Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 6, 2014

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự lễ kỷ niệm 210 năm khởi lập Thành Đông, 60 năm Ngày giải phóng Thành phố Hải Dương

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:40 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự Lễ kỷ niệm 210 năm khởi lập Thành Ðông, 60 năm Ngày giải phóng TP Hải Dương

(Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 31/10/2014)

Ngày 30-10, tỉnh Hải Dương tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 210 năm khởi lập Thành Ðông (1804 – 2014), 60 năm Ngày giải phóng TP Hải Dương (30-10-1954 – 30-10-2014) và đón nhận Huân chương Ðộc lập hạng nhì. Chủ tịch nước TrươngTruong Tan Sang ky niem 210 nam khoi lap Thanh Dong Tấn Sang cùng các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước dự.

Ðược khởi lập năm 1804 dưới thời Vua Gia Long, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các thế hệ người dân Hải Dương, đã kiên cường chiến đấu, hy sinh để kiến tạo, bảo vệ mảnh đất quê hương. Sau 210 năm xây dựng và phát triển, Thành Ðông xưa – TP Hải Dương ngày nay đã trở thành trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, dịch vụ của tỉnh Hải Dương và là đô thị trung tâm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Phát biểu ý kiến tại Lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang biểu dương, ghi nhận và chúc mừng những thành tích Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hải Dương đã đạt được trong những năm qua. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, lịch sử 210 năm khởi lập và 60 năm qua của Thành Ðông – TP Hải Dương là rất đáng tự hào. Nhưng để thực hiện được nhiệm vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Hải Dương cần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết T.Ư 4 (Khóa XI) về xây dựng Ðảng và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; chăm lo bồi đắp mối quan hệ máu thịt giữa Ðảng và nhân dân.

Chủ tịch nước đề nghị Ðảng bộ, chính quyền, nhân dân Hải Dương tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những khuyết điểm, yếu kém trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời chuẩn bị tốt về mọi mặt cho Ðại hội Ðảng bộ thành phố, tiến tới Ðại hội Ðảng bộ tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ 2015 – 2020 và Ðại hội lần thứ XII của Ðảng; đưa TP Hải Dương phát triển với tốc độ cao, bền vững hơn, đạt chuẩn đô thị loại một trước năm 2020.

Tại buổi lễ, thay mặt Ðảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng nhân dân và cán bộ TP Hải Dương phần thưởng cao quý: Huân chương Ðộc lập hạng nhì.

PV.

Phạm Quỳnh, Chủ bút báo Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

PHẠM QUỲNH, CHỦ BÚT BÁO NAM PHONG

Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam mà chúng tôi lại giới thiệu Phạm Quỳnh, một nhà báo không thể nói là…cách mạng được. Xem ra, có vẻ vô duyên và lạc điệu…

Nhưng, lý do là thế này:

Hình GS Van Tao

Ngày 27/8/1945, sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công tại Hà Nội vừa một tuần, đã có cuộc họp mặt hơn 100 thanh niên trí thức Hà Nội do Trần Quốc Hương triệu tập. Có người đã đứng trong tổ chức, có người mới chỉ cảm tình với Đảng. Tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay.

Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp chủ trì và nhà văn hóa Phạm Văn Đồng cùng tham dự. Mục đích là chuẩn bị mọi mặt để lancer (“tung”) tờ Cờ Giải Phóng ra công khai. Ngay giữa trận địa báo chí Hà Nội còn nguyên vẹn đủ màu sắc chính trị phức tạp lúc bấy giờ.

Chính trong cuộc gặp mặt quan trọng này của lịch sử báo chí Cách Mạng Việt Nam, Trường Chinh đã nói một câu đầy hoài bão:

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày nay; 1945, Cờ Giải Phóng.

Mà Phạm Quỳnh, chính là linh hồn của Tạp chí Nam Phong, ông từng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút trong gần suốt thời gian Nam Phong tồn tại (1917-1934).

Bài chúng tôi đăng dưới đây là của Giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, đã từng gửi cho tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, sau đó, chỉ đăng ở một báo nhỏ, ít người biết, trong mục Ý kiến –Trao đổi (Khoa học và Ứng dụng, số 2, năm 2005, trên 2 trang 9 và 10). Rồi sau đó, đổi nhan đề thành Chủ bút báo Nam Phong-Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại, Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, một tạp chí có đông đảo bạn đọc là trí thức (số 12, ngày 20/6/2006). Và ngày 10/7/2006 thì lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một tờ báo cũng có đông đảo bạn đọc là trí thức (số 13 (278)).

Theo lệ thường thì người ta thường chọn bài đăng cuối cùng, vì cho là đã được tác giả xem xét và sửa chữa lại nên đầy đủ và chính xác hơn hết. Nhưng chúng tôi lại chọn bài đầu đầu tiên, vì bài đó có vai trò đặc biệt, đánh dấu một bước tiến trong việc nghiên cứu và đánh giá lại Phạm Quỳnh sau này.

Bốn tháng sau cái chết đột ngột và bí ẩn, mờ ám của Phạm Quỳnh, thì ở Thừa Thiên-Huế, có tờ nhật báo khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng Huế” tên là Quyết Chiến, số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945, đăng bản tin: “Ba tên Việt gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa Án Quân Sự tỉnh Thuận Hóa”. Sau đó, tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số 4 trang, là “Cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ”, số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương”, không có ai đứng tên thay mặt tổ chức ký cả.

Kỳ lạ là sau cái bản án…tuyên sau khi hành quyết bốn tháng trời đó, mọi ý kiến phát biểu công khai ở tất cả mọi cấp, trong cả nước ta, đều theo cái cách không bình thường đó. Rồi vào cả lịch sử, cả văn học sử, cả sách giáo khoa… Ròng rã hơn 60 năm trời, người dân cả nước ta cứ phải nghe mãi một giọng ấy. Cho đến khi có bài báo nhỏ của giáo sư Văn Tạo, người dân mới được nghe một giọng khác, mở đầu cho hàng loạt bài ăm ắp tư liệu xác thực, giúp người đọc hiểu đúng chân tướng sự việc bị che giấu hơn nửa thế kỷ và dần dần hiểu rõ hơn Phạm Quỳnh là người như thế nào, đã bước đầu có những đánh giá sát sự thật hơn. Từ đó mới thấy các báo và tạp chí đăng các bài như Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005. Bài này Vương Trí Nhàn đã đưa tạp chí từ năm 1992, 13 năm sau mới đăng, với nhan đề khác, sau khi đã cắt đi hai đoạn quan trọng. Tiếp đó là loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Đến năm 2006 là các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, rồi Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Còn có bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Rồi bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12/6/2006. Và trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005 bài Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh của Vương Trí Nhàn và bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục

Van Tao

Chúng tôi khâm phục lòng dũng cảm của giáo sư Văn Tạo, vì sự công minh của lịch sử mà ông suốt đời theo đuổi, nhất là trong những năm tháng không còn nhiều của mình, cho nên cứ đúng nguyên văn bản của ông gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai học giả Phạm Quỳnh, ngày 16/5/2005 mà đăng. Mặc dù, chính ông cũng đã biết có sự việc nêu trong bài cơ bản là đúng, nhưng chi tiết lại có chỗ không sát sự thật, do nghe qua người này người khác kể chứ chưa được tiếp xúc tận gốc như gần đây đã có thêm nhiều tư liệu mới được công bố.

Chúng tôi quý bài đó vì tính lịch sử của nó ra đời trước Đại hội Đảng lần thứ X và đã mở đường cho một dòng chảy lành mạnh, chân thực trong nghiên cứu lịch sử.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết nhỏ mà rất lớn của giáo sư Văn Tạo và xin chúc ông luôn mạnh khỏe, minh mẫn, thanh thản ở tuổi ngoại bát tuần, để còn phấn đấu thực hiện cho được hoài bão của mình là thực hiện sự công minh lịch sử trên đất nước ta tươi đẹp có dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

—-o0o—-

Hồi còn nhỏ tôi học chữ Nho ông ngoại tôi. Một lần ông tôi nói: “Tỉnh Đông (tức tỉnh Hải Dương) ta là một trong những tỉnh có nhiều nhà khoa bảng nhất cả nước. Kể từ Tiến sĩ trở lên cũng đến dăm sáu trăm vị[1]. Còn riêng huyện Tứ Kỳ, như Phan Huy Chú viết, cũng có tới 47 vị, trong đó nổi bật nhất là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm[2]. Nhưng nhiều nhất phải kể đến hai huyện Bình Giang và Cẩm Giàng (thực tế là Nam Sách). Riêng Bình Giang có làng Mộ Trạch được gọi là “cái tổ Tiến sĩ” (Tiến sĩ sào), có tới 36 vị từ Tiến sĩ đến Trạng nguyên. Cạnh đó là làng Lương Đường, (xưa gọi là Hoa Đường, sau gọi là Lương Ngọc) cũng có nhiều Tiến sĩ, mà nổi danh nhất là Hoàng Giáp Hoa Đường Phạm Quý Thích[3]. Nay lại có Phạm Quỳnh đang làm quan tại triều”.

Ngừng một lát, ông tôi nói: Nhưng không hiểu mồ mả đất cát làm sao mà trong giới khoa bảng tỉnh Đông ta lại có câu tựa như sấm truyền, là:

“Lương Đường sỹ: Thiên hạ bĩ

Mộ Trạch quan: Thiên hạ an!”

Có lẽ là do phong thủy (tức “kiểu đất mồ mả”) gây nên chăng, như kiểu đất cha ông Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, Hà Đông là:

“Nhị Khê: mạch đoản. Họa thảm: chu di”?

(Tức mạch đất bị đứt đoạn nên chịu thảm họa “chu di tam tộc”)

Pham Quynh_deo bai ngaÔng tôi bình luận thêm:

“Đâu phải là ngẫu nhiên mà các Tiến sĩ Mộ Trạch thường ra làm quan trong thời thái bình, thịnh trị nên mới nói là “Mộ Trạch quan, thiên hạ an”. Còn ở Lương Đường, những kẻ sĩ ra đời thường gặp “thời bĩ” mà đã làm quan “thời bĩ” thì cái xấu xa của triều đình cũng tránh không khỏi dây dưa, ảnh hưởng tới thân phận mình là bề tôi.”

Cách đây gần 10 năm (khi còn là huyện Cẩm Bình: Cẩm Giàng, Bình Giang hợp lại) tôi được Huyện ủy mời về thăm và làm việc trong một tuần lễ. Sau khi đi thực tế về, Huyện ủy có hỏi tôi:

“Nay các xã trong huyện đang định quy hoạch lại cơ sở hạ tầng để nâng cao kinh tế, phát triển văn hóa, vậy đối với Lương Đường, các di tích họ Phạm, nhất là gia đình họ Phạm Quỳnh nên như thế nào?”

Tôi nói: Sử học chúng tôi trọng “Công minh lịch sử” vốn là thuộc tính của ngành khoa học, vì có “Công minh lịch sử” mới có “Công bằng xã hội”. Xét về nhà trí thức Phạm Quỳnh ở tỉnh ta, thì mọi di tích lịch sử vẫn nên bảo tồn. Thực tế ông ra làm quan vào “thời bĩ” thì dẫu chúng ta không mê tín vào phong thủy cũng khách quan thấy được rằng sinh thời của ông là lúc phong kiến đi xuống, đất nước bị thực dân nô dịch…khiến chính vua Bảo Đại, người dùng Phạm Quỳnh làm “Ngự tiền văn phòng” cũng đã thừa nhận mình chỉ là một ông vua bù nhìn. Khi thoái vị, Bảo Đại còn nói: “Làm dân một nước độc lập còn hơn là làm vua một nước nô lệ”. Phạm Quỳnh với danh nghĩa “văn phòng” thì tránh sao khỏi phải thực thi mệnh lệnh của triều đình. Còn xét về hành động, Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đầy các nhà yêu nước.

Điều đánh chê trách (?) nhất ở Phạm Quỳnh là đã ra làm chủ bút báo Nam Phong , do tên trùm mật thám Đông Dương là Lu-i Mác-ty (Louis Marty-Inspecteur des affaires politiques de l’ Indochine) chủ trì. Với chức danh đó, ông không thể không có sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc. Nhưng mặt khác, ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông-Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận. Nếu không xảy ra việc ông qua đời năm 1945, thì có thể ngày nay chúng ta dễ dàng đánh giá ông hơn.

Gần đây vẫn còn có người cho rằng: vì ông là phản động nên Việt Minh đã thủ tiêu ông? Với những tư liệu mà tôi thu thập được thì thấy sự thực không hẳn là như thế: Năm 1945, sau khi Bảo Đại vừa thoái vị, trao ấn kiếm cho Chính phủ lâm thời thì Pháp thả dù biệt kích và gián điệp xuống vùng ngoại vi thành phố Huế, mang theo chỉ thị mật của Chính phủ Đờ Gôn là phải tiếp xúc cho kỳ được với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. Lúc đó Bảo Đại đã được đưa ra Thanh Hóa, còn Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh vẫn ở Huế nên có lệnh cấp tốc phải di dời hai nhân vật này ra khỏi Huế. Chuyến di dời đó có bốn người là Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm), Phạm Quỳnh, con trai Ngô Đình Khôi và Nguyễn Tiến Lãng, con rể Phạm Quỳnh. Nhưng phương tiện dời đi chỉ có chiếc ô tô cũ, ọc ạch đưa được ba người là Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi cùng du kích áp tải. Nguyễn Tiến Lãng phải ở lại đi bằng phương tiện khác. Chẳng may du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì xe bị hỏng, lại có tiếng ì ầm như có tiếng máy bay biệt kích Pháp thả dù. Các chiến sĩ du kích bí quá, sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời, đã tự động thủ tiêu ba người, không chờ chỉ thị cấp trên.

Sự việc diễn ra như vậy là cái “ngẫu nhiên lịch sử”, tuy có phản ánh cái tất yếu, nhưng cái tất yếu chưa được nhận thức đầy đủ. Nó cũng để lại những dấu ấn tiêu cực trong các mối quan hệ nhân quả không lường trước được. Cụ thể như trong cuộc gặp gỡ với đồng chí Vũ Ngọc Nhạ (một anh hùng tình báo của ta vừa qua đời) tại cuộc Hội thảo Khoa học do Viện Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức vào cuối năm 2001, tôi đã được nghe đồng chí Vũ Ngọc Nhạ cho biết “Có lần Ngô Đình Diệm đã bộc lộ lòng kính trọng Cụ Hồ, nhưng lại nói: Tôi không thể đi với Việt Minh được, vì nếu vậy thì biết nói gì với gia đình họ Ngô tôi về việc Việt Minh đã giết anh ruột tôi”

Thế đấy, một sự kiện lịch sử nếu được làm sáng tỏ cũng có thể có ích cho mối quan hệ giữa những người có liên quan, nhất là những nhân vật có trọng trách với quốc gia.

Cũng vậy, sự kiện về Phạm Quỳnh qua đời, nay vẫn còn chưa được làm rõ. Ngày 4/10/2002, nhân gặp đồng chí Cù Huy Cận (một trong ba người tước ấn kiếm của Bảo Đại sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945) ở cuộc nghiệm thu một công trình khoa học tại Hạ Long, tôi hỏi về cái chết của Phạm Quỳnh, đồng chí Cù Huy Cận nói:

“Chính tôi đã được Bác Hồ giao cho ra đón bà Phạm Quỳnh cùng con gái xin vào gặp Bác Hồ để minh oan. Vừa tới nơi, Bác đã ân cần hỏi thăm sức khỏe và nói ngay “Bà ơi! Đã lỡ mất rồi”…Bác còn dặn dò bà Phạm là cố gắng dạy dỗ con cháu tích cực làm việc cho dân cho nước”. Các con cháu bà cho đến nay đã thực hiện được lời khuyên của Bác như Phạm Khuê, Phạm Tuyên…

Một tư liệu nữa lại chứng minh thêm ý kiến trên của Bác Hồ:

Năm 1945, khi Bác Hồ gặp đồng chí Chu Đình Xương, giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ để chỉ thị về việc “Thả Ngô Đình Diệm’, Bác còn nói thêm “Nếu Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) còn, thì nay chúng ta cũng mời Cụ ra giúp nước”. Không rõ tư liệu chính xác đến mức nào, nhưng qua mấy sự kiện trên ta có thể thấy cái “ngẫu nhiên lịch sử” nên vẫn còn cần được làm rõ.

Đối với quê hương Hải Dương chúng tôi, nếu làm rõ được sự kiện lịch sử này cũng có lợi cho việc thực hiện tính “Công minh lịch sử” nhằm bảo đảm tính “Công bằng xã hội” đúng với mục tiêu mà các Đại hội Đảng đã đề ra là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


[1] Theo thống kê trong công trình “Tiến sĩ Nho học Hải Dương 1075-1919” của Hội đồng Chỉ đạo Biên soạn Địa chí tỉnh Hải Dương do Tăng Bá Hoành chủ biên, xuất bản năm 1999, trang 153, thì tính đến năm 1919, Hải Dương có tất cả là 637 Tiến sĩ (chưa kể biệt lục)

[2] Trong Lịch sử Hiến chương loại chí (tập 1, NXB Sử Học, 1960) mục Nhân Vật Chí (trang 102-103) viết: Phủ Hạ Hồng… về khoa mục thì huyện Gia Phúc, huyện Tứ Kỳ đỗ nhiều hơn (mỗi huyện 47 người). Những người học giỏi, những người bề tôi hiến phần quê ở trong hạt. Về thời Mạc có Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng Trung An, đỗ Trạng nguyên, có tài lưu tiếng nghìn đời. Như vậy trước kia quê hương Trạng Trình thuộc huyện Tứ Kỳ. Đến thời Nguyễn (1838) mới cắt 5 tổng của Tứ Kỳ, 3 tổng của Ninh Giang lập thành huyện Vĩnh Bảo nay thuộc Hải Phòng.

[3] Phạm Quý Thích đỗ Tiến sĩ năm 1779 thời Lê mạt nên không thi thố được tài năng đã về dạy học đào tạo được nhiều nhân tài

4 Về sai lầm của Phạm Quỳnh thì chí ít cũng như Phan Châu Trinh đương thời đã chê trách: “Còn như cái anh Phạm Quỳnh thì tôi thấy trong một, hai bài trong nhật trình không những là giả dối, vẽ vời mà lại nói lắm điều hại cho thanh niên nhiều” (Tuyển tập Phan Châu Trinh của Nguyễn Văn Dương – Đà Nẵng 1995, trang 33). Về đóng góp thì cho đến nay không ít nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam đã ghi lại lời Phạm Quỳnh nhân kỉ niệm Nguyễn Du (Nam Phong 1919 kỷ niệm Nguyễn Du) là “Truyện Kiều còn! Tiếng ta còn! Tiếng ta còn! Nước ta còn!” coi đó là lời nói có ý nghĩa tích cực, đáng ghi nhận.

5 Có một chi tiết nữa: Có người cho rằng, trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đình Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài – người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán.

Làng Văn hóa Lương Ngọc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

LÀNG VĂN HÓA LƯƠNG NGỌC

Sỹ Thắng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Phạm Quỳnh quê gốc làng Lương Ngọc, trước là Lương Đường, tên về đời Lê là Hoa Đường, thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Cả làng thời trước hầu như chỉ có một nghề là “nghề dạy học”.

Chúng tôi vui mừng nhận được tờ Hải Dương cuối tuần (thứ bảy, 7/3/2009) và xin trích đăng bài Làng văn hóa Lương Ngọc của Sỹ Thắng ở trang 8, mục Văn hóa-Xã hội của báo. Xin mời các bạn đọc để hiểu thêm về Lương Ngọc xưa và nay

—o0o—

Lương Ngọc là thôn lớn trong bảy thôn của xã Thúc Kháng, Bình Giang tỉnh Hải Dương. Cả thôn có 400 gia đình với 1800 nhân khẩu, thuộc 10 dòng họ. Sau nhiều năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư “, năm 2008, làng Lương Ngọc được công nhận là Làng Văn Hóa. Thành tích ấy là cả quá trình phấn đấu, đồng lòng quyết tâm xây dựng quê hương của cán bộ, đảng viên và nhân dân nơi đây.

Tương truyền, làng Lương Ngọc hình thành vào thời nhà Đinh (năm 980), lúc đầu có tên là thôn Bông, thuộc xã Ngọc Cục, trấn Hải Dương. Trong hơn 10 thế kỷ hình thành và phát triển, làng bốn lần đổi tên, từ làng Bông thành làng Hoa Đường, Lương Đường và nay là Lương Ngọc. Vốn là một vùng quê văn hiến và cách mạng, thôn Lương Ngọc và xã Thúc Kháng tự hào là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân trong lịch sử như nhà văn hóa lớn Phạm Quỳnh và 12 vị đỗ đại khoa, 11 cử nhân triều Nguyễn, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe, Giáo sư Phạm Khuê, Nhạc sĩ Phạm Tuyên…

thon-luong-ngoc

Ngày nay (…) bộ mặt thôn Lương Ngọc ngày càng khởi sắc (…) Trong thôn đã xây dựng được một nhà văn hóa hai tầng, khang trang, với các lớp học mầm non, sân chơi thể thao; kiên cố hóa 1.8km đường bê-tông, xây kè hệ thống rãnh thoát nước của thôn, lắp đặt thêm một trạm biến áp phục vụ điện sinh hoạt cho nhân dân… Trong sản xuất nông nghiệp, bên cạnh việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ hợp lý, thôn Lương Ngọc còn tích cực tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Ngoài diện tích gieo trồng các loại rau màu có giá trị kinh tế cao, thôn còn đưa vào gieo cấy các loại lúa lai năng suất cao và chuyển một phần diện tích trồng lúa năng suất thấp sang đào ao thả cá, phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại. Cả thôn có 40% số hộ làm nghề kim hoàn truyền thống, hằng năm cho thu nhập ổn định 20 triệu đồng/hộ. Ngoài ra còn có hợp tác xã vàng bạc Tân Tiến, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 50 lao động với thu nhập ổn định 1,5-2 triệu đồng/người/tháng. Nhờ đó năm 2008 thu nhập bình quân mỗi người trong thôn đạt 8 triệu đồng/năm. Tất cả các gia đình có nhà xây, trong đó 60% là nhà mái bằng, 90% số hộ có xe máy, 100% sử dụng điện trong sinh hoạt, 90% sử dụng nước hợp vệ sinh, 60% có điện thoại… Số hộ giàu chiếm 22%, khá 35%, tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn 8%.

Các gia đình đều thực hiện tốt nếp sống văn hóa mới và quy ước làng văn hóa, thực hiện nghiêm quy định về lành mạnh hóa việc cưới, việc tang và lễ hội, xây dựng mô hình gia đình ít con, bình đẳng tiến bộ hạnh phúc. Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân tăng lên, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tình làng nghĩa xóm càng thêm bền chặt. Qua bình xét, có 80% số hộ trong thôn đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Hằng năm 100% số học sinh đúng độ tuổi được vào học lớp 1; tỉ lệ học sinh giỏi ngày một tăng, bình quân mỗi năm có 7-8 học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng. Các hoạt động tình nghĩa, từ thiện được nhân dân tích cực hưởng ứng.

Danh hiệu Làng văn hóa là động lực để cán bộ đảng viên và nhân dân thôn Lương Ngọc tiếp tục phấn đấu nâng cao đời sống mọi mặt.

Phẩm chất Phạm Quỳnh – Ts Vĩnh Hoàn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:46 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

 

PHẨM CHẤT PHẠM QUỲNH

TS Vĩnh Hoàn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là chương VIII trong “tập viết Của César trả César” của tiến sĩ Vĩnh Hoàn viết từ San Francisco nước Mỹ, cũng là tư liệu của nhà văn Sơn Tùng gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo.

—o0o—

Tôi viết về Phạm Thượng Chi trong hương đêm Cựu Kim Sơn (tức San Francisco, Mỹ – PT chú) với tâm trạng “hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” vì chưa có cái thú “hồi hương ngẫu hứng” của Hạ Tri Chương. Họ Hạ ham công danh đến trên 80 tuổi mới nghỉ hưu về quê làm cho bạn bè buổi niên thiếu còn lại ngơ ngác không nhận ra. Còn tôi, mang kiếp viễn xứ cho nên vẫn đang “Ngược xuôi nhớ mấy cung đàn” vì, “Ai đem quán trọ mà ngăn lối về.

Phạm Thượng Chi tiên sinh,

Tên tuổi tiên sinh phổ cập từ Cao Bắc Lạng với rừng cây xanh xanh, núi xanh xanh cho đến nơi trăng thanh gió mát với biển sóng mênh mông Đông Hồ bát ngát; từ thành thị đến thôn quê, từ bậc thức giả ưu thời đến kẻ lỡ làng lang bạt, ai mà không biết, vị tất phải “vẽ rắn thêm chân”.

Nhắc đến tiên sinh là “kẻ tung người hứng”. Tiên sinh là nhà báo lỗi lạc, nhà văn xuất sắc, là học giả uyên bác, thâu thái Đông Tây phát triển dung hợp. Dung hợp tất cả Đông Tây Kim Cổ và cuối cùng là một nhà chính trị với chủ trương quân chủ lập hiến trong buổi giao thời; chính trị hiểu theo nghĩa rộng.

Phạm Thượng Chi ra đời trước trang sử thế kỷ XX được mở ra, khi mà đại thể nhân loại đang vận hành chuyển dịch khắp mọi địa vực trên mọi địa hạt, mang tín hiệu một thời đại mới với những biến cố phi thường. Vừa nhập thế thì tại Á Châu, Nhật vừa nhận chìm giấc mộng Đông Phương của Nga Hoàng, Cách mạng Tân Hợi 1911 cuốn phăng rác rưởi hàng ngàn năm phong kiến (Trung Quốc – PT chú). Trong nội bộ Đế quốc, việc chia sẻ quyền lợi không ổn thỏa. Đức bó tay lui vào bóng tối. Anh, Pháp lẫy lừng. Nhất là Anh! Cũng trong hào quang lấp lánh ấy, Anh nói lên một sự thật ngão nghễ “Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh”.

Trong địa vực quốc nội, lịch sử cách mạng Việt Nam tự ngàn xưa vẫn là lịch sử một vận động liên tục, không ngừng nghỉ của những phong trào đối kháng ngoại xâm ngày càng tăng, càng mạnh. Từ Đông Kinh Nghĩa Thục đến Đông Du, từ Phan Bội Châu đến Phan Chu Trinh. Tình nghĩa Yên Bái chưa phôi pha thì Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra. Đàn chim Việt tan tác bay đậu tán loạn, thỉnh thoảng vọng về tổ quốc những tiếng kêu hằn học.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, Pháp muốn xoa dịu. Nhưng Đông Dương tạp chí cạn dòng. Louis Marty Giám đốc Chính trị Phủ Toàn Quyền Đông Dương, gốc là một tay mật thám trí thức “đánh hơi” được tư tưởng Phạm tiên sinh manh nha trong những bài viết ở Đông Dương tạp chí, móc nối để tiên sinh làm chủ báo Nam Phong. Nam Phong ra đời tháng 7-1917. Thoạt đầu, lấp lánh huyền thoại Pháp Việt Đề Huề, nhưng sau Pháp Du Hành Trình 1922, có dịp trắc nghiệm sự hiểu biết cơ hữu, tình cảm của trí thức và quan chức Pháp, thì khác hẳn.

A.Sarraut sang Đông Dương lần thứ hai sau thế chiến 1914-1918, là một Toàn quyền nổi trội nhất: uy tín, trí thức, hùng biện, hoạt bát, khôn khéo; hứa hẹn nhiều sự thay đổi hấp dụ, nhưng mới làm được một ít thì chính trường Pháp “rục rịch”, phải về nước.

Chính trường Pháp thay đổi. Tháng 10-1925, A.Varenne được phái sang Đông Dương với ý đồ muốn có một ít cải cách chính trị, nhưng vấn đề chính thể không giải quyết được, nên từ chức. P.Pasquier lên thay. “Đã mười năm qua chủ nghĩa quốc gia với nền quân chủ lập hiến một Hiến Pháp qui định rõ ràng quyền của Dân, của Vua và của Bảo Hộ. Trong đó Vua giữ quyền hành chánh, Thượng thư giữ các Bộ, chịu trách nhiệm với Dân, với Vua và với Bảo Hộ. Người Pháp đóng vai trò Cố Vấn. Về binh lực thì do người Pháp nắm giữ với mục đích chống ngoại xâm.

Tất cả những đề xuất trên, với thái độ ôn hòa, chừng mực, không làm cách mạng bạo động mà chỉ lấy Tư Duy Dung Hợp làm cơ sở cho mọi luận cứ, trở thành nguyên tắc căn bản cho sự hợp tác của Phạm Quỳnh và bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương lọt vào mắt xanh của P.Pasquier. Tháng 3-1928, P.Pasquier thay Varenne. Ngày 28/10/1930 P.Pasquier đọc một bài diễn văn quan trọng, báo trước sự cải cách cần thiết để thích ứng với chủ quyền nội trị đúng theo tinh thần điều ước Patenôtre 1884.

Lá bài thành hình. P.Pasquier về Pháp để lo liệu. Tháng 10/1931, P.Raynaud sang An Nam rà tình hình. Phạm Quỳnh gửi một bản điều trần tóm tắt những điều mà ông theo đuổi, trong đó nổi lên một mệnh đề làm P.Raynaud giật mình: “Chúng tôi cần một quốc gia để thờ…” Điều ấy mang ý nghĩa chống lại mệnh đề: “Nos ancêtres sont des Gaulois” (Tổ tiên chúng ta là người Gô loa) trong bài sử học đầu tiên của trẻ con An Nam bậc tiểu học.

Tháng 3/1932 Bảo Đại về nước. Bảy tháng sau, Phạm Quỳnh nhận được “chỉ” nhà Vua triệu vào kinh nhận chức Thượng Thư sung Ngự Tiền Văn Phòng Đổng Lý. Bảo Đại lập nội các với Ngô Đình Diệm Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh Bộ Học. Vấn đề Phạm Quỳnh nhận “chỉ” nhà vua, theo sự suy nghĩ của chúng tôi, trong thâm tâm tiên sinh, vào thời điểm ấy chế độ thực dân còn ở cao điểm, ông dự phóng dân trí còn thấp, dân tâm khảng tảng, đành phải chấp nhận biện pháp “chiết trung”, dựa vào chính thống nhà Nguyễn để buộc Pháp trả lại những quyền uy tối thượng cho nhà Vua. Bảo Đại phấn khởi, ban bố nhiều Đạo Dụ nhưng dến vấn đề thực thi thì Pháp lừng khừng. Bất hạnh nối tiếp bất hạnh. Cuối 1933, P.Pasquier cha đẻ giải pháp Bảo Đại/Phạm Quỳnh tử nạn máy bay tại Pháp. R.Robin lên thay, nắm lấy cơ hội bèn trở mặt “…Những điều ước (ám chỉ những điều ước 1884 – chú thích của người viết) Bảo Hộ tuy nhiên không phải là một trở ngại đối với những tiến hóa cần thiết”. Ngô Đình Diệm nhạy bén, treo ấn từ quan, quay lưng trở lại mang cái “thẻ ngà chí sĩ”. Phạm Quỳnh ở thế kẹt.

Nắm lấy cơ hội, số 14 tuần báo Phong Hóa đổi mới với Nhất Linh, Hoàng Đạo (Tứ Ly), Khái Hưng… ra ngày 2/9/1932 bắt đầu mở những trận cười vào Nam Phong. Từ ấy ngày đêm Phạm Quỳnh bị bêu riếu cho đến năm 1939. Sự cố ấy dễ hiểu, vì chỉ là hành động vác gậy đi đập đèn hàng xóm để giành ánh sáng cho đèn mình. Cũng cần mở một dấu ngoặc “là sự cố ấy tái diễn tại miền Nam khoảng trên dưới 20 năm sau, khi nhóm Sáng Tạo nhất trí tuyên bố làm văn học nghệ thuật hôm nay, phủ nhận Tự lực Văn Đoàn.

Một thời gian ngắn sau 2/9/1932, quốc dân quay lưng lại với Phạm Quỳnh, nhưng ông vẫn ẩn nhẫn. Năm 1939, Phạm Quỳnh tháp tùng Bảo Đại sang Pháp vận động chính phủ Daladier, yêu cầu Pháp tôn trọng chữ ký, nhưng nước Pháp đang đứng bên bờ vực thẳm Thế chiến thứ II. Và, thế chiến thứ II nổ ra. Pháp thất trận ngay.

Trong những năm tháng cuối cùng của Phạm Quỳnh, biết ông không ai bằng Haellewyn và hiểu ông cũng không ai hơn Haellewyn. Trong báo cáo tối mật ngày 8/1/1945 gửi lên Toàn Quyền Đông Dương, (trước gần đúng 90 ngày trong nháy mắt một đêm, đêm 9/3/1945), viên khâm sứ cuối cùng của Trung Kỳ Haellewyn, người từng nắm ngự bào Bảo Đại và cổ áo Phạm Quỳnh đã viết: “…Phạm Quỳnh cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản (việc này đã gây nên nạn đói năm Ất Dậu (1945) làm chết khoảng 2 triệu người từ Quảng Trị ra Bắc Kỳ – Chú thích của người viết)… Đòi hỏi chúng ta, trong một thời gian ngắn nhất phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng quyền uy tối thượng của quốc gia, bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế mới thay thế chế độ Bảo Hộ… và tạo dựng một quốc gia Việt Nam . Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này (Phạm Quỳnh) là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập và, chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành không hề lay chuyển bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một chức vụ danh dự có nhiều bổng lộc. Ông ta là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…” (Đoàn Văn Cầu dịch).

Nhưng cuối cùng cái nhịp tim nóng bỏng ấy đã ngừng thở giữa tiếng reo hò của cách mạng. Đó là một sự mất mát lớn. Một sự mất mát tức tưởi trong tay Ta, khi tiên sinh vừa qua cái tuổi biết mệnh trời.

Chúng tôi vừa lướt qua bối cảnh lịch sử. Bây giờ viết qua một ít về tiên sinh.

Viết về Phạm Thượng Chi tiên sinh là viết về một cuột đời éo le. Chín tháng tuổi, mẹ mất. Nội tổ sụt sùi, chùi nước mắt, ẵm thằng cháu bất hạnh mà đùm bọc. Chín tuổi đời cha về trời. Cô quạnh bủa vây nhưng, bẩm sinh thiên tư hơn người lại mẫn tiệp nên mấy năm sau đã đủng đỉnh vào/ra cổng trường Bưởi – hậu thân của trường Thông Ngôn – một vinh dự lớn đối với các cậu ấm hay con nhà thần thế đất Hà Nội bấy giờ và, bốn năm sau nhận lãnh bằng Thủ khoa Cao Đẳng tiểu học (Diplôme d’Études Française Supérieures) được bổ nhiệm ngay làm phụ tá tại trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội. Rảo bước khởi đi qua hành trạng Phạm Thượng Chi chúng ta thấy bốn năm đầu ở bậc cao đẳng tiểu học với bàn tay tận tình uốn nắn của các giáo viên người Pháp và mười năm sau bên cạnh những đồng nghiệp đại sư Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ, ông đã tích lũy được nhiều, từ phương pháp tiếp nhận trí thức đến phương thức tổ chức, lề lối làm việc, nhưng cái sở đắc thành đạt của tiên sinh lại không do trường ốc đào tạo, môi trường huấn tập mà do trường đời. Đành rằng kiến văn quảng bác của tiên sinh đến từ các đại sư Bác Cổ, nhưng tài năng lại được tôi luyện và triển nở qua văn đàn, diễn đàn, mạn đàm, tiếp xúc, đối thoại…

Với tôi, ngoài bẩm sinh thông minh, mẫn tiệp, có chí khí, Phạm Thượng Chi còn có bản lãnh. Vốn dòng sĩ phu bén nhạy, năng động, tiết tháo lại đứng giữa dòng xoáy buổi giao thời với những đối cực: thực dân/bản xứ, phong kiến/dân chủ, tư bản/vô sản, cộng sản/quốc gia… và biết bao nhiễu nhương nhảm nhí do thời cuộc đưa đẩy nhưng tiên sinh vẫn không chạy theo bất cứ một xu hướng thời thượng nào như an nhàn hưởng thụ, đánh trống bỏ dùi, khua môi múa mép với đại ngôn hô hào cho có lệ mà chỉ dấn thân nhảy vào những chổ phải nhảy cho nên, đã tạo được một nhân cách mà trước giờ lâm chung của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, viên khâm sứ Haellewyn khi kêu cứu lên Toàn Quyền đã không ngại ngùng giấu giếm mà nói thẳng ra như chúng tôi đã trình bày trên đây.

Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến cái tài, cái trí, cái dũng, cái chí nhưng trên tất cả là tấm lòng. Tấm lòng mang nặng tình tự dân tộc. Nói đến Phạm Quỳnh cũng không thể quên được cái đức nữa. Cái đức của Phạm Quỳnh là hành động cao cả ngay cả với kẻ thù. Còn cái chí là sự miên trường theo đuổi mục tiêu. Trí ấy là thâu thái Đông Tây, Dung Hợp Cổ Kim. Dũng ấy là dấn thân, không ngại thị phi, bất chấp nguy hiểm, dám làm và cũng dám chịu…

Tất cả những nhận thức trên, chúng tôi bắt gặp trong trước tác sâu sắc, ngôn từ thiết tha, bằng quốc ngữ thì nhiều mà Pháp văn cũng không ít; qua những cuộc mạn đàm, phỏng vấn, tiếp xúc, đối thoại và, nhất là những buổi khăn đóng áo dài, chễm chệ đăng đàn. Trong tất cả những người con yêu của tổ quốc tranh đấu cho sự nghiệp chung mà chúng tôi nghiêng mình kính cẩn mỗi khi nhắc đến, chúng tôi chưa hề bắt gặp một ai có tư tưởng sâu sắc, lời lẽ thiết tha, giọng điệu nài nỉ như tiên sinh. Bởi vậy, muốn tìm hiểu Phạm Quỳnh không thể trùm chăn tránh né mà phải dũng cảm xông vào trước tác của ông vì tư duy Phạm Quỳnh đi thẳng vào tác phẩm. Đứng xa xa mà nhìn nhìn ngó ngó, chỉ trỏ đó đây hay nghe ngóng thị phi, sờ sờ mó mó cái vỏ ngoài mang cái dạng vẻ nhất thời có một ít vuốt ve, đồng điệu với kẻ thù thì … chẳng nhằm nhè gì.

