỳnh) do chính giáo sư biên soạn.

Để cung cấp thêm cho các bạn một tư liệu tham khảo, chúng tôi mạn phép giáo sư đưa lên Blog PhamTon.

—o0o—

Quỳnh, Phạm (Phạm Quỳnh) (1893-1945): Nhà Văn hoá kỳ tài của Việt Nam, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong. Hiệu Thượng Chi; bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân. Quê làng Thượng Hồng, Phủ Bình Giang (nay là Làng Lương Ngọc, Xã Thúc Kháng, Huyện Bình Giang, Tỉnh Hải Dương).

Ông sinh ngày 30/1/1893 tại Phố Hàng Trống Hà Nội. Tuổi thơ cậu bé Quỳnh đã sớm mồ côi cha mẹ. Năm 1908, đổ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp trường Thông Ngôn; sau đó đi làm tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, giữ chân thủ thư và thông ngôn. Khi đi làm được hơn một năm, ông lập gia đình. Tháng 7/1917, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong. Tháng 5/1919, sáng lập và Tổng Thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Những năm 1924-1932, giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội; trợ bút báo France Indochine. Năm 1930, đề xướng Thuyết Quân chủ Lập hiến. Tháng 11/1932, vào Huế nhận chức Đổng lý Ngự tiền Văn phòng cho Vua Bảo Đại sau lại làm Thượng thư Bộ Học. Tháng 5/1942, chuyển sang làm Thượng thư Bộ Lại.

Tháng 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông từ nhiệm về sống ẩn dật trong Biệt thự Hoa Đường bên sông đào Phủ Cam, vùng An Cựu, Huế. Ở đây, ông dành thời gian suy ngẫm thế cuộc sự đời, viết mấy bài tuỳ bút, chọn dịch lại thơ Đường và muốn trở lại “đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở”.

Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông bị chính quyền mới bắt ở Huế ngày 23/8/1945; rồi ít ngày sau bị giết ở Làng Hiền Sỹ, Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1917, Tạp chí Nam Phong ra đời “Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái Nho học cũ, cùng để xướng lên một cái tư trào mới, hợp với thời thế cùng trình độ dân ta” (Nam Phong – Số 1).

Phạm Quỳnh có nhiều bài khảo cứu, dịch thuật đăng trên Nam Phong đề cập nhiều lĩnh vực văn hoá: ngôn ngữ, lịch sử, văn học, triết học, giáo dục, chính trị… Về sau tập hợp thành sách Nam Phong tùng thư, Thượng Chi văn tập.

Trên 17 năm tồn tại, Tạp chí Nam Phong có ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội. Có nhiều lời tôn vinh, ngợi ca nhưng cũng không ít lời chê bai cho rằng Nam Phong là công cụ tuyên truyền cho chính sách “Pháp – Việt đề huề”, là tay sai cho thực dân Pháp.

Trong xu thế đề cao tinh thần” “bảo tồn cổ học”, “dung hoà Đông – Tây”, Tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hoá và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu Thế kỷ XX” (Từ điển Bách khoa Việt Nam- 2003).

Năm 1924, Phạm Quỳnh có bài diễn văn ca ngợi Truyện Kiều với câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” đã bị các chí sỹ yêu nước lúc bấy giờ công kích kịch liệt, cho rằng việc tán dương Truyện Kiều là có dụng ý xấu và đề cao quá đáng. Học giả Dương Quảng Hàm bấy giờ đã viết: “Phạm Quỳnh có công lao to lớn trong việc du nhập nhiều danh từ triết học, khoa học mới và luyện cho chữ Quốc ngữ thuần thục tới mức diễn đạt được thuật ngữ mới”.

Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng Thuyết Quân chủ Lập hiến, song không được hưởng ứng. Năm 1939, ông tháp tùng Vua Bảo Đại sang Pháp, đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884, song việc không thành.

Ngày 8/1/1945, trong báo cáo của Thống sứ Trung kỳ Healewyn gửi Đô đốc Decoux và Tổng Đại diện Mordant, có đoạn viết: “Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ), khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một Quốc gia Việt Nam.. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

Tháng 9/1945, khi nghe tin Phạm Quỳnh mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh lặng ngắt một lúc, rồi Người nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”.

Nhiều thập kỷ trôi qua trên con tim đã thôi đập. Hôm nay tác phẩm của ông đang được tái bản. Lịch sử và người đời đã nhìn nhận lại và đánh giá ông một cách công bằng. Sinh thời ông đã viết:

Chúng ta hãy khép lại quá khứ. Và bởi vì chúng ta phải chung sống, nên chúng ta hãy tránh những cuộc va chạm vô ích và hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới một khẩu hiệu, một cuộc sống thực sự tôn trọng lẫn nhau”.

Giáo sư Nguyễn Đình Chú đã nhận định: “Phạm Quỳnh là người mở đầu cho Văn hoá Việt hiện đại. Ông có cả một lý thuyết hẳn hoi về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc. Đó chính là hạt nhân của Lý thuyết Hội nhập Hiện đại. Nhờ lý thuyết đó, Phạm Quỳnh không bị Văn hoá Phương Tây áp đảo, ông đã dõng dạc tuyên bố bằng tiếng Pháp cho người Pháp đọc vào năm 1931: Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được, vì chúng tôi đã có một Tổ quốc”.

Vai trò và giá trị của Phạm Quỳnh trong tiến trình vận động Văn hoá nước nhà Thế kỷ XX cũng như về nguyên nhân cái chết của ông đã, đang và sẽ được những người trong ngoài giới văn học, sử học nghiên cứu trên cơ sở tính khách quan, khoa học.

Nguyễn Duy Quý

(Tổng hợp)

Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc (kỳ 1)

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 5 năm 2013.

ĐƯƠNG TỎ DẦN GÓC KHUẤT MỘT GIA TỘC

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ ba kể từ khi Blog PhamTon ra đời, với số lượng 18.602.

Đáng chú ý là bài này mới lên Blog PhamTon từ tuần 1 tháng 4 năm 2013, tức là vừa tròn 1 tháng.)

 Ghi chép của Xuân Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Xuân Ba, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 19xuan-ba54 tại làng Lon, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Những tác phẩm chính đã xuất bản là Mọi linh hồn đều được đưa tiễn (NXB Hội Nhà văn-1991), Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (NXB Văn Học-1995), Thời chưa xa, người chưa cũ (NXB Hội Nhà văn-2004), Chuyện buồn kể muộn (NXB Họi Nhà văn-2004)… Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44,45 và 46 có đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba). Ông còn nổi tiếng vì một bài báo nữa dưới dạng một bức thư “Kính gửi ông Tổng biên tập báo Tiền Phong” bị vị tổng biên tập nọ từ chối đăng, bênh vực kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy, nhà kiến trúc phong cảnh đầu tiên của nước ta, tác giả khu Kiến trúc Phong cảnh nổi tiếng, khu nhà ở đẹp nhất Hà Nội hiện vẫn trường tồn nơi làng Võng Thị bên Hồ Tây.

Tháng 10/2005, trên tạp chí Sao Việt, rồi tháng 2/2007 trên tạp chí Nhà báo và Công luận cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam số Xuân Đinh Hợi 2007 ông cho đăng bài Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục.

 Từ kỳ này, tuần 1 tháng 4 năm 2013, Blog PhamTon đăng bài viết mới của nhà văn Xuân Ba, một người nặng lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh và cả gia tộc nhà văn hóa lớn này. Bài này đăng trên trang 16-17 báo Năng lượng mới số 204, thứ sáu 15/3/2013.

—0O0—

Kỳ 1

Có một gia đình thuộc vào loại hiếm có trong lịch sử hiện đại nước ta mà qua mấy thế hệ con cháu đã đóng góp cho xã hội những nhân tài nổi tiếng, có những đóng góp to lớn cho dân tộc. Đó là gia đình nhà văn hóa Phạm Quỳnh (1892-1945). Hơn nửa thế kỷ trôi qua từ khi Phạm Quỳnh từ giã cõi trần, những thông tin vNha van hoa Pham Quynhề ông vẫn chưa đầy đủ và những thế hệ con cháu ông cũng còn nhiều người chưa được biết. Cách đây hơn 7 năm, nhà văn Xuân Ba đã ngược dòng thời gian, tìm hiểu và phát hiện thêm những sự kiện, tình tiết mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa về gia tộc của vị Thượng thư Phạm Quỳnh. Báo điện tử Petrotimes sẽ giới thiệu với bạn đọc nội dung ghi chép ấy.

Ca khúc có con số kỷ lục cả về người hát lẫn người nghe và giai điệu được phát nhiều nhất, đông nhất là bài “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”, dường như phá cả kỷ lục “Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa” hồi mới hòa bình lập lại trên miền Bắc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý? Hình như có một lần tôi đã mang nhận xét ấy mà hỏi nhạc sĩ Phạm Tuyên bởi ông là tác giả… Hỏi thế bởi nghĩ có nghệ sĩ nào mà lại sao nhãng với những đứa con tinh thần của mình? Nhưng nhạc sĩ vẫn cung cách lặng lẽ và cái cười lặng lẽ cố hữu bao năm, “mình cũng không biết nữa”…

Không biết (nhạc lẫn hát) nhưng thích nghe hát! Cố tật ấy tôi đã lẫn vào trong bạt ngàn của thiên hạ và hằng bao năm nay (như một số đông, tôi chắc thế) là trong các hướng ngoảnh, tôi vẫn có một “góc” Phạm Tuyên trong sự chú mục mỗi khi lòng dạ chùng xuống không phải chặt chẽ lẫn căng thẳng trên hành lộ mưu sinh. Như mỗi lúc lòng mình đang chùng khi ngồi với nhạc sĩ trong căn gác nhỏ dùng làm phòng khách. Hình như có mấy bận di dời khi “Bê năm hai tan xác cháy sáng Chung minh thu can cuoc Pham Quynhbầu trời, hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời”… là cái đận căn nhà của nhạc sĩ trong khu tập thể Đại La, Đài Tiếng nói Việt Nam nát tan vì bom Mỹ năm 1972.

Bây giờ thì lánh ra làng Vạn Bảo nhưng có vẻ tùng tiệm so súi tận tầng ba của một khu tập thể chật người, lúc nào guốc dép cũng cứ khua rộn cầu thang. Phòng khách chật và thấp nhưng các góc cũng nhô ra một cách khiêm tốn với những ấn phẩm nhạc mà Phạm Tuyên đã viết từ năm 1950. Hơn 600 bài tính đến tiết ngâu năm Dậu 2005.

Như một người chép sử có duyên. Từng bài, từng bài như một sự chào, sự làm quen tử tế suốt lượt những nam phụ lão ấu… “Tiến lên đoàn viên em ước ao bao ngày…”, “Ai bảo rừng xanh là quái ác…”, “Hồng như màu của bình minh. Đỏ như màu máu của mình tim ơi…”, “Từ một ngã tư đường phố…”, “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua…”, “Thương cái rét của thợ cày thợ cấy…”, “Việt Nam Hồ Chí Minh” v.v… và v.v… Những giai điệu mà ngành nào, giới nào cũng tự nhận nhạc sĩ viết riêng cho mình!

Đạt được tầm ấy, xếp vào thang bậc như vậy lại chả sướng sao? Và cũng lô nhô vô số phần thưởng, trong đó có chứng nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I (năm 2001). Một bức hoành sơ sài nhưng treo hơi bị sái chắc chưa có điều kiện khắc tử tế nhưng nếu có làm được thì không gian cũng hơi bít bùng. Tôi được nhạc sĩ giải thích 4 chữ của bức hoành ấy là “Thổ nạp Á Âu” bằng chữ Nôm. Ấy là cô đúc tinh thần hành động của Tạp chí Nam Phong suốt 17 năm trên 210 số tạp chí từ năm 1917 đến 1934.

Còn phía góc kia là 12 chữ Nôm vuông thành sắc cạnh được viết rất sắc nét theo lối câu đối của một người tốt chữ, bạn của nhạcPham Quynh voi hoi ai huu sĩ “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Chữ trên hoành trên đối ấy là của thân phụ nhạc sĩ, nhà văn hóa Phạm Quỳnh!

Có lần tôi tò mò hỏi trong 13 người con của cụ Phạm Quỳnh có ai “phát” về đường nhạc ngoài nhạc sĩ Phạm Tuyên? Nghe chuyện của nhạc sĩ đâm giật mình… Thì ra trên nhiều số báo Nam Phong, ông chủ bút Phạm Quỳnh đã trực tiếp bàn, trực tiếp viết về loại hình cũng như thể thức cung cách của hát cô đầu, hát xẩm, hát trống quân nhiều bận! Cái khiếu âm nhạc ấy nhạc sĩ Phạm Tuyên hưởng của ai nhỉ? Cụ Phạm ông, cụ Phạm bà, của chị gái, anh rể?… Cái giật mình xen sự ngỡ ngàng bởi thời nay hầu như đã vắng bặt những kiểu gia thế như thế, bởi mình đang chạm vào cánh cửa của một gia tộc không thường?