Phải dũng cảm nhảy vào chiến hào của Phạm Quỳnh mới thấy được cái nhất quán của tiên sinh. Chiến hào của Phạm Quỳnh không phải ở Nam Phong tùng thư hay mấy tập Thượng chi văn tập. Với tôi, chiến hào Phạm Quỳnh nằm trọn trong 210 quyển báo, từ số 1 tháng 7, 1917 đến tháng 1/1934. Tôi không thỏa mãn với từ ngữ thường dùng là tạp chí, tạp chí Nam Phong. Tôi lại càng dị ứng với từ tập san, tập san Nam Phong mà tôi muốn gọi nôm na “quyển báo”, quyển báo Nam Phong. Gọi thế mới thỏa. Chỉ có ở đây mới phát hiện được “Phạm Quỳnh Chân Diện Mục”. Nhà văn là tác phẩm hay ngược lại, tác phẩm là nhà văn. Nói một cách khác Phạm Quỳnh là Nam Phong.

Nói thế không có nghĩa là chúng tôi quên công nghiệp của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật… trong Nam Phong. Nói thế chỉ vì Phạm Quỳnh ký nhiều tên. Với Nam Phong họ Phạm “bao sân” cho nên ông ký Phạm Quỳnh, Thượng Chi, Hồng Nhân, Lương Ngọc, Thiếu Hoa Đường. Phần Pháp văn, những bài ông viết, ký tên Phạm Quỳnh. Những bài Pháp văn do chính ông viết hay chọn có chủ đích gửi cho trí thức hay các quan chức Pháp ở chính quốc cũng như ở Đông Dương không phải có mục đích viết cho đầy trang báo.

Về sứ mệnh của người cầm bút đối với dân tộc ông yêu cầu gây dựng một nền văn hóa thu hút được sự tín nhiệm của quốc dân trong một số giá trị được xác định về học thuật và luân lý. Còn phần ông, Phạm Quỳnh nhiều lần xác định trong Nam Phong đó là sứ mệnh nhằm vào công cuộc hướng dẫn quốc dân để bồi đắp tinh thần thực hiện chủ nghĩa quốc gia trên con đường văn hóa.

Mục tiêu trước mắt của Phạm Quỳnh là dựng một nền học vấn mới cho nước nhà để thay thế cái nền học nho gia trên đà cáo chung. Muốn vậy, trước hết ta phải tìm hiểu những bài luận thuyết và việc làm của ông. Ta thấy: 1/ Chủ trương thâu thái qua dịch thuật về Văn học Nghệ thuật rồi về sau thiên về luận thuyết của các tư tưởng gia như triết của Descartes, lý thuyết chính trị của Voltaire, Montesquieu, Rousseau. 2/ Thâu thái bằng cách đối chiếu Đông / Tây như triết học của người quân tử đạo Nho và người thanh cao (honnête homme) của Pháp, thơ ta với thơ Tây, tranh ta với tranh Tây… 3/ Thâu thái tư tưởng, không tập hư văn. Về vấn đề này, khi mới trên dưới 20 tuổi, đang ngồi trên ghế trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ khi viết trên Đông Dương tạp chí, ông bàn cũng “thấu tình đạt lý lắm”. Phạm Quỳnh đặt vấn đề: Việc học chữ Pháp đối với người mình là tối cần nhưng người mình đã nhận ra cái mục đích chân chính ấy chưa? Và, ông giải quyết vấn đề: ta học chữ Pháp chủ đích là chỉ muốn bổ cứu những khuyết điểm trong sự học của ta. Ta học chữ Pháp để biết xem sách Pháp mà luyện tập lấy tư tưởng chứ không nên xông vào những điều phiền toái, huyền diệu vì, nếu như thế thì Tây học có hơn gì Nho học khi xưa đâu. 4/ Học lấy khoa học Tây phương để bù vào nền Đạo học Đông Phương. Ông nhắc nhở nên biện biệt Đạo học với Khoa học. Đạo học thụ dụng, tự mình tìm lấy được, chứ không cần đợi ở ngoài; cổ kim, Đông Tây cũng chỉ có một chứ không có hai. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong thực tế, không mơ tưởng huyền vi. Khoa học lấy lý luận làm tiên phong, thực nghiệm làm hậu kính. Khoa học chuộng cái mới, Đạo học thích những lời lẽ tự ngàn xưa vẫn còn tồn tại và cuối cùng là -5/ Học phương pháp nghiên cứu của Tây Phương, Phạm Quỳnh chủ trương đem phương pháp nghiên cứu của Tây học mà nghiên cứu khoa Hán Việt cổ điển. Duy chỉ có cách ấy mới cứu được cái học ấy ra ngoài đường lối hẹp hòi tự xưa đến nay. Công ơn họ Phạm về những vấn đề nêu trên thật lớn.

Qua nhiều bước thăm dò, tiếp cận, tôi thấy rõ nhất ở Phạm Quỳnh là thái độ trí thức, sự liêm khiết trí tuệ. Họ Phạm trung thực với chính mình, trung thực trong đối nhân xử thế, học thuật tư tưởng và ngay cả lĩnh vực chính trị, một lĩnh vực mà trung thực lắm lúc dẫn đến nguy hiểm. Chính sự trung thực của ông ảnh hưởng đến sự thận trọng trong phán đoán cho nên, ông không cố chấp, say sưa mù quáng rồi quá khích mà… “khoát nước theo mưa”.

Tất cả những điều chúng tôi vừa đan cử trên, theo thiển ý, Phạm Quỳnh tiếp thu được qua mười năm làm việc bên cạnh các đại sư Viễn Đông Bác Cổ vì các vị ấy chẳng những được đào tạo ra mà còn sống trong môi trường thân thành, khiêm cung phát kiến, chứ không vỗ ngực cho mình nắm được chân lý, xem tất cả là ngụy tín. Họ phát kiến và trình bày một cách e dè, có lúc thẹn thùng nếu không muốn nói là ấp úng. Có lúc họ nhìn ngơ ngác vì không thấy một động thái nào có vẻ trái ngược.

Cái giá trị truyền thụ ấy, đối với tôi là họ đã truyền cho Phạm Quỳnh biết thế nào là học, thế nào là tìm hiểu, thảo luận, đối thoại, trình bày… Tất cả hội tụ vào một điểm, quy vào một phạm trù: Phạm trù Trí thức. Lấy sự hiểu biết nâng đỡ nhau, góp sức vào sự tìm kiếm chân lý vì, chân lý là cái đang tìm kiếm chứ không phải là cái đã kiếm được rồi giành nhau chiếm hữu, độc quyền phân phát. Cũng theo chỗ suy nghĩ của chúng tôi, bài học mà Phạm Quỳnh học được không phải là Thạc sĩ này Tiến sĩ nọ vì bằng cấp không tài nào chứng minh được mà chỉ có tri thức toát ra nơi phong cách, nơi con người, nơi tác phong trong cuộc sống của các vị ấy cho nên, nó không lỉnh kỉnh, lủng ca lủng củng mà như gia bảo giấu kín trong sự thanh cao của mình.

Nhưng có một điều, không phải ngày một ngày hai mà có cái phong cách ấy. Cũng như các vị đại sư trong Đại học Âu Mỹ, các vị ấy tắm mát hàng ngàn năm lịch sử của một nền văn hóa bắt nguồn từ một đấng luôn luôn xưng tụng là chân lý nhưng rồi lại cúi đầu rửa chân cho môn đệ trong tiệc ly cuối cùng[1], lấy bản thân mình mà san sẻ để nuôi sống tâm hồn các môn đệ. Quí hóa thay sự khiêm cung của Đấng Christ!

Đành rằng, qua báo chí, Phạm Quỳnh được biết đến nhờ bốn lần đăng đàn, trong đó có một lần ở Ban Luân lý Chính trị Viện Hàn Lâm Pháp với đề tài Một vấn đề dân tộc giáo dục và lần thứ hai tại trường Đông Phương Bác Ngữ. Tất cả những lần đăng đàn đều có tiếng vang, gây nhiều uy tín vì nội dung sâu sắc, phô diễn hấp dẫn, nhưng lần ở Viện Hàn Lâm lại thêm một điểm son nữa là khúc chiết hùng hồn. Nhưng với chúng tôi những điều đan cử trên chưa đủ. Những cái toát ra nơi con người, con người tình nghĩa qua phong cách thanh cao đóng vai trò không nhỏ.

Tưởng cũng cần nhắc lại là đối tượng tranh thủ của Phạm Quỳnh là trí thức, quan chức cao cấp và chính giới Pháp nhưng trong thời đại mà các nước nhược tiểu phải chấp nhận chế độ thực dân như một “Định mệnh lịch sử tất yếu” thì ở Tây Âu nếu có một người không có đầu óc thực dân, người ấy là đại thánh đại hiền. Thế mà, chỉ với vai trò đại diện cho một Hội Đoàn rồi “thao tác” trong một không gian Paris đầu thế kỷ XX với rất nhiều hạn chế, Phạm Quỳnh đã thăm viếng được hầu như tất cả những gia đình người Pháp mà trước đây là quan chức chỉ huy hay những người liên hệ trong hơn 10 năm tại Hà Nội. Tình nghĩa thay và cũng diệu kỳ thay!

*

* *

Sau hơn 40 năm, tôi về Hà Nội, vào một tiệm sách cũ lớn thấy bộ Từ điển Văn Học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, mừng thầm trong bụng, nhưng có điều thắc mắc là tại sao sách quý như thế này mà lại bán ở tiệm sách cũ và để ở chỗ ít khách qua lại. Tôi bắt một quyển tìm tên tuổi Phạm Quỳnh. Không thấy! Cũng đành! Lấy cái “có thể được” của hôm nay mà đòi cái “không thể được” của hôm qua là một việc làm khôi hài (…)

Hằng năm, kể từ 1998, cứ mỗi độ Xuân về, tôi trở lại khoảnh đất nơi tiền nhân an nghỉ và ghé vào hiệu sách. Năm 2005, tôi mua được Từ điển Văn Học, Bộ mới, NXB Thế Giới 2004, thấy tên tuổi tiên sinh. Cái “không thể được” hôm qua, bây giờ thành cái “có thể được”. Trong Bộ mới này nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi đã viết một bài dài về Phạm Quỳnh khá đầy đủ. Để giữ mối giao duyên trên những nẻo đường giao lưu, tôi xin trích đoạn cuối của bài viết. Đành rằng, đây chỉ là một đoạn nhỏ, một tiểu mục trong cái tiểu mục “Dùng chữ Hán Việt Âm” của Phạm Quỳnh, rồi lấy đó để kết thúc mục VIII – Phẩm chất Phạm Quỳnh trong tập viết Của César trả César:

“… Phạm Quỳnh hết sức du nhập và Việt Hóa nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng Việt qua thời Nam Phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông Dương tạp chí, nhưng chính là với trường đào luyện của Nam Phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-1945, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1945”. Và, một lần nữa tôi lại thêm vào tập viết của tôi năm 1992.

Phạm Thượng Chi tiên sinh,

Tiên sinh sống khôn, chết thiêng!

(…) Tôi kết thúc tập viết trong hương đêm tịch mịch của thành phố Cựu Kim Sơn, Hoa Kỳ, thỉnh thoảng có tiếng động trong không gian mấy căn phòng. Lòng vắng muôn bề, làm tôi lạnh người nhưng lại phấn khởi rồi lấy Dụ ngôn của Đấng Christ để làm cái Dấu Chấm cuối cùng của tiểu mục Phẩm chất Phạm Quỳnh và cũng là tiêu đề cho tập viết:

CỦA CÉSAR TRẢ CÉSAR

Bần bút

Lưu Thái Do

Kiếp Do Thái bị lưu đầy vĩnh viễn

Tháng 12/1992

Thêm một ít câu năm 1999 và 2005


[1] Trước khi kết thúc sự vụ công khai của Giêsu ở thế gian, Người biết giờ của Người ở thế gian đã đến, nhưng người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình, cho nên trong tiệc ly với các môn đệ Người đứng dậy, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khan lau (Trích Kinh Thánh)

Ý nghĩa trong việc đấng Christ rửa chân cho môn đệ là Chúa đã rửa chân cho môn đệ nghĩa là Chúa thương môn đệ thì môn đệ cũng phải thương nhau (rửa chân cho nhau)

Làng cổ Hoa Đường – Khúc Hà Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:13 sáng

Blog PhamTon năm thư  sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

LÀNG CỔ HOA ĐƯỜNG

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đã đăng trên các trang 44 và 45 Tạp chí Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Hải Dương số 1 (78) Xuân Canh Dần 2010

—o0o—

Tỉnh Hải Dương có nhiều làng cổ. Nhưng có lẽ làng cổ Hoa Đường có nhiều đặc sắc. Đây không chỉ có nhiều nhà khoa bảng, đình chùa miếu, bi ký mà còn để lại những sự tích như huyền thoại, gắn với số phận những con người…

Từ thị trấn Kẻ Sặt, theo quốc lộ số 38 đến ngã ba chợ Cống Tranh thì rẽ trái vào một con đường nhỏ, ven theo một dòng sông. Qua ngôi đền nhỏ nằm sát đường, đó là đền thờ Phạm Sĩ, một danh tướng đời Trần.

Hỏi ra đây là đất Châu Khê, trước khi vào làng văn hóa Lương Ngọc, một trong 7 thôn của xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang.

Lương Ngọc là tên mới. Xa xưa đất ấy có tên Hoa Đường. Chữ Hoa có nghĩa là đẹp, không phải nụ hoa. Tháng 3 năm 1841 Hoa Đường phải đổi là Lương Đường, vì kỵ húy một trong 43 bà vợ vua Minh Mạng là Hồ Thị Hoa, người sinh ra vua Thiệu Trị, nối ngôi tháng 1 năm 1841. Tháng 12 năm 1885, Lương Đường lại một lần phải đổi thành Lương Ngọc, vì phạm vào tên của vua Đồng Khánh, húy là Ưng Đường!

Phong thổ Hoa Đường

Làng Hoa Đường hình thành bao giờ không thấy sách nào ghi chép…Trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839) danh sĩ làng Đan Loan quê phủ Bình Giang, có viết: “Còn như làng Hoa Đường, nguyên trước là thôn Bông, thuộc xã Ngọc Cục sau Lê trung hưng mới phân ra làm xã riêng…”

Theo Vũ Thế Khôi, trong Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long – Hà Nội, thì thôn Bông tách khỏi Ngọc Cục, lập xã riêng và tên Hoa Đường chắc chắn có từ đầu nhà Mạc. Còn nhớ, năm 1527 khi Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi, muốn xây dựng căn cứ địa chống Lê – Trịnh, đã đặt Hải Dương làm Dương Kinh. Nhà Mạc có ý bành trướng thế lực của mình đã cắt phủ Thuận An của Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình của Sơn Nam cho thuộc về Dương Kinh. Nhân cơ hội ấy cho phân định lại địa giới các phủ, huyện, xã, trong phạm vi Dương Kinh và lập nên những đơn vị hành chính mới.

Trong quyển Phả họ Vũ, cũng viết: “Đến khoảng đời Trần, đất Ngọc Cục trở nên thịnh vượng, dân cư chen chúc…Sau hồi quân Mông Cổ xâm lăng đất nước, có một nhóm người họ Vũ và họ Phạm rời khỏi lũy tre làng tới sinh cơ lập nghiệp trên một khoảng gò đống, phá đất hoang để làm ruộng nương. Chỉ trong một thời gian mà ở đó mọc lên một thôn trang có vườn, giàn hoa cây cảnh trông có vẻ an cư lạc nghiệp. Do cảnh vật mà thành tên, người trong vùng liền đặt tên là thôn Bông”.

Khi đã trở thành đơn vị hành chính độc lập, thì làng phải đổi tên nôm thành chữ để giao dịch cho chính xác. Bởi thế mà thôn Bông được gọi Hoa Đường.

Dẫu vậy, Hoa Đường được khai phá và có người dến cư trú sinh sống từ thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) thôn Bông cùng xã Ngọc Cục cũng như lân cận xã Mộ Trạch mới thực sự phát triển trù phú về vật chất và văn hóa….

Nằm ở phía tây phủ Bình Giang và khu vực tây tỉnh Hải Dương, Hoa Đường phía bắc giáp Kẻ Sặt và làng Châu Khê; đông và nam giáp các làng Mộ Trạch, Hoạch Trạch và Ngọc Cục; ranh giới phía tây là con sông Nghĩa Giang, gọi là sông Cửu An, ngăn cách Hoa Đường với làng Phù Ủng.

Hoa Đường là vùng đất cổ. Qua những tấm bia khắc bằng chữ Hán đặt rải rác trong làng, người đời sau biết được một phần về cuộc đời cụ cống Phạm Hội (Anh Sơn giáo thụ Dưỡng Am), về cụ Tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh (PT nhấn mạnh). Ở đây còn ngôi đình thờ thành hoàng là Tiến sĩ Vũ Thiệu, vị khai khoa cho bản xã, đỗ khoa Quý Sửu 1493 đời Lê Thánh Tông. Sách Đại Nam thực lục có ghi rõ việc này “ Trung đẳng thần Chí Đức Ngọ Lang Vũ. Thần họ Vũ, lấy hiệu là Ngọ Lang cư sĩ, đỗ Tiến sĩ khoa Quý Sửu (1493) triều Lê, làm quan đến Giám sát ngự sử. Khi nhà Mạc cướp ngôi vua, ông không muốn làm tôi nhà Mạc, bèn về ở ẩn nơi ruộng vườn. Về sau Mạc triệu ra, ông nhảy xuống sông tự tử. Lâu năm tích tụ thành linh thiêng, dân Hoa Đường lập đền thờ cúng”.

Hoa Đường còn có 3 ngôi chùa cổ. Một làng có tới ba ngôi chùa cũng là hiếm. Nhưng đến nay chỉ có một chùa Sùng Nghiêm vẫn còn, mới được tôn tạo khoảng đầu thế kỷ XX. Từ tấm bia Sùng Nghiêm tự lập năm 1702 nhân dịp trùng tu ngôi chùa cũ, mới ước lượng rằng ngôi chùa xưa đã xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 17. Khoảng hơn chục năm nay, thôn Lương Ngọc đã dựng nhà văn hóa trên nền trường Tổng sư xưa, do Thượng thư Phạm Quỳnh cho đặt ở nguyên quán mình. (PT nhấn mạnh)

Hoa Đường có ngôi đình ở bìa làng, xanh rợp bóng cây và thơm ngát ao sen. Nhưng qua chuyện kể của ông Chủ tịch xã Vũ Đình Năng lại càng cảm động, bởi vì làng Hoa Đường xưa, còn có một ngôi đình vọng.

Câu chuyện bắt nguồn từ một lần thầy địa lý Tả Ao đi qua Hoa Đường, khen đình làng đẹp, nhưng xây ngoài lũy tre, mới phán “Đất này đãi ngoại, ai ra khỏi làng làm ăn mới phát”. Chẳng biết thật giả ra sao, nhưng bao đời người dân Hoa Đường đã tiếp nối nhau ra khỏi làng để lập thân lập nghiệp. Nhưng đông nhất vẫn là ở Thăng Long đô hội. “Dân đâu thần thánh đó”. Thành ra ở Hà Nội có hẳn một “Lương Ngọc xã thuộc Hà” có đến ba nghìn nhân khẩu.

Đình vọng Lương Ngọc ở số nhà 68A phố Hàng Bông, Hà Nội. Các thế hệ người dân Lương Ngọc xa quê đã cùng nhau góp công sức lập nên đình này để thờ cúng thành hoàng, khi mà từ thời Tự Đức giặc giã liên miên, binh đao khói lửa, đường đi cách trở, không thể về làng thờ phụng được. Đình vọng này là khu đất gia cư, được mua lại vào tháng 5 năm Thành Thái thứ 2 (1890) có bề ngang 16 thước, bề dài như trong địa đồ. Tháng 5 năm 1892 niên hiệu Thành Thái 4 đình được dựng lên. Từ đáy xuân thu nhị kỳ, quan dân sĩ tử, sinh sống ở Hà thành tới đây thờ vọng.

Thế rồi cuối năm 1969 đầu năm 1970, đình bị bán lại cho một hợp tác xã làm chỗ kinh doanh…!? Rồi HTX nọ lại sang tên cho một tư nhân khác. Toàn bộ đồ thờ tự không cánh mà bay đi hết. Con cháu làng Hoa Đường – Hà Nội cùng bản xã Lương Ngọc vất vả ba năm (1993-1996), mới chuộc được các đồ thờ tự còn sót lại. Cũng may người mua lại đình cũng có tâm, họ đã đem đồ thờ cúng này vào Đền Bạch Mã gửi, mới còn. Tết Đoan Ngọ năm 1996, Ban liên lạc đồng hương Lương Ngọc – Hà Nội đã tạm mang đồ thờ về để nơi quê gốc.

Hoa Đường là đất văn chương, chữ nghĩa. Vũ Thiệu là người khai khoa như đã nói phần trên. Trong làng trước sau có 12 vị đỗ tiến sĩ. Trong đó 4 Hoàng giáp, 8 Tiến sĩ văn và võ. Nếu tính cả các Cử nhân, thì Hoa Đường có thời kỳ trong khoảng hai trăm năm, trung bình cứ 5-6 năm lại có một đám khao vọng và vinh quy bái tổ. Năm Kỷ Hợi 1779 Hoa Đường phát cả đường văn (Tiến sĩ Phạm Quý Thích), cả đường võ (Tạo sĩ Vũ Tá Cảnh). Điều lạ là tuy Mộ Trạch khai khoa sớm trước chín mươi năm (khai khoa cho làng là 2 người họ Vũ đậu Hoàng giáp năm 1304), nhưng từ sau năm 1754 thì cạn kiệt mạch đại khoa. Còn Hoa Đường dẫu mở khoa muộn hơn, mà nối dài như nguồn nước sông Cửu An, cứ đều đặn tuôn ra cho đến tận năm 1901. Vì thế những năm ấy hình ảnh Hoa Đường trong thi cử sáng ngời lên rực rỡ khiến cho Mộ Trạch bị nhạt mờ…

Sự nghiệp khoa bảng của Hoa Đường thăng hoa có phần do ảnh hưởng của phong thủy. Người xưa nói: Nhất cận thị, nhị cận giang – thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông. Đất Hoa Đường thuận lợi cho giao thông và sinh hoạt. Đây là vùng sóng giao thoa của mảnh đất võ Phù Ủng và đất khoa bảng Mộ Trạch, từng được mệnh danh là trung tâm văn hiến cổ đại “Tiến sĩ sào” (cái tổ sinh ra tiến sĩ).

Sách cũ chép: “Mạch đất từ Mộ Trạch qua Ngọc Cục dẫn vào địa phận Hoa Đường”. Họ Vũ ở Hoa Đường chiếm đại bộ phận dân số trong làng, lại chiếm nửa phần khoa cử, có họ hàng từ họ Vũ Mộ Trạch chỉ cách một cánh đồng. Với danh hương Phù Ủng, người Hoa Đường cùng uống chung một nguồn nước sông, họp cùng một phiên chợ tết. Con gà cất lên tiếng gáy, gọi bao ngọn lửa bừng lên mỗi bếp nhà. Đến thời vụ nông nhàn, tiếng hát trống quên tha thiết ở đôi bờ sông Cửu An đã gắn bó bao nhiêu lứa đôi kết thành chồng vợ, cũng chứng kiến bao nhiêu tiếng than thở nhớ mong?

Người Hoa Đường chỉ quen làm nghề có nguồn gốc là chữ nghĩa. Học hành hiển đạt, chỉ có cách đi làm thơ lại. Sách Lịch triều hiến chương loại chí tập I của Phan Huy Chú đã ghi các ngành nghề truyền thống như sau: “Làng Hoa Đường quen việc tính toán, thông hiểu việc làm thông lại ti thuộc, ở các vệ trong kinh, ngoài trấn”. Truyền thống và phong tục làng quê lại buộc phải vinh quy bái tổ, thăm viếng phần một tiên liệt. Đi đâu, làm gì người dân vẫn tự hào mình là người quê gốc Hoa Đường, hình ảnh làng quê đã ăn vào máu thịt con người. Phạm Quỳnh khi làm quan trong Huế, có một biệt thự bên dòng sông An Cựu, cũng lấy tên biệt thự Hoa Đường, để nhớ về cội nguồn họ Phạm?

K.H.L.

Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong – Khúc Hà Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:13 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

 Toạ đàm về

Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

ở Hải Dương

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi Blog PhamTon tuần 1 tháng 7/2010 đăng tin về cuộc tọa đàm về học giả Phạm Quỳnh tại Hải Dương theo bản tin trên báo Tiền Phong cuối tuần sô 25, bạn Khúc Hà Linh ở Hải Dương lại vừa gửi cho chúng tôi bài tường thuật tỉ mỉ về cuộc tọa đàm trên. Chúng tôi xin trích đăng để các bạn cùng đọc.

*

*  *

Quê Phạm Quỳnh là làng Hoa Đường( bây giờ là Lương Ngọc) xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, một vùng quê có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Đây là đất đãi ngoại, chỉ thành đạt khi đi ra ngoài, thành ra đã có bao nhiêu những bậc văn nhân, trí thức tìm về Hà thành lập nghiệp. Cụ tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh cũng trong số đó. Cụ ra Hà Nội làm ăn rồi sinh Phạm Quỳnh tại nhà số 1 Hàng Trống. Chẳng ai ngờ mấy chục năm sau, người con trở thành chủ bút báo Nam Phong, một tạp chí đã gây dấu ấn trong làng báo làng văn nước Việt từ đầu thế kỷ trước.

Trải bao nhiêu biến cố thăng trầm, tháng 6 năm nay, đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam 21-6-2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo tỉnh Hải Dương có sáng kiến tổ chức một cuộc tọa đàm về “Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong”, như để tri ân người có công trong làng baó chí một thời…

Trong phòng họp trang trọng có tấm phông nổi lên các hàng chữ “Toạ đàm về Học giả Phạm Quỳnh và Tạp chí Nam Phong” với bức chân dung nhà báo Phạm Quỳnh, vận quốc phục, khăn đóng, phía sau là chữ Hiếu. Không gian cuộc tọa đàm đã tạo không khí nghiêm trang trước một nhân vật lich sử sống cách chúng ta chưa đến bẩy chục năm.

Cuộc tọa đàm đã thu hút một số nhà khoa học, các tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà sử học, nghiên cứu ở trung ương và địa phương. Như: giáo sư Văn Tạo- nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư Huệ Chi; giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú; tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một số cơ quan thông tin ở Hà Nội và các cán bộ lãnh đạo, biên tập viên của 2 Nhà xuất bản Lao ĐộngThanh Niên ở Hà Nội về dự.

Ở địa phương, có các đồng chí lãnh đạo báo Hải Dương, Đài phát thanh truyền hình, Hội Nhà Báo,   Hội Sử học, Hội Văn nghệ, tạp chí Văn hoá thể thao- Du lịch tỉnh và các nhà báo trong tỉnh.

Bí thư  huyện uỷ Bình Giang, Chủ tịch xã Thúc Kháng,  quê hương của nhà báo Phạm Quỳnh,  và nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội, con trai của học giả Phạm Quỳnh cũng có mặt tại cuộc toạ đàm làm cho không khí càng thêm thân mật

Sau lời phát biểu khai mạc của bà Đặng Thị Bích Liên, uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giáo sư Văn Tạo phát biểu có tính cách đề dẫn.

Giáo sư Huệ Chi đã say sưa nói về giá trị to lớn của Nam Phong và vị thế của nhà báo Phạm Quỳnh. Ông phân tích bối cảnh ra đời của tạp chí Nam Phong và những tư tưởng tiến bộ của Phạm Quỳnh thể hiện trên 210 số Nam Phong. Giáo sư Nguyễn Đình Chú tiếp lời, ông rất xúc động khi nhắc lại có một thời ông nhìn nhận tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng còn phiến diện, ông thấy mình thật có lỗi và ngượng ngùng khi nhắc lại bài viết thời đó.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan phân tích về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo cách của mình. Ông  có quan điểm coi trọng thiên chức nghề báo, đề cao giá trị của báo chí. Tiến sĩ Khoan còn phân tích quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm cách mạng là đổi cũ ra mới, từ xấu ra tốt, nghĩa là không phủ định sạch trơn. Phạm Quỳnh đã dùng phương châm Thổ nạp Âu Á, nghĩa là thu nhận cái tốt của (Âu) vào Việt Nam và phô bầy những giá trị tốt đẹp của (Á )với bên ngoài. Đó là giao lưu văn hoá như bây giờ ta thường nói.

Các đại biểu giới báo chí Hải Dương đều có chung ý kiến đánh giá cao sự cống hiến của nhà báo Phạm Quỳnh với báo chí nước nhà, nhưng trước nay chưa được giới thiệu đầy đủ và thấu đáo trong giới học sinh sinh viên và xã hội …Nhạc sĩ Phạm Tuyên tỏ ra rất cảm động trước cuộc tọa đàm về người cha của mình, dẫu có muộn, vẫn là rất quý.

Với 15 lượt phát biểu ý kiến của đại biểu các cơ quan trung ương và địa phương, của các vị giáo sư, nhà sử học, nhà báo nhà văn, nhà nghiên cứu và lời giới thiệu cuốn sách mới xuất bản Phạm Quỳnh, con người và thời gian của chính tác giả Khúc Hà Linh, cuộc tọa đàm đã toát lên một điều: Trong sự nghiệp báo chí nước nhà, những năm 1917 đến 1932, tạp chí Nam Phong xứng đáng được tôn vinh, và Phạm Quỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút đã rất có công trong việc chuyển tải văn hoá phương tây vào Việt Nam và tiếp thu những giá trị văn hoá để hội nhập làm cho ngôn ngữ nước nhà càng phong phú mà không làm mất đi vẻ đẹp của tiếng Việt. Nhà báo Phạm Quỳnh yêu nước trong điều kiện của ông, với cách suy nghĩ của ông. Ông muốn tài bồi một nền quốc văn quốc học theo phương pháp lấy cái tốt đẹp của phương tây, để bổ sung vào cái tốt đẹp của phương đông, cụ thể là Việt Nam

Kết luận cuộc Toạ đàm, nhà báo Nguyễn Thanh Cải, tỉnh uỷ viên, giám đốc Đài Phát thanh truyền hình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Hải Dương, cho rằng qua bẩy chục năm, đủ để kiểm chứng, nhận định về một con người và sự nghiệp, với những trước tác khá đồ sộ để lại cho đời sau. Ông cũng cho rằng, tuy còn những ý kiến quan điểm khác nhau, nhưng tất thảy  các nhà khoa học, các nhà sử học nhà nghiên cứu đều trân trọng Phạm Quỳnh với những gì ông đã cống hiến cho đất nước. Đó là một văn sĩ tài danh, nhà báo có hạng, một con người có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tôn vinh tiếng mẹ đẻ, trân trọng Truyện Kiều, con người đã có công tích cực trong  canh tân văn hoá làm sống lại hồn nước. Nhà báo Nguyễn Thanh Cải  sẽ báo cáo với lãnh đạo tỉnh tiếp tục nghiên cứu và đề xuất có những hình thức kỉ niệm tương xứng với học giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong, coi đó là sự tri ân của các thế hệ làm báo của tỉnh với học giả, nhà văn nhà báo Phạm Quỳnh- một người con của quê hương Hải Dương.

K.H.L

Một bài thơ “Không đề” của nhà thơ Vũ Đình Liên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần thứ 2 tháng 11 năm 2014.

 

MỘT BÀI THƠ “KHÔNG ĐỀ” CỦA NHÀ THƠ VŨ ĐÌNH LIÊN (12/11/1913-18/1/1996)

Lời dẫn của Phạm Tôn:Vũ Đình Liên, tác giả bài thơ Ông Đồ nổi tiếng, viết từ năm 1936 khi tác giả mới ngoài 20 tuổi, đã được nhiều thế hệ người Việt Nam khắp cả nước thuộc. Bài thơ thể hiện tập trung các nguồn cảm hứng chính của ông là tình thương, lòng trắc ẩn và niềm hoài cổ. Ông thuộc thế hệ đầu của các nhà thơ trong phong trào “Thơ Mới”. Ông sáng tác không nhiều và cũng ngừng sáng tác khá sớm…

Trong kháng chiến chống Pháp, ông dạy h ọc và hoạt động văn nghệ ở Liên khu III, rồi Việt Bắc. Sau 1954 về lại Hà Nội, dạy ở trường Đại học Sư phạm và chủ nhiệm khoa tiếng Pháp, trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ cho đến 1975.

Sau khi nghỉ hưu, ông lang thang khắp nơi, đi sâu vào đời sống, lắng nghe lời nói của nhân dân. Những chuyện đau lòng còn trong cuộc đời này đã làm sống lại cảm hứng nghệ thuật trong ông, Vũ Đình Liên lại sáng tác không ngừng…Chùm thơ Người đàn bà điên ga Lưu Xá (1977), Gặp lại người đàn bà điên ga Lưu Xá (1987) và Người điên-Nàng tiên (1992) là tiêu biểu hơn cả. Thơ ông chỉ đăng báo, chủ yếu là chép tay, lưu truyền trong bạn bè và người hâm mộ. Trong số đó có những bài thật đặc sắc mà một bài “không đề” hoặc “chưa đặt đầu đề” là viết về học giả Phạm Quỳnh người cùng quê gốc Bình Giang, Hải Dương với ông, nhưng cả hai đều sinh ra lớn lên và học hành đỗ đạt tại Hà Nội.

Chúng tôi mạn phép nhà thơ xin trân trọng giới thiệu với các bạn bài thơ trên, ông viết từ ngày 28-8 đến 3-9-1992, tại Gác Hương Lửa, 156B phố Bà Triệu, Hà Nội, một bài thơ chép tay lưu truyền khá rộng ở Hà Nội.

—o0o—

Cụ Phạm Quỳnh ơi, cụ Thượng ơi!

Tài hoa như cụ có đâu hai.

Truyện Kiều còn mất – dân còn mất

Ngọn gió Nam Phong mát đất trời

Lưỡng quốc Trạng nguyên xưa đã có

Tam bang uyên bác bây giờ ai

Lương Đường, Mộ Trạch và Chu Xá

Phạm, Vũ công danh sự nghiệp đời.

28/8-3/9/1992

Gác Hương Lửa, 156b Bà Triệu- Hà Nội

Tháng Mười Một 1, 2014

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 11 năm 2014)

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 12:07 sáng

Cung ban doc (tuan 1 thang 11 nam 2014)

Tháng Mười 31, 2014

Phạm Quỳnh vẫn sống trong lòng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ta

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 6:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 11 năm 2014.

PHẠM QUỲNH VẪN SỐNG TRONG LÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TA

Blog PhamTon

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (năm Nhâm Thìn) tại Hà Nội và mất tại Huế ngày 6/9/1945 (năm Ất Dậu), tức là sinh dưới thời Pháp thuộc và mất sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời bốn ngày… Từ ngày mất, gần như Phạm Quỳnh “biến mất” trên trường chữ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trừ một trường hợp độc đáo: nhà văn “tả thực” lớn nhất nước ta, đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, được nhân dân cả nước yêu mến, thì Nguyễn Công Hoan cho ra mắt tác phẩm cuối đời, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, tác phẩm Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học-1972-in 3200 cuốn). Trong đó, ông dành hai trang 160-161 thành thật viết rõ là mình sáng tác truyện ngắn nổi tiếng Kép Tư Bền, chỉ vì thương… Phạm Quỳnh!

Sau khi phát hành ít ngày, sách ấy bỗDoi viet vanng “biến mất” trong các hiệu sách và tất nhiên trong tất cả các thư viện công. Mãi đến năm 1996, đất nước đổi mới tròn mười năm, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã ra đời lâu rồi, mới lại thấy sách ấy được NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản với số lượng thật khiêm tốn: vẻn vẹn có 500 cuốn. Nhưng hai trang 181-182 vẫn còn nguyên văn phần nói về nhà văn viết Kép Tư Bền, chỉ vì thương Phạm Quỳnh. Đây là lần đầu Phạm Quỳnh xuất hiện trong lòng Tổ quốc mình, nay đã là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Sau đó 10 năm, lại 10 năm, năm 2005, trong một mục nhỏ Ý kiến – Trao đổi của một tạp chí nhỏ ở tỉnh lẻ Hải Dương tờ Khoa học và Ứng dụng số 2 đã đăng trên hai trang 9-10 bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, một người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bài này, sau đó đăng lại trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 12 ngày 20/6/2006. Và ngày 10/7/2006 lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc số 13 (278) cơ quan của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Cuối năm 1992, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã viết một tham luận gửi hội thảo (không thành) do Viện Văn học tổ chức tại Hà Nội. Sau này, bài được đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đổi nhan đề và cắt đi một số đoạn. Đó là bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 2005, trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong, tức bài Những điều chưa biết về nhà văn hóa Phạm Quỳnh của Xuân Ba, đã bị tổng biên tập hồi ấy đổi tên “sau khi đã xén của tôi đi một nửa” (chữ của Xuân Ba)

Trước đó bốn năm, NXB Văn học đã cho phát hành 700 bản Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Trong Lời nhà xuất bản (trang 8) viết: “về mặt văn hóa, văn học, về tiến trình phát triển nền văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại. Vì vậy việc cho in lại các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn học – báo chí, với tư cách là một tác giả văn học.”

Năm 2003, NXB Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành 1000 bản Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học (644 trang) do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu. Trong Lời giới thiệu, Trịnh Bá Đĩnh viết: “Làm nên cốt cách ngòi bút của ông là các bài luận giải, khảo cứu mà nội dung nghiêng về tư tưởng và các vấn đề học thuật. Ở đó ta thấy một sự hiểu biết uyên bác, một cách diễn giải chu đáo tỉ mỉ, một nhiệt tình quảng bá tư tưởng, được diễn tả với một văn phong chặt chẽ, khúc chiết, chắc nịch mà các độc giả trí thức chắc sẽ ưa chuộng”.

8 sach Pham QuynhNăm 2004, NXB Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh cũng 1000 bản, Vương Trí Nhàn chú giải. Tháng 3 năm 2007, NXB Trẻ phát hành 2000 bộ Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934 do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu. Mỗi bộ bồm ba tập, mỗi tập khoảng 650 trang, trong đó có nhiều bài của Phạm Quỳnh. Sau này, năm 2013, chính Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và biên soạn Phạm Quỳnh tuyển tập du ký (NXB Trí Thức, 511 trang, khổ lớn 16x24cm phát hành 600 bản, Nguyễn Hữu Sơn viết: “Học giả Phạm Quỳnh viết du ký vừa thỏa mãn hứng thú nội tâm, trình bày những cảm xúc riêng tư vừa hướng tới giới thiệu những điều trải nghiệm tai nghe mắt thấy liên quan đến mỗi thắng cảnh di tích lịch sử và đời sống xã hội nơi phương xa. Đó cũng là nhu cầu tự nhiên kết nối giữa chủ thể sáng tác và phía tiếp nhận, nghĩa là bạn đọc cũng sẽ được hướng dẫn đi thamquan, du lịch, hành hương về xứ đẹp và cội nguồn lịch sử dân tộc nhờ chính các trang du ký. Du ký của Phạm Quỳnh là một nhà bảo tàng du lịch bằng ngôn từ nghệ thuật, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”… Về phong cách nghệ thuật, du ký của Phạm Quỳnh hòa quyện được phẩm chất, tư thế học giả, nhà khảo cứu, bản lĩnh trí thức, nhà văn và nghệ sĩ (…) Nhìn chung trên địa hạt du ký, có thể khẳng định Phạm Quỳnh không chỉ đứng đầu Nam Phong Tạp Chí mà cũng là nhà viết du ký xuất sắc trong suốt cả thế kỷ XX.”