Cụ Phạm có 16 người con cả thảy. Nhưng không may khuyết mất ba đốt hồi còn bé. Mà chỉ có một người vợ! Quả là “dưỡng nhân loại chi công”.

Cụ Phạm là một người cha, người ông mẫu mực. Là người nặng lòng với nhà! Trong hồi ức của những người con của cụ Phạm còn lưu lại nỗi đau của cụ Phạm khi khuyết mất ba đốt này. Cả ba bé đều chưa đầy tuổi tôi và đều mất vì bạo bệnh. Cô con gái thứ bảy của cụ Phạm mất lúc mới được nửa năm. Còn cô thứ chín chỉ vỏn vẹn có 9 tháng… Cả hai đều trắng trẻo, xinh xắn. Cụ Phạm mời một thầy thuốc người Pháp là Piquemal đến tận nhà chạy chữa hằng ngày mà vẫn không sao cứu được.

Hình ảnh cụ Phạm đi bộ theo chiếc kiệu tang bé nhỏ đưa con gái đến tận mộ. Vậy mà đêm về, có bận ông choàng dậy giữa đêm hoảng hốt chạy sang buồng vợ vì cứ ngỡ là con khóc. Vì cận thị nên những bận hoảng hốt như thế, cụ đâm sầm vào cửa mới bừng tỉnh! Định mệnh trớ trêu vẫn bắt ông phải mất một người con gái nữa. Đó là đứa thứ mười một. Thấy con gái xinh xắn nhỏ nhoi, ông đặt tên con là Yến.

Bấy giờ có nữ thi sĩ nổi danh người Pháp Jeanne Duclos Salenesse từng ở Đông Dương nhiều năm rất mến phục cụ Phạm và cũng là bạn chung của gia đình đến thăm, thấy cháu bé mới sinh, hỏi tên rồi tặng bé một bài thơ: “Xin chào chim yến nhỏ/ đã khéo chọn mẫu từ những nét của mẹ/ em xinh đẹp để ngời sáng lên như một viên kim cương/ Ơi chim Yến”

Nhưng mới được 5 tháng tuổi thì em mắc bệnh hiểm nghèo. Chữa chạy chăm sóc thế nào bệnh vẫn cứ nặng lên. Nhiều đêm ông bế con gái dặt dẹo như một cái dải khoai để em gục đầu vào vai mà nhẹ nhàng đi quanh bức tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng muốt cao chừng 80 phân, cổ tượng ông cho đeo một chuỗi hạt san hô đỏ. Trước tượng đặt một lư trầm thơm ngát. Ông cứ bế con trên tay như thế mà đi suốt đêm… Nhưng rồi việc lo sợ nhất cũng cứ xảy ra… Con “chim yến nhỏ” cũng bỏ ông bà mà bay đi khi tác giả bài thơ tặng bé về Pháp được một tháng!

Nhiều năm sau khi bà Jeanne Duclos Salenesse mất, ông có làm bài tưởng niệm trong đó có câu “Bà Jeanne Duclos Salenesse không còn nữa! Kỷ niệm về bà gắn bó với một sinh linh nhỏ nhoi thân thiết với tôi sau khi bà lên đường được một tháng đã bay về trời. Chắc nơi ấy bà sẽ gặp lại em!”.

…Người con cả là Phạm Giao. Khi anh con trai trưởng vào Nam mở một tiệm ăn, nhiều người dị nghị “sao ông cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú ba Tàu?”. Cụ Phạm chỉ cười. Cái cười của một nhà Nho lạc bước, của một người tân thời không coi trật tự sĩ nông công thương làm trọng? Tôi cứ nghĩ lẩn mẩn rằng, nội hoàn cảnh của ông Giao đây (nếu trời thương cho sống cho thọ thì năm nay người con trưởng của cụ Phạm cũng đã ngót trăm tuổi trời) rơi vào một tay viết kheo khéo tránh được những phạm thượng này khác về đời tư và nếu được ông cho phép thì phải là một cuốn sách bắt mắt lắm! Vợ ông Giao là Nguyễn Thị Hy, chắc phải là một trang tuyệt sắc?

Bà Hy là con gái yêu của học giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1840-1942), tác giả công trình “Ca dao tục ngữ Việt Nam”. Cụ Ngọc quê ở làng Hoạch Trạch, huyện Bình Giang cũng lại cùng quê với cụ Phạm Quỳnh. Chưa thấy có tài liệu chi nói về quan hệ về mặt chữ nghĩa giữa hai ông thông gia này? Ông là một trong những nhà sưu tầm biên soạn sách văn học giai đoạn đầu thế kỷ và là người viết nhiều nhất trong nhóm “Cổ kim Thư Xã”. Bà Nguyễn Thị Hy hình như hồi ở Hà Nội đã có thiện cảm với chàng nho sinh Trần Huy Liệu, sau đó không biết nguyên cớ gì, hai người bặt tin nhau.

Như mọi người biết, bà Hy kết hôn với Phạm Giao, trở thành con dâu nhà cụ Phạm. Chưa rõ cái năm 1946 hay 1947, thời điểm bà Hy tục huyền với ông Trần Huy Liệu, ông Giao đã mất chưa nhưng một dạo người ta cứ đồn ầm cả lên chuyến đi của cụ Trần Huy Liệu nhà ta vô Huế để làm nhiệm vụ tước ấn kiếm của Bảo Đại đã phải lòng rồi sau này thành hôn thú với bà Hy!? Không phải là thời điểm đó mà là sau này?

Cũng nên dài dòng một chút về mối lương duyên của bà Hy với ông Trần Huy Liệu, bởi tôi đã có may mắn được gặp một người. Đó là Giáo sư Sử học Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Cụ Văn Tạo năm nay hơn 80 nhưng còn khá mẫn tiệp (chuyện của cụ, hay nói đúng hơn là tư liệu của cụ về Phạm Quỳnh sẽ được đề cập ở phần sau). Cụ Tạo đã viết trên Tạp chí Khoa học và Tổ quốc (số 11 năm 2005) như sau:

“…Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu sai về chuyện ông Trần Huy Liệu, như anh Trần Thành Công con trai anh Liệu đã viết về việc hiểu sai ấy trên Báo Tiền Phong tháng 11/1991 qua bài “Chuyện tình của nhà văn hóa Trần Huy Liệu” rằng, có nhiều chi tiết thêu dệt về chuyện tình của ba tôi là trong những ngày đất nước sôi sục khí thế cách mạng. Tháng 8/1945, ông Trần Huy Liệu được Chính phủ giao nhiệm vụ vào Huế tước ấn kiếm của Bảo Đại… Công việc quan trọng là thế nhưng đến xứ Huế mộng mơ, ông Liệu gặp người con dâu của Phạm Quỳnh… Tình yêu bùng cháy. Ông Liệu quên cái phương diện quốc gia của mình nên đã yêu và lấy con dâu của quan đại thần triều đình Huế… Bài báo đã trình bày rõ điều đó là hoàn toàn sai sự thật.

Nhưng cho đến nay, nhiều người vẫn chưa hiểu. Thậm chí ở một trường cấp III, trong giờ dạy Sử, một học sinh đã hỏi thầy: “Ông Trần Huy Liệu là một người từng giữ những chức vụ cao trong Cách mạng Tháng Tám, sao sau này lại tụt xuống như vậy?”. Thầy đã đã trả lời tương tự như có người đã nói ở trên… Cho đến gần đây tôi vẫn được nhiều người, nhất là cán bộ lão tChu tich nuoc Truong Tan Sang tang giai thuong HCM cho Pham Tuyenhành cách mạng hỏi về vấn đề này.

Tôi được sống gần anh Liệu, lại được anh Văn Tân, anh Cù Huy Cận cho biết ít nhiều nên xin trình bày vắn tắt đôi điều hiểu biết của mình:

1. Theo biên niên sử thì Đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời vào tước ấn kiếm của Bảo Đại do Trần Huy Liệu dẫn đầu có Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận tham gia, khởi hành từ Hà Nội đi qua các tỉnh đều được nhân dân cùng chính quyền địa phương nhiệt liệt đón chào và nghe đoàn nói chuyện nên đến Huế khá muộn. Mãi đến chiều 29/8, Bảo Đại mới được tiếp kiến và nhận những điều quy định về nghi thức thoái vị do đoàn đề ra.

Chiều ngày 30/8, lễ thoái vị của Bảo Đại mới được cử hành ở Cửa Ngọ Môn nên kết thúc ngay ngày hôm đó để đoàn kịp về Hà Nội dự lễ ngày 2/9. Một phái đoàn quan trọng đi thực hiện một nhiệm vụ thiêng liêng trong một thời gian gấp gáp như vậy lại được bảo vệ nghiêm ngặt thì một đoàn viên nào đó sao lại có thể thực hiện được việc riêng như chuyện bịa đặt kể trên về anh Trần Huy Liệu?

2. Bà Hy thành gia thất với Phạm Giao, con trai Phạm Quỳnh nhưng do hoàn cảnh éo le, vợ chồng đã ly thân. Bà Hy lúc đó không còn ở Huế mà từ năm 1942, 1943 đã đem hai con về sống ở nhà riêng tại Ấp Thái Hà do thân sinh là Đốc học Nguyễn Văn Ngọc để lại nên không có chuyện gặp Trần Huy Liệu ở Huế được.

3. Theo anh Xuân Thủy, anh Văn Tân kể lại thì: Trần Huy Liệu từ khi còn làm ở Báo Tin tức đã để ý đến tiểu thư khuê các Nguyễn Thị Hy, con gái Đốc học Nguyễn Văn Ngọc đang đứng bán sách báo và giấy mực học sinh tại Vĩnh Hưng Long thư quán ở Hà Nội. Xuân Thủy đã muốn giúp Trần Huy Liệu tặng mấy vần thơ. Nhưng rồi nhà cách mạng Trần Huy Liệu đã phải vào tù ra khám, còn tiểu thư thì vu quy vào một gia đình quan lại. Trên một thập niên, hai bên không gặp nhau. Mãi đến cuối năm 1945, đầu năm 1946, khi Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cũng là lúc mà tướng Lư Hán (Tàu Tưởng) có chủ trương “Cầm Hồ diệt Cộng”, các thành viên của chính phủ ban đêm phải sơ tán ra ngoại thành.

Trần Huy Liệu được bố trí về tạm trú ở Thái Hà Ấp và đã gặp lại bà Hy và cảm thông với những vui buồn trong cuộc đời của nhau. Nhưng cũng mãi đến dịp Trần Huy Liệu đi công tác tại những tỉnh phía bắc mới qua Lập Thạch, Vĩnh Yên và chính thức chắp nối lại mối tình với bà Hy. Việc này hoàn toàn không dính líu gì đến việc Trần Huy Liệu vào Huế cũng như không dính líu tí nào đến cái chết của Phạm Quỳnh mà có người đã suy đoán ra một cách không có căn cứ là hại cha để lấy con?!!

Người con gái thứ hai là Phạm Thị Giá, sinh năm 1913. Bà là vợ của quan Đốc học Trường Thăng Long Tôn Thất Bình mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thời gian là giáo sư dạy sử của Trường Thăng Long. Vợ chồng bà Giá mất đã lâu. Cũng cần nói thêm điều này, cỡ nhà Nho như lứa cụ Phạm hồi ấy là khá cẩn trọng trong việc đặt tên cho con. Nhưng cụ Phạm nhà mình chả thế… Bé Giá mới sinh trắng nõn trắng nà như cọng giá. Thấy người nhà thích dùng cái tên Giá, cụ Phạm vui vẻ và ưng thuận làm ngay việc khai sinh cô con gái: Phạm Thị Giá. Bà Giá nghe đâu có viết một cuốn hồi ký mà nhà văn Vương Trí Nhàn có mấy lần dợm hỏi nhạc sĩ Phạm Tuyên cố tìm xem đang để ở đâu ông ấy xuất bản cho! Người con thứ ba là Phạm Thị Thức, năm nay 92 tuổi.

Cũng như bà Giá, bé Thức mới sinh ra có cái tật chả biết lành hay dữ nhưng cứ thức ban đêm ngủ ban ngày. Chứng tật ấy lâu lâu đôi khi mang lại sự ngộ nghĩnh cho cả nhà nên cụ Phạm lại cũng chiều lòng vợ con và người nhà làm luôn tên khai sinh cho con gái là Phạm Thị Thức! Bà Thức là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ chuyên ngành da liễu. Giáo sư Đặng Văn Hỷ đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về những công trình nghiên cứu của mình. Ông bà cũng góp cho đất nước, cho cơ chế một người tài. Đó là một quan chức của Trung tâm Khoa học công nghệ, Ủy viên Trung ương Đảng Đặng Vũ Minh. Người con thứ tư là Phạm Bích, sinh năm 1918.

Ông Bích là Tiến sĩ Luật, lập nghiệp ở Thụy Sĩ, đã mất. Người con thứ năm là Phạm Thị Hảo, vợ dược sĩ Phùng Ngọc Duy nổi tiếng ở Hà Thành vào thập niên 50 của thế kỷ trướcPham Tuyen tang hoi kieu hoc, hiện đang định cư ở Washington D.C. Người con thứ sáu là Phạm Thị Ngoạn, sinh năm 1922. Bà là vợ ông Nguyễn Tiến Lãng. Nguyễn Tiến Lãng vốn là con nuôi Toàn quyền Đông Dương, bố vợ lại là Thượng thư Bộ Lại, nhưng trong kháng chiến chống Pháp, không rõ tướng Nguyễn Sơn có biệt tài gì mà cảm hóa được nhà văn đa tài này, có một thời gian dài Nguyễn Tiến Lãng đã phục vụ dưới trướng Nguyễn Sơn và tham gia nhiều trận đánh.

Về sau hai ông bà sang định cư ở nước ngoài. Bà Ngoạn thừa hưởng gien cha hay ảnh hưởng chồng chả biết nhưng trong thời gian ở Trường đại học Sorbone Paris đã hoàn thành luận án tiến sĩ văn chương. Đề tài chính lại là những số Báo Nam Phong của thân phụ. Người con thứ bảy là Giáo sư Phạm Khuê, sinh năm 1925. Giáo sư Viện trưởng Viện Lão khoa, Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam, từ biệt chúng ta cách đây chưa lâu. Có lẽ hơi hiếm có một nhà khoa học được yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng là nghĩa trang Mai Dịch như GS Phạm Khuê? Người con thứ tám là Phạm Thị Hoàn, sinh năm 1927, hiện gia đình đang định cư ở nước ngoài.

Hồi còn con gái, giọng ca của bà Hoàn đã trở nên quen thuộc với người Hà Nội tạm chiếm trong thập niên 50, khi cô Hoàn với cái tên Thu Hương, thường hát trên đài phát thanh. Chồng bà Hoàn là nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, cháu nội cụ cử Lương Văn Can. Nhạc sĩ Lương Ngọc Châu có ca khúc tiền chiến “Một đi không trở về”… mà nhiều chiến sĩ Vệ quốc đoàn đến nay còn thuộc. Và thứ chín là nhạc sĩ Phạm Tuyên đây… Hình như gien nhạc nhà ấy chỉ trồi và trội lên ở người con thứ chín này?

Cụ Phạm bà, quê ở một vùng quan họ nổi tiếng Kinh Bắc. Bà thạo chữ Nho nhưng có thời bà đã từng đi hát quan họ, đã thuộc rất nhiều làn dân ca quan họ, cả hát trống quân, hát chèo. Khi về làm bạn với cụ Phạm, bà đã giúp chồng rất nhiều trong việc sưu tầm biên khảo, ghi lại các làn điệu dân ca để cụ Phạm có vốn mà đề cao văn hóa âm nhạc dân tộc trên tờ Nam Phong của mình… Bốn người con nữa là Phạm Thị Diễm, sinh năm 1932, Phạm Thị Lệ, sinh 1943 và Phạm Tuân, Phạm Thị Viên. Cả bốn người đều đang định cư ở nước ngoài.

 X.B.

Tháng Tư 18, 2013

Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc_Kỳ 4

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 1:36 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 4 năm 2013.

ĐƯƠNG TỎ DẦN GÓC KHUẤT MỘT GIA TỘC

Ghi chép của Xuân Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Xuân Ba, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1954 tại làng Lon, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Những tác phẩm chính đã xuất bản là Mọi linh hồn đều được đưa tiễn (NXB Hội Nhà văn-1991), Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (NXB Văn Học-1995), Thời chưa xa, ngxuan-baười chưa cũ (NXB Hội Nhà văn-2004), Chuyện buồn kể muộn (NXB Họi Nhà văn-2004)… Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44,45 và 46 có đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba). Ông còn nổi tiếng vì một bài báo nữa dưới dạng một bức thư “Kính gửi ông Tổng biên tập báo Tiền Phong” bị vị tổng biên tập nọ từ chối đăng, bênh vực kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy, nhà kiến trúc phong cảnh đầu tiên của nước ta, tác giả khu Kiến trúc Phong cảnh nổi tiếng, khu nhà ở đẹp nhất Hà Nội hiện vẫn trường tồn nơi làng Võng Thị bên Hồ Tây.

Tháng 10/2005, trên tạp chí Sao Việt, rồi tháng 2/2007 trên tạp chí Nhà báo và Công luận cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam số Xuân Đinh Hợi 2007 ông cho đăng bài Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục.

Từ kỳ  tuần 1 tháng 4 năm 2013, Blog PhamTon đăng bài viết mới của nhà văn Xuân Ba, một người nặng lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh và cả gia tộc nhà văn hóa lớn này.

Bài kỳ 4 này đăng trên trang 16-17 báo Năng lượng mới số 207, thứ ba 26/3/2013.

—o0o—

KỲ 4:

Thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh có gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ít nhất hai lần. Trong số tư liệu gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên lưu giữ, tôi có được xem hai trang của cuốn sổ tay dạng lịch mà Phạm Quỳnh ghi chép. Đó là thứ Năm, ngày 13 và Chủ nhật ngày 16/7/1922.

…Nhiều người tin rằng, người Pháp và nước Nam có thể lấy tình thân ái mà xum hiệp một nhà, coi nhau như anh em và cùng nhau ra công giúp sức cho nước Nam được tiến bộ nhưng sự thực khó lòng mà thành hiện thực được! Người Tây bao giờ cũng giữ bề trên. Người Nam bao giờ cũng giữ phận dưới có bình đẳng đâu mà thiệt lòng thân ái như anh em một nhà được. Những mong lấy tình thân ái mà gây thành một nền Pháp Việt vững bền thì e rằng còn sớm quá! (Một tháng ở Nam Kỳ. NXB Văn học tr.176). Và thơ ngây nữa? Kêu gọi Pháp trao quyền quốc gia, quyền dân tộc, trao cho Tổ quốc mà thờ? Dễ dàng quá!?

Đi thăm Nam Kỳ, thấy đồng ruộng thẳng cánh có bay, đất đai phì nhiêu dễ làm ăn, ông nóng lòng xót ruột thốt lên lời than rằng, tại sao dân Bắc lại không vào đây mà sinh cơ lập nghiệp, bám chi lấy xứ Bắc Bộ, đất đai bạc màu manh mún, lụt lội, hạn hán triền miên mà không biết rằng, người nông dân Nam Bộ khi ấy đang bạc mặt vì trăm ngàn phương thức bóc lột của những điền chủ giàu có đang có rất nhiều người phải bỏ xứ, bỏ ruộng mà đi! Chao ôi có chút chi đó tồi tội và mong manh khi ông tâm sự với tư cách là nhà kinh tế, nhà chính trị như thế?

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Cuốn sử sang trang. Việt Nam tuyên bố độc lập. Phạm Quỳnh xin về hưu trí sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam hiền hòa…

Ông ôm ấp hoài bão trở lại với văn chương đã bị gián đoạn tạm thời. Ông khởi viết một số bài gom dưới đề kiến văn cảm tưởng, nghĩa là suy ngẫm về những điều đã nghe đã thấyNhac si Pham Tuyen va cac chau thieu nha cùng dịch nôm và bình nghĩa 51 bài thơ của Đỗ Phủ… Trong đó ông mặc nhiên và tế nhị ký thác cả một tâm sự phong phú và đa dạng của một nhà văn phong nhã hào hoa lạc lõng nơi bể hoạn sinh bất phùng thời! Non 6 tháng sau, vào một buổi sáng mùa hè… Buổi sáng ngày 23/8 định mệnh… Ông được chính quyền cách mạng mời đi họp tại nguyên trụ sở Tòa Khâm sứ, Phạm Quỳnh lanh lẹn vô tư khăn áo ra đi, tình cảm chào hẹn với người thân chiều sẽ về.

Nhưng rồi ông không bao giờ trở lại!

Mãi 11 năm sau, năm 1956 gia đình mới tìm thấy di hài của ông tại khu rừng Hắc Thú, cách kinh thành Huế khá xa, một địa điểm hiểm trở xa vắng, đêm đêm thường có thú dữ lai vãng. Nhờ hỏi thăm các chứng nhân còn sống mới biết Phạm Quỳnh mất ngày 6/9/1945. Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956 tại Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước. Mộ chí ghi chú bằng Hán tự thật đơn giản Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng chi. Bằng chất giọng ngậm ngùi, bà vợ nhạc sĩ Phạm Tuyên đã kể tôi nghe chuyện di dời thi hài Phạm Quỳnh về chùa Vạn Phước mùa xuân năm Thân mà bà đã nghe người chị gái cùng em trai chồng trực tiếp làm việc ấy…

Sau khi tìm được mộ, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức lễ sang cát cho Ngô Đình Khôi cực kỳ long trọng. Bởi vì hai người (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh) cùng chung một nấm nên đành phải thực hiện việc sang cát cùng một lúc. Thế là một bên cờ quạt trống chiêng thanh la não bạt cúng kiếng rầm rĩ. Một bên lặng lẽ thui thủi chỉ có hai chị em… Họ nhận ngay ra cha mình bởi cặp kính quen thuộc. Hai người ôm cái tiểu đựng hài cốt cha rồi thuê thuyền xuôi dòng Hương Giang đáp về mạn chùa Vạn Phước. Ngôi chùa mà lúc sinh thời, khi ở cương vị Đổng lý Ngự tiền và Thượng thư Bộ Học lẫn Bộ Lại, mỗi khi có việc chi căng thẳng, Phạm Quỳnh thường tới đây một mình để di dưỡng…

Nhà chùa từ lâu giành cho ông một trai phòng lẫn chiếc ghế xích đu. Sư trụ trì từ lâu vốn quen thân với ông Thượng thư Phạm Quỳnh, bữa ấy đã lặng lẽ đón người quen cũ vào khuôn viên của chùa. Nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng cho tôi hay, nhà chùa hiện còn giữ một vài kỷ vật của Phạm Quỳnh như hoành phi câu đối. Cả bức hoành 4 chữ Thổ nạp Á Âu (Thâu nạp văn minh Âu Á) nói lên tiêu chí của tờ Nam Phong nghe đâu là thủ bút của Phạm Quỳnh hiện chùa vẫn giữ. Một lần nhạc sĩ có ý xin nhưng sư trụ trì, một người mới nhã nhặn rằng: “Chúng tôi đã có di huấn là cụ nhà có nhiều kỷ niệm ở đây, cứ để cho bản tự lưu giùm”…

Phạm Quỳnh và cuộc gặp với Nguyễn Ái Quốc

Thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh có gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ít nhất hai lần. Trong số tư liệu gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên lưu giữ, tôi có được xem hai trang của cuốn sổ tay dạng lịch mà Phạm Quỳnh ghi chép. Đó là thứ Năm, ngày 13 và Chủ nhật ngày 16/7/1922. Thứ Năm ngày 13, Phạm Quỳnh Nhac pham tuyenghi trong sổ tay thế này “Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”. Việc đó đã được Phạm Quỳnh ghi chi tiết trong “Pháp du hành trình nhật ký như sau”:

…Chiều hôm nay ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà chắc lũ đó đứng rình như rươi nhưng họ cứ việc họ mình cứ việc mình, có hề chi. Đã lâu nay không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta thật vui vẻ thỏa thích. Ăn uống no say, cười cười nói nói không ngờ buồng bên cạnh có người đang ốm nặng, đến lúc xuống thang mở cửa ra đi chơi mới thấy lão quản gia nói, các ông có ý trách sao lão không bảo trước để bọn mình khi ngồi vào bàn ăn mà tĩnh túc hơn một chút? Lão nghe bèn giơ hai bàn tay lên tựa hồ cho việc đó là không quan hệ gì. Trong một nơi đô hội ba bốn triệu con người này, một người chết đi có lẽ cũng không quan hệ gì thật. Nhưng mà lòng trắc ẩn, cái bụng bất nhẫn của người ta biết rằng, khi mình vui vẻ, thích chí mà ở ngay cạnh mình có kẻ đương hấp hối thật cũng áy náy không yên một chút nào. Tuy vậy mà cứ như cách sinh hoạt đời nay còn có dung được lòng trắc ẩn cái bụng bất nhẫn nữa không? Tưởng cũng khó lắm. Trong cuộc cạnh tranh sinh tồn rất kịch liệt như bây giờ, mỗi người chỉ biết khu khu thân mình trì trục mưu lấy sự sống cho mình còn rảnh đâu nghĩ đến cái khổ của người mà sẵn lòng thương thay cho người. Ở thành Paris này, trong một ngày biết bao nhiêu đám như đám chúng mình lúc nãy ở buồng bên này thì kẻ ăn uống say sưa cười đùa vui vẻ ở bên kia thì người đương ngắc ngoải đánh nhau với cái chết mà chẳng ai biết đến ai, một vách tường mà cách nhau bằng mấy ngàn dặm!