Cuối năm 2007, NXB Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932, 1000 tập sách khổ 14, 5×20, 5. Việc xuất bản tác phẩm này cũng như bộ ba tập Du ký Việt Nam nói trên khiến năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh nhân ra mắt sách và còn âm ỉ lâu dài trên báo chí. Người dân thoải mái nói về Phạm Quỳnh, đặc biệt là khen ngợi tài năng và đạo đức của ông.

Năm 2011, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản 2000 cuốn sách gồm những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút. Nhà văn Nguyên Ngọc đã viết ngay đầu sách bài Lạ lùng một cuốn sách dở dang. Ông viết đầy xúc động: “Cuốn sách này của Thượng Chi – Phạm Quỳnh, cầm lên, nhẹ tay đến xót xa (11 bài tản văn, bài dài nhất chỉ chín trang, bài ngắn nhất vọn vẹn một trang! Và mấy chục bài thơ dịch Đỗ Phủ). Những trang viết cuối cùng của một người, một đời. Dở dang, thậm chí bài cuối cùng còn dừng giữa dòng, mà lại rất có thể sẽ là bài tâm huyết nhất của ông, về Kiều, mà ta biết ông gắn bó đến chừng nào. Ông nói: “Tôi với Truyện Kiều không phải là thái độ một nhà văn với một tác phẩm mà là tâm lý một người có cảm giác là một hội một thuyền…” Và “Trong cuộc “lăn lộn” (ngày nay ta gọi là dấn thân)” ấy, như ta biết, Phạm Quỳnh đã thất bại. Ông lui về ẩn dật, và bắt tay viết Hoa Đường tùy bút. Vậy Tùy bút Hoa Đường là gì? Thoạt nhìn, mươi bài tạp văn, không có chủ đề chung, không đường dây dẫn dắt nhất quán, tản mạn, rời rạc, như chợt nhớ đâu viết đấy, chợt nghĩ gì thì nói ra… Nhưng mà đọc đi đọc lại, ngẫm kỹ, rất có thể đây là một sự chuẩn bị, chuẩn bị cho một cuộc tổng kết lớn, và sâu, rất sâu nữa, mà tiếc thay, ông đã không kịp làm”. Rồi: “Tiếc thay ý đồ tổng kết lớn của ông, báo hiệu qua mấy phác thảo ngắn mà sắc như dao này, đã phải dở dang, Nhưng quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dẫu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay.

“Những tư tưởng lớn, dù chỉ mới được nói ra một cách manh nha, vẫn có sức đi xa lạ lùng của chúng. Và nghĩ cho cùng, cũng không hề chậm”.

Năm 2006 là năm đáng chú ý về hiện tượng Phạm Quỳnh xuất hiện trở lại trên xuất bản và báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đầu năm, NXB Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh dày đến 1134 trang, in tới 1000 bản và chính thức bán và quảng cáo với bích chương lớn tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm đó. Tháng 8/2006 trong số 140 tạp chí hằng tháng Công giáo và Dân tộc có đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước, rồi tháng 9, trong số 267 tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lại đăng bài Người nặng lòng với nước, tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3 (56) năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà, rồi tháng 9, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Tất cả mấy bài đăng trên mấy tạp chí Hà Nội, Huế, Sài Gòn kể trên đều là của Phạm Tôn.

Bẵng đi hai năm, lại thấy tác giả này xuất hiện trên Hồn Việt, một tạp chí của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Số 15/9/2008 Hồn Việt có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và số 17/11 là bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát… hai nhan đề này là do tòa soạn đặt. Nhan đề vốn có chỉ giản dị là Ông quả là người nặng lòng với nước (bài 1 và 2)

Chúng tôi nghĩ sở dĩ có sự trở lại ngoạn mục của Phạm Quỳnh trên sách báo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một phần lớn là do trong Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ khá đúng mực, cởi mở hơn trước. Rồi năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của NXB Thế Giới ra mắt bạn đọc cũng đã có Mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272). Nguyễn Huệ Chi viết: “Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dịch thuật hay trước tác, ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng (…) Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (Chẳng hạn bài viết về lễ tế Nam Giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết… nói riêng (…) Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được các phạm trù trừu tượng, như tư tưởng tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa được nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng Việt qua thời Nam Phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông Dương tạp chí, nhưng, chính là với trường đào luyện của Nam Phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu càu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-1945, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.”

Một dấu hiệu chỉ rõ sự cởi mở hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là ngoài những tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản hoặc xuất bản lần đầu và những bài viết về ông đánh giá con người và sự nghiệp của ông công bằng hơn trước, còn có việc xuất hiện cả những sách viết về ông. Năm 2010, NXB Thanh Niên ấn hành 2000 cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của nhà giáo, nhà văn Khúc Hà Linh người cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh. Đến đầu năm 2012, tác giả lại chỉnh sửa và bổ sung nhiều đến mức NXB Thanh Niên cho ra đời Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

Quí 3 năm 2011, NXB Công an Nhân dân ấn hành 1000 cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế, đại tá tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Đúng một năm sau, quí 3 năm 2012, lại cho ra mắt, Phạm Quỳnh, một góc nhìn (tập 2) của cùng tác giả. Nhà giáo kiêm nhà văn và đại tá kiêm tiến sĩ sử học ra hai tập sách đã dẫn đến hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh, một ở Hải Dương, quê hương ông (tháng 6 năm 2010), một ở Huế, nơi ông sống những năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn (tháng 8 năm 2012). Cả hai cuộc hội thảo đều khẳng định Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, có công với nước trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt, cuộc hội thảo ở Hải Dương do chính Ủy ban Nhân dân tỉnh và ban tuyên huấn tỉnh ủy tổ chức. Cả hai buổi hội thảo đều được đưa lên truyền hình địa phương, hoàn toàn công khai, minh bạch với bàn dân thiên hạ.

Cuối năm 2013, NXB Tri Thức ấn hành Chúng tôi đã sống như thế của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết tại Hà Nội, và nhà văn nữ Hà Khánh Linh xứ Huế có tác phẩm Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học). Cả hai tác phẩm đều có viết về ông với lòng kính yêu vô hạn.

Như thế là giờ đây, Phạm Quỳnh con người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù có số phận oan nghiệt đã có thể ngậm cười nơi chín suối: Tâm nguyện của ông đã được thực hiện, nước đã độc lập, dân đã ngày càng được sống tự do và no ấm hơn. Và những đóng góp của ông cho nước, cho dân ngày càng được nhìn nhận công bằng hơn và vẫn giúp ích cho đời cứ như ông vẫn sống trong cuộc đời này.

Vì “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, đúng như một câu thơ Kiều.

Thành phố Hồ Chí Minh 28/10/2014.

B.P.T.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan: Trân trọng đề nghị ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam có kết luận chính thức về Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:01 sáng

Blog PhamTon nắm thứ sáu, tuần 1 tháng 11 năm 2014.

TIẾN SĨ NGUYỄN VĂN KHOAN:

TRÂN TRỌNG ĐỀ NGHỊ ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÓ KẾT LUẬN CHÍNH THỨC VỀ PHẠM QUỲNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày 19/10/2014. Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan đã gửi cho chúng tôi bản sao bức thư viết ngày 10/10/2014 gửi Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Nội dung bức thư như sau:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2014.

Thư ngỏ: Trân trọng kính gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Kính thưa Ủy ban,

Trong năm 1944 – trên tờ Việt Nam Độc Lập, xuất bản tại Khu giải phóng, Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân ta “Trẻ già, trai gái, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, sang (giàu), tiện (nghèo), hãy mau mau đoàn kết cứu nước, đoàn kết cả với những?????? người đi lính cho Tây, làm việc với Tây, dù trước kia ở đảng phái nào, có chính kiến nào, nay đồng lòng cứu nước, hãy vào Hội Việt Minh”

Lời kêu gọi này của Hồ Chí Minh đã “đoàn kết” được với vua Bảo Đại, rất nhiều Thượng Thư, Tổng đốc, quan lại, trí thức cũ, Tây học, Hán học… Lời kêu gọi mang tính đường lối, một trong những yếu tố cơ bản đưa Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tới thắng lợi, đã “cứu” được Tổng đốc chống cộng khét tiếng Vi Văn Định, đã trả tự do cho nhiều người bị bắt oan.

Nếu giao thông liên lạc thông suốt, nếu Lời kêu gọi này sớm đến được với Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế do Tố Hữu làm Chủ tịch, nếu các ủy viên Ủy ban này không “giáo điều, tả khuynh” thì Phạm Quỳnh đã có thể toàn mạng, được sống và chắc chắn là sẽ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho một nhiệm vụ nào đó.

Vì Nguyễn Ái Quốc đã gặp, trò chuyện nhiều lần với Phạm Quỳnh năm 1922, tại Pháp, tuy chưa tán thành quan điểm cứu nước của Phạm Quỳnh, nhưng Nguyễn Ái Quốc đã kết luận: “Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) không phải là người xấu” (Chỉ có kẻ phản quốc, tham nhũng mới xấu thôi!) Và Người còn khẳng định “Hễ là người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, họ yêu nước theo cách của mình”. Phạm Quỳnh là người Việt, yêu nước theo cách riêng của Cụ Phạm.

Có thể từ năm 1922 ấy, Bác Hồ đã suy nghĩ, đã “sắp xếp” cho Phạm Quỳnh một vị trí trong công việc xây dựng đất nước, trong văn hóa giáo dục chăng? Khi cách mạng thành công?

Khi nghe tin Cụ Phạm bị bắt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với hai cô con gái Phạm Quỳnh rằng: “Cụ Phạm là một con người lịch sử. Lịch sử sau này sẽ xem xét lại”. Có thể hiểu rằng Bác rất tiếc, rất không bằng lòng việc xử Phạm Quỳnh. Và Bác biết rằng khoa học lịch sử sau này sẽ minh oan cho Cụ Phạm. Đây cũng là một “nhiệm vụ” mà Bác giao cho các nhà lãnh đạo, nhà lịch sử…

Từ sau năm 1945, theo quan điểm “stalinit” “đấu tranh giai cấp giáo điều” di hại của “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, nhiều “viện sĩ”, “giáo sư”, “nhà sử”, “nhà báo”, đã “lên án” Phạm Quỳnh một chiều, thiếu cơ sở khoa học. Năm 1950-1951, trong một bài nói chuyện Bác đã phê bình “đang trong lúc chống Pháp mà nói “đấu tranh giai cấp” là một điều ngu ngốc”. Có thể, những người “chống” Phạm Quỳnh này thiếu thông tin, chỉ nghe thấy một chiều, “đệ tử của tả khuynh”, không biết đến những ý kiến của Hồ Chí Minh. Và “tiếng xấu” ấy cứ kéo dài mãi làm đau lòng không phải chỉ là gia đình Cụ Phạm mà còn của bao nhiêu con người trung thực khác. Từ sau khi Đảng ta Đổi Mới, nhất là mấy năm gần đây, lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã cho phép tái bản nhiều công trình giá trị của Phạm Quỳnh, nhiều sách của Phạm Quỳnh đã công bố, nêu rõ những nhận định sáng suốt của Bác Hồ, tư liệu lịch sử về sự nghiệp báo chí, văn học của Cụ Phạm, về vị trí vai trò “éo le của thời cuộc” mà cụ Phạm đã phải gánh chịu với nỗi khổ tâm của một người yêu nước không thể, chưa kịp biện bạch trước dư luận, quốc dân…

Năm 2012, Ban Tuyên giáo tỉnh Hải Dương đã có một cuộc trao đổi về sự nghiệp báo chí của Phạm Quỳnh. Và hội nghị đã kết luận – kết luận này đã được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông rằng “Phạm Quỳnh là một nhà văn hóa lớn”. Chẳng lẽ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương nói sai!

Tiếp đó, ở Huế có tổ chức một Hội thảo về Phạm Quỳnh với sự có mặt của nhiều nhà báo, văn nghệ sĩ… Hội thảo đã khẳng định “Phạm Quỳnh có công lớn với Huế và cả nước, trong văn hóa, văn học, báo chí”…

Kính thưa Ủy ban…

Các Đồng chí Chủ tịch nước, Tổng Bí thư, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã đến thắp hương cho Phạm Quỳnh tại nhà con trai Cụ Phạm là nhạc sĩ Phạm Tuyên – giải thưởng Hồ Chí Minh về văn hóa. Sự kiện ấy có thể ẩn dụ một lời minh oan, giải thoát cho Cụ và gia đình Cụ Phạm. Nhân dân rất vui mừng, đồng tình với hành động nhân văn, tình nghĩa, bao dung của các nhà lãnh đạo.

Tuy nhiên, vẫn còn những tiếng nói vu cáo, phản đối về phẩm chất, về sự nghiệp của Phạm Quỳnh. Phải chăng là họ thù oán căm tức cá nhân gì với Cụ Phạm. Phải chăng họ không biết Bác Hồ đã giao cho lịch sử xem xét lại Phạm Quỳnh? Họ “chống” lại ý kiến của Bác?

Là một người đang học sử, tôi xin trân trọng kính đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – có thể thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ đa số nhân dân có một kết luận chính thức về Phạm Quỳnh. Việc này nếu làm được sẽ được lòng dân, yên lòng bao nhiêu người đã mất, đang sống và cả cho mai sau, uy tín của Mặt trận, Đảng và Nhà nước sẽ được toàn dân đề cao, ca ngợi.

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Điện thoại: 090.4567.554

Tháng Mười 24, 2014

Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa nghệ thuật dân tộc ở Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 10 năm 2014.

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VỐN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

DÂN TỘC Ở CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TA

*

*   *

GIỮ GÌN DI TÍCH CHO MUÔN ĐỜI SAU

(Bài đăng Trang Hà Nội bào Nhân Dân ngày 30/9/2014)

Phú Cường

Hà Nội có hệ thống di tích dày đặc, với hơn 5.000 di tích. Hệ thống di tích này góp phần làm cho bức tranh di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội thêm phong phú, là tiềm năng để phát triển du lịch, dịch vụ, nhưng đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm nặng nề trong việc quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích.

Kho tàng lịch sử, văn hóa vô giá

Nói đến Hà Nội, du khách trong nước cũng như bạn bè quốc tế không mấy người không biết đến Di tich co lonhững địa chỉ văn hóa như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đền Ngọc Sơn và khu vực hồ Hoàn Kiếm, đền Phù Đổng, đền Hai Bà Trưng, đình Tây Đằng… Nếu như Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là một trong những trung tâm chính trị của các thời đại phong kiến Lý – Trần – Lê, thì Văn Miếu – Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, là minh chứng cho truyền thống hiếu học của nước nhà. Đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh) là một trong những biểu tượng về khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam; đình Tây Đằng (huyện Ba Vì) với phong cách kiến trúc vô cùng độc đáo, thờ Tam vị thánh Tản Viên (Sơn Tinh, Cao Sơn, Quý Minh) – những anh hùng văn hóa, biểu trưng cho sức mạnh dân tộc trong việc đánh giặc ngoại xâm, trị thủy, bảo vệ mùa màng…

Ngoài những di tích đặc biệt nêu trên, Hà Nội còn có hàng trăm di tích cách mạng kháng chiến. Đó là Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Vạn Phúc (quận Hà Đông) – nơi Bác Hồ viết “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” vào tháng 12-1946, là chùa Một Mái trong khu di tích chùa Thầy (huyện Quốc Oai) – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ ngày 3-2 đến 2-3-1947, là Nhà lưu niệm Bác Hồ ở xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất) nơi Người hoạt động bí mật trong khoảng thời gian từ ngày 13-1 đến 2-2-1947… Đó còn là di tích chợ Đồng Xuân (quận Hoàn Kiếm) – nơi diễn ra những trận đánh ác liệt của Liên khu 1 anh hùng. Tại đây, ngày 14-2-1947, các chiến sĩ Tiểu đoàn 101 (Trung đoàn Thủ đô) đã chiến đấu với tinh thần quả cảm khiến bộ binh Pháp phải rút khỏi chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, Chợ Gạo… Hay di tích Trung Giã thuộc thôn Xuân Sơn, xã Trung Giã (Sóc Sơn) – nơi diễn ra Hội nghị Quân sự Trung Giã (từ ngày 4 đến 27-7-1954) bàn những vấn đề quân sự sau Hội nghị Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương…

Di tích càng trải qua thời gian, qua những thăng trầm của lịch sử, càng có giá trị. Vì lẽ đó, việc gìn giữ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của hệ thống di tích luôn được chính quyền và nhân dân Thủ đô đặc biệt quan tâm.

Nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị

Hằng năm, thành phố dành nguồn kinh phí không nhỏ để khôi phục, gìn giữ và phát huy các công trình di tích. Chỉ tính từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm Hà Nội đầu tư xấp xỉ một nghìn tỷ đồng để tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp di tích, trong đó nguồn kinh phí xã hội hóa chiếm hơn 30%. Nhờ nguồn lực này, rất nhiều di tích đã được tu bổ, tôn tạo xứng tầm, điển hình là đền Voi Phục – Thủ Lệ, đền Quán Thánh (quận Ba Đình); đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, đền thờ Tản Viên Sơn Thánh (huyện Ba Vì); đình Mông Phụ, đền Và (thị xã Sơn Tây), đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh), di tích Trung Giã (huyện Sóc Sơn), pháo đài Xuân Canh (huyện Đông Anh), Nhà lưu niệm Bác Hồ xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất)…

Thành phố phân cấp quản lý di tích cho các cấp chính quyền. Theo Quyết định số 11, ngày 2-3-2011 của UBND thành phố Hà Nội, các di tích tiêu biểu do thành phố trực tiếp quản lý; các di tích đã xếp hạng còn lại do UBND các quận, huyện, thị xã quản lý hoặc do Chủ tịch UBND các xã, phường làm đại diện ban quản lý. Di tích chưa được xếp hạng do các quận, huyện, thị xã ủy nhiệm cho xã, phường thành lập Ban quản lý. Một số địa phương đã chủ động tìm hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Trưởng phòng Văn hóa -Thông tin huyện Mê Linh Phan Văn Luật cho biết: “Cùng với việc thành lập Ban quản lý, tất cả các xã có di tích đã xếp hạng ở Mê Linh đều cử ra một người có kinh nghiệm, uy tín và tinh thần trách nhiệm cao trông coi di tích thường xuyên. Người trông coi được hưởng mức hỗ trợ 450 nghìn đồng/tháng. Qua đó, huyện nắm bắt được tình trạng của di tích hằng ngày, hằng giờ, từ đó có biện pháp bảo tồn và phát huy phù hợp”. Tương tự, huyện Đông Anh đã lập đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa giai đoạn 2011-2015. Hàng nghìn hiện vật trong các di tích ở Đông Anh đã được giám định về tên gọi, vị trí, hình dáng, chất liệu, kích thước, mầu sắc, hoa văn, niên đại, hiện trạng bảo vệ hiện vật… Từ kinh nghiệm của Đông Anh, ngành văn hóa Hà Nội đã và đang tiến hành tổng kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố để có những đánh giá tổng thể. Sau đó, sẽ phân loại xem có bao nhiêu di tích, bao nhiêu di tích chùa, bao nhiêu di tích đền…, rồi cắm mốc giới, định vị lại. Đây cũng là khâu quan trọng để từng bước “số hóa” công tác quản lý di sản, nhằm quản lý một cách có hệ thống, hạn chế tối đa sự xâm phạm.

Những thành quả trong việc quản lý, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích của Hà Nội trong những năm qua không phải địa phương nào cũng làm được. Thành quả ấy được “kiểm chứng” qua thành công của nhiều sự kiện, nhiều công trình tu bổ, tôn tạo di tích trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; qua những dấu son ghi tên di sản Hà Nội trên bản đồ di sản văn hóa thế giới, hay mới đây, Hà Nội có thêm năm di tích quốc gia hạng đặc biệt. Với những thành quả ấy, di tích, di sản Hà Nội không chỉ là những hình ảnh đại diện tiêu biểu cho Thủ đô văn hiến, mà còn đại diện cho cả dân tộc Việt Nam.

P.C.

—o0o—

LÀNG GỐM BÊN SÔNG CẦU

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân số 27/9/2014)

Bài, ảnh: Thái Sơn và Hồng Thắng

Sự ồn ào của phố thị lùi dần sau mỗi bước chân, làng gốm Phù Lãng (Quế Võ, Bắc Ninh) hiện ra mộc mạc với những ngôi nhà mái ngói rêu phong, giản dị như chính công việc của người thợ gốm bên dòng sông Cầu thơ mộng.

Ðộc đáo một làng nghề

Theo quốc lộ 18 hướng đi Phả Lại, rẽ trái xuống con đường làng nhỏ, qua chợ Châu Cầu, hai bên đường về làng gốm Phù Lãng, những dãy chum, vại, tiểu, quách được xếp gọn gàng giống như “bức tLang gom ben song cauường” ôm trọn lấy làng.

Chúng tôi đến nhà nghệ nhân Phạm Thế Tuệ (68 tuổi) đúng lúc gia đình đốt mẻ gốm mới. Vừa chêm củi vào lò, bác cho biết: “Tôi mới gây lò từ trưa hôm qua, đến giờ lửa chuyển sang mầu trắng, men gốm óng ánh như thế này là trưa nay có thể dỡ lò”. Trong xưởng, một tốp dăm sáu công nhân đang miệt mài nặn, tô vẽ sản phẩm mới còn ướt đỏ mầu đất.

Bên chén trà được pha trong chính sản phẩm mình làm ra, bác Tuệ nói: Nếu gốm Thổ Hà lấy nguyên liệu chủ yếu là đất sét xanh, gốm Bát Tràng là đất sét trắng thì gốm Phù Lãng là đất sét hồng đỏ gạch. Sản phẩm được làm thủ công từ khâu nặn, chuốt đến trang trí, vẽ hoa văn, lên men rồi phơi khô dưới nắng tự nhiên… Xương đất sét có mầu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao sẽ chuyển sang hai mầu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (men da lươn). Dáng của gốm mộc mạc, thô phác, nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa. Ðó chính là yếu tố tạo nên sức hút đặc biệt của gốm Phù Lãng.

Ðể làm ra những đồ gốm mộc mạc, lắng đọng tình người trong đất, người thợ gốm đã đổ bao mồ hôi, công sức. Chị Phạm Thị Hà, con bác Tuệ đang chân vần bàn xoay, tay thoăn thoắt se đòn, cho biết, đất làm gốm mua từ Bắc Giang rồi vận chuyển về đây qua đò sau đó đem đi phơi cho bạc màu, đập thành những viên nhỏ, rồi cho “ngậm” nước. Tiếp đến là khâu xéo tròn, nề đất năm đến bảy lần cho mịn, sờ vào êm tay, cảm giác đất nhuyễn không còn sạn, lúc đó mới có thể se. Tạo hình xong, nếu sờ vào xương gốm không còn dính sẽ dùng lực đấm, thúc từ bên trong để tạo ra những hoa văn bên ngoài theo ý muốn của người thợ. Khi xương gốm chuyển sang mầu trắng nhạt sẽ tiến hành ve, nạo sản phẩm và công đoạn cuối là phủ men, đem phơi, khi nào lớp men phủ chuyển qua mầu trắng đục sẽ cho vào nung.

Nét độc đáo của gốm Phù Lãng được lưu giữ qua bao đời, chủ yếu sử dụng chất liệu tự nhiên làm men. Tro từ các loại cây lim, sến, nghiến, táu thêm vôi sống, sỏi nghiền nhỏ và bùn phù sa trắng trộn đều thành khối, để khô, sau đó đập nhỏ cho vào nước khuấy đều tạo men.

“Phó lò” Phạm Tự Tại là chủ cơ sở “Gốm Tại” giải thích: Ðể nung gốm, phần lớn người dân sử dụng lò rồng được thiết kế theo kiểu lò nằm, chia thành ba khoang, cật lò phẳng, đáy phẳng nhưng dốc từ cửa lò lên ống khói. Gốm đưa vào lò được sắp xếp khoa học, những vật nhỏ như bình hoa, đèn ngủ được đặt gọn gàng trong những chum, vại lớn để tiết kiệm diện tích. Củi để đốt lò phải đượm lửa. Khi nung gốm, người có kinh nghiệm nhìn sắc lửa sẽ biết khi nào gốm “chín”.

Chuyển mình khi hội nhập

Trên chất liệu mà hàng trăm năm trước cha ông từng dùng, những năm gần đây, nhiều nghệ nhân trẻ được đào tạo từ các trường mỹ thuật đã “thổi hồn” vào đất, sáng tạo và phát triển những tinh hoa của nghề gốm. Những sản phẩm được vẽ, khắc chìm hay đắp nổi, khoét lỗ, tạo ra các “mắt” gốm. Mỗi sản phẩm gốm hôm nay có sự phát triển mới về kiểu dáng nghệ thuật từ bàn tay khéo léo và sự thăng hoa của những người trẻ làm gốm.

Gốm Nhung và gốm Thiều được coi là hai thương hiệu tiên phong trong dòng gốm mới ở Phù Lãng. Ðầu tiên phải kể đến gốm Nhung, cơ sở sản xuất lâu đời và phát triển hơn 10 năm nay. Các thợ trẻ luôn cố gắng tìm tòi, thể hiện sản phẩm trên nhiều chất liệu khác nhau. Một số mẫu gốm tinh xảo lấy cảm hứng từ thiên nhiên cỏ cây, hoa lá. Những tác phẩm của gốm Nhung đã tạo được chỗ đứng trên một số thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc…

Với mầu đất nung đỏ cộng với sự hòa sắc bằng các chế phẩm thay men, các họa sĩ trẻ đã tạo ra nhiều sản phẩm lạ mắt, cách tạo hình phong phú, vừa đậm nét cổ truyền vừa mang hơi thở đương đại mà gốm Nhung, gốm Thiều, gốm Ngọc, gốm Tại và nhiều cơ sở sản xuất gốm khác đã khẳng định thương hiệu trên thị trường. Anh Nguyễn Minh Ngọc, chủ cơ sở gốm Ngọc tâm sự: Trước kia, cha ông chỉ làm những sản phẩm gia dụng, tâm linh, sau này, khi sản phẩm sản xuất từ nhựa phát triển mạnh thay thế sản phẩm gốm truyền thống, nhiều gia đình phải sản xuất cầm chừng hoặc tạm nghỉ. Chứng kiến cảnh làng nghề bị mai một, chúng tôi không khỏi xót xa. Sau khi thế hệ đàn anh gốm Nhung, gốm Thiều thành công với gốm mỹ nghệ, năm 2001, anh Ngọc quyết tâm thi đỗ vào Trường đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội. Vừa học vừa làm, những kiến thức ở nhà trường đã giúp ích rất nhiều cho anh trong việc tạo hình, phối mầu sản phẩmÐ. Hiện nay, anh Ngọc có cơ sở gốm khá lớn, tạo việc làm, thu nhập cho hàng chục công nhân.

Hội tụ các yếu tố văn hóa, lịch sử, mỹ thuật qua nhiều thế hệ, gốm Phù Lãng đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Họ tới đây không chỉ để tìm hiểu nghệ thuật làm gốm hay đơn giản là quan sát, chụp lại những bức ảnh về phong cảnh thiên nhiên, con người hiền hòa mà có thể tự tay nặn vuốt sản phẩm mình yêu thích, lưu lại những kỷ niệm đẹp. Một du khách người Nhật Bản sau khi đến tham quan, bộc bạch: “Trước khi đi, tôi chỉ biết làng gốm qua những bức ảnh về chum, vại, lọ hoa, chậu cây làm bằng gốm. Ðến rồi, khi trở về, ấn tượng đọng lại là những món quà đặc biệt từ nụ cười, sự thân thiện, đến vẻ hồn hậu, chân chất của người dân”.

—o0o—

PHỤC HỒI, LƯU GIỮ NHỮNG ĐIỆU MÚA CỔ

Giang Nam

(Bài đăng báo Nhân Dân thứ sáu 21/2/2014)

Trong văn hóa dân gian của Thăng Long – Hà Nội, những điệu múa cổ còn là một “ẩn số”, chưa được nghiên cứu đầy đủ và được nhiều người biết tới. Một số điệu múa nếu không được nghiên cứu rất dễ bị mai một, thậm chí bị biến tướng. Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội đang nghiên cứu, từng bước phục hồi các điệu múa cổ, làm giàu cho văn hóa Hà Nội.

Kho báu chưa nhiều người biết tới

Trong kho tàng văn hóa dân gian, có lẽ, loại hình nghệ thuật múa nằm ở vị trí khiêm tốn nhất. Thời gian qua, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian từng bước được khôi phục và được xã hội quan tâm, nDieu mua keo luahưng sự quan tâm đến nghệ thuật múa vẫn bị “lép vế”. Hà Nội là nơi có rất nhiều điệu múa cổ độc đáo, của cả hai vùng văn hóa chính là Thăng Long và xứ Đoài.

Chẳng hạn như ở Lỗ Khê (huyện Đông Anh), ngoài cái nôi ca trù, nơi đây có điệu múa bỏ bộ rất độc đáo. Đây là điệu múa trình diễn trong lễ hội ở Lỗ Khê. Các hoạt động lao động và sản xuất như: xe chỉ, quay tơ, bắt ốc, hái chè… được người xưa cách điệu hóa thành những điệu múa đẹp mắt, được trình diễn bởi những thanh nữ trẻ tuổi. Làng Triều Khúc (huyện Thanh Trì) lại có điệu múa được coi là độc nhất vô nhị ở Việt Nam mang tên “con đĩ đánh bồng”. Trình diễn điệu múa này, nam thanh niên Triều Khúc sẽ… mặc váy, hóa trang thành phụ nữ, chít khăn mỏ quạ, đánh má hồng, kẻ lông mày lá răm vừa nhún nhảy, vừa đánh trống. Mặc dù đây đều là những nét văn hóa độc đáo của Thủ đô, nhưng phần lớn người dân chưa được biết về sự tồn tại của những điệu múa này. Ngoài những điệu múa kể trên, Hà Nội còn những điệu múa độc đáo không kém như: Múa Bài bông của làng Phú Nhiêu (xã Quang Trung, huyện Phú Xuyên) với nội dung ca ngợi đất nước, cuộc sống lao động, tình yêu đôi lứa; múa Lục cúng trong những ngày lễ Vu lan (chùa Minh Quang, quận Đống Đa); múa Giảo long (làng Lệ Mật, quận Long Biên)… Khi Hà Nội được mở rộng, kho tàng ấy tiếp tục được nhân lên, được các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục tìm hiểu, tập hợp.

Phần lớn các điệu múa cổ của Hà Nội đều gắn với các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh hoặc lễ hội. Trong đó, nhiều nhất vẫn là các điệu múa trong lễ hội, có thể là nghi lễ chính thức trong phần lễ, hoặc là một trò vui trong phần hội. Đây là một nét đặc trưng của múa cổ Hà Nội. Một số điệu múa này giúp mọi người hiểu thêm về lịch sử hình thành của Thăng Long – Hà Nội, thí dụ như múa Giảo long ở làng Lệ Mật miêu tả Hoàng Phúc Trung đánh nhau với thủy quái để vớt xác công chúa thời nhà Lý bị chết đuối dưới sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay), sau được nhà vua ban thưởng cho vùng đất rộng lớn phía tây thành Thăng Long lập nên thập tam trại, nay là các phường của quận Ba Đình…

Từng bước tìm lại vốn cổ

Theo Chủ tịch Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội Nguyễn Văn Bích, Hà Nội có khoảng 80 điệu múa cổ. Trước đây, con số còn lớn hơn rất nhiều, nhưng cùng với thời gian, một số điệu múa đã mai một hoặc bị biến tấu.

Trước vấn đề này, để có cái nhìn có tính hệ thống và để bảo tồn nguyên gốc, từ năm 2006, Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội đã bắt đầu quá trình nghiên cứu, khôi phục những điệu múa cổ. Theo nghệ sĩ Nguyễn Văn Bích, Hội đã rà soát rồi cử người xuống từng địa phương gặp gỡ các nghệ nhân, ghi chép về các điệu múa cổ, từ sự hình thành cho đến các động tác vũ đạo… Với những địa phương đã bị mai một hay bị biến tấu, Hội tìm hiểu, động viên và kết hợp với chính quyền, nhân dân khôi phục bởi nhân dân chính là chủ thể những điệu múa này.

Do địa bàn rộng nên các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu lần lượt nghiên cứu và phục hồi những điệu múa dân gian tại khu vực nội thành và ven đô trước như: múa đèn ở hội đền Hai Bà Trưng (quận Hai Bà Trưng), múa rồng lửa ở Khương Thượng (quận Đống Đa), múa chén ở làng Mọc (quận Cầu Giấy), múa roi ở làng Cót (quận Cầu Giấy)… Sau đó, dự án mở rộng trên toàn địa bàn ngoại thành. Năm 2007, Liên hoan Múa cổ Thăng Long lần thứ nhất được tổ chức. Đó là lần đầu tiên những điệu múa cổ của Thăng Long được giới thiệu một cách rộng rãi đến công chúng. Liên hoan múa cổ Thăng Long – Hà Nội lần thứ tư vừa được tổ chức những ngày đầu xuân Giáp Ngọ vừa qua giới thiệu tám điệu múa cổ của các địa phương trên địa bàn Hà Nội. Trong đó, các điệu múa có tính chất tín ngưỡng như múa cấp sắc trong lễ cấp sắc của người Dao (ở bản Hợp Nhất, xã Ba Vì, huyện Ba Vì), múa rắn lột trong lễ hội Linh Lang Đại Vương (phường Việt Hưng, quận Long Biên)… hay múa trong các lễ hội dân gian như múa Kéo lửa thổi cơm thi (làng Lương Quy, huyện Đông Anh), múa rùa (bản Hợp Nhất, huyện Ba Vì), múa hát tiếng cồng ngày xuân (Đội văn nghệ dân tộc Mường, xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất). Liên hoan đánh dấu một bước quan trọng trong việc khôi phục các điệu múa cổ Hà Nội khi nhiều điệu múa cổ có giá trị được phát hiện.

Từ nay đến năm 2015, Hội dự định chuẩn hóa khoảng 35-40 điệu múa, ghi hình làm tư liệu cho mai sau, đồng thời để quảng bá múa cổ Hà Nội đến bạn bè trong nước và quốc tế.

G.N.

—o0o—

LÀN ĐIỆU XƯA VỌNG MÃI ĐẾN MAI SAU

Bài và Ảnh: Chí Dũng, Hạnh Nguyên

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 8/6/2014)

Khi bạn bè đồng trang lứa các nơi mải mê với những trò chơi hiện đại, thì những em thiếu nhi ở huyện Ðông Anh (Hà Nội) lại say mê học hát, tìm đến những làn điệu xa xưa. Những đứa trẻ ngày ngày hát chèo ở các câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống xã Nam Hồng, Kim Chung, Hải Bối…; hát tuồng ở Việt Hùng, Xuân Nộn, Cổ Loa…; hát ca trù, quan họ ở Liên Hà, Uy Nỗ. Các em được “ươm mầm” từ thơ bé, để lưu giữ những làn điệu cổ truyền cho mai sau.

Làng nào cũng là làng… nghệ sĩ

Bọn trẻ đã tụ tập ở nhà “mẹ” Hằng. Chúng líu ríu chuẩn bị áo, quần, cờ quạt và cả “binh khí” nữa. Hôm ấy, “mẹ” Hằng sẽ “luyện” cho chúng trích đoạn tuồng “Trưng Nữ vương đề cờ”. Cậu bé Ðào Huy Hoàng cầm lá cờ múa thử. Ðến đoạn Hai Bà Trưng chuẩn bị cắt máu ăn thề, Hoàng sẽ xuất hiện như một chiến tướng múa cờ. Buổi học chưa bắt đầu, nhưng cô bé Ðào Thị Vân Anh hơi căng thẳng. Ðã vào vai Trưng Trắc – vai chính trong trích đoạn nhiều lần, nhưng lần nào Vân Anh cũng hồi hộp. Ðoạn khó nhất là khi Trưng Trắc nghe tin chồng qua đời, diễn thế nào để thể hiện nỗi đau “nước mất nhà tan” của Trưng Vương là điều rất khó với cô bé mới 13 tuổi. “Mẹ” Hằng đi một bài vũ đạo của vai Trưng Trắc, dứt bài, “mẹ” chuyển sang làm nhạc công, vừa đánh trống, vừa chỉ đạo bọn trẻ diễn…

Ðó là buổi tập của Câu lạc bộ tuồng đồng ấu làng Ðường Yên (xã Xuân Nộn). Trong dịp hè, tuần nào lũ trẻ cũng tập trung một, hai buổi ở nhà “mẹ Hằng” để luyện tập. “Mẹ” Hằng là cách gọi thân mật của bọn trẻ Ðường Yên với chị Ðỗ Thanh Hằng – diễn viên tuồng không chuyên, kiêm nhạc công, kiêm Chủ nhiệm Câu lạc bộ. Xuân Nộn có hai thôn thì có đến… ba câu lạc bộ tuồng, một câu lạc bộ của xã; hai thôn Ðường Yên và Lương Quy, mỗi thôn lại có một câu lạc bộ tuồng đồng ấu (của thiếu nhi). Xuân Nộn là đất tuồng mấy trăm năm nay, khi hòa bình mới lập lại ở miền bắc, năm 1956, dù hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, người Xuân Nộn đã khôi phục đội tuồng. Thủa bé, Hằng ngồi xem các buổi diễn tuồng mà như nuốt lấy từng lời, ngCau la bo tuong dong auưỡng mộ những thần tượng Bà Trưng, Bà Triệu, Ðào Tam Xuân,… Chẳng hiểu thế nào, khi mở lớp, cô bé không được chọn để truyền dạy. Rồi một ngày, cô bé Hằng “bị” phát hiện khi ngồi dưới “nhắc vở” cho những diễn viên nhí trên sân khấu không thuộc lời. Các thầy cứ tiếc vì không biết đến năng khiếu của bé Hằng sớm hơn… Mấy chục năm đã trôi qua, cô bé mê tuồng ngày ấy giờ đã là một diễn viên không chuyên có tiếng của Xuân Nộn. Chưa có dịp nào mà hội làng, liên hoan văn nghệ của làng, của xã chị Hằng vắng mặt. Chị cũng tham gia nhiều hội diễn văn nghệ không chuyên trên khắp đất nước. Và giải thưởng thấp nhất chị giành được qua những kỳ hội diễn là… huy chương vàng. Khi thì hoá thân vào vai công chúa Mỵ Nương với mối tình đẫm lệ, khi thì tả xung hữu đột trong vai chiến tướng Triệu Trinh Nương… Cả một bức tường nhà chật những huy chương, bằng khen… Chị Hằng truyền lại đam mê cho lũ trẻ Ðường Yên và được bọn trẻ vô cùng yêu mến. “Lúc mới bắt đầu diễn, cháu hơi run, nhưng nhờ được “mẹ” Hằng đứng ở cánh gà động viên, nên cháu thấy yên tâm và thường vượt qua được “chặng” khó nhất trong các vai diễn” – “đào nhí” Vân Anh, cô bé được vinh dự vào vai Trưng Trắc, nói về người thầy của mình.