Mai là hội kỷ niệm Dân quốc, chiều hôm nay phố phường tấp nập người đi lại.

…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết, cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào. Những đường phố sang trọng xem ra lại không vui bằng những xóm bình dân thuyền thợ. Hội này thật là hội của bình dân mà phàm những cuộc vui bình dân người thượng lưu vẫn không muốn dự. Cho mới biết, dẫu ở nước dân chủ bình đẳng các giai cấp vẫn có ý muốn đặc biệt nhau và sự bình đẳng hoàn toàn, có lẽ không bao giờ có được! (Pháp du hành trình nhật ký. NXB Hội Nhà văn 2004. tr.308-309).

Còn ngày Chủ nhật 16/7/1922, trong sổ tay, Phạm Quỳnh ghi: ở nhà Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi. Chi tiết cuộc gặp được ghi trong Pháp du hành trình nhật ký (Sách đd. Tr. 313) như sau: Trưa mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại nơi ở trọ nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử đi theo sau, chắc bọn đó đứng đâu ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà. Lòng người ai chẳng thế tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì cả. Xem ra mấy ông ở đây bấy lâu vẫn được yên ổn vẫn được tự do. Còn trinh sát là phận sự của các chính phủ dẫu nước nào cũng vậy, chẳng lấy làm lạ.

Đọc những dòng ghi chép ngắn ngủi trên, có cảm giác thòm thèm, hâng hẫng thế nào! Nếu như chi tiết hai cuộc gặp ấy được người ghi nhật ký cụ thể hơn, chi tiết hơn thì mai hậu sẽ có biết bao điều thú vị. Gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà và ăn cơm ta bàn chuyện ta thật thỏa thích… Chuyện gì vậy nếu không là những chuyện, những việc gặp nhau ở cái chí mưu cho việc tự tôn tự cường dân tộc? Chắc bạn đọc cũng thể tất cho tác giả cuốn nhật ký vì nhiều lẽ… Nhưng nội cái việc hai cuộc gặp ấy đều có mật thám canh chừng ở ngoài và đi chơi đều bị bám đuôi như thế đủ biết, nếu không có sự đồng thanh đồng khí ở một vài điểm nào đó thì Phạm Quỳnh khó có thể có sự can đảm để gặp gỡ đến hai lần như vậy mà không ngại bị liên lụy này khác?

Một tư liệu nữa cũng xin được chép ra đây để bạn đọc rộng đường tham khảo, ngõ hầu biết thêm tại sao Bác Hồ của chúng ta đã dứt khoát và sáng suốt tìm đến chủ nghĩa Mác – Lê Nin, coi đó là kim chỉ nam cho đường lối cách mạng của mình. Như sau này Người đã từng viết “…ngồi một mình trong buồng mà tôi như những muốn nói to, hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là…”.

Đây là hồi ức của cụ Lê Thanh Cảnh về cuộc gặp ở Paris năm 1922 giữa Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Tài liệu riêng của gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên cung cấp. Cụ Lê Thanh Cảnh, nguyên là học sinh Quốc học Huế, từng du học ở Pháp vào thập niên 20 của thế kỷ XX. Sau đó cụ về Việt Nam làm nghiên cứu văn học, triết học cho đến ngày Giải phóng miền Nam cụ vẫn ở Huế… Tài liệu do Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thiện hiện công tác ở Ban Lý luận văn học, Viện Văn học cung cấp cho gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tháng 9/1998. Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thiện đã sao chụp tài liệu này từ một cuốn hồi ức có tên là “Rời mái tranh trường Quốc học” của các cựu học sinh Trường Quốc học Huế. Tài liệu hiện lưu tại trường quốc học…

Đoạn mở đầu hồi ức về Trường Quốc học Huế cụ đã viết:

…Sau khi đưa bản thảo về trường quốc học, tôi đã khẩn khoản xin ông Hội trưởng Hội Ái Hữu, cựu học sinh trường quốc học cho tôi xin được đặt dấu chấm hết sau bài đã đăng vào số 2. Nhưng tôi không khỏi thắc mắc khi thấy ông Hội trưởng nghĩ sao không biết mà lại cho thêm hai chữ còn nữa buộc tôi hôm nay phải đến cùng quý vị góp món nợ bút nghiên đối với mái trường yêu mến của tất cả chúng ta.

Sở dĩ tôi xin đặt dấu chấm hết là vì nói nhiều về chuyện xưa tích cũ thì không thể bỏ ra ngoài được cái tôi đáng ghét! Một lần nữa tôi xin quý độc giả lượng tình thể tất cho tôi trước khi nghe tôi kể chuyện Anh Quốc (Nguyễn Ái Quốc) và tôi trên đất Pháp. Vì bất cứ trường hợp nào cái tôi đáng ghét ấy, nó cứ ló rạng ra mãi. Mà nó ló rạng không phải vì danh vì lợi nào khác! Vì suốt đời không bao giờ tôi chạy theo bả vinh hoa. Một việc này minh chứng cho tôi là sau khi Nam Triều và Bảo hộ thỏa thuận chấp nhận ký danh hậu bổ vào quan lại, tất cả Tham tá ngạch tòa sứ thì tôi và ông Ưng Thuyên (?) tự nhiên chẳng ai bảo ai cấp tốc đệ đơn xin được xóa tên!

Dẫu sao tôi quả quyết rằng, gặp cảnh ngộ nào khó khăn, gay cấn đến đâu, tôi cũng đã làm tròn bổn phận con người và lãnh trọn vinh nhục của nó.

Đối với quá khứ, có người bảo là phải bỏ quên, người khác thì lại bảo phải ghi nhớ, đó là tùy quan điểm của mỗi người phải suy tư khác hẳn nhau. Theo tôi nghĩ, một dân tộc bị trị thì tất cả quá khứ cần phải được ghi chép để nhận thấy trong lịch sử và văn hóa dĩ vãng, những bài học thấm thía khả dĩ tìm thấy đường và vươn đầu lên.

…Nhân dịp các phái viên phái đoàn Nam Triều đi dự cuộc triển lãm do Pháp quốc sử địa tổ chức tại Ba Lê được hội ấy tặng mỗi người một mề đay vàng…

Ông Trần Đức nói khẽ vào tai tôi bảo, hai anh em chúng mình mời 4 cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ngọc Thiện, Cao Văn Sến đến chiều hôm ấy dùng cơm tại khách sạn Montparnasse. Chúng tôi nhân mời thêm cụ Phan Tây Hồ, anh Quốc, vợ chồng Trần Hữu Tường và ông Hồ Đắc Ứng.

Bữa tiệc này tuy chỉ có 10 người mà câu chuyện rất mặn mà, sôi nổi vì có sự hiện diện của 5 nhân vật phi thường ngồi chung tại một bàn.

5 nhân vật ấy theo khuynh hướng chính trị khác nhau mà gặp nhau trong một lúc trên con đường tranh đấu xa quê hương To ruot Nam Phong Tetnên trong sự va chạm ấy cũng có nẩy lửa đôi chút. Nhưng ông Đức và tôi là chủ mời muốn giữ mãi hòa khí giữa đồng bào nên chúng tôi hết sức niềm nở và tìm đủ cách để dung hòa các khuynh hướng, thành ra bữa tiệc chính trị mà mãi sau này mỗi khi chúng tôi gặp lại nhau đều thừa nhận là chúng tôi đã tỏ ra hết sức cởi mở và hiếu hòa.

Ông Đức và tôi đứng lên nhã nhặn thành kính xin tất cả quan khách đã gặp nhau đây có thể cùng nhau tìm một giải pháp cứu quốc và kiến quốc để khỏi mang tội với các vị tiền bối đã qua đời và các vị tiền bối hiện nay còn vất vả bôn ba ở hải ngoại cũng như còn ở trong lao tù.

Tôi xin nói tiếp tại đây, có 5 nhân vật lỗi lạc trên chính trường, tôi xin nêu danh sách và khuynh hướng để cùng nhau biết rõ lập trường của mỗi chiến sĩ để tranh luận cho có hiệu lực.

Tôi xin thưa qua danh sách, danh tánh và khuynh hướng chính trị, có chỗ nào sai lầm xin đương sự làm ơn cải chánh cho cử tọa nghe. Tôi xin thưa:

1. Cụ Phan Châu Trinh đồng chí với tôi. Cụ đã làm quan, bỏ về theo đường cách mệnh. Đi Nhật về nước bị tù đày ra Côn Lôn. Nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, được Pháp trả tự do, qua Pháp sống lay lắt, gặp chiến tranh không chịu đi đánh giặc nên bị giam cầm một thời gian. Nay chủ trương Lao tư cộng tác ỷ Pháp cầu tiến bộ.

2. Anh Nguyễn Ái Quốc trốn ra khỏi nước nhà. Qua Pháp. Qua Anh rồi trở về nước Pháp, chủ trương cách mệnh triệt để.

3. Ông kỹ sư Cao Văn Sến viết báo bằng Pháp văn, cực lực phản đối thực dân Pháp ở Đông Dương. Đường lối tranh đấu cho Tổ quốc Việt Nam gần như của cụ Phan Tây Hồ và cũng thiên về đảng Lập hiến Đông Dương của cụ Bùi Quang Chiêu.

4. Ông Phạm Quỳnh, Chủ nhiệm Tạp chí Nam Phong chủ trương Quân chủ lập hiến.

5. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, Chủ nhiệm Báo Trung Bắc Tân Văn chủ trương Trực trị và kịch liệt phản đối quan lại Nam Triều mà ông không còn tin tưởng được nữa.

Kính xin quý vị dùng cơm vui vẻ và lần lượt giải thích, thảo luận, trình bày những khía cạnh chủ truương của mình mà anh em còn thắc mắc.

Cụ Phan Tây Hồ bắt đầu nói: Tôi đã gặp Nguyễn Ái Quốc từ 10 năm trước đây mà tôi thấy chủ trương Cách mệnh triệt để quá táo bạo nên tôi không thể nào theo anh được. Và anh cũng không chấp nhận đường lối của tôi. Anh phải đi qua nước Anh rồi về đây. Và rồi có anh Cảnh, bạn thân của anh và cũng là đồng chí với tôi có tìm đủ cách để dung hòa đường lối tranh đấu mà mong muốn cho chúng tôi xích lại gần nhau. Nhưng tôi thấy còn khó…

Anh Quốc tiếp lời: Mấy hôm nay anh Cảnh qua đây có tiếp xúc nhiều với tôi và có nói cho tôi một câu ước mơ của cụ Trần Cao Vân: “Nếu cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân thành công thì sau này việc đầu tiên chúng ta sẽ làm là viết chữ Việt Nam, không phải là Tuất một bên mà phải viết chữ Việt là Phủ Việt. Rìu búa mới kiện toàn được sự nghiệp cách mệnh”. Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là xưa nay muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin ai được mà phải dùng sức mạnh như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng.

BÚA RÌU!

Ông Nguyễn Văn Vĩnh cướp lời ngay: Tôi đã đứng trong hàng ngũ Đông Kinh Nghĩa Thục cùng các bậc tiền bối và rất đau đớn thấy hàng ngũ lần lượt tan rã và hầu hết phần tử ưu tú chiến sĩ quốc gia bị tiêu diệt. Hết phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Chiến khu Yên Thế của Đề Thám ở Bắc rồi đến vụ xin thuế ở miền Trung rồi đến Thiên Địa hội và phong trào kháng chiến ở Nam, Phong trào Cần Vương ở Trung trước sau đều bị phân tán đến nỗi ngày nay tất cả các tổ chức cách mệnh ấy chỉ còn cái tên trong ký ức chúng ta thôi.

Bao nhiêu chiến sĩ đều gục ngã hoặc vất vưởng sống ở Côn Đảo, Thái Nguyên, Lao Bảo hay Buôn Mê Thuột. Bạo động như anh Quốc vừa nói là thậm nguy! Tôi không muốn khóc anh Quốc bị tiêu mà khuyên anh khôn khéo chèo chống cho qua cơn sóng gió hãi hùng, cẩn trọng hoài bão, chí khí và nhiệt huyết để phụng sự Tổ quốc và dân tộc.