Nếu như câu chuyện ở Xuân Nộn là “của hiếm” ở các địa phương, thì ở Ðông Anh, đó lại là “chuyện thường ngày ở huyện”. Ðông Anh có 24 xã, thị trấn thì có mười đội tuồng ở các xã: Xuân Nộn, Cổ Loa, Việt Hùng, Liên Hà… Nghệ thuật hát chèo cũng phát triển “hùng hậu” không kém, bảy địa phương có câu lạc bộ hát chèo. Cải lương là nghệ thuật truyền thống của phương nam, nhưng người Ðông Anh cũng kịp “nhập khẩu” về hai xã Vĩnh Ngọc và Ðông Hội. Ðó là chưa kể rất nhiều câu lạc bộ hát dân ca, câu lạc bộ quan họ, câu lạc bộ phóng điểu (luyện và chơi chim bồ câu)… mà gần như làng nào cũng có. Bởi thế, về Ðông Anh, không chỉ những người trực tiếp tham gia câu lạc bộ nghệ thuật mới có thể biểu diễn, chuyện một cụ già hay một em nhỏ vừa nói chuyện, vừa ứng dụng những lời ca, câu hát của nghệ thuật truyền thống vào khẩu ngữ hằng ngày là điều không hiếm gặp.

Nói về nghệ thuật truyền thống ở Ðông Anh, sẽ thật thiếu sót nếu không nói đến rối nước Ðào Thục. Cả nước hiện giờ chỉ còn khoảng mười làng rối nước thì Ðông Anh tự hào là một trong những làng rối lâu đời nhất, có từ thế kỷ 18, do Quận công Ðào Ðăng Khiêm truyền dạy. Chúng tôi đến Ðào Thục đúng ngày một nhóm nghệ nhân “xuất quân” biểu diễn ở nơi xa. Ông Ðinh Thế Văn, nghệ nhân cao niên của phường tự hào: “Giờ phường tổ chức làm ba nhóm để khi cần, cùng lúc có thể diễn nhiều suất, ở nhiều địa điểm khác nhau, có ngày, làng Ðào Thục đón hai, ba đoàn khách quốc tế đến thăm”. Cùng với niềm vui về nghệ thuật múa rối phát triển, điều nghệ nhân Ðinh Thế Văn tự hào hơn cả là tính kế thừa ở phường rối này. Phường có hơn 40 thành viên thì có đến 25 thành viên trẻ tuổi, ở độ tuổi trên dưới 30. Sở dĩ với múa rối nước, độ tuổi 30 được coi là trẻ vì trước hết đòi hỏi phải có sức khỏe mới có thể điều khiển quân rối. Có người nói, phường rối Ðào Thục là phường rối cha – con. Bởi những gương mặt trẻ nổi bật, như Ðinh Hữu Hùng, Ðinh Văn Dũng, Ðinh Văn Chiến… đều sinh ra trong những gia đình có nhiều thế hệ biểu diễn rối nước. Trong những cặp cha con này, nổi bật nhất phải kể đến gia đình ông Ðinh Hữu Tự – Phó phường rối phụ trách kỹ thuật và con gái ông, em Ðinh Thị Thu. Ngâm mình dưới nước là một thử thách, nhất là vào mùa đông lạnh, cầm chiếc sào điều khiển quân rối thì rất nặng nên phái yếu thường không thể vượt qua khó khăn này. “Từ nhỏ đi xem bố biểu diễn rối em rất thích. Em tự hỏi không biết tại sao quân rối lại có thể làm được những động tác như thế. Em “vòi” bố bằng được để theo học. Học múa rối cảm thấy như một cuộc thám hiểm. Ðến lúc chinh phục được những màn biểu diễn khó thì thấy hạnh phúc vô vùng”, cô gái tuổi ngoài 20 nhưng đã nhiều năm kinh nghiệm biểu diễn rối Ðinh Thị Thu tâm sự. Hiện giờ, nhiều buổi diễn của Ðào Thục có sự tham gia của cả hai cha con. Thu nhập từ hoạt động biểu diễn phục vụ du lịch bước đầu góp phần cải thiện đời sống người dân, khiến người dân thêm gắn bó với nghệ thuật quê hương.

Bài học về “ươm mầm” nghệ thuật

Những năm gần đây, Ðông Anh là một trong những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất của Hà Nội. Bởi thế, không thể không ngạc nhiên khi nơi đây, những bộ môn nghệ thuật “khó học, khó xem” như tuồng, chèo, ca trù…, từ già lẫn trẻ đều say mê. Lý giải điều này, chị Ðỗ Thanh Hằng tâm sự: “Người Xuân Nộn chúng tôi mê tuồng lắm. Nhưng nói gì thì nói, xã hội giờ có nhiều thay đổi, nếu không quan tâm thì thế hệ trẻ cũng sẽ dễ xa rời tuồng. Làng xóm phải bảo nhau “nuôi” tuồng. Chúng tôi thành lập ra đội tuồng dành cho trẻ em. Từ những năm 1990, những đội tuồng đồng ấu đầu tiên ra đời. Cứ vài năm, khi các cháu lớn tuổi lại thành lập đội tuồng mới. Cứ thế, lớp này kế lớp kia. Lớp tuồng đồng ấu trước có hai cháu giờ là diễn viên Nhà hát Tuồng Trung ương. Lớp hiện giờ bắt đầu từ năm 2010, cháu lớn nhất 13 tuổi, cháu nhỏ nhất mới lên chín”. Lứa đồng ấu lớn lên nếu không sinh hoạt ở Câu lạc bộ dành cho người lớn, thì ít nhất, cũng trở thành một khán giả say mê tuồng. Ðây cũng là cách mà các địa phương khác ở Ðông Anh giữ gìn nghệ thuật truyền thống. Ở Ðào Thục, các cháu học lớp bảy, lớp tám bắt đầu được học cách điều khiển quân rối. Nghỉ hè, những lúc rảnh rỗi, các cháu được vào hậu trường tòa thủy đình để luyện dần tay nghề. Chẳng mấy chốc các cháu đã thành lứa kế cận. Ở Lỗ Khê, Câu lạc bộ ca trù có thành viên trẻ nhất mới… lên bảy, người cao niên nhất đã 85 tuổi…

Mỗi dịp liên hoan đàn và hát dân ca trong khối trường học, cán bộ của ngành văn hóa, ngành giáo dục trên địa bàn có những buổi làm việc cật lực. Có năm, liên hoan thu hút hơn 1.500 giáo viên, học sinh các lứa tuổi tham gia. Chị Nguyễn Thị Hạnh – Phó Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ðông Anh cho biết: “Về chủ trương, nhiều năm qua, huyện luôn khuyến khích các địa phương “ươm mầm” nghệ thuật truyền thống cho các em nhỏ. Mặc dù kinh phí cho hoạt động văn nghệ quần chúng hạn hẹp, nhưng năm nào huyện cũng dành từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng để hỗ trợ các câu lạc bộ, góp phần động viên các nghệ nhân “làng”. Phải liên tục bồi đắp, nếu không tình yêu với nghệ thuật truyền thống rất dễ có nguy cơ phai nhạt trong thời đại công nghệ hiện nay”.

Quây quần cùng các cháu diễn viên nhí của đội tuồng đồng ấu thôn Ðường Yên, tôi bất chợt hỏi: “Trong nhóm có cháu nào biết chơi trò chơi điện tử?”. Khá nhiều cánh tay giơ lên. Tôi hỏi tiếp: “Vậy cháu nào biết nhảy hip-hop?”. Một cháu nhanh nhảu: “Cháu biết chơi cả điện tử lẫn nhảy hip-hop”. Tất cả mọi người đều bật cười. Ai bảo rằng nghệ thuật truyền thống không thể “sống chung” với cuộc sống hiện đại, với công nghệ? Ðừng đổ lỗi cho xã hội khi nghệ thuật truyền thống mai một, bởi tình yêu với nghệ thuật truyền thống không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên lớn lên, mà cần được gieo mầm, cần sự chăm sóc, vun trồng…

                                                                                 —o0o—            

THÊM MỘT NỖ LỰC GÌN GIỮ CA TRÙ

Bài và ảnh Hiếu Hạnh

(Bài đăng ở mục Văn Hóa – Văn Nghệ báo Thời Nay số 367 ng 367 ngày 22/7/2013)

Ra đời từ năm 2005, CLB ca trù (thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam) hoạt động khá trầm lắng so vớ nhiều CLB ca trù khác tại Hà Nội. Tới đây, cùng với việc kiện toàn tổ chức và hoạt động, CLB mong muốn cùng chung tay gìn giữ vốn văn hóa quý báu của dân tộc.

“Thêm món” cho sân khấu ca trù

So với bộ ba CLB ca trù Hà Nội, CLB ca trù Thăng Long, CLB ca trù Thái Hà thì hoạt động của CLB ca trù trực thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (Hội Nhạc sĩ Việt Nam) còn khá mờ nhạt. Lý do thì nhiều, nhưng một phần bởi mọi vấn đề liên quan hoạt động, từ nhân lực đến vật lực dành cho ca trù còn quá khó khăn. Vừa qua, trung tâm đã quyết định kiện toàn tổ chức, bầu ra Ban Chủ nhiệm CLB trong nhiệm kỳ mới (2013-2018). Buổi ra mắt đã được tổ chức ngày 18/7 vừa qua tại đình Hào Nam (Hà Nội), nghệ nhân dân gian Phùng Thị Hồng (nghệ danh Phương Hồng) giữ chức Chủ nhiệm CLB, Nghệ sĩ ưu tú Phó Ccau lac bo ca truhủ nhiệm CLB. Cùng với việc kiện toàn tổ chức, trung tâm cũng phải xách định lại nhiệm vụ hoạt động gánh vác nhiệm vụ giữ gìn nghệ thuật ca trù truyền thống, không đơn thuần biểu diễn mà sẽ đảm nhiệm việc sưu tầm nghiên cứu, giảng dạy và truyền nghề.

Ngay cả việc biểu diễn, CLB cũng sẽ cố gắng tìm một cách thể hiện mới khác với những CLB trước đó, để công chúng không nhàm chán. Nhạc sĩ Thao Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam cho biết, từ tháng 7, trong những buổi biểu diễn ở phố cổ, chợ Đồng Xuân vào dịp cuối tuần, các chương trình biểu diễn do trung tâm đứng ra tổ chức sẽ có sự kết hợp đan xen giữa tác phẩm ca trù nguyên bản và các tác phẩm, ca khúc có mang âm hướng ca trù của các nhạc sĩ như Phó Đức Phương, Huy Thục, Lê Mây, Văn Thành Nho… Các làn điệu ca trù kinh điển đều được giữ nguyên cách thể hiện, nhưng đan xen những tác phẩm hiện đại sẽ tạo ra hơi hướng mới cho sân khấu ca trù truyền thống, thu hút đưowjc sự theo dõi của khán giả, nhất là đối tượng thanh niên, để ca trù lan tỏa trong đời sống đương đại hiện nay.

Bà Phùng Thị Hồng, Chủ nhiệm CLB cũng chia sẻ quyết tâm thời gian tới, mỗi tháng, CLB có ít nhất một buổi biểu diễn và sinh hoạt chung, có thể tại đình Hào Nam, đình Yên Phụ (Hà Nội) hoặc giao lưu cùng CLB ca trù các tỉnh bạn. CLB cũng có đầy đủ các kép, đàn, trống chầu, mọi thành viên đều lăn lộn tới rất nhiều nơi để truyền nghề. Ca nương Phương Hồng đã từng dạy ca trù tại Hà Nam, các CLB tại Hà Nội; ca nương Vân Mai hiện vẫn đang giảng dạy tại Hải Dương; ca nương Thu Uyên đã đi truyền dạy tại Phú Thọ… Nhiêu nơi chỉ có một học trò, nhưng nhận thấy năng khiếu, các chị cũng cố công về tận định phương thuyết phục và truyền dạy bằng tất cả đam mê.

Quan tâm nghiên cứu ca trù

Không chỉ truyền nghề biểu diễn cho thế hệ sau, Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam còn hướng tới việc đào tạo những nhà nghiên cứu về ca trù, những người sẽ gánh nhiệm vụ tổng hợp, nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nghệ thuạt này. Việc giảng dạy được thực hiện bài bản từ năm 2010, với việc ra đời một chương trình học tại bậc đại học do trung tâm liên kết với Học viện Âm nhạc Huế tổc hức. Khóa sinh viên đầu tiên với 20 em sẽ tốt nghiệp vào năm 2014. Nhạc sĩ Thao Giang cho biết, các chuyên ngành của trung tâm đào tạo khác với chương trình tại những học viện âm nhạc, không phải là lý luận âm nhạc học mà là dân tộc nhạc học. Trong đó, ngoài lý thuyết nghiên cứu liên ngành về văn hóa, dân tộc học, lý luận âm nhạc, các lớp đào tạo tới sẽ có nhiệm vụ tổng kết về phương pháp thanh nhạc, các lớp đào tạo tới sẽ có nhiệm vụ tổng kết về phương pháp thanh nhạc gắn với ca trù để bảo tồn và gìn giữ cho đời sau, đồgn thời tìm ra cách thức sáng tạo của người xưa để lại. Trung tâm tổ chức cả những buổi thực hành về đàn, hát ca trù, để chính những học viên học cách chơi đành đáy, biết phách, đánh trống chầu, biết hát đúng vần điệu…

Những buổi học về ca trù được tổ chức rất sinh động ngay trong không gian đình Hào Nam với cả những chuyên gia, tư liệu ghi âm, hay mời nghệ nhân dân gian từ các địa phương về giảng dạy. Với những nỗ lực này, có thể, chúng ta sẽ bớt đi lo ngại rằng có ngày lớp con cháu sẽ phải sang Anh, Pháp, Mỹ để học về ca trù thay vì được đào tạo nghiên cứu bài bản tại chính Việt Nam.

—o0o—

MẸ CON “NHÀ” CA TRÙ

Giang Nam

(Bài đăng Trang Hà Nội 28/3/2014 báo Nhân Dân)

Tuy đang học trung học cơ sở, nhưng ít ai biết rằng, cô bé Nguyễn Huệ Phương là một trong những người Việt Nam hiếm hoi từng giới thiệu ca trù với bạn bè quốc tế. Huệ Phương được hưởng “gien” ca trù từ mẹ, đồng thời cũng là người thầy – đào nương nổi tiếng Phạm Thị Huệ, Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Thăng Long. Có những buổi biểu diễn của Giáo phường, cả hai mẹ con đều xuất hiện. Ðiều đặc biệt ở hai thầy trò – mẹ con “nhà” ca trù này là cô học trò bắt đầu tập hát từ khi… năm tuổi, cái duyên ca trù của cô con gái làm người mẹ thêm động lực gắn bó với ca trù.

Ca nương Phạm Thị Huệ được biết đến như một trong những giọng ca cao sang, đài các bậc nhất ở Hà thành. Chị Huệ đến với Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam năm tám tuổi. 15 năm tại học viện, chị gắn bó với cây đàn tỳ bà rồi trở thành giảng viên. Nhưng rồi cuộc đời lại “rẽ ngang” sang nẻo ca trù. Mê đắm ca trù, vì chị thấy ca trù luôn ẩn chứa điều gì kỳ bí. Hẳn phải là những bậc tài danh, hẳn phải được tích lũy lâu lắm, trên nền một cái nôi văn hóa giàu có lắm mới tạo ra những câu hát thẳm sâu đến thế. Nhưng còn một lý do khác khiến chị dấn thân vào thế giới ca trù. Chị thường mủm mỉm cười bảo: “Lúc đấy mình học một phần vì cô bé nhà mình”. Chị Huệ mê ca trù từ sớm, nhưng tìm thầy tìm thợ mãi toàn người từ chối. Các cụ sợ chị không theo được ca trù. Nhưng chị vẫn tập hát. Chẳng ngờ những câu hát ngấm vào cô bé Huệ PhươHai me con ca nuongng. Khi bốn, năm tuổi, cô bé đã ê a hát theo. Chị Huệ đưa con gái đến xin học nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc. Nhận thấy tố chất đặc biệt ở cô bé, cụ Chúc đã nhận lời dạy Huệ Phương. Thế rồi hằng tuần, chị đưa cô con gái bé xíu đến cụ Chúc, để cụ dạy gõ phách, đánh đàn và hát ca trù. Trước đây, cụ Chúc từng từ chối nhận chị Huệ làm học trò, nhưng cô con gái đã làm chiếc “cầu nối” để chị được theo học cụ. Việc cô con gái ham học và bộc lộ năng khiếu sớm khiến chị có thêm quyết tâm gắn mình với nghiệp ca trù.

Lòng say mê, cộng với sự kiên trì khiến Phạm Thị Huệ tiếp cận được với nhiều nghệ nhân tài danh. Chị Huệ từng đi “mòn ngõ” nhà nghệ nhân Phó Thị Kim Ðức – một giọng ca nổi tiếng trước kia. Khi nghe tiếng cụ Nguyễn Phú Ðẹ là người giỏi chơi đàn đáy, chị lại tìm đến Hải Dương học đàn cụ Ðẹ. Ðược đào tạo bài bản về âm nhạc dân tộc, cộng với niềm say mê, cho nên dù đến với ca trù khá muộn, chị nắm bắt và thể hiện nhuần nhuyễn những kỹ thuật nhả chữ buông câu rất khó, mà người bình thường phải tốn nhiều thời gian mới học được. Không những thế, chị dành thời gian nghiên cứu về ca trù. Song song với mục đích khôi phục, bảo tồn, chị còn dự định đến khi các cụ già cả, chị sẽ thay các cụ truyền lại cho cô con gái vốn liếng ca trù của mình. Với suy nghĩ và cách làm như thế của mẹ Huệ, cô bé Huệ Phương có bệ đỡ vững chắc để học hỏi và phát triển tài năng.

Từ một người đi xin học luôn bị thầy từ chối, giờ ca nương Phạm Thị Huệ đã là Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Thăng Long. Chị cũng là đào nương đầu tiên của thời hiện đại được các bậc thầy cho ra nghề một cách bài bản, bằng một lễ “mở xiêm áo” năm 2006. Chị cũng là người đầu tiên đưa ca trù trở lại với khán giả định kỳ bằng cách phối hợp với Ban Quản lý Phố cổ tổ chức biểu diễn tại các điểm di tích trong khu phố cổ. Ban đầu, Giáo phường chỉ biểu diễn mỗi tuần một buổi, vậy mà không có người xem. Còn hiện nay, Giáo phường Ca trù Thăng Long biểu diễn định kỳ vào các tối thứ ba, thứ năm, thứ bảy hằng tuần tại Ngôi nhà Di sản số 87 phố Mã Mây. Thời gian đầu, chủ yếu là khách quốc tế đến xem, nhưng giờ đã có nhiều người Việt Nam đến thưởng thức hơn. Giáo phường Ca trù Thăng Long đặc biệt ưu tiên các bạn trẻ, nếu là sinh viên, học sinh thì có thể đến xem không thu phí. Nói như chị Huệ, đó là để nuôi dưỡng khán giả trẻ. Một quãng đường dài đã đi qua, nhưng vẫn còn chặng đường dài phía trước, đó là làm sao để ca trù sống được trong đời sống đương đại, làm sao để mọi người hiểu thêm về những giá trị đặc sắc của ca trù… Thách thức còn nhiều, nhưng chị thấy vững tâm khi cô bé Huệ Phương dần trưởng thành. Ở tuổi 15, Huệ Phương đã có gần 10 năm học, biểu diễn ca trù. Cô bé biểu diễn thuần thục hơn 10 bài, trong đó có những bài đòi hỏi kỹ thuật cao như “Tỳ bà hành”. Ðã có những lúc Huệ Phương không khỏi băn khoăn, lo lắng trước những lời chọc ghẹo của các bạn cùng lớp là hát bài hát của… bà già. Nhưng sau này, thầy Văn Như Cương, người sáng lập Trường Lương Thế Vinh đã khéo léo giới thiệu về nghệ thuật ca trù với thầy cô và các bạn học sinh. Huệ Phương đã yên tâm học hỏi và biểu diễn mà không sợ những lời đùa cợt nữa. Ngoài nhiều giải thưởng giành được qua các liên hoan, hội diễn, Huệ Phương còn có những lần xuất ngoại giới thiệu nghệ thuật ca trù với bạn bè quốc tế. Lần đầu Huệ Phương đem ca trù đến với thế giới là tại Festival di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á-Thái Bình Dương tại Hàn Quốc năm 2011. Năm 2013 vừa qua, trong dịp nghỉ hè, Huệ Phương theo mẹ biểu diễn, giao lưu và giới thiệu về ca trù với các bạn học sinh tại bang Ô-hai-ô (Mỹ).

Chị Huệ nói rằng chị hoàn toàn tôn trọng mong muốn của cô con gái khi chọn nghề nghiệp sau này. Cùng với Nguyễn Huệ Phương, những đào nương trẻ tuổi khác như: Nguyễn Thị Thu Thủy, Vũ Thị Thùy Linh… khiến Giáo phường Ca trù Thăng Long có một lớp kế cận tài năng, để có những bước phát triển vững chắc tiếp theo. Nhưng mẹ con “nhà” ca trù Phạm Thị Huệ – Huệ Phương luôn hy vọng rằng, các cơ quan chức năng cần có những chính sách cụ thể, thiết thực hơn để các nghệ nhân ca trù nói chung có điều kiện thể hiện, khẳng định khả năng của mình.

—o0o—

GIỮ GÌN NHỮNG GIÁ TRỊ VỐN CÓ CỦA QUAN HỌ

Duy Anh

(Bài đăng trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/3/2014)

Dân ca quan họ Bắc Ninh đã được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại và luôn luôn có sức hấp dẫn, lôi cuốn những người yêu nghệ thuật diễn xướng dân gian. Quan họ đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân vùng Kinh Bắc, đồng thời đang được truyền bá sâu rộng dưới nhiều hình thức.

“Chơi”, truyền quan họ đúng cách

Tiếp chuyện chúng tôi, NSƯT- Nghệ nhân quan họ Bắc Ninh Tạ Thị Hình giảng giải khá kỹ về loại hình dân ca mà bà đã theo đuổi cả cuộc đời. BHat quan ho tren doi Limà Hình cho biết, nghệ nhân quan họ thích dùng “chơi quan họ” hơn là “hát quan họ”. Ai cũng có thể học thuộc một làn điệu quan họ và hát được trên sân khấu. Còn “chơi quan họ” mới chính là hình thức quan họ truyền thống, đặc trưng. Chơi quan họ đề ra những lề lối nhất định đòi hỏi liền anh, liền chị tham gia phải am hiểu tường tận quy tắc, luật lệ, nhất là phải có vốn quan họ kha khá. Một liền anh, liền chị có thể đứng trước nhiều người và đối hát thì phải thuộc ít nhất 150 bài cùng bảy điệu cơ bản nhất: la rằng, đường bạn, tình tang, cây gạo, lên núi, cái hời, cái ả,… và có nhiều hình thức hát đối như hát theo đôi, hát theo hội, theo nhóm.

Bà Hình bảo: Chơi quan họ phần nào giống một hình thức thi đua, người nào đối được nhiều làn điệu, giọng hát hay hơn thì thắng, có đôi thi với nhau đến hai ngày trời vẫn chưa phân được thua. Nhưng tuyệt nhiên người thua không được cay cú, ganh đua. Đôi anh hai này nếu không đối được đôi chị hai kia cũng phải có lời: “Thưa hai chị, hai câu vừa rồi, anh em chúng tôi xin chịu, đến tháng tới anh em tôi sẽ trả”. Người thắng cũng không lấy đó làm tự cao, thắng không dám nhận mình thắng, ấy mới là lời văn lễ điều của người chơi quan họ.

Cho đến nay, nghệ nhân Tạ Thị Hình đã gom góp được một kho vốn làn điệu quan họ đồ sộ. Bà Hình cho biết, đã viết tuyển tập gần 300 bài quan họ tặng tỉnh và ngành văn hóa Bắc Ninh, nhưng thật ra, số lượng bài quan họ mà bà vẫn nhớ phải lên tới hơn 400 bài. Mỗi lần có khách đến, bà Hình vẫn không quên hát tặng họ đôi câu mà bà tâm đắc:”Dưới giờ mấy kẻ biết chơi/ Chơi cho phỉ chí ở đời mới thôi; trong sáu tỉnh nghe còn chưa tỏ/ Ngoài năm thành chỉ có ở Bắc Ninh. Chẳng yêu mà lại tâm tình/ Nghề chơi quan họ có tinh mới tường”.

“Nghề chơi cũng lắm công phu”, không chỉ là quan điểm của bà Hình mà còn của nhiều người yêu quan họ. CLB quan họ làng Hòa Đình gần TP Bắc Ninh là một mô hình kiểu mẫu như thế với hai lần giành giải tại các hội thi quan họ tỉnh. Nói như liền anh Trần Văn Quyến, người phụ trách CLB, thì quan họ ngoài tiêu chí “vang”, “rền”, “nền”, “nảy”, còn phải áp dụng nhiều kỹ thuật luyến láy, nhấn nhá, hãm giật, hãm lửng, buông câu, nhả chữ mới hay được, mà trong một thời gian ngắn chưa chắc học được. Ban đầu, thành viên trong câu lạc bộ gặp nhiều khó khăn trong việc sinh hoạt, tập hát, nhưng dần dần cũng đi vào nền nếp. Cùng với CLB quan họ làng Hòa Đình, đã và đang có nhiều CLB dạng như vậy ở các làng quê Bắc Ninh.

Thế hệ trẻ gánh vác trọng trách

Hiện nay, quan họ đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ giới trẻ. Trong thời buổi hội nhập văn hóa với nhiều thể loại âm nhạc xuất hiện, dân ca nói chung và quan họ nói riêng vẫn có vị trí nhất định. Việc giới trẻ có đủ sức gánh vác trọng trách bảo tồn quan họ hay không còn là một dấu hỏi. Điều này đòi hỏi phải có cách hướng dẫn, giảng dạy chi tiết, sự đầu tư, quan tâm của các cấp chính quyền. Năm 2011, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh đã phối hợp ngành giáo dục của tỉnh đưa dân ca quan họ vào giảng dạy tại các trường học cho các em học sinh từ cấp mầm non cho đến cấp phổ thông, bắt đầu từ năm học mới 2011-2012. Đây là động thái cụ thể của các cấp lãnh đạo nhằm tuyên truyền vốn quý quan họ vào giới trẻ. Theo nghệ nhân Tạ Thị Hình, người hát quan họ vốn không để tâm đến chuyện tiền bạc, nhưng với giới trẻ, họ còn chú tâm nhiều đến những công việc mưu sinh, gây ảnh hưởng không ít đến “thú vui” quan họ.

Là đại diện cho lớp người trẻ, anh Nguyễn Hữu Duy, một liền anh bắt đầu có tiếng ở vùng Tiên Du, Bắc Ninh trăn trở, suy nghĩ: “Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, nhiều người lợi dụng hiện tượng quan họ làm phương tiện kinh doanh. Họ hát không đến nơi đến chốn, giới thiệu về quan họ không đúng rồi ghi âm, quay hình, phát tán lên mạng làm hỏng hình ảnh quan họ. Nhưng phần đông giới trẻ đã có sự quan tâm nhất định. Bằng chứng là trong những lần đi biểu diễn, tôi đã gặp gỡ nhiều bạn trẻ đi nghe hát quan họ”. Với tình yêu quan họ, anh Hữu Duy đã nhận lời làm người hướng dẫn cho câu lạc bộ ở địa phương đang sống, cũng như một câu lạc bộ quan họ của Hội Sinh viên Kinh Bắc trên Hà Nội. Sáng đi làm, chiều đi diễn, tối và cuối tuần lại đi dạy quan họ, bận rộn là thế nhưng anh vẫn cảm thấy vui vì “được góp công sức để mang quan họ đến với nhiều bạn trẻ”.

Những nỗ lực mà các cấp lãnh đạo và người dân Bắc Ninh trong nhiều năm qua đã bước đầu mang lại hiệu quả, nhưng để giữ gìn, bảo tồn quan họ Bắc Ninh – Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, thế hệ trẻ cần phải tự hào và ý thức được vai trò là lực lượng nòng cốt tiếp bước các “liền anh, liền chị” đi trước.

D.A.

—o0o—

SÁU MƯƠI NĂM CHIẾU CHÈO NGƯỜI LÍNH

(Bài đăng trang 5 báo Nhân Dân 22/9/2014)

NSƯT Nguyễn Thế Phiệt

Nguyên Trưởng Đoàn

Nghệ thuật chèo

Tổng cục Hậu Cần

Cách đây vừa tròn 60 năm, ngày 1-10-1954, Đội văn công thuộc Cục Chính trị – Tổng cục Cung cấp của QĐND Việt Nam được thành lập, tiền thân của Đoàn nghệ thuật chèo Tổng cục Hậu cần (TCHC) và nay là Nhà hát chèo Quân đội. Các nghệ sĩ, diễn viên đã theo sát bước chân người chiến sĩ, bám sát các nhiệm vụ chính trị, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và phát triển sân khấu truyền thống.

Ngay sau khi thành lập tại chiến khu Việt Bắc, các nghệ sĩ, diễn viên chèo quân đội đã nhanh chóng xây dựng được những chương trình nhỏ và các tốp xung kích đã kịp thời đến phục vụ các đơn vị và nhân dân các địa phương. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đoàn văn công TCHC được bổ sung Đội chèo Tỉnh đội Hưng Yên và văn công Sư đoàn 330 đổi tên thành Đoàn văn công Trường Sơn thuộc TCHC, phục vụ bộ đội, thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong mưa bom, bão đạn. Nhiều đồng chí của đoàn đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Sau những chuyến đi phục vụ bộ đội dài ngày ở chiến trường, ngày 28-3-1967, Đoàn vinh dự được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn báo cáo với Bác Hồ và Bộ Chính trị vở chèo Anh lái xe và cô chống lầy và chương trình ca múa nhạc đặc sắc. Năm 1975, khi miền nam giải phóng, Đoàn nghệ thuật TCHC là một trong những đoàn có mặt sớm nhất tại các vùng giải phóng, lần đầu mang tiếng hát chèo cách mạng đến với công chúng miền nam, đoàn đã biểu diễn hơn 100 đêm với các vở diễn: Trần Quốc Toản ra quân, Người năm ấy, Cô thủ kho, Đôi mắt. Những vở diễn của đoànChieu cheo quan doi đã để lại nhiều ấn tượng và cảm xúc cho người xem.

Thời kỳ những năm 80, 90 của thế kỷ 20 là giai đoạn “nở rộ” các khuynh hướng cách tân nghệ thuật truyền thống và thương mại hóa sân khấu, nhưng Đoàn chèo TCHC vẫn kiên trì định hướng kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống. Đoàn đã cho ra mắt hàng loạt vở diễn ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng nghĩa khinh tài, phê phán cái xấu, cái ác. Tiêu biểu là bộ chèo ba tập Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt có sức thuyết phục công chúng mạnh mẽ, được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) tổ chức hội thảo khoa học, khẳng định đây là hướng phát triển đúng đắn của chèo, có tầm tư tưởng lớn, có tính chiến đấu cao, góp phần tích cực trong việc gìn giữ và phát triển sân khấu truyền thống.

Từ năm 1990 đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đoàn Nghệ thuật TCHC đã nhanh chóng đổi mới cả nội dung lẫn hình thức hoạt động nghệ thuật. Đoàn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử, dân gian, nhiều giải thưởng về đề tài chiến tranh cách mạng của Bộ Quốc phòng và hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc và toàn quân: Người tử tù mất tích, Nữ tú tài (Huy chương vàng năm 1995), Điều đọng lại sau chiến tranh (Giải A năm 1997, Huy chương bạc hội diễn toàn quốc năm 2014), Người anh hùng áo vải (Huy chương bạc hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000), Đêm trắng (Hội đồng Thi đua Khen thưởng Trung ương tặng giải xuất sắc), Chu Văn An -Người thầy của muôn đời (Huy chương vàng hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc), Nguyễn Chí Thanh- sáng trong như ngọc một con người (Huy chương vàng hội diễn toàn quân), Tiếng hát vùng mê thảo (Giải thưởng xuất sắc của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam), Hùng ca Bạch Đằng Giang(Huy chương bạc hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc).

Là đoàn chèo duy nhất của Quân đội, do vậy địa bàn hoạt động rất rộng. Đoàn đã đi phục vụ các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Cam-pu-chia, phục vụ bộ đội Trường Sa và các chiến sĩ trên khắp mọi miền Tổ quốc, phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc và nhiều kỳ họp của Quốc hội. Hằng năm, đoàn có từ 170 đến 200 buổi biểu diễn. Ngoài ra, đoàn có hàng chục vở diễn thường xuyên phát trên sóng phát thanh truyền hình của Trung ương và các địa phương. Trong xây dựng đơn vị, đoàn luôn chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trẻ, nâng cấp phương tiện kỹ thuật, chăm lo đời sống của nghệ sĩ, diễn viên. Kết hợp đào tạo chính quy tại trường với đào tạo trong thực tế.

Những chiến công, thành tích của Nhà hát Chèo quân đội đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận, trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới và nhiều phần thưởng, huân chương, huy chương cao quý.

Sáu mươi mùa xuân đã đi qua, cán bộ, chiến sĩ của Nhà hát Chèo quân đội hôm nay đã và đang phát huy truyền thống vẻ vang của chiếu chèo người lính, ra sức rèn đức, rèn tài, nâng cao chất lượng nghệ thuật các vở diễn, tiếp tục kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao trong chặng đường mới.

—o0o—

NỖ LỰC ĐỂ NGÂN CHUÔNG VỌNG CỔ

(Bài dăng báo Tuổi Trẻ, mục Văn Hóa – Nghệ Thuật – Giải Trí ngày 26/9/2014)

Hoàng Oanh

Tối 25-9, cuộc thi Chuông vàng vọng cổ 2014  thi chung kết xếp hạng cuối cùng tại nhà hát Đài truyền hình TP.HCM (HTV), kết thúc ba tháng tranh tài trên cả nước.

Giữa thời buổi trên tivi ào ạt những cuộc thi ca hát, game show, chương trình truyền hình thực tế hay thi tài năng hút khách, hút quảng cáo thì sự xuất hiện “kiên cường” của một cuộc thi vọng cổ là điểm sáng đầy nỗ lực.

Nhiều kịch tính

Chuông vàng vọng cổ hẳn nhiên là cuộc thi chú trọng về chất giọng và làn hơi của các thí sinh. Điều này lý giải vì sao có những thí sinh sắc vóc và khả năng diễn xuất chưa nổi bật nhưng vẫn được chọn vì có chất giọng đẹp, mượt Ngan chuong vong comà và sáng.

Có những thí sinh vốn quanh năm làm bạn với công việc đồng áng như Trần Thị Bé Năm nhưng nhờ có làn hơi khỏe và chất giọng lạ nên lần đầu tiên cô được bước vào một sân chơi tài tử chuyên nghiệp. Sự lúng túng và cách trình diễn thuần bản năng của cô là điều dễ hiểu.

Lại có những thí sinh như Nguyễn Thị Lý, Tạ Công Thành, Nguyễn Ngọc Thảnh vốn đến từ nơi không có lợi thế về cải lương vọng cổ như Hải Dương, Thái Bình nhưng với chất giọng đẹp và truyền cảm cùng bản lĩnh sân khấu đã gây được ấn tượng khó quên với cả ban giám khảo và khán giả.

Nhiều khán giả và cả thí sinh miền Nam bất ngờ trước khả năng ca chuẩn giọng Nam của các thí sinh miền Bắc.

Thậm chí Nguyễn Thị Lý (đến từ Hải Dương) có chất giọng tốt và sự chuyên nghiệp trong khả năng biểu diễn bằng ánh mắt, nét mặt và làm chủ sân khấu nên đã liên tục giành được danh hiệu thí sinh được yêu thích nhất và trở thành một trong ba thí sinh được chọn vào chung kết xếp hạng.

Không chỉ “so giọng”, cuộc thi năm nay còn đòi hỏi các thí sinh phải biết phối hợp giữa ca và diễn, thể hiện được cảm xúc của mình qua nhân vật. Ở tiêu chuẩn này, những thí sinh đã có kinh nghiệm diễn xuất như Nguyễn Thị Linh Phượng trở nên nổi bật.

Linh Phượng đến từ sân khấu kịch Hồng Vân vốn có lợi thế về sắc vóc và kinh nghiệm trên sàn diễn, đã thuyết phục được hội đồng nghệ thuật với số điểm cao nhất khi cô thể hiện những lớp cao trào giằng xé của vở cải lương Bến nước Ngũ Bồ.

Trong khi đó thí sinh Nguyễn Minh Trường tuy không gây ấn tượng mạnh ở các vòng thi trước đó nhưng nhờ bản lĩnh xử lý tình huống trên sân khấu mà được hội đồng nghệ thuật đánh giá cao và được chọn vào top 3 ở vòng cuối cùng.

Mùa giải năm nay tuy không phát hiện ra được những giọng ca thật sự khác biệt và nổi bật như những năm trước, nhưng lại được xem là một mùa giải nhiều kịch tính vì các thí sinh ngang tài ngang sức và có cơ hội bằng nhau.

Nỗ lực được ghi nhận

Đây là lần thứ 9 cuộc thi Chuông vàng vọng cổ được tổ chức và lên sóng truyền hình trực tiếp.

Cuộc thi đã trở thành một thương hiệu riêng độc đáo của HTV với những lần tổ chức tạo tiếng vang và cho ra ràng những gương mặt xuất sắc của cải lương, vọng cổ như Nguyễn Ngọc Đợi, Võ Minh Lâm, Lâm Ngọc Hoa, Mỹ Vân…

Tuy nhiên, gầy dựng được thương hiệu vốn đã không dễ, việc giữ được nó lại là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều, nhất là trong thời buổi không còn nhiều khán giả mở tivi để xem cải lương, vọng cổ nữa.

Đó là bài toán đau đầu của những người làm Chuông vàng vọng cổ từ những tháng trước khi quyết định duy trì chương trình này. Quyết tâm làm và đưa ra nhiều đổi mới, cuộc thi năm nay có phạm vi tổ chức rộng hơn với nhiều đêm thi nhằm tạo thêm cơ hội cho các thí sinh.

Ở các tỉnh miền Tây và vùng sâu vùng xa, cuộc thi đã về tận nơi để thu hút thêm người dự thi. Sau khi sàng lọc ở các vòng bán kết, những thí sinh xuất sắc nhất được tập trung thi chung kết tại TP.HCM.

Mỗi đêm thi mang một chủ đề khác nhau nhằm tạo sự thú vị cho khán giả và cũng là để khai thác những sở trường khác nhau của từng thí sinh.

Cuộc thi đã bước vào đoạn kết, điều làm ban tổ chức chương trình thở phào là sự theo dõi của khán giả truyền hình đã được ghi nhận ở những số liệu khả quan. Khán giả đến trường quay xem trực tiếp cũng đông bất ngờ và có không ít khán giả là sinh viên, học sinh. Khán giả nhắn tin bình chọn cũng vượt ngoài mong đợi.

Hiệu ứng của chương trình vì thế đã được lan tỏa sau bao nỗ lực. Dù không thể ồ ạt như những game show giải trí nhiều ngôi sao, nhưng khi những câu vọng cổ văng vẳng đâu đó từ những chiếc tivi ở mỗi góc nhà thì nói như NSND Trần Ngọc Giàu – thành viên hội đồng nghệ thuật: “Điều này khích lệ chúng ta biết quý trọng và gìn giữ những điều vô hình quý giá”.

Nguyễn Minh Trường đoạt giải Chuông vàng

Đêm chung kết xếp hạng là cuộc tranh tài của ba gương mặt xuất sắc nhất đã được sàng lọc qua các vòng bán kết, chung kết trước đó: Nguyễn Thị Linh Phượng (TP.HCM), Nguyễn Minh Trường (Đồng Tháp) và Nguyễn Thị Lý (Hải Dương). Cả ba được ban giám khảo đánh giá là ngang sức ngang tài vì đều có chất giọng tốt và khả năng diễn xuất nhập vai, đa dạng cùng kinh nghiệm biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp. Trong đêm thi, các thí sinh đã thể hiện một trích đoạn cải lương và một bài vọng cổ bốn câu được bốc thăm ngẫu nhiên.

Kết quả, thí sinh Nguyễn Minh Trường đã đoạt giải Chuông vàng của năm nay sau khi thể hiện xuất sắc trích đoạn Chiếc áo thiên nga và bài vọng cổ Ngày Bác vô thăm, với tổng số điểm 98,50 từ hội đồng nghệ thuật. Anh cũng chính là thí sinh nhận được bình chọn cao nhất của khán giả với tỉ lệ 42,73%. Hai thí sinh Nguyễn Thị Linh Phượng và Nguyễn Thị Lý lần lượt đoạt giải Chuông bạc và Chuông đồng. Thí sinh Nguyễn Thị Linh Phượng cũng đoạt giải bình chọn của báo chí.

H.O.

—o0o—

“CÁI NÔI” CỦA NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI

(Bài đăng trang Văn Hóa báo Nhân Dân ngày 20/10/2014)

GS. Hoàng Chương

Quá trình khảo sát, tìm hiểu, các nhà nghiên cứu cho rằng: Bình Định là “cái nôi” của bài chòi và đang lưu giữ được truyền thống biểu diễn bài chòi với hội đánh bài chòi dân gian. Trên cơ sở đó, vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận bài chòi Bình Định là di sản cấp quốc gia và đồng ý lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Trò chơi đánh bài chòi và hát dân ca bài chòi đã có lịch sử hàng trăm năm ở các tỉnh Nam Trung Bộ, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất, giao thoa văn hóa và sự sáng tạo nghệ thuật của người dân bản địa. Bài chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhiều tầng lớp nhân dân, thu hút cả người già và lớp trẻ ở mọi vùng miền trên dải đất miền trung, Hoi choi danh bai choikhông những trong dịp Tết mà còn ở các lễ hội của địa phương.

Bởi tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn cho nên trò chơi nghệ thuật dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và cổ vũ. Ý nghĩa của nó còn vượt ra khỏi một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian đơn thuần là nơi người nghệ nhân trổ tài ứng tác và biểu diễn, vừa hát hô, đối đáp; và đặc biệt hội đánh bài chòi, diễn bài chòi còn là môi trường giao tiếp cộng đồng và là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, giải trí, tìm hiểu, trao duyên… Hội bài chòi cổ thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở quảng trường phường xã, hoặc ở ngã ba đầu làng, sân đình. Trong những năm gần đây, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ trẻ kế cận và do các hình thức giải trí ngoại lai chi phối. Vì vậy, công tác bảo tồn nghệ thuật bài chòi cổ là hết sức cấp bách.

Tại cuộc hội thảo khoa học: “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền trung” do Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và Viện Sân khấu Việt Nam tổ chức tại Nha Trang tháng 10-1991, có ý kiến cho rằng: cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê, cổ bản… đang sử dụng trong hát bội và cải lương, đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương.

Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của bài chòi, mà chỉ nên thêm vào hơi hướng tuồng, cải lương để cho bài hô phong phú hơn, hay hơn. Tuy nhiên, nếu loại hình nghệ thuật dân gian này chạy theo hướng thương mại hóa thì sự cố gắng dù cho có thành công đến mấy, cũng không thể thay thế được, bởi bài chòi đã sống cùng với dân tộc suốt dòng chảy của thời gian hàng trăm năm. Hiện nay, riêng Bình Định đã có tới mười đoàn bài chòi không chuyên, nhưng diễn hay như chuyên nghiệp và hàng trăm Câu lạc bộ bài chòi ở khắp làng, xã. Đây cũng là nơi còn tồn tại Hội đánh bài chòi cổ thường xuyên được tổ chức rất sôi nổi ở TP Quy Nhơn và các huyện phụ cận. Nhiều cuộc liên hoan và hội thảo khoa học về bài chòi đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chọn tổ chức tại Bình Định. Trong số ba đoàn nghệ thuật bài chòi của vùng Nam Trung Bộ thì Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định được đánh giá cao bởi vẫn giữ được bản sắc. Tuy vậy, điều đáng băn khoăn là sân khấu bài chòi đang có xu hướng cách tân, hiện đại hóa làm cho chất dân gian mộc mạc của bài chòi bị mờ nhạt. Bên cạnh sân khấu bài chòi, Bình Định hiện lưu giữ khá tốt vốn bài chòi cổ trong dân gian và nghệ thuật bài chòi truyền thống vẫn được đông đảo nhân dân yêu thích.

Điều này đã khẳng định sức sống của nghệ thuật bài chòi ở Bình Định, đồng thời là động lực cho những người tâm huyết làm hết sức mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật bài chòi.

Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chọn tỉnh Bình Định đại diện cho sáu tỉnh, thành phố ở khu vực Nam Trung Bộ để làm công tác khảo sát, kiểm kê khoa học về bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể là một quyết định phù hợp và khả thi, bởi có thể nói, Bình Định là cái nôi của loại hình nghệ thuật này, nhất là nơi đây đang còn lưu giữ lễ hội bài chòi cùng hàng chục đoàn bài chòi dân gian khá mạnh. Trên cơ sở đó, với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam, tỉnh Bình Định cùng Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam sẽ xây dựng, hoàn chỉnh hồ sơ để trình UNESCO xét duyệt, công nhận bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Để chuẩn bị xây dựng hồ sơ, Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật bài chòi hướng tới UNESCO công nhận bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại” sẽ được tổ chức tại Bình Định ngày 24-10 với sự tham gia của hàng trăm nhà quản lý, nghiên cứu và nghệ sĩ.

Hội thảo nhằm làm rõ hơn những giá trị khoa học, lịch sử, văn hóa của di sản nghệ thuật bài chòi, tôn vinh và góp phần thiết thực bảo vệ loại hình nghệ thuật độc đáo này của vùng Nam Trung Bộ.

H.C.

—o0o—

TÌM LẠI SỨC SỐNG CHO NGHỆ THUẬT HÁT DÙ KÊ

Bài, ảnh: Việt Tiến, Thế Hạnh

Hát dù kê là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Khmer Nam Bộ. Việc bảo tồn các loại hình văn nghệ truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ ở Kiên Giang, trong đó có nghệ thuật dù kê, đang gặp nhiều khó khăn và còn nhiều việc phải làm

Từ tâm huyết của người “giữ lửa”

Người dân xã Ðịnh Hòa (Gò Quao, Kiên Giang) gọi Danh Bê là ông bầu gánh hát, đoàn hát gia đình của ông có mặt trình diễn ở tất cả các cuộc vui, lễ hội, Tết của đồng bào các dân tộc. Ông và gia đình Ganh hat gia dinh (danh be)được địa phương coi là những người “giữ” và “truyền lửa”, với mong muốn bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa nghệ thuật của đồng bào Khmer.

Gần 60 tuổi, các động tác của ông Danh Bê còn rất uyển chuyển và chuyên nghiệp. Ông chia sẻ: “Ngay từ nhỏ, tôi đã thích những điệu múa rô băm, hát kịch dù kê. Niềm đam mê ca múa thôi thúc tôi tham gia các phong trào, từ đây tôi đã học nghề từ những người lớn tuổi, tự mày mò nghiên cứu, dần dà những lời ca, điệu múa, lối diễn thấm vào máu. Chỉ tiếc là lớp trẻ không còn mặn mà với những điệu múa rô băm, dù kê”. Nỗi nuối tiếc biến thành sự quyết tâm của Danh Bê khi ông tập hợp con cháu dạy múa hát và thành lập đội văn nghệ Khmer. Có trong tay “đội quân” hùng mạnh, ông lập luôn gánh hát gia đình.

Mỗi khi huyện, tỉnh chuẩn bị tổ chức hội thi, hội diễn là sân nhà ông Danh Bê lại sáng đèn mỗi tối. Lời ca tiếng đàn rộn ràng vang xa, bà con trong xóm kéo đến nhà ông rất đông. Ông tâm huyết truyền dạy cho con cháu nghệ thuật hát dù kê, ví như diễn chằn ra sao, làm thế nào để lột tả được vai công chúa, hướng dẫn từng động tác múa truyền thống dân tộc như sa-ri-ka-keo, Sa-vông… Năm 2011, gánh hát của ông được xã Ðịnh Hòa chọn tham dự Liên hoan văn nghệ quần chúng toàn quốc của 11 xã điểm xây dựng mô hình nông thôn mới tổ chức tại Quảng Nam. Tiết mục của ông Bê giành một Huy chương vàng, một Huy chương bạc và xếp thứ tư trong liên hoan.

Ông Danh Bê mong muốn tất cả những gì tích lũy được truyền lại cho con cháu lưu giữ. Những vở kịch dù kê điển hình như: “Thạch Sanh chém chằn”, “Tấm Cám”, “Tam Tạng thỉnh kinh”… được ông phân vai cụ thể cho từng người diễn xuất. Tuy nhiên, gánh hát của ông đang gặp nhiều khó khăn do không có kinh phí để đầu tư mua sắm nhạc cụ, âm thanh.

Trong số những “đệ tử” của mình, ông tâm đắc nhất là Thị Hai, con gái của ông. Ông tin tưởng Thị Hai sẽ thay ông “giữ lửa” phong trào và tiếp tục lưu truyền môn nghệ thuật dân gian. Thị Hai tâm sự: “Mỗi dịp được cha dạy hát, tôi đều chăm chú theo dõi sau đó tập luyện cho đúng động tác. Tôi mê nghệ thuật Khmer và mong muốn môn nghệ thuật này mãi tồn tại và ngày càng phát triển”.

Ðến những nỗ lực bảo tồn

Theo ông Ðào Chuông, Phân hội trưởng Phân hội dân gian Kiên Giang, những năm 1980, loại hình sân khấu dù kê phát triển khá mạnh ở Kiên Giang, nhưng gần đây mai một dần, lớp diễn viên cao tuổi không còn theo nghiệp được nữa. Trong khi đó, lớp thanh thiếu niên không được kế thừa, thậm chí nói tiếng dân tộc cũng không còn chuẩn, cho nên không hát được dù kê.

Huyện An Biên từng có một đội văn nghệ Khmer hoạt động rất hiệu quả, nhưng do khó khăn về kinh phí nên đội không còn tồn tại. Huyện Gò Quao duy trì khá tốt phong trào văn nghệ dân tộc Khmer nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để lưu giữ. Các nghệ nhân người Khmer ở Kiên Giang cũng chưa được quan tâm hỗ trợ nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Nghệ nhân Danh Mỹ ở phường An Hòa, TP Rạch Giá là một trong số ít nghệ nhân Khmer ở Kiên Giang biết làm đến 37 loại nhạc cụ khác nhau. Công việc chế tác rất vất vả công phu nhưng cuộc sống của gia đình ông Mỹ hết sức khó khăn vì nhạc cụ làm ra không có người mua.

Mong muốn bảo tồn nghệ thuật dù kê rất cần được khuyến khích tổ chức liên hoan, hội diễn văn nghệ Khmer. Ðồng thời nên đưa vào giáo dục phổ thông những kiến thức về văn hóa dân tộc; sưu tầm, lưu trữ và phổ biến các loại hình nghệ thuật truyền thống; tăng cường phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc; đầu tư cho các đoàn nghệ thuật biểu diễn các tiết mục dân tộc… Vấn đề cần thiết hiện nay là phải có biện pháp và chính sách hỗ trợ đào tạo bổ sung diễn viên cho Ðoàn nghệ thuật Khmer của tỉnh, các đội văn nghệ quần chúng ở các huyện.

“Khi nghe Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thông qua danh sách 12 di sản văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO giai đoạn 2012-2016, trong đó có nghệ thuật hát dù kê của đồng bào Khmer Nam Bộ, chúng tôi những người làm nghệ thuật dân gian cũng như tất cả đồng bào Khmer rất vui mừng. Vì điều này chính là động lực tốt nhất để hồi sinh và ngày càng phát triển môn nghệ thuật hát dù kê”, ông Ðào Chuông hy vọng.

—o0o—

BẢO TỒN KHÔNG GIAN VĂN HÓA MƯỜNG

(Bài đăng trang 4 báo Nhân Dân ngày 14/9/2014)

Bài và ảnh: Vũ Lan

Khi cuộc sống đang thay đổi từng ngày, không gian và di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đặt trước nguy cơ bị mai một. Câu chuyện ngôi nhà Lang trăm tuổi cuối cùng của Hòa Bình bị thiêu rụi quá nửa bởi đốm lửa vô tình thật sự là tiếng chuông cảnh tỉnh về thái độ ứng xử của chúng ta với những giá trị văn hóa cổ truyền mà cha ông để lại..

Không gian và di sản văn hóa cổ, nguyên gốc với nét riêng độc đáo về quan niệm sống, trong sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng người Mường trải dài từ Hòa Bình, Phú Thọ vào đến Thanh Hóa, Nghệ An sẽ dần mai một? Đó là câu hỏi không thể không đặt ra khi cuộc sống của bà con bắt đầu xuất hiện những thay đổi không chỉ trong tiếp nhận tri thức, sử dụng các phương tiện văn minh, mà cả trong tổ chức cuộc sống, trong trang phục hằng ngày,… Câu hỏi đó còn có ý nghĩa hơn khi người Mường chính là chủ nhân của trường ca Đẻ đất, đẻ nướchay các địa danh “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” về bốn xứ Mường nổi tiếng ở vùng Hòa Bình… Với nhiều người trong chúng ta, sự thay đổi đó như một lẽ đương nhiên, nBao ton khong gian van hoa muonghưng với họa sĩ Vũ Đức Hiếu, thì đây sẽ là mất mát văn hóa không gì bù đắp được.

Chính vì thế sau gần mười năm lặn lội sưu tầm hiện vật, tích lũy và xây dựng, cuối năm 2007, Bảo tàng Không gian văn hóa Mườnggắn liền với cảm hứng của người họa sĩ trẻ với khát vọng tái hiện lại toàn bộ không gian sống của đồng bào Mường đã ra đời. Đây cũng là bảo tàng tư nhân đầu tiên về văn hóa dân tộc Mường, một dân tộc có bề dày truyền thống văn hóa trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Nằm cách trung tâm TP Hòa Bình (Hòa Bình) không xa, trên một vạt đồi trong thung lũng đá vôi nhỏ với diện tích khoảng 5ha, Bảo tàng Không gian văn hóa Mường được chia thành hai khu vực chính: khu tái hiện và khu trưng bày. Tại khu trưng bày với những hiện vật có giá trị và đa dạng như: cồng, chiêng, lư, ninh, đồng hay những hiện vật trong đời sống, sinh hoạt văn hóa của đồng bào Mường như dụng cụ đánh bắt cá, công cụ dệt, dụng cụ săn bắn, phòng tang ma… được sắp xếp theo từng chủ đề, hấp dẫn khách tham quan khi muốn tìm hiểu kỹ về đời sống vật chất và tinh thần của người Mường. Trong khi đó, khu tái hiện thật sự thu hút người xem với một quần thể xã hội Mường thu nhỏ với bốn khu nhà sàn tương ứng với bốn tầng lớp khác nhau: nhà Lang (nhà của quan Lang – người có địa vị cao nhất trong xã hội Mường); nhà Ậu (nhà của những người giúp việc cho nhà Lang); nhà Nóoc (nhà của tầng lớp bình dân trong xã hội Mường) và nhà Nóc Trọi (nhà của tầng lớp bần cùng nhất).

Ngoài ra, Bảo tàng còn có không gian nghệ thuật Muongstudio, đây là nơi các nghệ sĩ trong nước và quốc tế có thể đến để giao lưu, sáng tác và triển lãm tác phẩm của mình. Tại đây, thường xuyên diễn ra các hoạt động nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, sắp đặt… Khách tham quan có thể gặp gỡ, trao đổi cùng nghệ sĩ, và cùng hòa mình vào một không gian nghệ thuật để cảm thụ những sáng tạo mới.

Có thể thấy, với hàng nghìn hiện vật đang được trưng bày trong bảo tàng cũng đủ thấy người họa sĩ trẻ nay là giám đốc Bảo tàng đã kỳ công tìm kiếm, sưu tầm, tích lũy như thế nào. Đối với họa sĩ Vũ Đức Hiếu, thì người Mường chính là người Việt cổ, muốn hiểu người Việt, người Việt cổ thì tốt nhất là tìm hiểu qua văn hóa Mường. Vì thế xứ Mường ở Hòa Bình nổi tiếng với Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động đã mòn dấu chân Hiếu. Để làm đầy và bù đắp thêm cho Bảo tàng, những cuộc kiếm tìm các cổ vật, hiện vật của nền văn hóa Mường ở các địa phương vẫn là cuộc phiêu lưu thú vị đối với anh.

Nhưng trong những cuộc tìm kiếm đó, anh không khỏi xót xa khi những ngôi nhà sàn đang dần bị “bứng” ra khỏi vùng đất thân thuộc của nó bởi những tốp thợ người Mường tháo lắp, bốc dỡ rất chuyên nghiệp để đưa về xuôi với giá vài chục triệu hay hàng trăm triệu đồng. Vẫn biết, trong xu hướng đô thị hóa, hiện đại hóa việc níu kéo các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS sẽ ngày càng khó, song không thể không lưu giữ, bảo quản, tìm ra cách thức, hình thức phù hợp để lưu giữ bảo tồn, vì đó là quá khứ và cũng là cội nguồn của hôm nay.

Chỉ cho chúng tôi xem bộ khung cột cháy đen còn sót lại của ngôi nhà Lang hơn trăm tuổi – một hiện vật văn hóa giá trị nhất của người Mường được Bảo tàng phục dựng bị thiêu rụi trong vụ cháy do sự vô ý thức của khách tham quan vào một đêm cuối tháng 10 năm ngoái, anh Hiếu cho biết: Nhà Lang có thể phục dựng lại được, nhưng vụ cháy này chính là sự cảnh tỉnh về ứng xử của chúng ta đối với những giá trị văn hóa cổ truyền hiện nay. Bảy năm hoạt động với không ít khó khăn của một bảo tàng tư nhân, Bảo tàng Không gian văn hóa Mườngđã triển khai nhiều hướng đi mới với mong muốn giới thiệu về văn hóa bản sắc của người bản địa Mường. Chị Bùi Thị Lê, dân tộc Mường, nhân viên của Bảo tàng giới thiệu: “Đến đây, các em có thể tìm hiểu về văn hóa Mường qua các chuyên đề, như: Âm nhạc cồng chiêng; tập quán thờ cúng; văn hóa ẩm thực; thầy mo hay các bài thuốc dân gian của người Mường… do các nghệ nhân người Mường tham gia hướng dẫn”. Bên cạnh đó, ba năm gần đây, Bảo tàng cũng thường xuyên tổ chức những trại sáng tác nghệ thuật lấy văn hóa Mường làm nòng cốt tinh thần thu hút sự tham gia của các nghệ sĩ trong nước và quốc tế. Thông qua quan sát, cảm nhận, giao lưu trực tiếp với người dân tộc Mường, để từ đó các nghệ sĩ sẽ kể câu chuyện văn hóa Mường bằng chính tác phẩm của họ, chuyển tải thông điệp văn hóa Mường đến công chúng trong những cuộc triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới.

Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hòa cho rằng: Nhà nước cần xây dựng hành lang pháp lý, có chính sách phù hợp và sự hỗ trợ cần thiết cho những bảo tàng tư nhân như thế này. Không nên nhìn nó như một hoạt động kinh doanh mà hãy nhìn nó như hành vi văn hóa. Bởi, chỉ có nhìn với hành vi văn hóa thì người ta mới hiểu nó, cần phải làm gì cho nó, vì văn hóa sẽ trường tồn cùng nhân loại và cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

V.L.

—o0o—

ĐẠI LỄ DÂNG Y KATHINA TẠI LÀNG VĂN HÓA DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

(Tin trên trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/10/2014)

Ngày 19-10, tại chùa Khleng, một ngôi chùa Khmer Nam Bộ thuộc Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Sơn Tây (Hà Nội), Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp Ban Quản lý Làng tổ chức Đại lễ dâng y Kathina, Phật lịch 2558, Dương lịch 2014. Tham dự Đại lễ có đại diện các bộ, ban, ngành, Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và TP Hà Nội, các chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại diện Đại sứ quán Vương quốc Xri Lan-ca, Băng-la-đét, Mi-anma, Cam-pu-chia, Lào, Thái-lan, các chức sắc Phật giáo một số nước và đông đảo tăng ni, Phật tử.

Dâng y Kathina là lễ hội truyền thống mang ý nghĩa gieo trồng phúc thiện của Phật giáo Nam tông, tôn vinh các giá trị Phật giáo và văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ, nhắc nhở các Phật tử bày tỏ lòng kính ngưỡng trước Tam bảo, khích lệ họ thực thi đại hạnh bố thí, dâng cúng lên người thầy của mình những vật phẩm với tấm lòng thành kính, đồng thời là dịp để các Phật tử được báo ân và nhớ về tổ tiên. Đây là lần đầu đại lễ dâng y của Phật giáo Nam tông Khmer được thực hiện tại một ngôi chùa Khmer Nam Bộ duy nhất của Thủ đô Hà Nội. Sau nghi thức niệm Phật cầu gia bị, lễ nhiễu Phật chung quanh chính điện, nghi lễ dâng y Kathina đã được thực hiện long trọng với việc Phật tử dâng lên cúng dường các chư tăng những mảnh vải để may y. Sau khi thụ y, các chư tăng đã tạ ân Đức Phật, ban pháp, tạ ân tăng đoàn tổ chức lễ thụ y và tạ ân các tín chủ đã tổ chức lễ dâng y.

PV.

—o0o—

LỄ HỘI YÔR YANG TRÊN THÁP PÔ TẰM

Đinh Châu

(Bài dăng trang 4 báo Nhân Dân ngày 19/10/2014)

Lễ hội Yôr yang theo quan niệm của người Chăm là lễ cầu an, cầu mong cho quốc thái dân an, nước nhà hưng thịnh, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu, xua tan những điều xấu để người dân được ấm no và hạnh phúc; đồng thời ghi nhớ công ơn của tổ tiên và các vị thần thánh.

Ðối với đồng bào Chăm ở xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong (Bình Thuận), lễ hội Yôr yang trên tháp Pô Tằm (quen gọi là Lễ hội Pô Tằm) là dịp để dân làng tưởng nhớ đến vua Pô Tằm (còn gọi là Pô Ðam), vị vua có nhiều công lao giúp dân làm thủy lợi, tạo ra nhiều của cải vật chất, làm cho người dân ngày càng ấm no và hạnh phúc. Nhóm đền, tháp Pô Tằm gồm sáu tháp nằm dưới chân núi Ông Xiêm, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong được xây dựng nửa cuối thế kỷ 8 – đầu thế kỷ 9, thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lai. Hiện nay chỉ còn lại bốn tháp tương đối nguyên vẹn, còn hai tháp khác bị phá hLe hoi yor yangủy theo thời gian. Nhóm đền, tháp Pô Tằm được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1996.

Trước đây, lễ hội được tổ chức mỗi năm một lần vào thượng tuần tháng 4 Chăm lịch (tháng 7 Âm lịch). Nay định kỳ ba năm tổ chức một lần và diễn ra trong ba ngày.

Buổi sáng ngày chính thức lên tháp là lễ rước y trang của Pô Tằm và các sắc phong do các vua triều Nguyễn phong tặng. Ðoàn rước có đầy đủ các vị chức sắc trong làng. Ði trước là những thiếu nữ với trang phục truyền thống múa quạt Chăm, hòa quyện với âm thanh huyền ảo của tiếng kèn saranai là tiếng trống ghi năng bập bùng rộn rã. Buổi chiều, các vị sư cả thực hiện các nghi lễ tẩy trần chung quanh khu vực tháp; tắm rửa và mặc y trang cho tượng thần. Tiếp đến là lễ múa mừng (Rijà Haray) dưới sự chủ trì của thầy Vỗ hòa cùng tiếng trống ghi năng, tiếng kèn saranai như báo hiệu cho bà con trong vùng biết để đến dự lễ cầu an. Ngày hôm sau là lễ tạ ơn các vị thần, thánh và vị vua Pô Tằm được tổ chức vào buổi trưa; lễ đóng cửa tháp với các nghi thức truyền thống của người Chăm…

Lễ hội là sự kiện văn hóa mang tính cộng đồng, ngày càng thu hút đông đảo du khách gần xa tới dự.

—o0o—

BẢO TỒN TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN

(Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/9/2014)

PVTTXVN

Các tỉnh Tây Nguyên ngày càng chú trọng đầu tư, mở rộng việc dạy tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trong các trường tiểu học phổ thông dân tộc nội trú. Tỉnh Kon Tum, Gia Lai đã đưa tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc Bana, Gia Rai vào giảng dạy ở 121 trường học ở bậc tiểu học

Tỉnh Ðác Lắc đưa tiếng Ê-đê vào dạy ở 92 trường tiểu học, 13 trường trung học phổ thông dân tộc nội trú. Các tỉnh cũng cấp miễn phí bộ sách giáo khoa, tài liệu bằng tiếng dân tộc, thu hút ngày càng đông học sinh dân tộc thiểu số tham gia học tiếng nói, chữ viết dân tộc mình. Nhờ vậy các em được nghe, nói, đọc, viết thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; các tỉnh cũng mở nhiều lớp dạy tiếng nói, chữ viết cho cán bộ, công nhân viên chức để có điều kiện công tác, tiếp xúc làm việc với vùng đồng bào thuận lợi.

Ðồng thời các tỉnh Tây Nguyên đã phối hợp các bộ, ngành tổ chức nghiên cứu, biên soạn, xuất bản Từ điển Việt – Ê-đê, Ê-đê – Việt, Bana – Việt…, xuất bản nhiều đầu sách như truyện cổ, lời nói vần, luật tục, sử thi… song ngữ, phát hành rộng rãi về các thôn, bon, buôn, làng. Ðài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh đều mở thêm chuyên trang, chuyên mục, nâng cao chất lượng, thời lượng phát thanh, phát sóng bằng tiếng dân tộc thiểu số của từng địa phương. Tỉnh Ðác Lắc, Gia Lai ngày càng nâng cao chất lượng, thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng Ê-đê, Mnông, Bana, Gia Rai.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Tây Nguyên cũng biên soạn, xuất bản nhiều bản tin, nội san bằng song ngữ đưa về tận các thôn, buôn, bon, làng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ quan thường trú Ðài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên đã phát sóng bằng sáu thứ tiếng dân tộc thiểu số chủ yếu ở Tây Nguyên như Bana, Ê-đê, Mnông, Gia Rai, Cơ Ho, Xơ Ðăng. Hiện nay, các tỉnh Kon Tum, Lâm Ðồng tiếp tục nghiên cứu, biên soạn các giáo trình, sách giáo khoa tiếng Xơ Ðăng, Chu-ru để đưa vào giảng dạy trong trường học, dạy cho cán bộ, công nhân viên chức nhằm góp phần bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

* Phát triển nguồn nhân lực y tế ở đồng bằng sông Cửu Long

Trong giai đoạn 2003-2014, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y – dược ở TP Cần Thơ và vùng đồGio hoc dan toc noi trung bằng sông Cửu Long tập trung đào tạo nguồn nhân lực y tế theo hướng đa dạng hóa ngành nghề. Cụ thể, Trường đại học Y – Dược Cần Thơ mở thêm sáu mã ngành mới bậc sau đại học. Ðến nay, Trường đại học Y – Dược Cần Thơ đã đào tạo 2.830 học viên cao học và nghiên cứu sinh; trong đó, gần 1.800 học viên đã tốt nghiệp về địa phương công tác; Trường trung cấp Miền Tây (Cần Thơ) tổ chức xét tuyển y sĩ, điều dưỡng chuyển đổi đối với người đã tốt nghiệp y sĩ đa khoa, điều dưỡng đa khoa, dược sĩ hệ trung cấp các chuyên ngành nha khoa, nhi khoa và y học cổ truyền; Trường cao đẳng Y tế Cần Thơ tăng hơn 600 chỉ tiêu đào tạo hệ trung cấp các ngành: điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật xét nghiệm, kỹ thuật ảnh y học, kỹ thuật vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, dược sĩ trung cấp, y sĩ; liên kết đào tạo giảng viên, xây dựng chương trình đào tạo điều dưỡng hộ sinh theo tiêu chuẩn quốc tế với các viện, đại học của Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri, Ai-rơ-len.

Thời gian tới, Ngành y tế các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tập trung bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ y tế, xây dựng đội ngũ cán bộ y tế chất lượng cao; ưu tiên phát triển các ngành chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ y tế. Ðồng thời, tăng cường xã hội hóa công tác y tế phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương trong khu vực. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, các cơ sở y tế trong vùng sẽ đào tạo hơn bảy nghìn bác sĩ, hơn ba nghìn dược sĩ nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của người dân đồng bằng sông Cửu Long

—o0o—

LIÊN HOAN VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

(Tin trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 16/10/2014)

Từ ngày 15 đến 30-11, tại Hà Nội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Liên hoan Văn hóa Tín ngưỡng thờ Mẫu năm 2014. Liên hoan có sự tham gia của gần 250 thanh đồng thuộc các nhóm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại các đền, phủ, câu lạc bộ chầu văn trong địa bàn Hà Nội. Liên hoan năm nay được tổ chức làm hai đợt: Đợt một (cấp quận, huyện) diễn ra tại bốn địa điểm gồm: Đền Lừ (quận Hoàng Mai); Đền Lưu Phái (quận Thanh Trì); Đền Quan Tam Phủ (thị xã Sơn Tây); Đền Rừng (quận Long Biên). Mỗi điểm có từ 20 đến 25 nhóm tham gia diễn xướng những giá đồng trong nghi lễ chầu văn truyền thống, ca ngợi các vị thần và các anh hùng có công với dân với nước được nhân dân tôn vinh. Ban tổ chức sẽ lựa chọn phần diễn xướng xuất sắc tham gia liên hoan cấp thành phố (đợt hai) diễn ra trong hai ngày 28 và 29-11 tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô. Trong khuôn khổ liên hoan còn có chương trình tọa đàm với chủ đề “Thực trạng Văn hóa Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Hà Nội” vào ngày 29-11.

—o0o—

PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG “KÍNH PHẬT – PHỤNG ĐẠO – YÊU NƯỚC”

(Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 15/9/2014)

Ngày 14-9, tại TP Châu Ðốc (An Giang) diễn ra Hội nghị Phật giáo chuyên đề Nam tông Khmer lần VI.

Phật giáo Nam tông Khmer An Giang sinh hoạt chung trong Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh An Giang, là một thành viên quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các hoạt động Phật sự luôn phát huy cao độ truyền thống “Kính Phật – Phụng đạo – Yêu nước”, nhất là tinh thần đoàn kết đạo – đời, đoàn kết tôn giáo, cùng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chùa và sư sãi trong Phật giáo Nam tông Khmer luôn là điểm tựa tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer. Phật giáo Nam tông Khmer tại An Giang luôn đồng hành với Tổ quốc và dân tộc, tuân thủ Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và pháp luật Nhà nước.

—o0o—

HOẠT ĐỘNG MỪNG LỄ SÊN ĐÔL TA Ở SÓC TRĂNG

(Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 23/9/2014)

Ngày 22-9, Tỉnh ủy, HĐND, UBND và MTTQ tỉnh Sóc Trăng tổ chức nhiều đoàn đại biểu thăm, chúc mừng lễ Sên Đôl Ta (lễ cúng ông bà) tại hơn 90 điểm chùa Khmer trong tỉnh.

Tại các điểm chùa, các đoàn đã ân cần thăm hỏi đời sống của đồng bào Khmer trong phum sóc, đồng thời thông báo với bà con việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua, những định hướng trong thời gian tới. Chính quyền, mặt trận, các đoàn thể ở địa phương trích ngân sách hàng trăm triệu đồng để thăm viếng, tặng quà các chùa, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách, những người có uy tín, các hộ nghèo là người Khmer…

Lễ Sên Đôl Ta của đồng bào Khmer Nam Bộ năm nay diễn ra từ ngày 22 đến 24-9.

P.V.

—o0o—

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

TRONG PHÁT TRIỂN CỦA THỪA TIÊN – HUẾ

(Tin trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 24/8/2014)

Chiều 23-8, tại TP Huế, Hội đồng Lý luận T.Ư phối hợp Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế tổ chức tọa đàm khoa học: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong phát triển của tỉnh Thừa Thiên – Huế”.

Tại tọa đàm, các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa ở Huế và trong nước đã trình bày các tham luận, trao đổi và đóng góp ý kiến cũng như kiến nghị các bộ, ngành liên quan ở T.Ư và địa phương nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của quốc gia nói chung và tại Thừa Thiên – Huế nói riêng. Các đại biểu đã đề cập công tác trùng tu, tu bổ di tích ở Huế gặp nhiều khó khăn do số lượng di tích nhiều, nhưng kinh phí bố trí hằng năm lại rất thấp, đề nghị T.Ư cần xem xét, có sự đầu tư cho những khu vực trọng điểm về văn hóa; nhanh chóng quy hoạch các lễ hội trong cả nước, tránh tình trạng nhiều địa phương cùng tổ chức lễ hội giống nhau; đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền cho các địa phương; quan tâm chính sách đối với nghệ nhân.

P.V.

Phan Khôi và Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 10 năm 2014.

PHAN KHÔI VÀ PHẠM QUỲNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa là nhan đề bản tin trên trang 17 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 7/10/2014 như sau:

“Sáng 6-10 tại Thành phố Tam Kỳ, Sở Văn Hóa -Thể Thao & Du Lịch và Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo khoa học “Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc”. Ðồng chủ trì hội thảo có phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam Dương Trung Quốc, phó viện trưởng Viện Văn học Việt Nam PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Ðinh Hài.

Hội thảo đi sâu vào việc nhìn nhận, đánh giá con người trí thức Phan Khôi (1887-1959, quê vùng Gò Nổi, Ðiện Bàn, Quảng Nam) một cách đa chiều từ cá tính, cuộc đời đến vai trò nhà báo, nhà văn với nhiều cách tân, phản biện xuất sắc từng để lại dấu ấn và gây tiếng vang cả nước. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, điều đáng mừng là trước khi tổ chức hội thảo, ban tổ chức đã tập hợp in thành kỷ yếu với 50 tham luận của nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi và cả những tác giả mới cùng những nhìn nhận cũng khá mới mẻ về Phan Khôi.

Một số tham luận được trình bày tại hội thảo tiếp tục ghi nhận những đóng góp của Phan Khôi trên các lĩnh vực: Vị thế Phan Khôi trong phong trào Thơ mới – Nhìn từ thực tại Thơ mới 1932-1945 (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn), Phan Khôi với việc bảo vệ quyền lợi của người dân (PGS.TS Trương Công Kỳ), Phan Khôi – người Quảng Nam thứ thiệt (Phạm Phú Phong), Quê hương, gia thế Phan Khôi (PGS.TS Nguyễn Văn Ðăng), Phan Khôi với thơ trào phúng và nghề làm báo (nhà báo Vu Gia), Phan Khôi với luận lý học (GS.TS Ngô Quang Huy), Ðóng góp của Phan Khôi về nghiên cứu Việt ngữ (Phan Thanh Minh)…

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng sắp tới, việc nhìn nhận, đánh giá những đóng góp của Phan Khôi trên nhiều lĩnh vực khác cũng phải trên tinh thần sử học, trung thành với sự thật khách quan để đưa đến nhận định chính xác, khoa học và thuyết phục.

Võ Trường.”

Nhân dịp này, xin mời các bạn đọc ba bài liên quan đến Phan Khôi và Phạm Quỳnh.

*

*   *

ĐỌC BÀI CHIÊU TUYẾT CHO MỘT NHÀ CHÍ SĨ CỦA ÔNG HUỲNH THÚC KHÁNG

Phan Khôi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trước đây chúng tôi đã đưa lên blog bài của Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh và một số bài của vài người khác viết năm 1962, 1963 về cuộc tranh luận do Nguyễn Văn Trung khởi xướng tại Sài Gòn lên án Phạm Quỳnh là tai say của Pháp, toàn là những bài viết sau khi nổ ra vụ án Truyện Kiều rất lâu, ít nhất cũng gần 40 năm…

Hôm nay, chúng tôi xin mời các bạn đọc bài của một người đương thời, viết ngay thời gian ấy, lại là một cây bút từng gọi Phạm Quỳnh là học phiệt và lên tiếng cảnh cáo: nhà báo, nhà nghiên cứu Phan Khôi, với mong ước bạn đọc hôm nay có cái nhìn khách quan hơn về một sự kiện văn học lớn, cũng như về một nhân vật có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học nước ta nửa đầu thé kỷ XX.