Hiện nay khó mà có được những người can trường đanh sắt như anh. Sở dĩ tôi theo lập trường TRỰC TRỊ (admininistion directe) là bởi kinh nghiệm cho tôi thấy Nam Kỳ trực trị mà tiến bộ quá xa hơn Trung với Bắc. Mà Bắc Kỳ nhờ chế độ mập mờ nửa bảo hộ nửa Trực trị (không công khai) mà còn hơn Trung Kỳ quá xa. Chính vì thế, Bảo hộ tại Trung Kỳ là quá lạc hậu, đồng bào chúng ta, trong đó còn trong tình trạng ngu muội. Cứ Trực trị cái đã rồi sau khi được khai hóa theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên. Nói Trực trị tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu. Quá khứ đường lối tranh đấu của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn đảm bảo cho lời nói của tôi hôm nay.

(Xem tiếp kỳ sau)

X.B.

Cảm ơn các bạn tiếp sóng cho Blog PhamTon bay xa, tỏa rộng hơn

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 1:27 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 4 năm 2013.

CẢM ƠN CÁC BẠN TIẾP SÓNG

CHO BLOG PHAMTON BAY XA, TỎA RỘNG HƠN

Blog PhamTon

Bốn năm nay, kể từ khi ra đời ngày 22/2/2009, Blog PhamTon chúng tôi có lệ vào kỳ đầu mỗi tháng, đều có đôi lời Cùng bạn đọc, mở đầu bằng câu: “Chúng tôi vui mừng thông báo với các bạn là: tính đến…giờ, ngày… đã có tới… lượt người truy cập blog của chúng ta; ngày đông nhất lên tới… lượt người là ngày…. Bài được truy cập nhiều nhất là…” tiếp đó lần lượt là các bài kế tiếp. Ví như 14:00 ngày 28/11/2009 là 129.320 lượt người, ngày đông nhất là 3340 (23/10/2009); 22:00, ngày 30/10/2010 là 592.901 và 6529 (19/10/2010); 21:00 ngày 25/11/2011 là 969.833; 21:00 ngày 27/9/2012 là 1.148.374; 6:00 ngày 28/3/2013 là 1.241.971, ngày đông nhất vẫn là 10.005 (30/4/2011).

Nhưng, chính chúng tôi cũng biết là con số đó không đúng, vì đó chỉ là con số chúng tôi được cung cấp về các bạn truy cập tại địa chỉ chính thức Blog PhamTonhttp://phamquynh.wordpress.com mà thôi. Sự thật là rất đông bạn đọc đã thu được bài của Blog PhamTon từ các địa chỉ khác hoặc là blog cá nhân, hoặc là các trang web. Vì thế, con số bạn truy cập bài trên Blog PhamTon thật ra lớn hơn con số chúng tôi biết rất nhiều. Đó là nhờ các bạn có lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh đã giúp Blog PhamTon chúng tôi tiếp sóng cho Blog PhamTon bay xa tỏa rộng hơn.

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hoàn toàn vô tư, vì chân lý của các bạn xa gần có lòng yêu kính Thượng Chi – Phạm Quỳnh mà góp sức với chúng tôi. Mong các bạn tiếp tục công việc nhân nghĩa này. Và nếu có điều kiện thì xin liên hệ với chúng tôi để công việc chung của chúng ta ngày càng có kết quả hơn.

Chúng tôi còn nhớ, ngay từ năm 2009, Blog PhamTon mới ra đời đã được nhiều bạn biết tới qua blog cá nhân của một nhà giáo nhân dân lão thành nghỉ hưu ở Đắc Lắc.

Những năm gần đây, chúng tôi lại được bạn Nguyễn Văn Tuấn tiếp sức, bạn là một bác sĩ sinh tại Kiên Giang, con một Vệ Quốc quân Bình Định Nam tiến năm xưa, nay định cư tại Australia. Ngoài y khoa tạo nên tên tuổi, ông dành thời gian viết nghiên cứu văn học và báo chí. Ông thường về nước theo chế độ thỉnh giảng, với tư cách giáo sư Đại học New South Wales (Úc), ông đã in 10 cuốn sách tại Việt Nam. Năm nay, 2013, ông có cuốn sách mới Tự sự của một người làm khoa học (NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh). Ông thường đưa bài tin trên Blog PhamTon lên trang blog cá nhân http://tuanvannguyen.blogspot.com và sau này, trên trang chủ của Nguyễn Văn Tuấn là http://www.nguyenvantuan.net.

Gần đây nhất, hai tháng sau khi Blog PhamTon tròn bốn tuổi đang tiến vào năm thứ năm, thì chúng tôi nhận được email của bạn Trần Thiện Khanh, gửi đến hồi 4:45 chiều ngày 4/4/2013. Bạn cẩn thận gửi cho cả ba địa chỉ của chúng tôi là nhạc sĩ Phạm Tuyên (sống ở Hà Nội), em trai ông là Phạm Tuân (định cư ở Mỹ) và chúng tôi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Toàn văn thư bạn như sau:

“From: Trần Thiện Khanh [mailto:thienkhanh1980@gmail.com]

Sent: Thursday, April 04, 2013 4:45 PM

To: phamtuyen1930@yahoo.com.vn; tuannguyenph@version.net;thanh.phamton@gmail.com

Subject: Kính gửi Ban chủ trương Blog Pham Quỳnh

Thưa Quý Ban Chủ trương tôi là Trần Thiện Khanh, chủ trương trang Phê bình văn học (http://phebinhvanhoc.com.vn).

Tôi là độc giả thường xuyên của http://phamquynh.wordpress.com

Xuất phát từ yêu cầu đăng tải bài vở đa diện, phong phú, chất lượng, hướng đến có điểm nhấn là các tác gia chính yếu (qua các nhánh trang riêng)  chúng tôi có ý tưởng phổi hợp với trang  http://phamquynh.wordpress.com để lập một trang riêng về Phạm Quỳnh (tập trung vào văn hóa, văn học, triết học)  trên Phê bình văn học. Việc đăng tải song song bài vở trên Phê bình văn học và http://phamquynh.wordpress.com/  góp phần quảng bá rộng rãi sự nghiệp, và thúc đẩy yêu cầu cần đánh giá lại Phạm Quỳnh ở Việt Nam

Trân trọng!

Trần Thiện Khanh, Viện Văn học, 20 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Website http://phebinhvanhoc.com.vn. Điện thoại: 091.797.3231”

Chúng tôi cảm ơn bạn đã có lòng tiếp sức cho chúng tôi “góp phần quảng bá rộng rãi sự nghiệp và thúc đẩy yêu cầu cần đánh giá lại Phạm Quỳnh ở Việt Nam” như bạn viết trong thư. Chúng tôi cũng tán thành việc phối hợp “để lập một trang riêng về Phạm Quỳnh (tập trung vào văn hóa, văn học, triết học).” Bởi chính Phạm Quỳnh từ 6/1945 đã nói là ông “lỡ lầm mà ra làm quan”, tưởng rằng mình có thể thực hiện được những gì trước đây chỉ luận bàn trên giấy trắng mực đen, nhưng thực ra, chẳng làm được gì, còn bị thêm nhiều phiền phức không đáng có. Từ đấy, ông quyết trở lại với văn học, “khởi động” bằng dịch và giới thiệu 51 bài thơ Đỗ Phủ, sau đó là viết Hoa Đường tùy bút – Kiến văn cảm tưởng I. Còn đang viết dở thì, trưa ngày 23/8/1945 ông “được” Ủy Ban Khởi Nghĩa Thừa Thiên Huế “mời ra làm việc” và từ đó đã không bao giờ trở về nữa.

Cuốn sách cuối cùng mới khởi thảo vĩnh viễn dở dang.

Khi đọc, nhà văn Nguyên Ngọc đã phải thốt lên “Lạ lùng một cuốn sách dở dang…

B.P.T.

 

Khai mạc lễ hội đền Hùng năm 2013 và đón bằng Unesco công nhận “tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:22 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 4 năm 2013.

KHAI MẠC LỄ HỘI ĐỀN HÙNG NĂM 2013 VÀ ĐÓN BẰNG UNESCO

CÔNG NHẬN “TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG Ở PHÚ THỌ”

(Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 14/4/2013)

Tối 13-4 (tức mồng 4-3 âm lịch) tại Khu di tích Đền Hùng, UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm 2013 và lễ tôn vinh, đón Bằng của UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tham dự buổi lễ có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (…) các cơ quan, tổ chức quốc tế, đại diện 24 nước trong Ủy ban liên chính phủ thực hiện công ước của UNESCO. (…)

Den hung

Tại buổi lễ, đại diện Tổ chức UNESCO đã chính thức trao Bằng công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tiếp theo chương trình, Bộ trưởng VH, TT và DL Hoàng Tuấn Anh công bố Chương trình hành động quốc gia về bảo vệ và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, giai đoạn 2013- 2015, định hướng đến năm 2020.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ đã cùng với nhân dân cả nước gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa thiêng liêng này của đất nước, của dân tộc. Chủ tịch nước nhấn mạnh, tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng trở thành bản sắc văn hóa, đạo lý truyền thống của người Việt Nam ta, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ cháu con với công đức của tổ tiên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng vẫn bền bỉ trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần hun đúc tâm hồn, tình cảm và ý chí của cả dân tộc.

Sau các nghi thức khai mạc, tôn vinh và trao bằng công nhận là chương trình nghệ thuật đặc sắc và hoành tráng có chủ đề “Linh thiêng đất Tổ Hùng Vương”. Chương trình có sự tham gia của hơn 1.300 nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp và không chuyên biểu diễn các tiết mục ca múa nhạc mang đậm bản sắc dân tộc và hiện đại với ba phần nội dung chính: Dòng giống Rồng – Tiên – Thiêng liêng hai tiếng Đồng bào; Hành trình tâm linh về nguồn cội, tri ân Quốc tổ Hùng Vương và Phú Thọ – Mùa xuân linh diệu của non sông.

Sáng cùng ngày, Lễ hội đường phố với chủ đề “Văn hóa đất Tổ Hùng Vương – Hội tụ và tỏa sáng” đã diễn ra tại thành phố Việt Trì (Phú Thọ). Lễ hội quy tụ hơn 3.000 diễn viên, nghệ nhân văn hóa dân gian đến từ 13 huyện, thị, thành và một số trường học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Đây là lễ hội văn hóa dân gian đường phố độc đáo và ấn tượng mang đậm bản sắc văn hóa vùng đất cội nguồn và là hoạt động khởi động cho chuỗi các hoạt động giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2013. Tại lễ hội, nhiều phong tục, nét văn hóa truyền thống của các dân tộc được thể hiện mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

P.V.

Vài ý kiến về Quan điểm phê bình mới của ông Nguyễn Văn Trung

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 4 năm 2013.

VÀI Ý KIẾN VỀ

QUAN ĐIỂM PHÊ BÌNH MỚI CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN TRUNG

Song Thai

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ bảy trong bốn năm qua, với số lượng, 15.963)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Đây là bài đã lên Blog PhamTon tuần 1 tháng 5 năm 2011. Tính đến 22/8/2012 đã có 15.910 lượt người truy cập. Xin mời các bạn đọc và suy nghĩ xem vì sao bài lại được đông đảo bạn đọc đến như vậy.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn:  Chúng tôi trích đăng bài có nhan đề như trên của Song Thai đã đăng trên mục Nói hay Đừng của báo Tự Do (xuất bản tại Sài Gòn) các ngày 4,5 và 6 tháng 11-1963 để bạn đọc rộng đường tham khảo về một vấn đề văn học lớn trong lịch sử nước ta. Bài này viết ngay trong lúc cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do giáo sư Nguyễn Văn Trung khởi xướng năm 1962 đang diễn ra sôi nổi tại miền Nam thời chế độ cũ.

—-o0o—

Kẻ viết bài này xin tự giới thiệu là một người đọc trung thành của tác giả các tập Nhận Định, Xây Dựng tác phẩm tiểu thuyết và những loạt bài biên khảo đăng tải ở tạp chí Đại Học, Thế kỷ Hai mươi, Sáng Tạo, Bách Khoa trong những năm tháng gần đây (tức Nguyễn Văn Trung – PT chú). Cũng cần nói thêm rằng trong một bài so sánh tình hình văn nghệ giữa hai miền Bắc Nam đăng trên một nhật báo số ra ngày 13 và 14 tháng 1 năm 1961 tác giả bài này đã đề cao: “Một Nguyễn Văn Trung đang bắt đầu cống hiến những sáng tạo giá trị làm giàu thêm kho tàng lý luận phê bình văn nghệ Việt Nam”. Nhắc lại như vậy là muốn được bảo đảm tính chất vô tư của người thảo luận hôm nay.