Sau đây là vài nét về Phan Khôi, trích trong Từ điển Văn học – bộ mới, của Nhà xuất bản Thế Giới, Hài Nội, xuất bản năm 2004.

“Phan Khôi (1887-5.VIII.1960). Nhà văn Việt Nam bút danh: Chương Dân, Thông Reo, Tú Sơn (phiên Phan Khoiâm chữ “tout seul” có nghĩa là một mình)…; (…) Học chữ Nho từ nhỏ, đỗ Tú tài Hán học (1905), tự học quốc ngữ và tiếng Pháp. 1907: tham gia Đông Kinh nghĩa thục, viết Đăng cổ tùng báo (Tập báo khêu đèn gióng trống). Pháp khủng bố Đông Kinh nghĩa thục, trở về Quảng Nam; bị bắt trong phong trào chống thuế (1908) phải tù một thời gian; sau đó ra Hà Nội; viết báo Nam Phong (1918). Trước 1945, sống chủ yếu ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, viết trên các tờ: Thực Nghiệp Dân Báo, Hữu Thanh, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Thời Đàm, Đông Pháp Thời Báo, Trung Lập, Đông Tây, Tràng An, Hà Nội báo, Tao Đàn, Tri Tân, chủ trương tờ Sông Hương (1936-39) (…) Sau Cách mạng Tháng Tám, sống ở Quảng Nam rồi Hà Nội; thời kháng chiến chống Pháp: công tác ở Việt Bắc, tham gia Đoàn Văn nghệ kháng chiến, dịch sách, nghiên cứu ngôn ngữ học (…)

“Thời Pháp thuộc, Phan Khôi được xem như một nhà báo kỳ cựu, viết đến khoảng nghìn bài báo lớn nhỏ về nhiều lĩnh vực: văn học, nghệ thuật, chữ viết, sử học, triết học, ngôn ngữ học, văn hóa, xã hội, luân lý, chính trị, thời sự… Là người có sở đắc Hán học vững chắc, lại tiếp thu được tư tưởng Âu Tây, nhà báo Phan Khôi đã phát biểu nhiều ý kiến đặc sắc, táo bạo: loạt những bài tạp luận trên Đông Pháp thời báo bàn về các vấn đề dân sinh, xã hội, động đến cả chính quyền thuộc địa, đề cao công lý, tinh thần tự trọng và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. (…)

“(…) nói chung, Phan Khôi vẫn được xem là một “kiện tướng” trong làng báo chí Việt Nam đương thời với các đặc điểm: viết nhiều và xông xáo; thường xuyên đề xuất những vấn đề mới (do đó ông đã gây ra bút chiến: về Nho giáo với Trần Trọng Kim, về Truyện Kiều với Phạm Quỳnh, về “quốc học” với Trịnh Đình Rư, về triết học, sử học với Hải Triều…); một thái độ cứng cỏi thẳng thắn có thể xứng đáng “đóng vai ngự sử đàn văn” (Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại) và đặc biệt là một lối văn có tính cách tân so với đương thời: mạch lạc, rắn rỏi, linh hoạt mà sắc sảo…”

Bài viết sau đây của Phan Khôi từng in trên báo Trung Lập, Sài Gòn các số 6266 (7-10-1930), 6267 (8-10-1930) và 6268 (9-10-1930). Chúng tôi theo đúng toàn văn trên các trang từ 418 đến 428 trong sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1930 do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội xuất bản năm 2006.

*

*     *

I

Độc giả hẳn còn nhớ trên tờ báo nầy, trước kia có đăng bài Cảnh cáo học phiệt của tôi, kế đó có đăng bài trả lời của ông Phạm Quỳnh, mới rồi lại có đăng bài của ông Huỳnh Thúc Kháng, cũng nghị luận về một việc.

Bài ông Huỳnh có ý bác lời của ông Phạm mà binh vực cho sự chủ trương của ông Ngô Đức Kế, là một trang chí sĩ đã quá cố, và đã công kích sự cổ động Truyện Kiều của ông Phạm Quỳnh năm xưa.

Lá lay gây ra việc nầy là tự tôi. Song sau khi đọc bài ông Phạm trả lời, tôi lại bỏ đi mà không nói nữa ; trong số 70 của Phụ nữ tân văn, tôi chỉ nói riêng về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông ấy. Tuy vậy, tôi cũng tỏ ý mong cho tòa án dư luận phân xử vụ kiện không thuộc về hình luật mà cũng không thuộc về dân luật đó.

May sao báo Tiếng dân trong một số mới rồi, Huỳnh Thúc Kháng tiên sanh lại có bài can thiệp vào mà thẩm phán. Tôi đọc qua thì mừng lắm, vì thấy lần nầy trong hàng thức giả đã có người không lấy cái thái độ nguội lạnh mà đối với dư luận như trước nữa.

Bài của ông Huỳnh, độc giả ai nấy chắc đã chú ý mà đọc, vì nó là một việc quan hệ chẳng phải nhỏ, vả lại là lời ra từ miệng một bậc đàn anh. Tôi đây cũng vậy. Nhưng tôi lại thấy rằng trong đó còn có một đôi chỗ không được đích xác và công bình cho lắm. Vậy xin phép trước là Huỳnh tiên sanh, sau là độc giả, cho tôi chỉ ra những chỗ ấy.

Huỳnh tiên sanh nhắc lại bài ông Ngô là một bài quan hệ về học thuật, có giá trị lắm, cái đầu đề của nó là Chánh học với tà thuyết, vậy thì không phNgo Duc Keải là câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi, không quan hệ với học vấn tư tưởng như ông Phạm Quỳnh đã khai ra. Ông Huỳnh dùng chỗ đó mà bác lời ông Phạm, chắc độc giả ai cũng phải nhận là có lẽ lắm. Tôi cũng vậy, tôi cũng nhận chỗ đó thật đáng gọi là “nhứt ngôn cư yếu”, nghĩa là một lời mà nắm được chỗ khẩn yếu vậy.

Phải chi toàn bài, Huỳnh tiên sanh cứ một chỗ đó mà lập luận thì dầu chính ông Phạm Quỳnh là người bị công kích cũng phải tâm phục. Song tiếc thay, trong bài ấy, có chỗ tỏ ra tây vị ông Ngô quá và có chỗ lại như tuồng nói xoi ông Phạm, làm cho ông nầy không phục  tình cố nhiên, mà cho đến người thức giả ở ngoài cuộc cũng không phục tình.

Huỳnh tiên sanh kể qua cái tâm sự chí khí của ông Ngô, rồi nói rằng : “Trong cái sự nghiệp trứ tác của ông (Ngô), bài Chánh học cùng tà thuyết nói ở trên chỉ là một bài trong ngàn bài khác”.

Chắc ông Phạm Quỳnh có đọc tới câu nầy thì ông phải bĩu môi. Mà còn người khác nếu người ta biết ông Ngô như tôi biết, thì không bĩu môi đi nữa cũng phải lắc đầu lè lưỡi, nói rằng : Văn của ông  Ngô Đức Kế làm gì mà có đến ngàn bài ? Cứ như tôi biết, thì ông Ngô ở vào thời đại “duy tân” (1906-1908), có được đôi ba bài cổ động gì đó bằng chữ Hán, khi ở Côn Lôn có được mấy bài thơ ; còn hồi làm chủ bút Hữu thanh thì ông viết cả thảy chừng mấy chục bài mà có chừng năm ba bài xuất sắc, sau đó thì ông có xuất bản đôi cuốn sách mà không có giá trị mấy, vì toàn là văn sao tập và văn dịch. Như vậy mà nói rằng số văn của ông Ngô đến hằng ngàn thật là nói thêm nhiều quá !

Tôi nói như vậy không phải là nói ông Ngô làm văn có ít để hạ giá ông xuống đâu. Nếu văn ông là hay, là có quan hệ với nhân tâm thế đạo thì ít cũng không hại chi, vì theo lời tục nói, “quân tử quý tinh bất quý đa”. Ý tôi nói đây là chỉ muốn cho Huỳnh tiên sanh phải nói theo sự thiệt, khi nào văn của ông Ngô đến số ngàn thiệt, thì hãy nói số ngàn ; bằng không, ổng có chừng nào, hẵng nói chừng nấy.

Xin Huỳnh tiên sanh cùng độc giả đừng cho sự tôi chỉ trích đây là mọn mạy không quan hệ. Tôi coi ý tiên sanh làm văn, khi dùng những chữ số mục thường không cố ý cho thiệt đúng. Cách đây hai năm, khi tiên sanh đọc bài diễn văn tại viện dân biểu Trung kỳ mà bị ông Jabouille kháng cự, cũng chỉ vì tiên sanh dùng những chữ số mục nói về trường học không được đúng. Theo lẽ ra thì bài diễn văn ấy chẳng có chỗ nào kháng cự được hết, song người ta đã sẵn cái ý kháng cự rồi, thì bắt ngay cái chỗ hớ ấy mà kháng cự lại tiên sanh.

Trong bài nầy đây, nếu ông Phạm không phục tình thì cũng sẽ lấy cớ ông Huỳnh nói thất thiệt mà cho là có ý tây vị ông Ngô đó vậy.

Lại một chỗ nữa, Huỳnh tiên sanh đã tỏ ra cái thái độ không được đường đường chánh chánh cũng đủ làm cho ông Phạm không phục tình.

Số là ông Phạm Quỳnh từ hồi làm chủ bút Nam Phong đến giờ, đi đâu một bước cũng có làm du ký. Ấy là Mười ngày ở Huế ; Một tháng ở Nam Kỳ; Ba tháng ở Paris. Sự đi ra mà làm du ký là sự thường, ai không muốn làm thì thôi, chớ làm du ký không phải là sự “mua danh”. Nếu hễ thấy làm du Huynh Thuc Khangký, cho là “mua danh”, thì ai cũng sẽ tránh cái tiếng ấy mà không còn ai dám làm du ký nữa, rút lại, chúng ta sẽ không có một cuốn du ký nào mà đọc.

Vậy mà Huỳnh tiên sanh nói rằng : “Ông (Ngô) có làm Côn Lôn du ký mà tuyên bố để mua danh đâu”. Tiên sanh nói câu ấy thật rõ là nói xoi ông Phạm Quỳnh đã làm nhiều lần du ký.

Trên câu ấy, tiên sanh bẻ ông Phạm mà nói rằng : “Còn nói ông Ngô có cái lịch sử 10 năm ở Côn Lôn nên ông không ngang sức, thì thật là vô lý. Mười năm Côn Lôn là một vấn đề, bác sự học Kiều là một vấn đề khác, hai điều có dính liếu gì đâu. Và trong bài Chánh học của ông Ngô, ông có đem mười năm Côn Lôn mà khoe với ai đâu ?” Những câu ấy thật là chánh đáng lắm. Đương nói giọng chánh đáng đàng hoàng như vậy, sao tiên sanh lại xạ vào một câu như tuồng soi bói ông Quỳnh, thì có phải là phí mất chăng ? Đáng tiếc thay !

II

Trong bài phê bình I của tôi, tôi vẫn cũng chịu bài của ông Huỳnh là một cái nghị luận đường chánh, là một cái ý kiến đáng và cần phát biểu ; song tôi chỉ tiếc có hai chỗ : một chỗ nói thất thiệt và một chỗ có ý xoi bói. E vì những chỗ ấy làm cho người bị công kích không phục tình.

Tuy vậy, còn nữa. Hai chỗ đã chỉ ra đó chẳng qua là chỗ dễ thấy hơn ; đến có chỗ mới nghe qua vẫn là đường chánh, mà xét kỹ lại, cũng thành ra thất thiệt và hàm cái ý xoi bói nữa, chỗ nầy hơi khó thấy, hôm nay tôi chỉ nốt ra đây.

Huỳnh tiên sanh nói rằng :

“Ông Ngô Đức Kế là một người tài học trổ từ lúc thiếu niên, nếu như có ý thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia, mượn lối văn chương để tiện đường mua giàu chác tiếng như ai, thì trong đám người đời mà lên mặt sang trọng thông thái ấy, ông làm đến đâu cũng thừa ra. Thế mà hy sinh cả thảy, chỉ ôm một lòng lo việc chung cho đất nước, trọn đời đày đoạ mà cứ khăng khăng một mực, cho đến ngày đậy nắp hòm !…”

Một đoạn ấy lời văn rắn rỏi, lại đầy những cái ý cảm khái lâm ly, chắc có nhiều người đọc tới mà lấy làm phấn khích, hoặc giả đến nỗi có kẻ phải sa nước mắt chưa biết chừng. Mà thật thế, cái lối văn thuộc về tình cảm nó nuốt người ta mạnh lắm, có khi nó cướp mất cả phần lý trí.

Vậy mà theo con mắt nhà phê bình, trong bài Pham Quynh chu but Nam Phongcủa ông Huỳnh có đoạn nầy là đoạn nhiều lỗi hơn hết, chẳng phải chơi. Tôi nói như vậy chắc có người cho tôi là vạch lông tìm vết. Song không phải đâu, xin thong thả nghe tôi cắt nghĩa.

Đoạn ấy cũng vẫn là thất thiệt. Xưa nay những người tài học trổ từ lúc thiếu niên, dầu là người có chí về danh lợi đi nữa đâu có phải hết thảy về sau đều trở nên người phú quý ? Nếu bao nhiêu những người ấy trên đời nầy đều là người phú quý hết thảy, thì đoán quyết cho ông Ngô  “làm đến đâu cũng thừa ra”, ai còn cãi được ư ? Cái nầy, tôi thấy ra, có rất nhiều người học giỏi, đậu sớm, mà làm quan cứ trầm trầy trầm trật đến già một đời ; còn có người đậu đại khoa sớm, làm quan to ngay, như ông Trần Hy Tăng, thì chưa đầy bốn mươi tuổi lại chết.

Huống chi, giở Đăng khoa lục ra mà coi, thì thấy từ đời Minh Mạng có thi hương thi hội đến giờ, phần nhiều bậc đại thần ở triều ở quận là cử nhơn xuất thân, chớ tấn sĩ lại là phần ít. Vậy nên ông Ngô mà cứ theo quan trường, đừng theo quốc sự, thì sự làm nên cùng chăng, cũng còn nằm trong hai chữ phận mạng, còn ở trong trái ổi, dựa vào hơi ông chi mà nói được rằng “làm đến đâu cũng thừa ra”? Phải chi chỗ nầy tác giả nói rằng “hoặc giả ông Ngô đã làm đến đâu rồi”, thì còn được, chớ nói quyết rằng “làm đến đâu cũng thừa ra”, thì là một điều phán đoán trái với luận lý học. Tôi nói là thất thiệt, vì thế.

Tài nào cho khỏi có người bảo phê bình như vậy là quá khắc. Song không phải khắc đâu. Theo văn học đời nay, nó cũng có cái khuynh hướng như cái khuynh hướng của triết học, tức là “Chơn, Mỹ, Thiện (le vrai, le beau et le bien). Đoạn [. . . .][1] của ông Huỳnh đây phạm vào mặt “bất chơn”, không [. . . .]* được. Nếu không tin, ông nào giỏi tiếng Pháp thử dịch ra đi, mà phải giữ “temps des verbes” **cho thật đúng với nguyên ý, rồi nghe thử có được không ?

Nhưng nếu theo lối văn khoa cử ngày xưa thì đoạn nầy có lẽ lại được khuyên nhiều. Vì trong những bài kinh nghĩa văn sách, người ta nói luôn luôn như vầy : “Phải chi đức Khổng thầy Mạnh mà được dùng ra, thì nói thiệt, cái đời Xuân thu Chiến quốc sẽ đổi ra Đường Ngu Tam đại tức thì. Tiếc thay thánh hiền chẳng gặp thời, làm cho muôn họ lúc bấy giờ không được gội nhuần ơn nho giả !”. Ấy đó, văn khoa cử thì là thế, không kể cái hoàn cảnh bấy giờ ra sao, không nhắm đến cái tài lực thánh hiền thế nào, chẳng thèm phòng hao chút nào hết, cứ nói đại đi rằng hễ thánh hiền thì làm muôn việc đều được, không làm, làm thì chắc được !

Đoạn ấy, chẳng biết ông Huỳnh có ngụ cái ý nói xoi ông Phạm Quỳnh không, song tôi đọc lên thì thấy có cái ý ấy. Ông Phạm có “thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia” không, thì không biết ; ông có “mượn văn chương” không, thì không biết ; song một điều ai ai cũng biết, là ông ấy đã nhờ văn chương của mình mà được giàu (giàu hơn tôi) và được tiếng. Ở giữa đám chúng ta đây ông Phạm cũng đáng kể vào bậc “sang trọng và thông thái”, duy chưa chắc một điều là “lên mặt” cùng chẳng lên. Chỗ nầy tác giả cốt muốn đặt một ý giả thuyết (hypothétique) về ông Ngô, thế thì đặt cách nào chẳng được, lại nhè nhắm trúng vào ông Quỳnh mà đặt, vậy thì có thầy kiện nào già miệng đến nỗi cãi được rằng lời nói ấy là lời nói trực tình ?

Lại còn phạm cái lỗi nói ra ngoài đề. Ông Huỳnh đương bẻ ông Phạm rằng cái bài ông Ngô nói chuyện chánh học với tà thuyết, là vấn đề quan hệ đến nhân tâm thế đạo, chớ không phải câu chuyện quyền lợi, câu chuyện cá nhân như ông Phạm nói. Nếu vậy thì chỉ cứ nên thân minh cái nghĩa chánh học và tà thuyết ra, để đè sấp cái nghĩa cá nhân quyền lợi bên kia đi là được rồi, hà tất phải chưng ông Ngô lên làm chi ? Huống chi ông Phạm đã nói rằng ông Ngô có cái mười năm Côn Lôn, ông không ngang sức nên ông không đối đáp, thế là ông có ý nhượng bộ chỗ đó rồi. Nội một cái mười năm Côn Lôn, người ta đã nhượng bộ, sao ông Huỳnh lại còn đem cả nhân cách một đời của ông Ngô ra mà doạ thêm ? Lại huống chi ông Huỳnh đã biết rằng trong bài ông Ngô, ông “không hề đem cái mười năm Côn Lôn ra mà khoe”, thì sao ông lại đem cả nhân cách một đời ông Ngô ra mà “khoe” trong bài của mình ? Nói tóm lại, chỗ nầy ông Huỳnh chỉ nên luận về “việc”, chớ không nên đem cái “người” của ông Ngô và ông Phạm ra mà nói.

Sau hết tôi phải nói đến cái ý nầy, cái ý nầy thì khí cao một chút. Đại phàm người nào đã thật lòng hy sanh phú quý thì chẳng khi nào kể đến sự hy sanh ấy, mà cũng chẳng hề xem thấy cái phú quý của kẻ khác nữa. Nếu còn kể đến, còn xem thấy thì hình như hai chữ phú quý trong lòng mình còn chưa quên, và sự hy sanh ấy không phải thực lòng. Ông Ngô nếu thực lòng hy sanh, mà ông Huỳnh lại nói như vậy, vẫn biết là lời giả thiết, song cũng e làm cho ông Ngô ân hận dưới suối vàng nếu ổng có linh !

Năm ngoái, có người chí sĩ ở trong khám lớn Sài Gòn làm bài thơ, có một câu đại ý nói mình ở trỏng thì khổ nhục trăm bề, mà cứ nghe kèn xe hơi bốn phía ngoài tường, bóp lia bóp lịa, chẳng biết họ đi đâu mà sung sướng nỗi chi ! Tôi nghe đọc thì tôi phê bình thầm vừa đủ tôi nghe mà rằng : “Ủa hay ! người ta sung sướng thì người ta mới đi xe hơi, còn ông ở tù thì ông mới làm chí sĩ!”

Tôi nói đến cái ý cao nầy, xin đừng ai đem mà trách tôi. Trước hết tôi đứng lên tự nhận tôi là nhà phê bình đây ; rồi tôi nói rằng tôi chẳng phải là chí sĩ, tôi chưa hề hy sanh cái gì, tôi vẫn chạy theo phú quý, song trong khi tôi phê bình, thì tôi có cái trách nhiệm nhắc cái văn phẩm lên cho cao.

 III

Phê bình về một bài mà viết cho đến ba bài như vậy, thật là quá lượng, chẳng khác nào thuộc địa lại to hơn mẫu quốc ! Tuy vậy, nhơn dịp nầy, cống hiến cho độc giả một vài điều nên biết trong cõi văn học đời nầy cũng hay.

Trong bài của Huỳnh tiên sanh có ý mạt sát Truyện Kiều đến nỗi nói rằng “người tô vẽ nó có công đức gì mà hoan nghinh ?” Rồi đó tiên sanh lại trưng ra những cái tội ác của xã hội ngày nay như là say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà đổ tội cho kẻ tán dương Truyện Kiều ; như vậy thật là quá đáng.

Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh ; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiểu biểu rằng : Nghệ thuật vì nhân sanh (l’art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại nói rằng : Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’art pour l’art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.

Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không ; nếu vậy thì đáng công kích thật ; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.

Cái hiện tượng trong cõi văn học thế giới ngày nay như đã giải ra trên kia đó, thì bên Tàu ngày xưa lại tương phản. Theo bên Tàu ngày xưa, cái quan niệm về văn học đại để khuynh hướng về phái nhân sanh hết. Tuy có một vài người chủ trương theo như phái nghệ thuật, song đã bị phái kia to thế lực hơn đánh đổ đi.

Như Chiêu Minh thái tử, người đã biên tập bộ Văn tuyển, có nói một câu rằng : “Cái đạo lập thân khác với văn chương : lập thân thì trước phải cẩn thận ; song văn chương thì hẵng cho phóng đãng”. (Lập thân chi đạo dữ văn chương dị; lập thân tiên tu cẩn thận ; văn chương thả tu phóng đãng). Câu ấy tức là đại biểu cho phái nghệ thuật của Trung Quốc đời xưa ; nhưng đã bị nhiều người bắt bẻ lắm, cho rằng văn chương như thế là hại đạo, cho nên phái ấy ở nước Tàu không mọc lên được.

Các nhà văn hào như Hàn Dũ thì nói : “Văn để mà chở đạo” (văn dĩ tải đạo), như Tăng Củng thì nói : “Văn chương phải cội gốc ở Lục kinh” (văn chương căn bổn Lục kinh).Ấy đó đều là những cái thuyết đại biểu cho phái nhân sanh. Đến đời sống đời Minh, lý học càng thạnh lên thì cái thuyết ấy lại càng mạnh lắm ; ai diễn được bổn tuồng nào, cũng mong có ích cho phong hóa ; ai làm ra cuốn sách chi, cũng tự phụ là có quan hệ với thế đạo nhân tâm.

Ở nước Tàu, cái thuyết của phái nhân sanh cầm trọn quyền như vậy đó, mà mười người mười than rằng phong tục mỗi ngày một suy, trải đời nọ qua đời kia, đời nào cũng thấy phàn nàn rằng “nhơn tâm bất cổ”[2]. Ấy là tại làm sao ? Có phải là tỏ ra rằng cái nguyên nhân của tội ác là nhiều lắm, không phải một mình văn chương đủ làm hại mà thôi chăng ? Cũng vì đó mà phái nghệ thuật đời nay mới hết sức khuynh hướng về cái đẹp mà tự tin rằng cái đẹp của mình khuynh hướng đó chẳng khi nào lại gây nên ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Có lẽ Huỳnh tiên sanh cũng một hạng người như Hàn Dũ, Tăng Củng, lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm. Như vậy, cái ý thì vẫn tốt, nhưng đối với cái trào lưu văn học của thế giới ngày nay, e khi không hạp.

Ở đời nay, bất kỳ một cái thuyết gì, hễ nó đã thành lập được thì người ta phải để cho nó tự do phát triển. Ngăn cản hay là hủy diệt nó đi, là việc vô ích mà có hại. Trong văn học mà khuynh hướng về thuần nghệ thuật, về mỹ, ấy là một sự chánh đáng ; cái khuynh hướng ấy hiện đương tận lượng mà phát triển ra trong các nước, dầu nước Tàu là nước ngày xưa rất nghiêm về văn học cũng vậy.

Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì ; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi.

Trước khi có người đề xướng Truyện Kiều, phong tục của ta có quả là thật tốt chăng ? Kịp đến khi chỉ có người tán dương Truyện Kiều một cái, mà làm cho dứt cả nề nếp gia đình, trật tự xã hội, như thế thì cái hoạ Truyện Kiều lớn lắm thật. Song, chỗ nầy tôi không dám tin lời tiên sanh. Nếu tiên sanh lập ra được một cái biểu thống kê về tội ác trước hồi đó và sau hồi đó cho thiệt đành rành, mà tôi thấy ra tội ác sau nhiều hơn trước, thì tôi mới tin được vậy.

PHAN KHÔI

Trung lập, Sài Gòn, s.6266 (7.10.1930) ;

s.6267 (8.10.1930) ; s.6268 (9.10.1930)

*

*   *

TRẢ LỜI BÀI CẢNH CÁO CÁC NHÀ HỌC PHIỆT CỦA PHAN KHÔI TIÊN SANH

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc các bạn đã đọc bài cuối trong 11 bài di cảo của Phạm Quỳnh, chúng tôi xin mời các bạn đọc thêm bài này, liên quan mật thiết đến “cuộc tranh luận về Truyện Kiều” nổi tiếng trong lịch sử văn học ta.

Nhiều năm rồi, người đọc đời sau đã biết đến các bài văn nảy lửa của cụ nghè Ngô Đức Kế kịch liệt chống lại chủ trương đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh như: Nền quốc văn (báo Hữu Thanh, tháng 4/1924) và bài Luận về chánh học cùng tà thuyết (báo Hữu Thanh, tháng 9/1924) bài này đã được đưa vào sách giáo khoa lớp cuối cấp trung học phổ thông cuối những năm 50 thế kỷ trước, “tố cáo” việc đề cao Truyện Kiều đã khiến cho “các gã thanh niên say đắm trong trời tình bể ái mà mềm nhũn cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa” (Từ điển Văn học Việt Nam, 2004). Đặc biệt, càng đông đảo người biết bài văn đanh thép của Phan Khôi Cảnh cáo các nhà học phiệt trên báo Phụ nữ tân văn số 62 (24/7/1930) và Trung Lập các số từ 6206 (26/7/1930) đến 6209 (30/7/1930), chỉ thẳng tên Phạm Quỳnh mà phê phán. Kế đó là bài của Huỳnh Thúc Kháng Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? – Chiêu tuyết những lời bài báng cho một chí sĩ mới qua đời trên báo Tiếng Dân Huế, số 317 (17/9/1930) và Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 72 (2/10/1930). Nhưng, có điều là bài trả lời trên đây của chính Phạm Quỳnh, là đối tượng bị đả kích, phê phán, cũng đăng ngay trên báo Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 67 (28/8/1930) thì ngày nay lại ít người được đọc. Lạ thay, mà cũng tiếc thay.

—o0o—

Phan Khôi tiên sanh với tôi là chỗ quen biết cũ.

Từ khi tiên sanh dời Hà Nội vô Nam kỳ, không có dịp gặp nhau. Nhưng về phần tiên sinh, coi chừng vẫn nhớ đến tôi luôn. Khi viết báo Thần chung, khi viết báo Phụ nữ, tiên sanh thường nhắc đến tên tôi. Thậm chí có khi không sẵn đầu bài, tiên sanh lấy tôi làm đầu bài. Như mới đây, nhân tiên sanh soạn chưa xong “bài trả lời” ông Trần Trọng Kim về Nho giáo, tiên sanh lại sực nhớ đến tôi mà liền tặng cho cái huy hiệu làm lãnh tụ một đảng, tiên sanh đặt tên là đảng “học phiệt”, rồi nhân đó viết một bài đại luận để cảnh cáo cho những người trong đảng ấy.

Nếu về cảm tình người cũ mà Phan tiên sanh ân cần đến tôi như thế, tôi xin cám ơn.

Từ trước đến nay, sở dĩ tôi không trả lời tiên sanh là vì tiên sanh mới thỉnh thoảng tặng cho năm ba câu mát mẻ xa xôi mà thôi, xét ra cũng không có quan hệ gì.

Nhưng nay tiên sanh công nhiên làm án một phái cho là có tội với học thuật nước nhà, mà lại phân minh chỉ tên chỉ tuổi tôi là thủ lãnh, tức là thủ phạm trong phái đó, thì tôi dầu có muốn lên mặt kiêu căng cũng không thể sao làm thinh cho được.

Vả việc là việc quan hệ lớn, không phải chỉ thiết đến một cá nhân tôi thôi, mà thiết đến cả học giới trong nước, tất tôi phải cùng tiên sanh phân trần mấy lời, không thể để cho độc giả ngộ nhận được.

Vậy Phan tiên sanh kết án phái “học phiệt” về những tội gì?

Trước hết chữ “học phiệt” đó của tiên sanh tự đặt ra nghĩa là gì?

Tiên sanh cho nước ta có một bọn “học phiệt” tức cũng như nước Tàu có bọn “quân phiệt”, là một hạng người cũng sảo có(*) học vấn, có tư tưởng, nhưng phải cái tánh tự cao, tự phụ quá, dường như muốn chuyên chế dư luận, chỉ lên mặt làm thầy người ta, chớ không chịu người ta chỉ trích đến mình.

Tiên sanh buộc cho bọn đó hai cái tội: một là phàm ai nghị luận, chỉ trích, công kích, phẩm bình gì đến mình là cứ làm thinh hết thảy, người ta gọi đến tên mà “chửi” cũng không trả lời, đó là một cái thái độ rất khả ố, vì tỏ ra khinh người mà lại hèn nhát nữa; hai là chính vì cái thái độ khả ố đó mà cõi học nước nhà thành ra vắng vẻ lạnh lẽo không ai còn muốn bàn bạc cãi cọ gì nữa, rõ ra cái cảnh tro tàn khói tỏa, quạnh quẽ đìu hiu là cái cảnh chết.

Tiên sanh vì tiền đồ học thuật, hăm hở mạnh bạo đứng lên kết án phái “học phiệt” đó, lời lẽ nghiêm nghị như quan chưởng lý kết án đảng cộng sản vậy.

Vậy những bị cáo nhân là ai?

Tiên sanh chỉ nói phái “học phiệt” không có bao lăm người, mà không kể rõ có những ai, song kêu đích danh tôi là thủ phạm. Vậy có lẽ tiên sanh chỉ có ý muốn “gây sự” – xin miễn cho tiếng nôm na – riêng với tôi chăng?

Tiên sanh buộc tội cho tôi có cái dã tâm muốn chuyên chế dư luận, dường như muốn làm một tên Mussolini trong cõi học nước Nam nầy. Vậy ra tôi có oai quyền, có thế lực đến thế dư? Thế thì danh giá cho tôi quá! Dầu tiên sanh có đem cả đại đội đến mà công kích tôi, tôi cũng cam tâm mà lấy làm tự khoái.

Song phàm xử án công bằng, phải có chứng cớ hẳn hòi, chớ vì tình nghi, vì ác cảm với người nào mà kiếm cớ buộc tội cho người ta, thì cái án ấy không có giá trị gì nữa.

Tỉ như việc cộng sản. Ví chánh phủ vì không ưa người nào, sẵn lòng nghi, cho khám xét nhà, không thấy gì cả, chỉ bắt được mấy quyển sách Karl Marx hay Lénine, cũng buộc tội cho là muốn làm cộng sản, mưu nhiễu loạn cuộc trị an; như thế thì có phải là công bằng không?

Nay Phan tiên sanh đối với tôi mà khởi ra cái án “học phiệt” đó, có phải là chứng cớ rõ ràng không, hay là chỉ vì “tình nghi” mà bỗng dưng kết cấu ra? Có phải có sự thực hẳn hòi không, hay là chỉ là một cái “án về thái độ”, một cái “án về khuynh hướng” (procès de tendance) nghĩa là đoán phỏng chừng cái ý hướng của người ta mà đem lòng yêu ghét, buộc cho những tội không đâu?

Không biết chủ ý tiên sanh thế nào, nhưng trong bài đại luận của tiên sanh chỉ có thấy dẫn một việc làm chứng, là việc mấy năm trước ông nghè Ngô Đức Kế công kích tôi về Truyện Kiều, mà tôi cứ thủy chung làm thinh không trả lời; thế là phạm hai cái tội đã kể trên kia.

Ông nghè Ngô nay là người thiên cổ rồi. Kẻ khuất người còn, chuyện bao năm cũ kể ra làm gì? Nhưng Phan tiên sanh đã giở giói ra, thì tôi cũng phải nối lời phân trần cho rõ lẽ: xin vong linh ông Ngô chứng giám!

Họ Ngô với tôi vốn không có hiềm khích gì. Ông là người quốc sự phạm cũ, vì việc nước mà long đong chìm nổi trong bao năm, dầu người không đồng tư tưởng, đồng chánh kiến với ông cũng phải kính trọng cái thân thế của ông. Tôi cũng vậy, thủy chung vẫn coi ông như bậc đàn anh. Bấy giờ ông làm chủ bút báo Hữu Thanh mới lập. Báo Hữu Thanh là một cái tạp chí; báo Nam Phong của tôi cũng là một cái tạp chí. Báo Hữu Thanh ra sau, báo Nam Phong của tôi có từ trước. “Hàng thịt nguýt hàng cá”, là cái thói thường của bọn con buôn. Trong làng văn làng báo có khi cũng mắc phải cái thói đó. Xem chừng ra ngay từ đầu, báo Hữu Thanh đã không có ý thân thiện với chúng tôi rồi. Tôi đoán thế nào cũng có một cuộc phản đối. Nhân khi ấy hội Khai trí Tiến đức mới đặt ra lễ kỷ niệm cụ Tiên Điền là tác giả Truyện Kiều. Việc nầy tự tôi khởi xướng, mà ông Trần Trọng Kim cũng là một tay chủ động. Bữa ông Trần và tôi diễn thuyết ở nhà hội Khai trí, có tới hai ngàn người đến nghe, coi ra hoan nghinh cổ võ lắm. Ông chủ bút Hữu Thanh có ý căm tức, liền viết bài phản đối Truyện Kiều và nhân thể mạt sát tôi. Tôi giận lắm, hăng hái muốn ra quyết chiến với họ Ngô một phen. Vì tôi ôn hòa thì ôn hòa thật, nhưng không đến nỗi nhu nhược mà bị người công kích không biết đối phó lại. Nhưng tôi nghĩ kỹ, rồi quyết hẳn làm thinh không trả lời. Ai cũng biết rằng họ Ngô không phải vì Truyện Kiều mà bình phẩm Truyện Kiều, chỉ là kiếm cớ để gây cuộc “cãi lộn” với tôi, trước là làm một cách quảng cáo cho báo Hữu Thanh, sau cũng để thỏa một cái lòng ác cảm riêng chăng. Truyện Kiều là một nền văn chương kiệt tác, xét Truyện Kiều phải đứng về phương diện văn chương mà xét, nay họ Ngô lại đứng về phương diện đạo đức, – mà là cái đạo đức rất hẹp hòi của phái hương nguyện, – thì rõ là chủ ý lập luận thiên đi, để có chỗ mà công kích người ta. Như vậy không phải là một vấn đề văn chương học vấn gì nữa, chỉ là một vấn đề cá nhân mà thôi. Tôi bèn định cứ làm thinh, không bắt lời, tựu trung có hai lẽ như sau:

1) Đã là một vấn đề cá nhân thì việc chỉ can thiệp đến hai người đối thủ với nhau mà thôi. Bất luận tài học ông Nghè Ngô thế nào, ông có một điều hơn đứt hẳn tôi: là ông là người đã vì nước mà phải tù tội. Trên cái cân dư luận của quốc dân, ông đã có sẵn 10 năm Côn Nôn ở đó rồi. Như vậy thì cuộc tranh luận không được ngang sức nhau nữa. Vả lại tự ý tôi cũng không muốn tranh luận với ông, vì dầu thế nào mặc lòng, tôi cũng vẫn kính trọng cái thân thế của ông; nếu đã thành ra cuộc cãi lộn thì tất phải dùng những lời nặng tiếng nhẹ ông mục cho tôi là “văn sĩ lớp lép”, thì tôi nể gì ông mà không tặng cho ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá, còn có sự thể gì nữa!

2) Lẽ nữa, – mà lẽ nầy Phan Khôi tiên sanh đoán trúng lắm, – là ông chủ bút Hữu Thanh đã lập tâm “gây sự” với tôi để làm cách quảng cáo cho báo ấy, thì tôi là chủ báo Nam Phong, khi nào tôi chịu mắc mưu đó! Tôi làm thinh không trả lời chính là một cách phá cái dã tâm của họ vậy.

Ấy đầu đuôi câu chuyện như vậy. Rút lại là một câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi cả, không có quan hệ gì đến học vấn tư tưởng hết.

Bởi thế nên tôi cứ làm thinh, không hề đả động đến nửa lời. Làm thinh là không muốn cãi lộn vô ích, chớ không phải là khinh hay là sợ gì dư luận.

Ôi! Dư luận! Dư luận vẫn đáng kính trọng lắm. Nhưng Phan tiên sanh còn lạ gì dư luận ở nước ta từ trước đến giờ hãy còn ấu trĩ lắm. Nhiều người không biết phân biệt chuyện nghĩa lý với chuyện cá nhân, không biết rằng người thức giả thảo luận với nhau là để tỏ bày chân lý, chớ không phải là cốt để thắng lẫn nhau, như trong cuộc đấu võ vậy.

Tôi chắc rằng có người đọc bài Cảnh cáo của Phan tiên sanh nghĩ bụng rằng: “Ông nầy tất có bụng ghen ghét gì Phạm Quỳnh mới kiếm chuyện cãi lộn như vậy”. Lại chắc có người không ưa tôi mà nghĩ rằng: “Đáng kiếp! Đã bị ông Nghè Kế trị cho một lần, lại bị ông Tú Khôi trị cho một lần nữa!” Như vậy chẳng là oan cả cho hai bên dư? Câu chuyện nghĩa lý mà biến thành câu chuyện cá nhân đó.

Đối với một cái dư luận còn bỡ ngỡ như vậy, tưởng cũng không nên câu nệ cho lắm. Không nên coi thường dư luận, nhưng cũng không nên làm nô lệ cho dư luận. Có nhiều điều dư luận nhao nhao lên đó, mà người thức giả nên làm thinh.