Trước hết, phải công nhận rằng trong những sinh hoạt văn học gần đây tại Thủ Đô (tức Sài Gòn – PT chú) buổi nói chuyện sáng 7/10/1962 tại trường Quốc gia Âm nhạc đã lôi cuốn được sự chú ý tích cực của dư luận bởi lẽ diễn giả là một giáo sư triết Đại học Văn Khoa, đồng thời là một nhà phê bình tín nhiệm trong giới văn nghệ. Mặt khác bản thân vấn đề trình bày chứa đựng nhiều ý nghĩa hệ trọng liên quan trực tiếp đến ý thức hệ hiện đại của những người cầm bút. Dựa vào cơ sở ba bài thảo luận của Đồ Lăng, Nguyễn Hoà Phong, Tân Văn Hồng và một phần bài nói chuyện đăng trên 5 số nhật báo Tự Do[1], tôi xin phát triển một số ý kiến của “ba tiếng chuông” trước đây và chủ yếu là khai thác một vài khía cạnh gọi là “một quan điểm mới về tranh luận giữa Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều” của ông Nguyễn Văn Trung.

Nói đến Nguyễn Văn Trung, không mấy ai phủ nhận nhiệt tình nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện không ngừng của ông trong địa hạt văn chương nghệ thuật. Có người trách ông đã nông nổi khơi lại một vấn đề xưa cũ mà nội dung vấn đề ấy lại phức tạp, tế nhị. (…) Theo ý chúng tôi, điều đó không quan trọng mà cái quan trọng là cách nhìn, là lập trường, là thế giới quan của diễn giả trước vấn đề được “xét lại”. Tôi hoàn toàn nhất trí với ông về việc khẳng định sự tương quan mật thiết giữa văn học và chính trị. Bởi vì trong thực tế, mỗi hoạt động văn hoá, xã hội, v.v… đều bị tình hình chính trị chi phối hay nói cách khác, khó mà có một thứ văn học thuần tuý xuất hiện trong không gian. (…) Những người làm văn học lại càng phải vận dụng công tác của mình để làm nền tảng lý luận soi sáng nhằm phát huy tính tự giác, chủ động để xây dựng tư tưởng tình cảm cho quần chúng. Xuất phát từ cơ sở nhận thức đó, chúng tôi thấy quan điểm mới của ông Nguyễn Văn Trung cần được thảo luận chu đáo hơn ngõ hầu rút ra những bài học kinh nghiệm về tư tưởng nghệ thuật. Bài học mà tôi muốn đề cập tới là việc phủ nhận hoàn toàn thành tích văn học và hậu quả của thái độ phê phán nghiêm khắc một người đã từng có địa vị khả quan trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nói đến thành tích văn học của Phạm Quỳnh, linh mục Thanh Lãng đã từng viết: “Chúng ta biết từ ngày có Đông Dương tạp chí mà nhất là Nam Phong tạp chí ra đời, Phạm Quỳnh không bỏ một cơ hội nào mà không tranh đấu cho quốc văn: nào là bênh vực nó, nào là ca ngợi nó, đặt nó ngang hàng với nhiều nền văn học tiên tiến trên thế giới. Chứng cớ hiển nhiên mà ông muốn đưa nó ra là Truyện Kiều. Bởi vậy, hễ có dịp là ông không tiếc lời ca tụng[2].” Nhận xét này có thể coi như là đại diện cho tiếng nói của những nhà phê bình có uy tín nhất. Nhưng ông Nguyễn Văn Trung lại cho rằng “linh mục Thanh Lãng chỉ thấy sự kiện của cuộc tranh luận mà không thấy thực chất…”

Về thái độ kết tội nhà học giả họ Phạm, dù ở phần mở đầu, tác giả Nhận Định đã dè dặt và khiêm tốn cho biết “chỉ là những ý kiến giả thuyết của những người bây giờ khi nhìn về một thời kỳ mà mình chưa ra đời”, song mấy dòng rào đón ngắn ngủi và yếu ớt đó đã bị tan loãng dần so với các phần buộc tội đanh thép và những nụ cười châm biếm trong buổi hùng biện (NHP) cộng với những từ ngữ mỉa mai thỉnh thoảng điểm trong toàn bài (ví dụ Quỳnh là nhà văn học tân tiến “yêu nước”…) ví như một điếu thuốc ban đầu chỉ le lói đốm lửa nhưng về sau, bỏ vào cái bếp có sẵn dầu xăng và củi tốt đã làm bùng cháy cả một ngôi nhà.

Ông Nguyễn Văn Trung chưa dám quả quyết là Phạm Quỳnh chủ tâm theo Pháp nhưng lại tuyên bố rằng “có quyền phê phán Phạm Quỳnh về hành động và những hậu quả văn học chính trị của nó”. Đến đây, vấn đề đặt ra là Phạm Quỳnh đắc tội với lịch sử không? Và việc Phạm Quỳnh tán dương, sùng bái Truyện Kiều có phải là âm mưu thâm độc nằm trong khuôn khổ chủ trương của Pháp đầu độc thanh niên không? Rồi một bài báo của Ngô Đức Kế đã đủ làm cơ sở vững chắc để buộc tội Phạm Quỳnh không? Trước lúc đi sâu vào chi tiết chúng tôi nghĩ rằng người phê bình hôm nay nên đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử của thời kỳ xảy ra cuộc tranh luận. Chẳng hạn ngày nay, đối với chúng ta, Truyện Kiều là một tác phẩm cổ điển lớn, một đỉnh cao chói sáng trong nền văn học Việt Nam xứng đáng được xếp vào các loại tác phẩm ưu tú trên thế giới không hẳn là vì bản thân nó đề cập đến vấn đề truyền thống tốt đẹp: Truyền thống nhân đạo chủ nghĩa. Nhưng đối với Ngô Đức Kế hồi ấy, vì hạn chế bởi nhân sinh quan phong kiến và bị trói buộc trong các quan niệm “văn dĩ tải đạo” hẹp hòi, nên trong lúc đả kích Phạm Quỳnh ông đã phê phán cả bản thân Truyện Kiều bằng những luận điệu đậm màu sắc nho giáo. Tiếp đến Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều có phải bắt nguồn từ một động lực chính trị nào không?

Bình tĩnh mà xét thì suốt thời gian cộng tác với “chính phủ Bảo hộ” người ta cũng không hề tìm thấy một hành động “chó săn” cụ thể nào của ông (không kể những tài liệu bịa đặt) ngoài một số bài báo, chủ yếu là diễn văn ca tụng Truyện Kiều nhân dịp lễ kỷ niệm Nguyễn Du do ban Văn học của hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức vào tháng 8/1924. Mà phân tách nội dung bài diễn văn ấy, trước sau ta chỉ thấy toát lên những khí thế bừng bừng do nhiệt tình đối với một tác phẩm và thi hào vĩ đại của dân tộc. Nhiệt tình ấy được phản ảnh rõ rệt trong bài báo đầu tiên viết về Truyện Kiều như: “Các nước Âu Mỹ trọng những nhà văn sĩ hơn các bậc đế vương vì cái công nghiệp về tinh thần còn giá trị quí báu và ảnh hưởng sâu xa hơn là những sự nghiệp nhứt thời về đường chính trị. Tên vua Louis XIV, vua Nã-Phá-Luân (tức Napoléon – PT chú) đệ nhất có ngày mai một được mà tên những danh sĩ như Pascal, Corneille, Racine thời trong thiên hạ còn có người học chữ Pháp, còn có người nói tiếng Pháp, còn có người biết tư tưởng sâu xa thì còn không bao giờ quên được.[3]

Và qua bài diễn văn kỷ niệm Nguyễn Du, nhiệt tình ấy lại được thể hiện minh bạch hơn…

Trong mấy nghìn năm ta chôn nhau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một văn tự, văn khế phân minh chứng nhận cho ta cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.

Đấng Quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì ? Là quyển Truyện Kiều ta vậy !… Có nghĩ cho xa xôi, cho thấm thía mới hiểu rằng Truyện Kiều đối với văn nước ta có một cái gì quí báu vô cùng. Một nước không thể không có quốc hoa. Truyện Kiều là quốc hoa của ta. Một nước không thể không có quốc túy. Truyện Kiều quốc tuý của ta. Một nước không thể không có quốc hồn. Truyện Kiều là quốc hồn của ta …

Những dòng trích dẫn này dù có phần nặng về chủ quan về cảm tính (rung cảm của nghệ sĩ nên cường điệu hoá cao độ), nhưng nói chung vẫn biểu lộ được một cái gì tha thiết với đất nước, giống nòi,v.v…

Mặt khác, trong kho tàng tài liệu còn tồn tại hiện nay người ta cũng cũng khó tìm thấy một tang chứng rõ rệt để qui định tính chất chính trị của Phạm Quỳnh trong cuộc tranh luận..

Tuy nhiên về sau này, ta cũng thấy loé ra một tia sáng qua bài trả lời đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, Phạm Quỳnh viết: “…Ông Ngô thấy người ta hoan nghênh Kiều mà có ý căm tức nên viết bài phản đối, chứ ông Ngô cùng tôi không có hiềm khích gì cả”.[4]

Ngoài ra còn có một tài liệu khác có thể soi sáng cho chúng ta tìm hiểu một cách chính xác. Đó là bài của nhà học giả Phan Khôi, có thể coi như một tiếng nói hoàn toàn trung lập (nên nhớ đã có lần Phan Khôi cảnh cáo Phạm Quỳnh là nhà học phiệt). Bài đó viết: “Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay, có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sinh, một phái chuyên trọng về nghệ thuật. Hai phái ấy cũng có cái lý thuyết của mình để mà thành lập… Nếu cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay thì cái người (yêu) quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội, Tôi không rõ lúc bấy giờ Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm sách học không? Nếu vậy thì đáng công kích thật. Còn lấy danh nghĩa “văn học ban” của hội Khai Trí Tiến Đức khuynh hướng về cái thuyết nghệ thuật mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết mà tôi cho là việc ai thích thì làm chẳng hại gì cả”.[5]

Nếu những trích dẫn dài dòng trên đây khả dĩ chứng minh phần nào cho tính cách trong sạch của Phạm Quỳnh trong cuộc tranh luận với ông Ngô Đức Kế thì buộc tội nhà học giả họ Phạm “làm tay sai cho Pháp” kể cũng “bất công thật!” (…) Riêng chúng tôi thì nghĩ rằng quan điểm phê bình mà ông Nguyễn Văn Trung mệnh danh là mới kể ra chẳng có gì là mới cả.

(…) Và nếu ông Nguyễn Văn Trung mới đây đã mạt sát:Truyện Kiều còn, tiếng ta còn… sự thực khẩu hiệu đó từ miệng ông Quỳnh, cái loa của thực dân Pháp chỉ có ý nghĩa như một mánh khoé chính trị và thực chất của nó là nguỵ biện”để rồi ngang nhiên chỉ rõ: “Phạm Quỳnh cộng tác với Pháp tức là công nhận sự mất nước… làm sao có thể tự coi như một người cổ võ lòng yêu nước bằng văn học? Dưới thời Pháp thuộc, nước mất, tiếng nói cũng mất, văn chương cũng mất…”

(…) Đối với chúng ta, cái chủ trương hợp lý “không nên tách rời văn học và chính trị” không có nghĩa là chỉ nhận xét đơn thuần về mặt chính trị mà bỏ quên mất văn học mà phải quan niệm rằng đó là hai mặt của một vấn đề, tuy có quan hệ hữu cơ với nhau song không thể nhập cục lại làm một được. Nếu nghĩ rằng công tác phê bình là một loại công tác tinh vi, hữu hiệu, có khả năng tác động tới ý chí, tình cảm của quần chúng thì những lời phê phán nặng nề có giá trị một bản cáo trạng đối với Phạm Quỳnh của ông Nguyễn Văn Trung rất có thể ảnh hưởng bất lợi đến với thế hệ trẻ ra đời sau 1945 vậy! (…) Trước khi chấm dứt bài này, tôi muốn ghi lại dây một cảm tưởng chân thực rằng không hiểu sao cho đến phút này, tôi vẫn nghĩ rằng ông Nguyễn Văn Trung không chối bỏ thành tích mười lăm năm văn học của Phạm Quỳnh, bởi lẽ rất có thể, những biên khảo công phu của Phạm Quỳnh về phạm trù triết học cũng như trong lĩnh vực văn chương đã ít nhiều giúp ích cho sự trưởng thành của một số lớn trí thức chân chính Việt Nam ngày nay.

Rất mong tác giả Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết thông cảm cho rằng đây chỉ là phản ứng tất nhiên của một thanh niên yêu tiếng mẹ và thường đặt nhiều kỳ vọng tốt đẹp nơi một Nguyễn Văn Trung già dặn, sâu sắc… sôi nổi yêu đời và … thương người ta thiết.

S.T.


[1] Kẻ viết bài này không có may mắn tham dự buổi nói chuyện.

[2] Trường hợp Phạm Quỳnh(Thanh Lãng, Văn Học, 1963)

[3] Nam Phong,  1919

[4] Phụ Nữ Tân Văn, số 28/8/1930

[5]Đọc bài “Chiêu tuyết cho một nhà chí sĩ” của ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi báo Trung Lập, số 6266,6267,6268 các ngày 7,8,9/10/1930.