Sau cuộc phản đối của ông Nghè Ngô, trong nước liền nổi lên cái phong trào chánh trị mới! Có người nối gót ông Ngô cũng đem lời nọ tiếng kia mà phẩm bình tôi. Tôi đều nhứt thiết làm thinh cả. Là vì những lời bình phẩm đó là toàn về cái thái độ chánh trị của tôi, mà tôi vốn không phải là nhà chánh trị. Chẳng biết từ nay về sau vì thời thế bắt buộc có phải thực lực ra làm chánh trị hay không, – đó là một cái nghĩa vụ, nếu phải làm thì cũng không dám từ, – chớ từ trước đến nay thì sở chí sở sự không phải chuyên chủ về mặt chánh trị; dầu có tham dự vào chút đỉnh, cũng chỉ là tham dự một cách gián tiếp, đứng về địa vị khách quan, để làm một món khảo cứu mà thôi.

Tôi vốn là nhà làm văn, nhà học vấn. Cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay, – kể có trên dưới mười lăm năm trời, thật là dốc một lòng, chuyên một dạ, – chính là chủ nghĩa quốc gia, nhưng chỉ mới phụng sự về phương diện văn hóa, chưa hề chuyển di sang phương diện chánh trị.

Tôi thiết nghĩ rằng muốn cho nước nhà được độc lập, thì phải gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân. Muốn gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân thì phải có cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục. Cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục là ngữ ngôn văn tự trong nước. Bởi thế nên trong mười lăm năm nay, tôi không làm một việc gì khác cả: chỉ cúc cung tận tụy về một việc là cổ động cho quốc văn, tài bồi cho quốc văn, gây dựng cho quốc văn thành một nền văn chương đích đáng, có thể dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh trong nước. Các bạn đồng chí trong Nam ngoài Bắc cũng đã từng công nhận cho cái công phu ấy không phải là vô ích.

Vì tôi chỉ chuyên chủ về một việc tài bồi quốc văn như vậy, cho nên thật không để chí vào việc chánh trị. Ai bình phẩm tôi về chánh trị là bình phẩm sai cả. Tôi cho là bất túc khinh trọng, nên không hề đối đáp, không hề cải chánh bao giờ.

Nhưng đến việc văn chương học vấn thì tôi rất vui lòng thảo luận. Bởi vậy Phan tiên sanh khởi ra cái án li kỳ là cái án “học phiệt” này, tôi liền cầm bút để cùng tiên sanh phân trần các lẽ. Tôi thật không dám khinh dư luận, nếu dư luận ấy là ở những người thức giả như tiên sanh.

Tiên sanh thấy cái cảnh tiêu điều, trong học giới nước nhà, lấy làm buồn, buồn sanh bực, bực bèn muốn quy cữu cho người nào, liền quy cữu cho tôi. Thế là tiên sanh phán đoán vội vàng: nếu trong cõi học nước nhà có kẻ nào là tội nhân, thì tôi đây không dám tự cao, cũng có thể cho là một kẻ nhẹ tội hơn cả.

Nhưng học giới nước nhà không phải ngày nay mới tiêu điều. Đương lúc khoa cử còn thạnh, đã có cái cảnh tiêu điều đó rồi, vì cái học khoa cử, chỉ là cái học để thi đỗ làm quan mà thôi, không phải là học thuật chơn chánh. Nói đến học thuật chơn chánh thì cổ lai nước ta đã có gì? Không dám bội bạc tiền nhân, nhưng thật không có người nào vậy. Tương truyền lý học thâm thúy có cụ Chu An, cụ Trạng Trình. Nhưng các cụ phát minh được những điều gì, trứ thuật được những sách gì có giá trị? Nào đâu là những phái Vương học, phái Thiền tôn như ở Nhật Bản, cũng học chữ Tàu mà khám phá được nhiều điều người Tàu không nghĩ tới? Nước mình tịnh không có gì cả. Đó chẳng qua là bởi cái tinh thần học vấn của mình nó bạc nhược quá. Lại bởi cái mô phỏng của người mình nữa. Xưa kia phỏng chép người Tàu, ngày nay bắt chước người Tây. Xưa kia động nói là dương danh ông Khổng, ông Mạnh, ông Chu, ông Trình; ngày nay động nói là giở ra khoa học với lý luận, dân chủ với dân quyền! Nghe người ta nói mình cũng nói, chớ vị tất đã thấu hiểu đến chỗ tinh vi.

Ấy là cái hiểm tượng của học giới ta ở đó, ở cái tánh nô lệ của người mình đó, chớ không phải là lỗi tại người nầy hay người nọ.

Nay muốn cho cõi học được vui vẻ sầm uất, không cần phải dùng đến những cách dương đông kích tây, nay công kích người này mai phản đối người nọ, để làm một trò chơi cho khách bàng quan.

Phải nên cùng nhau hiệp lực, cố gây dựng cho nước nhà một nền “quốc học” đích đáng, không Tây mà không Nho, có cái tánh cách đặc biệt, tiêu biểu được cho cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Cái ý tưởng đó ngày nay Phan tiên sanh mới đề xướng, mà về phần tôi chủ trương đã lâu năm rồi.

Vậy ngày nay chúng ta có nên cổ động lập một hội “Chấn hưng quốc học”, họp tập những người có chí học vấn trong Nam ngoài Bắc, mỗi năm hội nghị một lần để bàn các kế hoạch nên thi hành cho nước nhà có một nền quốc học xứng đáng không?

Thiết tưởng thế còn hơn là cãi vã nhau vô ích.

Phan tiên sanh nghĩ sao?

P.Q.

*

*   *

PHẠM QUỲNH VẪN ĐƯỢC BẠN ĐỌC BÁO PHỤ NỮ TÂN VĂN

BẦU LÀ MỘT TRONG MƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bản tin đăng trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) số 50 ngày 1/5/1930 và số 64 ra ngày 7/8/1930. Đầu đề là của chúng tôi.

Như vậy là sau lễ Kỷ niệm Cụ Nguyễn Du năm 1924, suy tôn Truyện Kiều với câu nói bất hủ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn, Phạm Quỳnh đã bị “búa rìu dư luận” nặng nề. Các chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng gọi ông là kẻ gieo rắc tà thuyết, Phan Khôi, cây bút chính luận chủ yếu của Phụ nữ tân văn sau này gọi ông là học phiệt và lớn tiếng “cảnh cáo các nhà học phiệt”.

Nhưng, chính bạn đọc của báo này vẫn tỏ ra công bằng, ghi nhận những đóng góp của ông, không để tình cảm yêu ghét nhất thời làm lầm lẫn.

Chúng tôi xin mời các bạn đọc tư liệu đáng chú ý này của một tờ báo có ảnh hưởng lớn đương thời, đáng mặt đối thủ của Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

“Phụ nữ tân văn ra đời ngày 2 Mai (tức tháng 5 – PT chú) năm 1929 đến hôm nay, 1er Mai (1 tháng 5 –PT chú) 1930 là đúng một năm. Vậy ngày hôm nay, ra số báo nầy chính là ngày kỷ niệm đệ nhất châu niên của bổn báo vậy”. (P.N.T.V. số 50 ngày 1/5/1930).

Chào mừng một năm góp mặt với văn đàn, P.N.T.V. tổ chức một cuộc thi mà báo gọi là cùng chung vui với độc giả.

Đề thi đăng báo gồm có 3 phần:

  1. Một câu thai
  2. Một bài toán đố
  3. Một câu hỏi mang màu sách chánh trị, được xem như “trưng cầu ý kiến” độc giả P.N.T.V.

Câu hỏi ấy như sau:

  • Cuộc tuyển cử

Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt Nam Nhơn dân Đại biểu, mà những vị kể tên sau nầy ra ứng cử thì quý độc giả sẽ cử những vị nào.

NGUYỄN HỮU BÀI, Thủ tướng Nam triều

BẠCH THÁI BƯỞI, Chủ hãng tàu và mỏ than.Phu nu tan van

BÙI QUANG CHIÊU, Lãnh tụ đảng Lập hiến

VƯƠNG TỨ ĐẠI, Thượng thơ Lễ bộ

DƯƠNG VĂN GIÁO, Trạng sư

HUỲNH THÚC KHÁNG, Chủ báo Tiếng Dân

TRẦN TRỌNG KIM, Thanh tra sơ học

DIỆP VĂN KỲ, Nhà làm báo

LƯU VĂN LANG, Kỹ sư sở Tạo tác

NGUYỄN PHAN LONG, Chủ báo Đuốc Nhà Nam

LÊ QUANG LIÊM, Hội đồng Quản hạt

HOÀNG TRỌNG PHU, Tổng đốc Hà Đông

PHẠM QUỲNH, Chủ báo Nam Phong

NGUYỄN HỮU THU, Phó nghị trưởng kinh tế hội nghị

NGUYỄN TRÁC, Nghị trưởng Nhơn dân đại biểu viện Trung Kỳ

NGUYỄN BÁ TRÁC, Bố chánh tỉnh Bình Định

TRẦN TRINH TRẠCH, Điền chủ ở Bạc Liêu

LÊ QUANG TRINH, Y khoa Tấn sĩ

PHAN VĂN TRƯỜNG, Luật khoa Tấn sĩ

NGUYỄN VĂN VĨNH, Chủ báo Trung Bắc Tân Văn

Trong ba đầu bài thi, hai đầu bài trên thì khỏi giải nghĩa rồi, còn đầu bài thứ ba, tưởng nên bày tỏ ý kiến bổn báo vì sao mà có cuộc tuyển cử đó.

Các vị mà bổn báo liệt phương danh trên đây đèu là những vị đã từng có làm việc xã hội, bổn báo theo vần a,b,c, trong tên mà sắp thứ tự vào đây, và ví dụ nếu như có cuộc tuyển cử Việt Nam Nhơn dân Đại biểu mà các vị ấy ra ứng cử, quý độc giả có quyền bỏ thăm, thì bỏ thăm cho những vị nào.

Vì các vị ấy đều là người có danh trong xã hội cho nên bổn báo có ý tôn mà đem ra, chớ không phải lấy danh hiệu của những bực hữu danh mà làm trò du hí đâu. Bổn báo không theo đảng phái nào hết, cho nên mới chọn lựa 20 vị ở trên, là người thuộc về đủ các chức nghiệp, để chất vấn lòng khuynh hướng của các độc giả đối với các vị ấy ra sao. Nói tóm lại, bổn báo tưởng tượng ra cuộc tuyển cử ấy là do ở thành tâm, xin các vị có phương danh trong ban ứng cử kia, cùng các độc giả biết cho.

Cách tuyển cử thì quý độc giả phải làm như vầy:

Phải sấp thứ tự theo ý mình muốn, như ông X xứng đáng hơn hết thì sấp đứng số 1, ông Z xứng đáng thứ nhì thì biên vào số 2; biên như vậy cho đủ số 10 vị.

Về cuộc tuyển cử này, bổn báo có đặt riêng một ban ủy viên để xét thăm.

Đến ngày khóa sổ thì ban ủy viên sẽ soạn thăm và cộng coi cho biết 10 vị nào trúng tuyển.

Vị nào nhiều thăm hơn hết thì sắp số 1, rồi tuần tự, do theo số thăm mà sấp xuống số 2, số 3 kỳ cho tới đủ số 10 vị.

Khi sấp xong sẽ soạn lại những bài đáp, coi vị nào đáp trúng theo bản kết quả đó.

Hễ bài nào được trúng y theo bảng kết quả thì trúng phần thưởng nhất, người kế đó thì lãnh phần thưởng nhì.v.v…

Nếu không có bài đáp nào trúng y theo bản kết quả thì sẽ chấm bài nào đáp trúng gần hơn hết mà phát thưởng.

  • Kết quả “Trưng cầu ý kiến”

Ban ủy viên trước hết lo chấm cuộc tuyển cử mấy ngày ròng rã soạn lựa các số thăm, lại còn phải dò đi xét lại rất cẩn thận. Chúng tôi xin lấy danh dự của cả tòa báo và các đồng nhơn trong tòa soạn mà nói quyết rằng: cuộc soạn thăm này làm rất là quang minh chánh đại, không để cho có một mẩy nào sai sót hoặc tư vị.

Khi cộng thăm gộp lại thì mười vị này trúng tuyển:

  1. Phan Văn Trường 1133 thăm
  2. Huỳnh Thúc Kháng 1062
  3. Nguyễn Phan Long 1057
  4. Diệp Văn Kỳ 986
  5. Lưu Văn Lang 910
  6. Bùi Quang Chiêu 885
  7. Trần Trọng Kim 794
  8. Dương Văn Giáo 788
  9. Trần Trinh Bạch 671
  10. Phạm Quỳnh 667

(P.N.T.V số 64 ngày 7/8/1930)

[1] Hai chỗ này, do báo rách, mỗi chỗ mất một từ.

** temps des verbes: thì của các động từ

[2]Nhân tâm bất cổ”: lòng người chẳng giống như xưa, nghĩa là nó đã hóa nên xấu xa (theo H.T. Paulus Của, sđd).

 

Tháng Mười 17, 2014

Hà Nội mừng 60 năm giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

HÀ NỘI MỪNG 60 NĂM GIẢI PHÓNG

*

*   *

BẢN SẮC HÀ NỘI

Kiều Hương

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/10/2014)

60 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội từ một thành phố nhỏ, nghèo nàn, trở thành đô thị hiện đại. Không gian đô thị Thủ đô được mở rộng với đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, kết nối với các tỉnh, thành phố chung quanh tạo nên vùng Thủ đô rộng lớn, với hạ tầng đồng bộ, hiện đại, xứng tầm đô thị quy mô lớn trong khu vực Đông – Nam Á. Đây là tiền đề vững chắc để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, đồng thời không ngừng lan tỏa, tạo động lực để phát triển vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.

Một Hà Nội năng động, hiện đại

Theo các tài liệu lịch sử, kể từ năm 1010 (khi Vua Lý Thái Tổ quyết định định đô tại Thăng Long) cho đến năm 1788 (trước khi Vua Quang Trung dời đô về Phú Xuân), địa giới hành chính của Thăng Long – kinh đô của nước Đại Việt, được giới hạn trong phạm vi vòng thành ngoài cùng gọi là La Thành cCua ngo phia Tayhu vi khoảng 6 km. Bao quanh kinh đô là các con sông, với sông Hồng (đoạn chảy qua Thăng Long gọi là Nhị Hà) ở phía đông, sông Tô Lịch ở phía bắc và phía tây, sông Kim Ngưu ở phía nam, như được miêu tả trong câu ca dao quen thuộc: “Nhị Hà quanh bắc sang đông/ Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”. Đến ngày thoát khỏi ách chiếm đóng của thực dân (tháng 10-1954), Hà Nội, khi đó là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có diện tích 152,2km 2 , với 36 tuyến phố nội thành, bốn huyện ngoại thành, dân số 437 nghìn người.

Sau bốn lần điều chỉnh địa giới hành chính vào các năm 1961, 1978, 1991 và 2008, Hà Nội không còn là thành phố “trong sông” như ý nghĩa của tên gọi ban đầu, mà được mở rộng, bao quát cả hai bờ sông Hồng, biến dòng sông mẹ thành dải lụa hồng chảy qua trung tâm thành phố, kết nối sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê phía đông bắc, sông Đuống phía đông, sông Đà, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ, sông Tô Lịch phía tây, tạo không gian rộng lớn, trải dài từ Ba Vì hùng vĩ gắn với truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh, Sóc Sơn với đền Sóc – nơi Thánh Gióng bay về trời, đến Mỹ Đức với danh thắng Hương Tích… Sau cuộc kiến tạo lớn nhất trong lịch sử này, Hà Nội có diện tích 3.328 km 2 , dân số hơn bảy triệu người, tăng gấp 22 lần về diện tích, gấp 12 lần về dân số so với thời điểm 60 năm trước.

Không gian khu vực nội thành Hà Nội không chỉ là những khu phố cổ, khu phố kiểu Pháp như trước, mà diện tích được mở rộng hơn trước gấp 17 lần. Khu vực Từ Liêm, Gia Lâm, Hà Đông… trước đây là vùng ngoại thành hoang vu, nay là khu vực đô thị mới, đẹp đẽ và nhộn nhịp, nơi tọa lạc Trung tâm hội nghị quốc gia, sân vận động quốc gia Mỹ Đình, trụ sở của nhiều cơ quan trung ương, công viên phần mềm, các khu dân cư Mỹ Đình, Mễ Trì, The Mannor, Việt Hưng, Dương Xá, Vinhomes Riverside…, mang phong cách kiến trúc hiện đại. Không gian đô thị của Thủ đô được tổ chức theo chùm đô thị, gồm khu vực đô thị trung tâm là khu vực nội thành hiện nay và năm đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, Phú Xuyên, Xuân Mai, Sóc Sơn, nằm cách trung tâm 30 km về các hướng, không chỉ giảm tải cho đô thị lõi, mà còn tạo động lực để phát triển kinh tế – xã hội.

Cùng với sự mở rộng về không gian là hệ thống giao thông khá đồng bộ, hiện đại. Trong khu vực nội thành, các tuyến đường vành đai 1, vành đai 2, vành đai 2,5, vành đai 3, vành đai 3 trên cao đã và đang hoàn thành, đưa vào sử dụng, với hệ thống hầm chui, cầu vượt, tạo điều kiện giao thương, phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, thuận lợi. Khái niệm “cửa ô” đối với Hà Nội hôm nay được hiểu với nghĩa rộng hơn, bởi kết nối từ đô thị trung tâm đến các đô thị vệ tinh là hệ thống đường vành đai kết hợp trục hướng tâm, có liên kết với mạng lưới giao thông liên vùng và quốc gia. Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32 được đầu tư hiện đại, rút ngắn khoảng cách từ trung tâm thành phố đến các đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, tạo điều kiện cho Khu Công nghệ cao Hòa Lạc thu hút các dự án lớn về công nghệ – đào tạo, khai thác tiềm năng du lịch, văn hóa của Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, các khu du lịch dưới chân núi Ba Vì… Cầu Thanh Trì, cầu Thăng Long kết nối đường cao tốc bắc Thăng Long – Nội Bài, quốc lộ 5, quốc lộ 18, quốc lộ 3… rút ngắn hành trình từ Hải Phòng, Quảng Ninh đến cửa ngõ hàng không, lên biên giới phía bắc. Đường 5 kéo dài mới được thông xe sẽ kết nối cầu Nhật Tân, cao tốc Nhật Tân – Nội Bài, quốc lộ 2 (Hà Nội – Lào Cai)… không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội vùng đô thị phía bắc sông Hồng của Hà Nội, mà còn giúp việc vận chuyển, giao thương giữa các trọng điểm kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thuận lợi, hành lang kinh tế xuyên Á (Côn Minh – Hà Nội – Quảng Ninh) thuận tiện, dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Hà Nội đang bắt nhịp với các đô thị lớn trên thế giới bằng hệ thống vận tải hành khách công cộng hiện đại. Năm 2015, tuyến xe buýt nhanh Yên Nghĩa – Kim Mã và tuyến tàu điện trên cao đầu tiên Cát Linh – Hà Đông sẽ đi vào hoạt động, kết nối các loại hình vận tải hiện có tạo nên mạng lưới giao thông công cộng nhanh, thuận tiện, an toàn và hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, tháo gỡ những “nút thắt” trong giao thông đô thị hiện nay.

Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, nguyên Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội nhận xét: “Hà Nội đang đổi thay từng ngày. Nếu ai đi xa chưa có dịp về lại Thủ đô trong 10 năm trở lại đây sẽ không khỏi ngỡ ngàng, thậm chí không thể nhận ra một Hà Nội năng động, hiện đại như bây giờ…”.

Hài hòa giữa bảo tồn và phát triển

Hà Nội phát triển nhanh, hiện đại hơn, to đẹp hơn trước, nhưng không vì thế mà làm phai nhạt những giá trị bản sắc. Với bề dày lịch sử hơn 1.000 năm tuổi, với gần 5.200 di tích, trong đó hơn 1.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 1.270 làng nghề truyền thống, nhiều cụm di tích thắng cảnh, công tác bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa Thăng Long – Hà Nội được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm gìn giữ truyền thống, bản sắc văn hóa, để Hà Nội có sức hút không chỉ với khu vực Đông – Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương, mà còn cả với thế giới.

Trong khu vực nội đô lịch sử (giới hạn từ phía nam sông Hồng đến đường vành đai 2), thành phố hạn chế phát triển công trình cao tầng, giảm mật độ xây dựng và mật độ cư trú, bảo tồn đặc trưng, cấu trúc đô thị cũ và bảo vệ phát huy các giá trị cảnh quan các công trình kiến trúc có giá trị văn hóa – lịch sử – tôn giáo, kiến trúc đặc trưng các thời kỳ. Các di tích lịch sử – văn hóa, các thành cổ, làng cổ, di tích cách mạng, tôn giáo tín ngưỡng, nhất là các tiểu khu trong khu vực nội đô lịch sử bao gồm: Trung tâm chính trị Ba Đình, khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Gươm và phụ cận, khu vực hồ Tây và phụ cận, được khoanh vùng bảo vệ và có quy chế kiểm soát chặt chẽ các hoạt động bảo tồn, hoạt động xây dựng và hoạt động tham quan khác. Thành phố quy hoạch và xây dựng các khu đô thị mới ngoài vành đai 2. Người dân khu phố cổ được “giãn dân” bằng cách di chuyển tới khu đô thị mới Việt Hưng (quận Long Biên). Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, trường đại học lớn được di dời khỏi nội đô, được bố trí tại các đô thị vệ tinh hoặc các khu công nghiệp lớn, giảm áp lực về hạ tầng, môi trường trong khu vực trung tâm, đồng thời tạo động lực đô thị vệ tinh phát triển.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua năm tháng chiến tranh, Hà Nội vẫn giữ vẻ đẹp riêng của mình. Tiến sĩ Ca-thơ-rin Mu-lơ Ma-rin, Trưởng văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam, từng ca ngợi: “Hà Nội là nơi quy tụ nhiều di sản nhất Việt Nam, trong đó có nhiều di sản thế giới quý giá và có sức hút lớn”. Những di sản đó đã trở thành thế mạnh của Thủ đô để phát triển du lịch. Đại diện nhiều doanh nghiệp lữ hành lớn cho biết, Hà Nội là điểm đến không thể thiếu trong chương trình du lịch của hầu hết khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Du khách thường có nhận xét, họ thích đến Hà Nội, bởi ở đây, họ cảm nhận được sự thanh bình, giản dị, nhịp sống chậm hơn so với những thành phố khác trong khu vực…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, việc giải quyết xung đột giữa yêu cầu bảo tồn và nhu cầu phát triển của xã hội không phải là đơn giản, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự gia tăng dân số quá lớn, dẫn đến sự quá tải trên toàn hệ thống hạ tầng, nguồn lực đầu tư xây dựng khó khăn, năng lực quy hoạch, xây dựng, quản lý, vận hành còn hạn chế… Những “bài toán” cụ thể luôn xuất hiện trong sự vận động của xã hội như câu chuyện về bảo tồn làng cổ Đường Lâm, đề án di dời, giãn dân phố cổ, tổ chức tuyến phố đi bộ chung quanh hồ Hoàn Kiếm, giao thông tĩnh trong khu vực nội đô… đòi hỏi thành phố phải có các giải pháp linh hoạt, song vẫn bảo đảm những nguyên tắc nhất quán để giải quyết hài hòa hai vấn đề bảo tồn và phát triển, để Thủ đô phát triển bền vững, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hiến của thành phố nghìn năm tuổi.

K.H.

—o0o—

NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Gia Minh

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 10/10/2014)

Đã 60 năm sau ngày giải phóng, Hà Nội từ một thành phố nhỏ bé, lạc hậu về mọi mặt đã trở thành một đô thị lớn, ngày càng khang trang, hiện đại. Quá trình “thay da đổi thịt”, vươn tầm và khẳng định vị thế đó đã được tái hiện lại một cách sống động, chân thực trong Triển lãm Thành tựu kinh tế – văn hóa – xã hội của Thủ đô 60 năm xây dựng và phát triển.

Chỉ sau ba ngày mở cửa, triển lãm đã thu hút gần mười nghìn lượt người đến tham quan. Trong đó, có hơn 500 khách đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều đoàn khách của các cơ quan, đoàn thể và các tỉnh bạn… Hầu hết người xem đều đánh giá triển lãm được tổ chức trang trọng, ấn tượng, nhiều tư liệu có giá trị, xứng tầm là một sự kiện chính trị quan trọng chào mừng Kỷ niệm 60 năm Ngày giải phóng Thủ đô. Bác Trần Thanh Hòa, ở Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy) dẫn hai cháu nhỏ đến triển lãm chia sẻ: “rất nhiều những hình ảnh, hiện vật thú vị ở triển lãm đã giữ chân ba bà cháu ở triển lãm cả một buổi sáng. Bắt gặp những đồ vật, hình ảnh một thời quen thuộc, những câu chuyện về Hà Nội những năm 80, 90 của thế kỷ 20 chợt ùa về, bác kể cho hai cháu nhỏ nghe mãi mà không hết”.

Khu trung bay trung tam cua trien lamToàn bộ triển lãm được thiết kế theo không gian mở với sự kết nối và liên thông liên tục, thống nhất giữa các khu. Đặc biệt, khu trung tâm được thiết kế theo các vòng tròn đồng tâm, giống lối kiến trúc lòng chảo, giúp người xem có thể quan sát dễ dàng. Ở giữa là biểu tượng cột rồng thời Lý, tượng trưng cho Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến. Chung quanh là các hình ảnh, hiện vật thể hiện những giá trị tinh hoa của Hà Nội qua các giai đoạn phát triển; các sản phẩm tiêu biểu, đặc sắc của Hà Nội… Từ tấm lụa tơ tằm, chiếc đèn kết từ mây tre cho đến những thiết bị máy móc hiện đại mà người Hà Nội làm ra được chọn lọc, trưng bày trang trọng. Ngoài ra, triển lãm còn có năm khu trưng bày theo từng lĩnh vực với sự tham gia của hơn 20 sở, ban, ngành, đoàn thể và các tỉnh lân cận. Thường xuyên có các cán bộ thuyết minh của bảo tàng và các sở, ngành túc trực để giới thiệu, hướng dẫn cho khách tham quan.

Tại khu trưng bày thành tựu kinh tế có nhiều số liệu biểu thị, hình ảnh, hiện vật, sản phẩm, mô hình tiêu biểu thể hiện quá trình xây dựng, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế trong các hoạt động công nghiệp, thương mại, đầu tư, tài chính ngân hàng, xây dựng, giao thông, đô thị… của Thủ đô. Khu trưng bày thành tựu văn hóa – xã hội thì tái hiện các thành tựu văn hóa, thể thao, du lịch, y tế, giáo dục, lao động xã hội, thông tin truyền thông, đối ngoại, xây dựng chính quyền của Thủ đô qua chặng đường lịch sử 60 năm. Đến với khu trưng bày thành tựu an ninh – quốc phòng, người xem như được sống lại không khí hào hùng của những chiến công oanh liệt mà quân, dân Thủ đô đã chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong xây dựng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, còn có khu trưng bày thành tựu công tác MTTQ và các đoàn thể và khu trưng bày thành tựu của một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam… Sự góp mặt của các tỉnh lân cận đã thể hiện sự liên kết giữa Thủ đô với các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; trong chương trình “Hà Nội với cả nước, cả nước với Hà Nội”.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đánh giá, triển lãm không chỉ khái quát, giới thiệu và quảng bá những thành tựu nổi bật của Thủ đô qua một chặng đường phát triển, mà còn thể hiện tình cảm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô với các thế hệ đi trước. Qua đó, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị quý báu của mảnh đất Thăng Long – Hà Nội, tạo động lực để nỗ lực, phấn đấu xây dựng Thủ đô giàu đẹp.

—o0o—

HÀ NỘI, THÀNH PHỐ DU LỊCH HẤP DẪN HÀNG ĐẦU CHÂU Á

Khánh Vy

(Bài đăng Trang Hà Nội của báo Nhân Dân số ra ngày 30/9/2014)

Trong nhiều năm qua, Hà Nội liên tục được độc giả các tạp chí du lịch uy tín trên thế giới bình chọn là một trong sáu thành phố du lịch hấp dẫn hàng đầu châu Á, một trong mười điểm du lịch đang nổi lên trên thế giới, đứng thứ hai trong số mười thành phố có chất lượng dịch vụ khách sạn tốt nhất thế giới… Thành phố đang từng bước khẳng định vị thế là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực.

Đa dạng các hình thức quảng bá

Trong những năm gần đây, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch Thủ đô luôn quan tâm công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, để hình ảnh du lịch Hà NDu lich Ha Noiội đến gần hơn với du khách trong và ngoài nước. Mặc dù nguồn kinh phí dành cho công tác này chưa lớn, song ngành du lịch tận dụng cao nhất mọi phương thức quảng bá đến các thị trường du lịch trong và ngoài nước nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch đến Thủ đô. Nhiều buổi xúc tiến giới thiệu tiềm năng du lịch độc lập và kết hợp, nhiều chương trình hội chợ du lịch, liên hoan du lịch, nhiều kỳ họp quốc tế về du lịch… được ngành du lịch thành phố tổ chức hoặc tham gia.

Trong hai năm 2013 – 2014, ngành du lịch thành phố tổ chức, tham gia nhiều hoạt động như: Năm Du lịch quốc gia vùng đồng bằng sông Hồng, Năm Du lịch Tây Nguyên – Đà Lạt 2014, Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam – Hà Nội, Liên hoan du lịch làng nghề Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, phối hợp huyện Mỹ Đức tổ chức Lễ hội du lịch chùa Hương và sắp tới là Liên hoan du lịch làng nghề Hà Nội… Thông qua các hoạt động đó đã giới thiệu được tiềm năng du lịch tự nhiên, văn hóa lịch sử, nhân văn, làng nghề, ẩm thực…, những tua, tuyến du lịch, các dự án kêu gọi đầu tư du lịch… Không ít những thỏa thuận hợp tác giữa ngành du lịch thành phố với các địa phương trong cả nước, giữa các doanh nghiệp du lịch với nhau, giữa thị trường du lịch trong nước và nước ngoài được ký kết tại các kỳ liên hoan, hội chợ.

Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Mai Tiến Dũng, ngoài thị trường trong nước, ngành du lịch Hà Nội đặc biệt quan tâm việc quảng bá hình ảnh Thủ đô đến các thị trường trọng điểm trên thế giới. Các kỳ họp tại Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á, Mạng lưới các thành phố lớn châu Á thế kỷ 21 đều được thành phố tham gia thường xuyên. Ngành du lịch Hà Nội cũng quan tâm quảng bá tại những thị trường trọng điểm như Pháp, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước Đông Âu và ASEAN… Ngành du lịch còn tổ chức các đoàn khảo sát của doanh nghiệp lữ hành nước ngoài, các đoàn báo chí đến khảo sát du lịch Hà Nội và vùng phụ cận. Hà Nội cũng quảng bá trên các website du lịch uy tín của thế giới như Trip Advisor, Smart Travel Asia, quảng bá trên một số kênh truyền hình Nga…

Chính vì vậy, số lượng khách quốc tế đến Hà Nội ngày càng tăng. Năm 2013, có 2,5 triệu lượt người, chiếm khoảng 30% số lượng khách quốc tế đến Việt Nam.

Không ngừng nâng cao chất lượng các tua du lịch

Phó trưởng Ban Khách quốc tế và nội địa – Câu lạc bộ Lữ hành Hanoi UNESCO Hà Nội, Phó Giám đốc Công ty Asialand Travel Từ Thị Mỹ Hạnh khẳng định: “Hiện Hà Nội là điểm đến không thể thiếu trong chương trình du lịch của hầu hết khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Du khách thường có nhận xét, tham quan ở Hà Nội cảm nhận được sự thanh bình, giản dị, nhịp sống chậm hơn so với những thành phố khác và họ thích đến Hà Nội hơn”. Chính vì vậy, cùng với tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch, Hà Nội cũng quan tâm nâng cao chất lượng du lịch gồm chất lượng sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, chất lượng dịch vụ du lịch nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến Hà Nội. Trong đó, việc khai thác tiềm năng xây dựng những sản phẩm du lịch mới, nâng cấp các điểm đến truyền thống được ưu tiên hàng đầu. Bởi đó là điều kiện cần để làm cơ sở thu hút khách đến tham quan Thủ đô. Hiện, thành phố đang quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Vì – Suối Hai thành Khu du lịch quốc gia, quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông và các loại hình phương tiện vận chuyển khách phục vụ phát triển du lịch Thủ đô đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Ngành du lịch đang xây dựng đề án phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng, phục vụ phát triển du lịch bền vững tại huyện Gia Lâm và Sóc Sơn, đề án phát triển du lịch cộng đồng khu vực Ba Vì, đề án nâng cấp điểm đến, khai thác phát triển du lịch làng cổ Đông Ngạc tại quận Bắc Từ Liêm, khai thác các chương trình nghệ thuật truyền thống phục vụ phát triển du lịch… Dưới góc độ người làm lữ hành, bà Từ Thị Mỹ Hạnh đánh giá: Hà Nội luôn có sự đa dạng hóa sản phẩm, liên tục đổi mới sản phẩm du lịch, giá tham quan ổn định là những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp giữ giá tua, thu hút khách nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

Ngành du lịch Hà Nội cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh, kiểm tra nhằm chấn chỉnh tình trạng lộn xộn trong hoạt động du lịch nếu có xảy ra. Ngoài ra, ngành tăng cường liên kết với các địa phương trong cả nước nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh du lịch của mỗi địa phương, tăng cường trao đổi khách hai chiều, đầu tư du lịch… Thời gian gần đây, Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch Hà Nội thực hiện hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Hải Phòng… Năm 2014, Hà Nội phấn đấu đón 14 triệu lượt khách du lịch trong nước, ba triệu khách du lịch quốc tế. Lãnh đạo Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch Hà Nội khẳng định: Nếu triển khai tốt các nhiệm vụ trên, chắc chắn ngành du lịch sẽ khai thác tối ưu các tiềm năng, thế mạnh của mình, phát triển hiệu quả và bền vững, từng bước đưa Hà Nội trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn trên thế giới và trong khu vực.

K.V.

—o0o—

NƠI TÀI HOA HỘI TỤ

Chí Dũng

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 5/10/2014)

Trong mạch chảy nghìn năm của Thăng Long – Hà Nội, có biết bao con người làm rạng danh văn hiến Thăng Long, biết bao nghệ nhân góp phần tạo nên các phường thợ được mệnh danh là “khéo tay nghề, đất lề Kẻ Chợ”… Mảnh đất “rồng chầu, hổ phục” không chỉ là nơi tài hoa mọi miền tụ về, mà còn là nơi những tài năng ấy đơm kết thành tinh hoa. Cái mạch chảy ấy vẫn luôn bất biến, để Thủ đô hôm nay, nối tiếp niềm tự hào tinh hoa Tràng An…36 phố nghề ở khu phố cổ Hà Nội chỉ là con số phiếm chỉ.

Nếu thống kê những phố nghề truyền thống, phải đến cả trăm. Nghề nào cũng có những nét đặc biệt. Giản dị như con dấu gỗ, giá chỉ bằng hai bát phở, có thể gặp ở bất cứ góc phố nào cũng chứa đựng bao nét tài hoa. Cầm trong tay con dao khắc, người thợ bỗng hoá thành nghệ sĩ, thoáng chốc, một bức tranh hiện lên trên mẩu gỗ mỗi chiều chỉ chừng 2 cm. Nhưng nếu đặt con dấu gỗ cạnh những đồ chạm bạc, thì vẫn thua rất xa về độ tinh xảo… Dẫu vậy, nếu được chọn một nghề xứng đáng được gọi là “tinh hoa của tinh hoa” trong khu phố cổ, tôi chọn nghề khắc chữ trên những quả chuông đồng…

Ông Nguyễn Đăng Hiển ở phố Hàng Vải tự nhận mình là một người thợ đồng. Còn với tôi, từ “nghệ nhân” với ông có lẽ vẫn còn khiêm tốn. Khi ông cầm cây dùi đục bên quả chuông, người ta ngỡ như một thư gia đang phóng ra những nét bút đầy khí lực. Tay búa, tay đục, tiếng lách cách khi nhặt khi mauNghe nhan chuong dong… Những nét chữ Nho hiện dần lên trên quả chuông mầu xám cùng với nhịp búa. Đây là nét “tà điểm” (nét chấm nghiêng) mềm mại, đây là “sổ” (nét thẳng đứng) dứt khoát, khỏe khoắn… Cây dùi đục trong tay ông khi tàng, khi lộ với phong thái thư gia. Buổi làm việc kết thúc, cũng là lúc những bài kệ, bài minh hiện lên lấp lánh trên quả chuông.

Chạm đồng khó. Chạm chữ Nho trên đồng là đỉnh cao, đòi hỏi phải tinh thông nghề chạm, lẫn tinh thông Hán học. Ông Hiển sinh năm 1946 trong một gia đình làm đồ đồng ở làng Quảng Bố (huyện Lương Tài, Bắc Ninh). Cụ thân sinh ra ông sớm đưa gia đình lên Hà Nội lập nghiệp. Gia đình vốn có truyền thống Nho học nên cậu bé Hiển học Tam tự kinh, Tam thiên tự từ nhỏ. Ngày cầm dùi đục học nghề đồng, tối luyện bút lông. Khi sành cổ học, cũng là lúc thạo nghề chạm đồng. Một lần, có người nhờ ông khắc những chữ Nho lên quả chuông đồng. Ngày ấy, để khắc chữ lên quả chuông đồng, người ta đặt một tờ giấy viết chữ lên thân chuông, rồi cầm dụng cụ gõ lên theo những nét chữ lên tờ giấy. Chữ viết sẽ hằn lên trên mặt đồng. Sành Nho học, ông Hiển thấy “tức cười”. Làm thế chẳng khác nào viết thư pháp… bằng bút bi, còn đâu hồn cốt, tâm thế của người cầm bút? Ông nhớ trên những quả chuông cổ, trên bề mặt đồng, mà nét chữ được chạm như chữ viết của bậc đại bút. Nguyễn Đăng Hiển nảy ra ý định chạm chữ trên đồng. Nghệ thuật chạm chữ trên đồng thất truyền. Ông mày mò tự học. Bề mặt đồ đồng cứng. Để tạo chiều sâu cho nét chữ, mỗi nhát đục, là một lần thân chuông được khoét sâu vào. Không thể gõ quá nhẹ. Quá mạnh tay thì nét đục lạc khỏi khuôn khổ. Chữ Nho lại có những yêu cầu chặt chẽ lối viết, cùng một nét, nhưng phải bảo đảm “đầu nặng, đuôi nhẹ”. Có những nét như nét chỉ được phép chạm mong manh không bằng đầu tăm mà lại vẫn phải phân biệt được với nét chữ tương tự. Viết chữ trên giấy, nếu chẳng may viết sai có thể thay tờ giấy khác, chạm chữ trên đồng thì không. “Thánh Quát” xưa treo tóc lên đầu rèn chữ, thì với “thiết bút” (bút sắt, tức cây dùi đục) Nguyễn Đăng Hiển cũng còng lưng luyện chữ trên đồng… Những người nặng lòng văn hóa cổ mau chóng nhận ra bậc “kỳ bút” Nguyễn Đăng Hiển từ những tác phẩm đầu tiên. Cứ muốn khắc chữ trên chuông là người ta tìm đến ông Hiển. Khắc chữ theo lối “viết bút bi” thi thoảng vẫn có người làm. Riêng chạm kiểu “tách tỉa” như ông Hiển chỉ có một. Từng nét chữ có độ khúc xạ ánh sáng, có chiều sâu rất đẹp. Chưa ai không kinh ngạc trước tay chạm của ông Hiển.