Ông Phạm Quỳnh nói chuyện lối “Tự Học”

Filed under: Báo — phamquynh @ 12:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 4 năm 2013.

NĂM NAY THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH TRÒN 120 TUỔI

ÔNG PHẠM QUỲNH NÓI CHUYỆN LỐI “TỰ HỌC”

Phạm Thị Nga (thuật)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng ta đều biết Phạm Quỳnh làm chủ bút phần quốc ngữ, rồi chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam Phong suốt 15 năm một tạp chí có ảnh hưởng lớn ở nước ta thời đầu thế kỷ XX. Có người đã ví Nam Phong như một bộ bách khoa toàn thư về thời đó; một người chỉ biết chữ quốc ngữ, chăm chỉ đọc Nam Phong cũng có thể thu nạp được đủ kiến thức cần thiết để sống và làm việc, tự nuôi sống bản thân và gia đình. Phạm Quỳnh đã trở thành con người mà như nhà văn Nguyên Ngọc có lần gọi là “Một người khổng lồ” của thời kỳ đầu thế kỷ XX ở nước ta.

Vì sao Phạm Quỳnh, từ một học trò nghèo, con cháu một gia tộc ba đời hàn nho, chỉ chuyên một nghề dạy học, sớm côi cút từ năm mới lên chín, lại có được cái vốn tri thức bách khoa uyên bác đến như vậy. Chưa kể việc ông thành thạo cả tiếng Pháp và chữ Hán, mà chắc các bạn còn nhớ là “thủ khoa tây đầu tiên của trường Bưởi” năm xưa, khi thi tốt nghiệp, chỉ được có nửa điểm cho bài thi chữ Hán, lại là nửa điểm ban giám khảo cho do ưu ái, muốn tránh cho một học sinh giỏi khỏi bị điểm liệt để bị loại!

Bài sau đây của Phan Thị Nga, nhan đề Ông Phạm Quỳnh nói chuyện lối “tự học” đăng trên trang 3-4 số 14 Hà Nội báo ngày thứ tư 8/4/1936 sẽ phần nào giúp các bạn yêu quí Thượng Chi – Phạm Quỳnh giải đáp được thắc mắc đó.

Chúng tôi đăng bài này theo đúng nguyên văn in trong Thanh Lãng: 13 năm tranh luận văn học (NXB Văn Học, Hà Nội, năm 1995).

—o0o—

Tự học là một sự bất đắc dĩ, tức như Chu Hy xưa gọi là “khốn học” đó, tuy thế mặc dầu, tự học vẫn có cái thú riêng.

Tôi nhớ năm 1908, ở trường Thông ngôn ra được vào ngay Bác cổ viện, một dịp may cho người hiếu học. Nhưng tôi nghĩ sách ở Bác cổ toàn là sách nghiên cứu về tôn giáo và lịch sử, về triết lý, muốn xem ít ra cũng phải có cái học phổ thông coi mới hiểu chứ, mà sức học của tôi chỉ là sức học của một người ở trường Thông ngôn ra. Hồi ấy ở trên hồ Hoàn Kiếm, bên cạnh chùa Ngọc Sơn có một thư viện gọi là thư viện bình dân (bibliothèque populaire) nói là bình dân chứ thực ra là thư viện của người Pháp, người mình muốn vào khó khăn lắm. Nhưng muốn học tôi tìm mánh khóe làm quen với người coi thư viện và nộp mỗi tháng hai đồng. Mỗi buổi chiều, năm giờ ở Bác cổ ra tôi vào ngay thư viện học đến tám giờ. Đọc sách văn chương đều đều như thế trong hai năm. Thật là hai năm kham khổ. Trong tuổi thanh niên tôi không khỏi thiên về lãng mạn đôi chút. Tôi đọc tiểu thuyết, học thuộc lòng những bài thơ của Musset. Nhưng thời gian lãng mạn của tôi rất ngắn. Tôi là người tỉnh ngộ rất sớm trong lối văn đạo tình, đọc những văn ấy tôi thấy tâm hồn người xa mình quá, nhiễm lấy cảnh tình bồng bột của họ, tôi sợ hỏng mất tâm hồn của mình đi.

Điệu đàn của người ta không thể đem vào cung đàn mình, tôi qua học các môn chính trị, triết lý, cái học ấy là học nghĩa lý. Nghĩa lý không có quê hương, ai đủ trí khôn, suy đoán nghiền ngẫm mà hiểu thì hiểu được cả. Hiểu mà giữ được tâm hồn chủng tộc. Vì một chân lý ở phương Tây, dời qua phương Đông cũng là một chân lý. Tuy thế trong lúc học cũng phải cẩn thận và cũng phải biết biện biệt phê bình mới được.

Trong mười năm tự học đó tôi đã gặp nhiều sự may mắn. Phần tôi có sẵn tính hiếu học, phần ra khỏi trường được sa ngay vào rừng sách, phần bị công việc buộc tôi phải học thêm chữ Hán đọc lịch sử, phần nhờ Hà Nội bấy giờ còn tĩnh mịch không có những thứ ăn chơi như ngày nay và gặp được bạn tốt, nên bao nhiêu tâm trí tôi đều chú vào sự học cả. Nhờ ở Bác cổ có nhiều sách tân thư chữ Hán, nên bấy giờ tôi học được nhiều chữ mới về triết lý, khoa học. Những sách bị cấm của Tàu của Nhật tôi đều có đọc tới cả. Ngoài sự nghiên cứu các khoa: chính trị, tâm lý, triết lý, lịch sử, tôn giáo tôi thường đọc tạp chí Revue des deux mondes (Tạp chí Hai Thế Giới – PT chú) là một tạp chí có giá trị bên Pháp, mỗi tháng xuất bản hai kỳ.

Trước kia, tôi chỉ mong theo nghề nghiên cứu; không ngờ bao nhiêu sự may, sự tình cờ đưa đủ tài liệu làm báo lại cho tôi. Hôm ấy tôi viết văn Tây đã thông thông, cũng muốn chuyên trị về văn chương Pháp, nhưng sau đó tôi hiểu rằng quốc văn còn cần hơn, nên xoay về tập quốc văn mấy năm, cho đến năm 1917 thì mở báo. Nam Phong tạp chí của tôi không dám nói là giống hệt, nhưng có mô phỏng xa xa theo Revue des deux monde. Mười năm tự học (1908-1917) của tôi hồi ra Nam Phong là hết. Lối viết văn của tôi thì bao giờ cũng suy nghĩ trước, tôi không bao giờ đặt viết, viết bông lông, trong trí cần phải có đề dàn xếp hẳn hoi, đủ ý tứ, bố trí trọn bài đâu vào đấy tôi hạ bút. Lúc viết không khó nhọc, trong một trang bỏ độ năm ba chữ.

P.T.N.

Tháng Tư 12, 2013

Đương tỏ dần góc khuất một gia tộc (Kỳ 3)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 4 năm 2013.

ĐƯƠNG TỎ DẦN GÓC KHUẤT MỘT GIA TỘC

Ghi chép của Xuân Ba

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Xuân Ba, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1954 tại làng Lon, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Những tác phẩm chính đã xuất bản là Mọi linh hồn đều được đưa tiễn (NXB Hội Nhà văn-1991), Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (NXB Văn Học-1995), Thời chưa xa, xuan-bangười chưa cũ (NXB Hội Nhà văn-2004), Chuyện buồn kể muộn (NXB Họi Nhà văn-2004)… Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44,45 và 46 có đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba). Ông còn nổi tiếng vì một bài báo nữa dưới dạng một bức thư “Kính gửi ông Tổng biên tập báo Tiền Phong” bị vị tổng biên tập nọ từ chối đăng, bênh vực kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy, nhà kiến trúc phong cảnh đầu tiên của nước ta, tác giả khu Kiến trúc Phong cảnh nổi tiếng, khu nhà ở đẹp nhất Hà Nội hiện vẫn trường tồn nơi làng Võng Thị bên Hồ Tây.

Tháng 10/2005, trên tạp chí Sao Việt, rồi tháng 2/2007 trên tạp chí Nhà báo và Công luận cơ quan Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam số Xuân Đinh Hợi 2007 ông cho đăng bài Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục.

Từ kỳ  tuần 1 tháng 4 năm 2013, Blog PhamTon đăng bài viết mới của nhà văn Xuân Ba, một người nặng lòng với Thượng Chi – Phạm Quỳnh và cả gia tộc nhà văn hóa lớn này.

Bài kỳ 3 này đăng trên trang 16-17 báo Năng lượng mới số 206, thứ ba 22/3/2013.

—o0o—

Kỳ 3

Chưa hết! Không biết là thời gian chính hay phụ đây để ông tham gia sáng lập và làm Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức tại Hà Nội và làm Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. Chính cuốn Việt Nam Tự điển do Hội Khai trí Tiến Đức chủ trương cùng 10 người danh tiếng thời ấy biên soạn (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Thận).

Thử ngẫm lại, nếu không có một tài năng, nếu không phải xuất chúng hoặc cái gì na ná như thế thì làm sao Phạm Quỳnh khi ấy mới độ tuổi hai mấy lại được ngồi, nói đúng hơn lại tập hợp được những tên tuổi làm cộng tác viên nhiệt thành cho Nam Phong cũng như Khai Trí Tiến Đức như các ông Nguyễn Bá Học (khi đó đã 60 tuổi), Nguyễn Hữu Tiến (43 tuổi), Phạm Duy Tốn (34 tuổi), Trần Trọng Kim, Tản Đà (khi ấy trên 30 tuổi) v.v…

Có tài liệu chép một việc Nguyễn Bá Học với Phạm Quỳnh có trao đổi bài vở chi đó với thái độ thành thực thẳng thắn và liên tài. Kết thúc cuộc trao đổi tranh luận hôm ấy, ông già Nguyễn Bá Học có xá Phạm Quỳnh một vái rồi vui vẻ dẫn ra cái câu “Lão ô bách tuế bất như phượng hoàng sơ sinh” (Quạ già trăm tuổi cũng chả bằng giống phượng hoàng mới đẻ).

Về sáng tác, các bài của ông được tập hợp và in thành sách như “Văn minh luận”, “Ba tháng ở Paris”, “Văn học nước Pháp”, “Chính trị nước Pháp”, “Khảo về tiểu thuyết”, “Lịch sử thế giới”, “Lịch sử và học thuyết Voltaire”, “Phật giáo đại quan”, “Cái quan niệm của người quân tử trong Đạo Khổng”.

“Bộ Thượng Chi Văn tập” gồm 5 quyển (Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes Hanoi ấn hành năm 1943). Có lẽ dưới ánh ngày Đổi Mới, những ấn phẩm của Phạm Quỳnh mai kia sẽ được các nhà xuất bản trân trọng giới thiệu lần lượt với bạn đọc?

 Đoạn đắc ý trong cuộc đời Phạm Quỳnh

Tôi đồ rằng, thời gian chủ trương tờ Nam Phong rồi sau đó có xông xênh ở các vị thế những Đổng lý ngự tiền những Thượng thư Bộ Lại, cuộc đời Phạm Quỳnh điều sở đắc phải lPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhà 3 tháng ở nước Pháp mà Nhà Xuất bản Hội Nhà văn mới đây đã cho in tập hồi ký “Pháp du hành trình nhật ký” của Phạm Quỳnh từ tháng 5 đến tháng 8/1922.

Mở đầu những dòng hồi ký, Phạm Quỳnh ghi rất giản dị: “Tôi được quan Thống sứ Bắc kỳ cử sang Pháp thay mặt cho Hội Khai Trí Tiến Đức để dự cuộc đấu xảo Marseille lại được quan toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết tại mấy trường lớn của Paris, ngày 9/3 tây năm 1922 tức là ngày 11/2 ta xuống Hải Phòng để đáp tàu sang Pháp”…

Có lẽ chỉ với hai cuốn “Mười ngày ở Huế” (Nhà Xuất bản Văn học đã in năm 2001) và “Pháp du hành trình nhật ký” của Phạm Quỳnh, những người yêu mến bút ký văn học nói chung cũng như viết ký nói riêng có thể tìm thấy ở hai tập sách này nhiều điều sở đắc. Và rất nên nếu như các nhà báo tương lai ở trường báo chí của ta tập làm quen và khảo sát với lối viết này qua những công trình khóa luận lẫn luận án tốt nghiệp sẽ thu hoạch được nhiều điều bổ ích! Đó là lối viết, kiểu viết không phải là rặt ngồn ngộn những chuyện, tóm lại chỉ thấy cây chứ không thấy rừng, chỉ thấy việc chứ không thấy văn.

 Chuyện, việc, sự kiện trong ghi chép của Phạm Quỳnh đều có nhưng là dung lượng là liều lượng vừa phải, là cái cớ để ông đưa người đọc vào những chiêm nghiệm suy ngẫm lý thú bất ngờ. Kiến văn của Phạm Quỳnh mở ra cho người đọc là bắt đầu bằng cái cớ của chuyện và sự kiện kia. Lý thú và bất ngờ nữa bởi sức đọc sức nghĩ và sự chiêm nghiệm trên tầm sự kiện của một người viết mới tròm trèm 30 (khi ông viết những ngày ở Huế và Nam Bộ mới 26 tuổi) mà bằng lối văn, bằng con chữ của nước Việt đầu thế kỷ XX. Mà lối văn mà con chữ ấy, Phạm Quỳnh là người đang tiên phong rèn giũa cho vốn quốc văn của Bia Tet Nam Phongnước nhà! Thời điểm ấy Phạm Quỳnh đang khuyến khích, hô hào, cổ vũ dưới hình thức này hay hình thức khác, hy vọng chữ quốc ngữ sớm trưởng thành và văn chương nước Việt mau phong phú.

Ông bàn về văn minh phương Tây nhân đi coi Bảo tàng Louvre thế này… “Duy cái văn minh Tây phương nó phồn tạp quá, các phương diện nhiều quá. Muốn bao quát cho được hết mà thu gồm lấy cái toàn thể toàn bức thật là khó! Phải có một sức học lớn, một trí lực một con mắt khác thường mới có thể xét không sai và đoán không lầm được! Cho nên còn lâu năm nữa cái văn minh Tây phương vẫn còn ngộ hoặc được nhiều người nhiều thời gian mai hậu nữa… (Thứ Năm ngày 13/7/1922)”.

Bây giờ trên một số diễn đàn, người ta đang ầm cả lên rằng, có nên dạy chữ Nho cho học sinh trong nhà trường phổ thông hay không? Thiết tưởng cũng nên tham khảo ý kiến non trăm năm trước của Phạm tiên sinh, khi ông trình bày thật khúc triết hùng hồn trước Ban Lý luận chính trị Viện Hàn lâm Pháp với đề tài “Một vấn đề dân tộc giáo dục”:

“Nhưng ngặt thay, dân An Nam không phải là tờ giấy trắng mà muốn vẽ gì lên cũng được. Tức là một tập giấy đã có sẵn chữ viết từ đời nào đến giờ! Nếu bây giờ viết đè một chữ mới lên trên e thành giấy lộn mất! Cho nên bây giờ khắp nơi dạy chữ Tây cho người An Nam từ tuổi nhỏ đến lớn như các trường Pháp Việt ngày nay, kết quả chỉ làm cho người An Nam mất tính cách An Nam mà chưa chắc đã hóa được Tây hẳn, thành ra là một giống lửng lơ thật nguy hiểm.

Muốn tránh sự nguy hiểm ấy, chỉ còn cách là dạy cho trẻ con An Nam từ nhỏ bằng tiếng An Nam cho hết bậc tiểu học. Lấy cái phổ thông giáo dục bằng quốc văn làm gốc như thế vừa tiện vừa mau vì không mất thời giờ để học một thứ tiếng ngoại quốc dang dở không đến nơi và cũng không dùng được việc gì. Học trò đã được bằng tiểu học, tốt nghiệp bằng tiếng An Nam rồi bấy giờ mới kén chọn người nào có sức học lên nữa như trung học, đại học thời cho vào một trường dự bị chỉ chuyên học tiếng Pháp.

Nhưng mà theo cách học tấn tốc như người Pháp học tiếng Anh, tiếng Đức nghĩa là học như học tiếng ngoại quốc vậy. Học thế chỉ vài ba năm là có thể thông chữ Pháp đủ theo được các lớp trung học như bây giờ. Như thế mới khỏi được cái nguy hiểm thành một hạng người dở dang tốt nghiệp trường tiểu học ra, chữ Tây không đủ dùng được một việc gì mà cái phổ thông thường thức học bằng chữ Tây cũng còn mập mờ chưa lĩnh hội được, còn tiếng nước nhà thì hầu như quên cả! (thứ Tư ngày 19/7/1922)”.

Vượt lên sự kiện của một buổi tham quan, cái thành thực của Phạm Quỳnh đâm thân gần và có sức lây lan đồng cảm nhiều lắm bởi nó là lời cởi mở rất bạn bè… “Một người thuần cựu học mà xem tranh Tây mà không có cảm gì thì còn có lẽ nhưng đến như mình có sở đắc về Tây học ít nhiều mà không biết thưởng thức cái hay cái đẹp của mỹ thuật phương Tây thì cũng lạ thật? Có lẽ bởi cái óc tối tăm mà chưa khai quang được chăng? hay bởi con mắt thịt thiếu tia sáng về mỹ thuật?

Chẳng hay bởi cớ gì nhưng trông những bức vẽ đàn bà trần truồng thỗn thện thịt bắp vai u thật cũng không hiểu cái tứ của họa sĩ là ra thế nào. Nghe người ta cắt nghĩa thì cũng chỉ biết vậy, hoặc đọc trong sách thì cũng hiểu tạm vậy, thấy người khen thì cũng gật gù mà khen cho khỏi tiếng dốt chứ kỳ thực cũng chả cảm thấy một chút nào.

 Có những lúc nghĩ lẩn thẩn, có những bức mà họ cho là tuyệt bút kia giá đáng kể hàng muôn hàng triệu tưởng giá có người đem cho mà về treo ở nhà thời cũng chả lấy làm thích vì không hiểu nó là cái chi! Nhiều khi vẫn lấy làm lạ, cái đó là một điều khiếm khuyết trong sự giáo dục của mình… Vì những cái công trình mỹ thuật kia, cả một phần thế giới có tiếng là văn minh đều công nhận là tuyệt phẩm, là tuyệt tác mà mình tuyệt nhiên chẳng biết cảm phục thời chẳng ngu xuẩn và chẳng dốt lắm ru? Cũng biết thế nhưng không thể nào làm khác được, thời thà thú thật là dốt là ngu còn hơn miễn cưỡng mà a dua.

Song xét cho cùng thì ra cái tinh thần của đông tây nó khác xa nhau nhiều quá. Có khi tưởng rằng, hiểu nhưng xét kỹ ra thực không rõ lắm bởi khác nhau về cái cảm. Lại có khi miễn cưỡng muốn cảm cho được thì là cái cảm ấy nó lại không thành thực. Cho nên mỗi khi thấy người khen tranh Tây đẹpGiai thuong Ho Chi Minhbài hát Tây hay, mình vẫn tự hỏi không biết lời khen ấy có thành thực không nhỉ? Đông tây tuy vậy vẫn còn cách xa!”.

Chúng ta cũng không nên quên rằng thời gian đó ở Pháp có thiếu gì những thanh niên Việt Nam trí thức chữ nghĩa và bằng cấp cao như Phan Văn Trường, Trần Văn Chương, Nguyễn Khắc Vệ… Trong khi Phạm Quỳnh chỉ là một ký giả tầm thường, tốt nghiệp trung học thế mà dám đứng trước Nghị viện Pháp đặt vấn đề đòi Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam! “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng.

Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc địa cũ của Pháp…”.

Thiển nghĩ, phải có tài, phải tự tin và nhất là phải có lòng! Tại Paris, ông đăng đàn tới 4 lần sâu sắc hấp dẫn có nhiều tiếng vang, được nhiều tờ báo lớn uy tín ở Paris và nước Pháp như Le Monde nouveau, Le Journal, Le Martin… đăng lại các bài đăng đàn diễn thuyết ấy hoặc phỏng vấn Phạm Quỳnh.

Từ Tổng Biên tập tới Bộ trưởng hay động cơ làm quan của Phạm Quỳnh

Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng Giêng năm 1945 gửi cho Đô đốc Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Thống sứ Trung Kỳ Healewyn đã phàn nàn về Phạm Quỳnh như thế này:

“…Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói không bao giờ bằng vũ khí cho sự bảo trợ của Pháp cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc – Trung – Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình. Một lần nữa vị Thượng thư Bộ lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật.

Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc Kỳ và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng thư Bộ lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ mật.

Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kỳ hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà vua những biểu hiện của một chủ quyền quốc gia trải rộng ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn dọa sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với vua Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Quốc gia độc lập) trong đó những chức vị chính sẽ được giao cho ngưòi bản địa.

Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ.

Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về Thuyết Đại Đông Á của người Nhật Bản (Bản phúc trình Tối Mật, hiện lưu giữ tại Văn phòngPham Quynh (Trung Hieu) Pháp quốc Hải ngoại Vụ Paris do Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux và Tổng ủy viên Mordant đề ngày 28 tháng Giêng năm 1945″. Tài liệu do bà Lê Thị Kinh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Lucxamburg cung cấp).

Năm 1932, Phạm Quỳnh rời tờ Nam Phong (cũng từ thời điểm ấy vắng một người chủ trương sâu sát, Nam Phong gần như tuột dốc, chất lượng kém hẳn để đình bản 2 năm sau đó) được vời vào Huế. Thoạt đầu làm ngự tiền Văn phòng (Đổng lý văn phòng) sau rồi Thượng thư Bộ Học (Giáo dục) cho đến năm 1944 thì chuyển chức Thượng thư Bộ Lại – Bộ Nội vụ. Về con đường quan lộ của Phạm Quỳnh cũng có nhiều ý kiến. Phạm Quỳnh có ôm ấp ý định làm quan không?

Nếu có tham vọng đó thì chỉ sau thời gian ở trường Pháp quốc Viễn Đông Bác cổ vài năm được cấp các quyền tín nhiệm đánh giá cao thì ông dễ dàng xuất dương sang Pháp du học theo Ban Bản xứ tại trường thuộc địa Paris Section Indigène Ecole Coloniale. Điều đó có thể chứng minh qua những lời nhận xét sau đây của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

“…Khi viết truyện “Kép Tư Bền”, tôi liên tưởng ngay đến bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm chính là trường hợp của Phạm Quỳnh! Tôi cho Phạm Quỳnh là những người có chính kiến. Thấy nước ta ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau. Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người An Nam như ở Nam kỳ không phải vua quan người Nam thì dân được hưởng chế độ rộng rãi hơn.

Phạm Quỳnh, trái lại chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884.

Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện “Kép Tư Bền” tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối” (“Đời viết văn của tôi” – NXB Văn Học Hà Nội năm 1971).

Năm 1931, trước thời điểm được vời vào Huế làm quan và với cương vị chủ bút Nam Phong, nhân dịp Tổng trưởng thuộc địa Paul Reynaud qua Đông Dương kinh lý, Phạm Quỳnh đã gửi bức thư ngỏ tha thiết yêu cầu chính phủ Pháp “hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để thờ. Vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp!”.

Kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết quân chủ lập hiến, Phạm Quỳnh ôm ấp hoài bão tạo thắng lợi bằng đường lối thuyết phục điều đình không bạo động! Mong vãn hồi chủ quyền quốc gia cho dù chỉ tương đối căn cứ vào phạm vi Hiệp ước Patenôte năm 1884, hầu như mọi cố gắng của Phạm Quỳnh đã trở thành bi kịch. Bi kịch ấy là hậu họa của một thứ ảo tưởng? Mặc dù ông đã manh nha đã sớm nhìn ra điều không tưởng của thuyết “Pháp Việt đề huề” từ tháng Giêng năm 1919 như ông đã viết trong chuyến thăm Nam Kỳ.

X.B.

Ghi thêm: Đặc san Đang Yêu của báo Phụ Nữ Thủ Đô, phát hành thứ ba hằng tuần, số 6 (Bộ mới – 26/3/2013) trong mục Gia đình người nổi tiếng bắt đầu đăng bài viết nhiều kỳ của nhà báo Xuân Ba Phạm Quỳnh và chuyện phía sau cánh cửa của một gia tộc không thường các trang 8 và 9.

Lời tòa soạn viết: “Có thể nói nhà báo Xuân Ba là một “cây đại thụ” trong nền báo chí hiện đại. Những bài viết của ông sử dụng ngôn ngữ, tư liệu sống và cách phân tích vô cùng sắc sảo. Phong cách làm báo của ông ảnh hưởng rõ rệt đến các thế hệ nhà báo trẻ. Bắt đầu từ số này, Đang yêu trân trọng giới thiệu loạt bài dài kỳ về gia đình cụ Phạm Quỳnh – thân phụ của nhạc sĩ Phạm Tuyên, một nguồn tư liệu hiếm có của nhà báo Xuân Ba (Tư liệu này vừa xuất hiện trên Petrolimex). Và theo Xuân Ba nói, với bài viết này, ông “đang chạm vào cánh cửa của một gia tộc không thường.”

* Bài này có ba bức ảnh không có trong tư liệu của Petrolimex: Gia đình cụ Phạm Quỳnh/ Nhạc sĩ Phạm Tuyên và em gái khi còn nhỏ / Bà Phạm Thị Giá – người con thứ hai của cụ Phạm Quỳnh.

Trang sau »

Theme: Rubric. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.