30 năm làm nghề, chạm gần 5.000 quả chuông đồng, ông Nguyễn Đăng Hiển chưa tìm được học trò chân truyền. Người biết nghề đồng tìm đến ông học, thấy chữ Nho khó quá, bỏ cuộc. Lớp thư pháp ông dạy có hàng trăm học sinh giỏi Hán tự, nhưng sờ đến cây dùi đục lại phát sợ. Chưa ai dám theo nghề. Có lẽ gọi ông là “thư pháp gia trên đồng” mới phù hợp.

Phố nghề là đặc sản của Hà Nội. Phố nghề, đứng ở vị trí trang trọng trong bề dày văn hóa ngàn năm. Nhưng nếu hỏi phố nghề nào được tạo nên bởi chính những con người sinh ra ở mảnh đất này? Sẽ là câu hỏi khó trả lời. Tôi từng rất ngưỡng mộ những người được xem là người Hà Nội gốc. Nhưng khi hiểu về lịch sử các con phố, tôi bắt đầu thấy băn khoăn… Lập nên phố Hàng Đào xưa là người dân làng Đan Loan (Bình Giang, Hải Dương) và một số làng có nghề nhuộm ở Bắc Ninh. Phố Hàng Mành vốn “của” người làng Giới Tế (Yên Phong, Bắc Ninh). Thợ bạc Châu Khê (Hải Dương) là những người góp phần lập ra phố Hàng Bạc… Có thể kể rất nhiều thí dụ. Bộ mặt văn hóa Thăng Long do bàn tay của những con người ở khắp mọi miền Nau phochung đúc lên. Nhưng cũng không khó để nhận ra, những con người tứ xứ ấy đã “khác”, khi về với Thăng Long – Hà Nội. Điều gì đã xảy ra khi người ta tụ về đất này? Liệu những nghệ nhân như ông Nguyễn Đăng Hiển và bao nhiêu người thợ khác có trở nên tài khéo đến tuyệt kỹ nếu họ cứ ở những làng quê xa xôi thay vì đến với kinh đô – Thủ đô?

Nói đến văn hóa Hà Nội, không thể không nói đến ẩm thực. Nói đến ẩm thực, đầu tiên phải là món phở. Nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng, chủ của chuỗi bốn, năm quán phở thương hiệu “phở Ngọc Vượng” bảo rằng: “Cho đến giờ, không có tài liệu xác thực nào khẳng định phở có nguồn gốc từ Nam Định hay Hà Nội. Nhưng có điều chắc chắn rằng, phần lớn chủ những hiệu phở của Hà Nội suốt những năm qua là người gốc Nam Định”. Thông tin này có thể làm những người yêu “Hà Nội gốc” chạnh lòng. Song quả không sai. Nam Định có cả làng nghề phở – làng Vân Cù, ở huyện Nam Trực. Người làng Vân Cù lập nghiệp ở Hà Nội từ thời Pháp thuộc đến giờ. Ngay đến quán phở 48 phố Hàng Đồng, quán phở Chất (phố Khâm Thiên) – những quán được coi là “rất Hà Nội”, chủ quán cũng là người gốc thành Nam thì đủ biết phở Nam Định có ảnh hưởng đến ẩm thực Thủ đô thế nào. Có một điều thú vị là nhiều chuyên gia ẩm thực nhận định: Bát phở của những người gốc Nam Định nấu ở Hà Nội thanh tao hơn phở thành Nam. Không ít người còn cho rằng, phở Hà Nội còn ngon hơn! Đem điều này hỏi Vũ Ngọc Vượng – một “người trong cuộc”, anh là người làng Vân Cù nấu phở ở Hà Nội – anh bảo rằng, trên “nền” cái công thức chung, khi đi đến đâu, người làng Vân Cù đều có những thay đổi cho phù hợp với khẩu vị địa phương. Người Hà Nội sành ăn, phong vị người Hà Nội tinh tế, người nấu phở phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu là lẽ tất nhiên. Câu trả lời của nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng dành riêng cho phở. Nhưng, cũng có thể coi đây là lời lý giải về văn hóa Hà Nội nói chung. Là đất “sơn chầu, thủy tụ” nên Thăng Long – Hà Nội có sức hút người tài khéo các vùng. Khi đến đây, sự thanh nhã, tinh tế trong các nếp ứng xử, trong hưởng thụ văn hóa của người Hà Nội đã góp phần làm những tài năng ấy được thăng hoa.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu không thừa nhận khái niệm “người Hà Nội gốc”. Hà Nội “tụ nhân, tụ thủy”. Suốt nghìn năm, có bao nhiêu anh tài tứ phương đã đến và làm rạng danh văn hiến Thăng Long. Từ năm 2010, TP Hà Nội trao tặng danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú”. Mỗi năm chỉ có mười người. Những con người được vinh danh thời gian qua đều đem đến sự nể phục ở những góc độ khác nhau. Và nếu tìm hiểu tiểu sử những con người ấy, càng hiểu thêm bốn chữ “tụ nhân, tụ thủy”. Những con người ưu tú nhất của Thủ đô hôm nay, người đến từ miền trung, xứ Nghệ, người đến từ vùng văn hóa xứ Đông, người đến từ xứ Nam… Hẳn rất nhiều người ngạc nhiên khi biết cố nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, nhà Hà Nội học, một người “rất Hà Nội” lại sinh ra ở Hưng Yên. Một công dân Thủ đô ưu tú khác, người được xem là người “giữ nếp văn hóa Tràng An” với hơn 30 đầu sách về Hà Nội – nhà nghiên cứu Giang Quân thì đến từ huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Tôi từng “căn vặn” bác Giang Quân về văn hóa Hà Nội, khi gần đây xã hội xuất hiện những biểu hiện tiêu cực trong văn hóa ứng xử, khi làn sóng nhập cư ngày càng nhiều, có chiều hướng lấn át những người Hà Nội lâu năm. Nhà nghiên cứu thừa nhận những mặt tiêu cực là có thật. Song ông tin tưởng vào sự trường tồn của cái đẹp: “Những người mới đến vẫn quen nếp sống ở các vùng, chưa phù hợp với đời sống đô thị. Nhưng dần dần, họ sẽ phải thích nghi, phải học theo cái hay, cái đẹp của người Hà Nội. Khi chúng ta kết hợp với những chính sách phù hợp, những nét văn hóa không phù hợp với Thủ đô sẽ bị đào thải bởi thời gian”.

Hà Nội hôm nay khác xa so với thành phố nhỏ bé hồi mới được giải phóng. Hà Nội rộng hơn, vươn cao hơn, và cũng có nhiều thành phần dân cư hơn. Tôi nhớ câu chuyện của nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng. Thuở nhỏ anh sống ở quê. Lớn lên, anh chọn Hà Nội lập nghiệp. Năm 2006, khi còn rất trẻ, anh được trao giải nhất trong cuộc thi nấu phở tại khách sạn Sofitel Metropole – một giải thưởng danh giá khi có sự góp mặt của nhiều “bàn tay vàng” ẩm thực đất Hà thành. Hiện sở hữu chuỗi quán phở ở Hà Nội, anh ấp ủ một ngày nào đó, sẽ mở rộng ra đến các nước trên thế giới. Bởi phở Hà Nội không thua kém bất cứ món ăn quốc tế nào. Anh sinh năm 1977, nay người ta hay gọi là thế hệ 7x – hiện thân của một thế hệ trẻ dám nghĩ, dám làm. Hy vọng lắm, một ngày kia, Vũ Ngọc Vượng làm rạng danh cho phở Hà Nội trên trường quốc tế. Và cũng hy vọng lắm, sẽ tiếp tục có thêm những thế hệ 8x, 9x tiếp tục gắn bó, xây dựng Thủ đô thêm giàu đẹp. Nghĩ đến dòng chảy của văn hóa Thăng Long – Hà Nội, những con người đã và đang góp phần xây dựng Thủ đô, tôi bỗng nhớ lời thơ của Nguyễn Phan Quế Mai: “Tôi không được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội/Hà Nội tự sinh ra và tự lớn trong tôi”…

C.D.

—o0o—

ĐỌNG LẠI TRONG MẮT AI

Ghi chép của Nhã Khanh

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 26/5/2014)

Người từ miền nam ra, Việt kiều từ mãi tận Ca-na-đa, Mỹ, Ô-xtrây-li-a về, du khách nước ngoài lần đầu đặt chân đến Hà Nội, đi đâu thì đi, nhưng không thể không tìm đến quán phở gia truyền giữa phố cổ.

Ai chưa một lần chồn chân, mỏi gối đứng xếp hàng cả tiếng đồng hồ, mướt mải mồ hôi, hay co ro trong mưa phùn gió rét, để được bưng bát phở nghi ngút khói, ngào ngạt mùi vị chỉ nơi này mới có, thì coi như chỉ mới ghé qua Hà Nội, chứ chưa thật sự nếm hương vị đặc trưng, cô đọng tinh túy ẩm thực của mảnh đất này. Có những người thưởng thức xong bát phở là vội vã ra sân bay. Họ mang theo ấn tượng xứ sở này với đậm đà mùi vị phở, hương thơm cà-phê đen đặc khó nhạt phai trong ký ức…

Lẫn trong dòng người xếp hàng kiên nhẫn dưới lòng đường, có du khách đã quay trở lại lần thứ hai.

Không hẳn chỉ vì yêu, vì nhớ phở, nhưng từ hơn mười lăm năm nay, sau lần rời xa Hà Nội, nay quay trở lại, chỉ mới đến đầu phố, anh đã nhận ngay ra mùi vị phở vẫn giữ nguyên, chẳng hề thay đổi sau chừng ấy năm. Y như vẫn nhận ra người thân quen dù bao năm xa cách. Rón rén bưng bát phở đầy ụ, sang quán cà-phê kề bên, ngồi ké cùng bàn với tôi, anh nở nụ cười mãn nguyện, ngây thơ như trẻ con. Trông anh dùng đũa khéo léo, cho thêm vài lát ớt tươi, đủ biết là người chẳng còn lạ lẫm với Hà Nội. Nhiều thứ thay đổi quá, không thể nhận ra, nhà cửa, phố xá và cả con người, anh nhận xét.

Cuộc sống là vậy, như một dòng sông.

Nếu sông không chảy nữa thì đó là dòng sông chết. Một thành phố cũng có khác gì một con người, phải lớn lên, phổng phao, trưởng thành. Nhưng đổi thay đến đâu thì vẫn phải giữ lại những nét, dấu ấn không thể phai nhạt, lẫn với ai khác, nơi nào khác. Thay đổi đến mức không làm sao nhận nổi đường nét, tính cách, ngay cả “hơi thở”, mùi vị ngày trước, tức là tự đánh mất mình. Bát phở đã vơi một nửa, người khách nước ngoài xa lạ bỗng chốc hóa thân quen. Lần đầu đặt chân đến Hà Nội từ hơn chục năm trước, anh vẫn nhớ mùi vị đậm đà món phở đặc sản cổ truyền. Giờ quay lại, giá có đắt hơn trước, nhưng nước vẫn trong, vẫn ngọt tự nhiên. Không nhẽ, anh nói, thời gian trôi đi mà cái cốt chất ấy chẳng hề tan loãng, nhạt đi ít nhiều?

Lặng im lắng nghe một ông khách Tây, vừa thưởng thức bát phở gia truyền vừa triết lý về sự đổi mới của Hà Nội, tôi thầm thán phục sự tinh tế, sâu sắc của ông. Mới gặp nhau một lần, có thể là duy nhất, cớ gì phải đưa đẩy cho vừa lòng nhau. Ngồi ở góc tối khuất trong quán cà-phê này dễ chừng hơn hai chục năm, ngẫu nhiên gặp và quen những gương mặt lạ lẫm, rồi quên. Chưa bao giờ có ai, nhìn vào đáy bát phở phố cổ, rồi cô đọng suy ngẫm về những chuyển biến bề nổi của một thành phố có chiều dày lịch sử như Hà Nội. Hỏi anh, ngoài phở, còn có thứ gì khác ấn tượng khó quên nên mới lặn lội, quay trở lại? Nheo đôi mắt xanh trong veo nhìn ra ngoài đường, vừa chợt thấy một người phụ nữ dắt xe đạp chở đầy hoa tươi, vành nón lá nghiêng che vạt nắng thu hanh hao, anh đáp, với tôi, đó là hình ảnh đẹp nhất, chứ không phải những ngôi nhà cửa kính kín bưng, chồng chất ba bốn tầng. Tôi đã lang thang ở Hà Nội khi lần đầu đặt chân tới, rồi bị mê hoặc, khó dứt ra nổi. Trước khi tới, tôi đã lục tìm trong thư viện những cuốn sách viết về lịch sử khu phố Pháp cũ do kiến trúc sư Hebrar thiết kế, dựa theo tầm nhìn của cựu Thống chế thuộc địa, người muốn biến Hà Nội thành một Pa-ri thu nhỏ, một “thành phố nhà vườn”. Lần trước và lần này trở lại, có thể đếm được những biệt thự vẫn như còn nguyên vẹn. Tuyệt vời nhất là được thong thả dạo bước dưới những hàng cây sóng đôi, rậm rạp, xanh rì. Chậm bước đi dưới tán cây râm mát che rợp vỉa hè, rắc đầy những hạt nắng thu vàng, tôi cứ cảm thấy như vẫn nhận ra dấu chân của mình từ lần trước. Vẫn những viên đá lát mòn dấu chân bao người, vẫn những chiếc lá vàng lặng lẽ rụng rơi. Cầm tách cà-phê đen không đường, không sữa bốc khói nóng hổi, mà tôi mời, người khách từ phương trời xa lắc chợt trầm ngâm.

Anh chậm rãi, tôi đã lang thang tới nhiều thành phố lớn, cuối cùng nhận ra Hà Nội là thành phố xanh nhất, yên tĩnh nhất. Khi bước đi trên những phố xá đông đúc, qua những biệt thự kiểu Pháp, rồi ghé vào những ngôi chùa yên tĩnh, tôi hiểu cái cốt chất của con người dường như vẫn đậm đặc như hương vị cà-phê phin này. Những món ăn nhanh như Kentucky, KFC, uống nhanh như Lipton, Dihmat hay cà-phê Starbuck, khó chen chân, lấn sân nếp sống, lối thưởng thức chậm rãi, từ tốn của người dân gốc Hà Nội. Tôi cười, anh có những cảm nhận và cảm thông chẳng khác gì người đã sống ở đây nhiều năm. Có lẽ, vì yêu thành phố này đến mức mê mẩn, nên anh không thấy tiếc nuối những mất mát, mà chỉ những người sinh ra, lớn lên, hít thở không khí, thấm đẫm nắng mưa, gió rét thì mới nhận thấy từng ngày, tháng năm. Tôi nhìn anh giọng điềm tĩnh, có những cái mất trông thấy. Mất một làng hoa, mất cả một dinh đào nổi tiếng mấy trăm năm hay hai rặng ổi la đà mép nước hồ Tây. Gần đây, người ta đang rục rịch chặt hàng cổ thụ ven hồ Thủ Lệ cho dự án tàu điện metro đầu tiên. Còn nhiều hàng cây, tuổi đời hơn gấp mấy tuổi người bị chặt bỏ không thương xót cho những trung tâm thương mại, siêu thị chói gắt nắng hắt ra từ nhôm kính. Theo năm tháng, những khoảng trống mất mát cứ loang rộng trong lòng lớp người như tôi, ngày thêm trống rỗng, khó mà lấp đầy. Khó thế, nhưng còn dễ so với những thứ đã mất chẳng nhìn thấy, chỉ cảm thấy, mất hẳn và đang mất dần. Một thoáng im lặng giữa hai chúng tôi. Ngoài đường, xao xác chút heo may lúc giao mùa. Lãng đãng dăm chiếc lá vàng rụng chơi vơi ngay trước hè phố. Mùa hè chưa qua, mùa thu thì chưa đến.

Một ngày trải qua đủ bốn tiết trời.

Người đàn ông châu Âu chợt trở nên hào hứng giãi bày, không phải ngẫu nhiên, vô tình tôi trở lại nơi này vào đúng lúc giao mùa, để gặp lại cái cảm giác đổi thay. Giao mùa cũng gần giống như giao thời, làn sóng đô thị hóa đang từ từ nhấn chìm những kiến trúc xưa cũ. Nhà trong phố cổ mang nét đẹp “vị kỷ”, mỗi nhà mỗi kiểu dáng, mà cả dãy phố mặt tiền lô nhô, thiếu hẳn cái bản sắc riêng biệt, chỉ cần lướt mắt là du khách như tôi nhận ra ngay.

Vậy điều gì níu chân anh quay lại, tôi ngắt lời có phần đường đột. Thoáng chút đắn đo, suy ngẫm, anh nói sau khi uống cạn tách cà-phê, cảm giác hỗn độn có phần xô bồ của Hà Nội là có thực. Nhưng tôi vẫn bị quyến rũ bởi những thứ lắng đọng chìm sâu dưới cái ồn ào, huyên náo, bụi bặm. Tôi đã ngồi cả tiếng đồng hồ bên ven hồ công viên, ngắm tụi trẻ nô đùa, những người già nhảy trong tiếng nhạc dìu dặt. Thời gian dường như chậm lại, ngưng tụ với những người ngồi bất động buông câu sát mép nước lặng sóng, với những ông già trầm ngâm bên bàn cờ. Dù là ngoài phố xá xe máy, ô-tô chen chúc, lấn lướt, người ta vẫn thản nhiên ăn uống trên vỉa hè, đốt vàng mã nghi ngút. Dù là nhịp sống gấp gáp, vội vã cuốn theo dòng chảy thời gian, nhưng tôi vẫn thầm tin rằng, những gì lắng đọng lại thì sẽ còn mãi. Nếu không, tôi và không ít khách du lịch, chẳng có cơ hội trở lại. Không thể quên câu nói của anh, một người lạ hóa nên quen, tôi bắt chặt tay anh bảo: “Những gì lắng đọng lại thì còn mãi”. Có lẽ chỉ người đứng từ xa, đứng ngoài mới có đôi mắt, góc nhìn chuẩn như vậy chăng? Những gì đọng lại trong mắt, sẽ còn mãi, như những tấm ảnh đen trắng khó phai mờ.

—o0o—

GIỮ GÌN BẢN SẮC KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HÀ NỘI

Hải Chi

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân ra ngày 23/9/2014)

 Từ sau ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954) đến nay, hạ tầng đô thị của Hà Nội đã phát triển không ngừng. Cùng với sự gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, các công trình văn hóa, công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại được cải tạo và xây mới theo quy hoạch.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thành phố phải đối mặt với nhiều thách thức, bất cập, cần phải nỗ lực vượt qua.

Không ai có thể phủ nhận một thực tế, sau 60 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt Thủ đô Hà Nội to đẹp hơn, khang trang, hiện đại hơn rất nhiều. Hà Nội đã trở thành một đô thị lớn của khu vực. Trong tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, thành phố luôn chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị các công trình kiến trúc tiêu biểu tập trung tại bảy tiểu khu trong khu vực nội đô lịch sử bao gồm: Trung tâm chính trị Ba Đình, khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Gươm và phụ cận, khu vực hồ Tây và phụ cận và khu vực hạn chế phát triển. Vì thế, trải qua bao thăng trầm, qua các cuộc kháng chiến, Hà Nội vẫn giữ vẻ đẹp riêng của mình.

PGS,TS Phạm Hùng Cường, Hiệu phó Trường đại học Xây dựng Hà Nội từng ca ngợi: “Hà Nội có rất nhiều không gian trữ tình, sâu lắng. Không gian khu phố cổ vừa cổ kính, vừa sống động, khu phố kiểu Pháp yên tĩnh rợp bóng cây, Hồ Gươm nước xanh biếc, lãng mạn những buổi sương sớm, hồ Tây xanh ngát với những đầm sen, sông Hồng nước đỏ phù sa…”.

Cùng với việc bảo tồn các công trình kiến trúc tiêu biểu, trong 60 năm qua, nhất là từ năm 1986 đến nay, tốc độ xây dựng, mở rộng các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình kiến trúc trên địa bàn thành phố diễn ra nhanh chóng. Các công trình giao thông đầu mối như sân bay quốc tế Nội Bài, các cây cầu lớn bắc qua sông Hồng, sông Đuống như cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Nhật Tân, Đông Trù, hệ thống đường vành đai của thành phố như đường vành đai 1,2,3, các tuyến đường cao tốc: Đại lộ Thăng Long, Bắc Thăng Long-Nội Bài, Pháp Vân-Cầu Gioe… được xây dựng và đưa vào sử dụng.

Hàng loạt các khu đô thị mới ra đời trên những khu đất trước kia là sình lầy, ruộng trũng như Trung Hòa-Nhân Chính, Linh Đàm, Mỹ Đình, Định Công, The Mannor…

Nhiều công viên, vườn hoa mới được xây dựng đẹp, hệ thống cấp, thoát nước, xử lý môi trường từng bước được triển khai xây dựng theo quy hoạch…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Hà Nội gặp phải nhiều bất cập trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự gia tăng dân số quá lớn, dẫn đến sự quá tải trên toàn hệ thống hạ tầng, nguồn lực đầu tư xây dựng khó khăn, năng lực quy hoạch, xây dựng, quản lý, vận hành còn hạn chế, những mâu thuẫn nảy sinh giữa bảo tồn và phát triển, giữa yêu cầu phát triển kinh tế và kỷ cương trật tự đô thị…

Phó Giám đốc Sở Quy hoạch- Kiến trúc Hà Nội, kiến trúc sư Bùi Xuân Tùng, thừa nhận thực tế hiện nay còn nhiều khu vực, tuyến phố ở Hà Nội nhếch nhác, vẫn còn tình trạng nhà siêu mỏng, siêu méo…

PGS, TS Phạm Hùng Cường cũng phản ánh, Hà Nội đẹp nhưng cái đẹp dường như chỉ giới hạn và giữ được bản sắc trong phạm vi nhỏ, gói gọn trong khu phố cổ, khu phố kiểu Pháp, chung quanh hồ Tây…

Ra ngoài vành đai 2, các công trình còn thiếu bản sắc.

Vậy cần thực hiện những giải pháp nào để giải quyết những mâu thuẫn nêu trên? Kiến trúc sư Bùi Xuân Tùng nêu ba nguyên tắc kiểm soát kiến trúc. Đó là bảo đảm đô thị phát triển bền vững giữa bảo tồn chỉnh trang khu vực nội đô lịch sử với việc xây dựng các khu đô thị mới, giữa khu vực đô thị và nông thôn; gìn giữ và phát huy các giá trị tiêu biểu của các khu vực hình thái đặc thù của Thủ đô; hoàn thiện đồng bộ quy hoạch các cấp; xây dựng hoàn chỉnh các quy chuẩn, quy định, quy chế quản lý quy hoạch – kiến trúc các khu vực quan trọng, tuyến đường chính, làm công cụ cho công tác quản lý, kiểm soát phát triển.

Về hình thái không gian, phải kiểm soát, khớp nối không gian chung của nhiều địa bàn, cũng như định hướng các khu vực trọng tâm trọng điểm để tạo dựng các tuyến, khu vực công trình. Mỗi khu vực được quy định cụ thể về không gian, quy mô tầng cao, kiến trúc công trình, để kiểm soát không gian, kiến trúc công trình tại mọi địa bàn trên thành phố. Đối với các khu vực đặc thù, cần kiểm soát, quản lý công trình cao tầng khu vực nội đô lịch sử gồm bốn quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, khu phố cổ, khu phố cũ… nhằm gìn giữ các khu vực không gian kiến trúc đặc thù, truyền thống.

Để quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan hai bên tuyến đường, các nút giao thông, tạo bộ mặt kiến trúc công trình hai bên đường đẹp, văn minh, hiện đại, cần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa kiến trúc trên toàn tuyến đường với việc mở tuyến đường mới, xử lý triệt để các trường hợp nhà “siêu mỏng, siêu méo” kết hợp với chỉnh trang đô thị. Thành phố sẽ tập trung ưu tiên lập quy hoạch, thiết kế đô thị để tập trung nguồn lực đầu tư hoàn chỉnh các khu vực quan trọng, các tuyến đường chính như khu tây hồ Tây, đường vành đai số 2, 3… kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái bằng cách giữ gìn không gian, cải tạo các công viên, hồ nước…

Thực hiện Chương trình 06-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý quy hoạch giai đoạn 2011-2015″, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, từ năm 2011 đến nay, thành phố đã phối hợp với các bộ, ngành trung ương, các cơ quan, đơn vị và nhân dân tổ chức xây dựng triển khai các đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch vùng huyện; các quy hoạch chuyên ngành; các đồ án quy hoạch chi tiết, các tuyến đường chính đô thị, các khu vực đặc thù và chức năng đô thị quan trọng. Thành phố cũng hoàn chỉnh các quy chế, quy định quản lý quy hoạch – kiến trúc, quy hoạch xây dựng tại khu vực nông thôn theo định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô…, từng bước đưa Hà Nội thành một đô thị phát triển theo hướng đa hệ, bản sắc, văn minh và hiện đại.

H.C.

—o0o—

CÔNG DÂN GIÀ ƯU TÚ CỦA THỦ ĐÔ

Vũ Đồng

(Bài đăng trang 14 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 12/10/2014)

Lớp học đặc biệt này đã có 17 năm nay. Cô giáo là bà Hồ Hương Nam, 82 tuổi, trú ở P.Yên Phụ, Q.Tây Hồ (Hà Nội).

Học sinh của bà là những đứa trẻ khuyết tật, hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, tự kỷ, câm điếc.

Sau hơn 30 năm giảng dạy tại Trường tiểu học Hoàng Hoa Thám (Q.Ba Đình, Hà Nội), năm 1989 bà Nam nghỉ hưu. Năm 1993 bà xin làm công tác dân số gia đình trong khu phố. Bà nói: “Mỗi lần đi như thế, tôi thấy nhiều cháu khuyết tật cứ lủi thủi, quanh quẩn ở góc nhà. Nhìn xót lắm”. Ý định tập hợp những em này để mở lớp học của bà Nam bắt đầu từ đây.

Thành công đầu tiên là gia đình của hai em Nguyễn Thùy Trang (bị thiểu năng trí tuệ) và Nguyễn Kim Thoa (hội chứng Down) nhiều lần từ chối cuối cùng đã đồng ý cho con theCong dan gia uu tuo lớp học của bà. Sau một tháng bố mẹ của Trang, Thoa bất ngờ khi thấy các em biết lễ phép chào hỏi, viết được một số chữ cái ngay ngắn, tròn trịa. Cứ thế, tin đồn lan ra, lớp học ngày một đông hơn, từ hai em rồi sáu em, tám em…

Từ phòng học mượn của khu dân cư số 6 ở P.Yên Phụ, nhiều người lại thấy mấy bà cháu lếch thếch qua nhà trẻ trong phường. Năm 2002 cô trò được Trường THCS An Dương (P.Yên Phụ) dành một phòng học khang trang. “Thật tốt khi lớp học lại được ở trong ngôi trường này. Đây cũng là môi trường phù hợp để các em hòa nhập với cộng đồng, thế giới bên ngoài” – bà Nam nói.

Để duy trì lớp học, bà Nam gom góp từ 2,3 triệu đồng tiền lương hưu cộng với 1 triệu đồng tiền người con trai chu cấp mỗi tháng để lo từng cây bút, cuốn sách, cuốn vở đến những món quà vặt như bánh kẹo, hoa trái khích lệ các em.

Bà nói: “Dạy các em thật khó. Khó vì các em chưa thể tập trung, đứa thì ngủ, đứa thì chạy lung tung, đứa ngồi trong lớp cứ ngổ ngáo, đứa thì hét lên…”. Bà Nam chia các em thành các nhóm nhỏ để kèm cặp. Các em bị hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, tự kỷ một nhóm.

Nhóm của các em bị liệt, rồi nhóm của những em câm điếc. Ngày nào bà cũng ân cần đến cầm tay từng em uốn nắn từng con chữ. Nhận thức của các em rất chậm nên cách dạy của bà luôn đa dạng kiểu “tùy cơ ứng biến” và phải luôn có hình minh họa. Điều này đã khiến các em dần tiếp thu được bài.

Lớp học giờ đây đã tiến bộ rõ rệt. Các em từ chỗ không biết đọc, viết thì giờ hầu hết viết chữ rất đẹp, biết làm các phép tính trình độ lớp 2 đến lớp 5. Những em trước đây cứ ngơ ngẩn, không có ý thức thì giờ đã biết lễ phép chào hỏi.

Ông Đặng Quang Phụng (phụ huynh em Đặng Viết Thắng, học trò của cô Nam) kể: “Gia đình tôi buồn lắm khi con sinh ra đã không được bình thường. Khi được một số người giới thiệu đến lớp học của bà Nam, một thời gian tôi thấy cháu khác hẳn. Biết lễ phép chào hỏi rồi viết đọc được, tôi mừng chảy cả nước mắt. Từ đó tôi luôn kiên trì chở cháu đến lớp và thỉnh thoảng ngồi học luôn cùng cháu. Bà Nam đã thay đổi cả cuộc sống gia đình tôi”.

Nhiều lần các phụ huynh có ý định quyên góp để hỗ trợ cho lớp học nhưng bà Nam kiên quyết không nhận mà chỉ nói: “Các anh, các chị cố gắng duy trì chở các cháu đến lớp mỗi ngày là tốt lắm rồi”. Bà Nam rất bất ngờ khi biết mình là một trong mười “Công dân thủ đô ưu tú” vừa được UBND TP Hà Nội tuyên dương. Bà nói: “Phần thưởng 10 triệu đồng này tôi dành hết cho lớp. Các em sẽ có thêm những dụng cụ học tập mới”.

V.Đ.

—o0o—

NGHĨA CỬ CAO ĐẸP

            Xuân Bách

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 12/9/2014)

Những ngày gần đây, câu chuyện về 16 thanh niên, sinh viên nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân không ngại nguy hiểm, trong đêm tối vẫn tìm đường xuống vực sâu cứu các nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông tại Sa Pa (Lào Cai), đã trở thành chủ đề nóng trên các diễn đàn mạng xã hội. Ðó là một nghĩa cử cao đẹp, rất đáng biểu dương của các bạn trẻ.

Vào dịp nghỉ lễ 2-9, 16 thanh niên, sinh viên trong nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân lên kế hoạch đi chơi, ngắm cảnh tại Hoàng Su Phì (Hà Giang). Tối 29-8, cả nhóm xuất phát bằng xe máy đi theo cung đường: Hà Nội – Hoàng Su Phì – Xín Mần – Lào Cai – Sa Pa – Ô Quy Hồ – Mù Cang Chải rồi trở về Hà Nội. Khoảng gần 19 giờ ngày 1-9, khi cả nhóm đang leo dốc Tòng Sành trên quốc lộ 4D từ TP Lào Cai lên Sa Pa thì bất ngờ chứng kiến chiếc xe khách giường nằm phía trước văng khỏi đường, lao xuống vực. Những âm thanh rợn người dội lại trong đêm tối. Phần lớn các thành viên trong nhóm đều bị sốc vì chưa từng gặp cảnh tai nạn kinh hoàng, thảm khốc như thế bao giờ. Sau khi lấy lại bình tĩnh, các bạn trẻ đã kịp thời thông báo tới các đơn vị chức năng để ứng cứu người bị nạn, đồng thời dùng đèn pin, điện thoại soi đường, mò mẫm trườn xuống vực sâu gần 200 m để cấp cứu, di chuyển các nạn nhân khỏi hiện trường.

Lê Thị Diệu, sinh năm 1992, sinh viên Học viện Ngân hàng, một thành viên nữ của nhóm kể lại, khi tận mắt chứng kiến sự Nghia cu cao depviệc, em đã bật khóc vì sợ hãi. Nhưng gạt những giọt nước mắt, cô gái dũng cảm cùng mọi người trong đoàn, tìm kiếm nạn nhân, làm nhiệm vụ sơ cấp cứu những người còn sống sót. Ðêm hôm trước Diệu bị ốm và phải uống thuốc hạ sốt, không đủ sức nâng đỡ người bị thương, Diệu nhờ các bạn hỗ trợ. Sau khi giúp các nạn nhân, cô mệt lử, được các bạn đưa vào trạm y tế để truyền nước vì bị tụt đường huyết. Bạn Nguyễn Thị Quỳnh Trang, phóng viên báo điện tử Vnexpress khi gặp những thi thể đầu tiên, chân tay bủn rủn vì sợ hãi, nhưng cố gắng sơ cứu các nạn nhân bị thương. Thiếu bông, băng, Trang và các bạn đã dùng dao rạch gối tựa, ghế ra để lấy bông cầm máu cho các nạn nhân. Sau đó, sử dụng các giường nằm trên xe ô-tô làm băng cáng, đưa các nạn nhân lên phía trên. Các bạn còn có sáng kiến xin người dân địa phương các đoạn dây thừng để kéo cáng lên phía trên thuận tiện. Một số thanh niên trong nhóm còn dùng cờ-lê cắm chắc vào các vách núi, để di chuyển được dễ hơn… Trực tiếp tận mắt chứng kiến vụ tai nạn thảm khốc và là những người đầu tiên lần tìm xuống vực sâu cứu người, Ngô Ðăng Giáp, sinh viên năm thứ ba Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết: “Lúc đó, chúng tôi chỉ kịp nghĩ, nếu chậm trễ thì hàng chục người sẽ không có cơ hội sống sót, vì thế mọi người đều cố gắng hết sức để nhanh chóng sơ cứu các nạn nhân”. Trong đêm tối thăm thẳm, Giáp đã cùng các bạn sử dụng đèn pin, điện thoại di động để soi đường, bám theo từng mỏm đá, vách núi xuống vực để tìm kiếm người bị nạn, tiến hành sơ cứu và cố gắng đưa họ lên khỏi vực sâu.

Ghi nhận những nghĩa cử cao đẹp của các bạn trẻ, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Trung ương Ðoàn, Thành Ðoàn Hà Nội đã tặng bằng khen cho 16 thanh niên, sinh viên trong nhóm vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong việc tham gia cứu nạn. Không chỉ đánh giá hành động cao cả và dũng cảm này xuất phát từ tấm lòng, tinh thần cứu người trong hoạn nạn, tại lễ trao thưởng, Bộ trưởng Giao thông vận tải Ðinh La Thăng đề nghị các thành viên của nhóm trong hành trình khám phá, trải nghiệm cần học hỏi thêm kinh nghiệm, mở mang kiến thức để sau này trở thành nhóm nòng cốt tuyên truyền an toàn giao thông tới mọi người.

X.B.

 

Đố kỵ cái trừu tượng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:21 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

ĐỐ KỴ CÁI TRỪU TƯỢNG

Võ Phiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhan đề bài viết đã … khá khó hiểu, tên của tác giả lại càng làm bạn đọc trong nước cảm thấy xa lạ, mặc dù không xa lạ với bạn đọc nước ngoài, nhất là ở Hoa Kỳ.

Điều cần nói ở đây là lý do chúng tôi đưa bài nay lên Blog PhamTon, một blog cá nhân chỉ chuyên về Phạm Quỳnh… Đó là vì bài viết này được Võ Phiến thuyết trình tại một hội thảo trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức tại California nước Mỹ tháng 5 năm 1999. Sau đó, bài được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 122, tháng sáu năm 1999 từ trang 22 đến trang 26.

Văn nghiệp Võ Phiến vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Tiêu cực đáng bỏ đi là phần chính trị (…). Nay đến lúc, nhân danh bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam, đưa tác phẩm của Võ Phiến trở về, sau khi lọc bỏ nội dung chính trị. Nhà nước Việt Nam đã sáng suốt khi quyết định cho tái bản sách của Võ Phiến trong nước. Đáng tiếc, một số người đang lợi dụng tình hình quốc tế mà âm mưu tái phổ biến cả những nội dung chính trị sai lầm.” (Trích phần cuối bài Trường hợp Võ Phiến của Thu Tứ trên báo Nhân Dân số ra ngày 10/10/2014)

Đọc bài này còn để bạn đọc “thưởng thức” “cái khuynh hướng phân tích tâm lý nhân vật “chẻ sợi tóc làm tư”. Thật ra không chỉ khi viết truyện mà cả trong đời sống ông cũng thế, cũng thích chẻ cái mình nhìn ra cho thật nhỏ. Và ông đặc biệt ưa chú mục vào những cái xấu, bất thường (tuy bản thân không hề xấu hoặc bất thường.” như tác giả Thu Tứ đã nhận xét trong bài trên.

—o0o—

Đi tới cuối thế kỷ, phản ứng tự nhiên là ngoái đầu nhìn loáng một cái về đầu thế kỷ. Đối với ai kia, có thể là bất giác nhìn chơi. Đối với chúng ta — đám viết lách — cái nhìn ấy có ý nghĩa khác hơn một chút. Bởi vì thời kỳ văn học hiện đại của Việt Nam, thời kỳ có mình trong đó, chính bắt đầu từ đầu thế kỷ XX này.

Đem cái khả năng của một cá nhân lỗi lạc, Trương Vĩnh Ký gây được mầm manh nha của nền văn học mới, rồi ông nằm xuống vào cuối thế kỷ trước (năm 1898). Tiếp theo ông là những hoạt động qui mô rầm rộ của hai ông Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, mỗi vị qui tụ một nhóm văn nhân học giả cừ khôi. Trong vòng hăm lăm năm — một phần tư thế kỷ — họ làm xong nhiệm vụ của thế hệ tiền phong trong giai đoạn giao thời. Thời ấy là thời nho học suy tàn tây học mới nẩy. Mỗi nhóm Đông Dương Nam Phong gồm đủ hai thành phần tân cựu học. Kẻ tinh thông Hán học gấp rút tổng kết nhằm bàn giao cái vốn liếng tinh thần của tiền nhân để lại cho lớp sau đang thiếu Hán ngữ; người giỏi Pháp văn tới tấp dịch thuật, giới thiệu văn chương tư tưởng Âu Tây bấy giờ hãy còn xa lạ đối với quốc dân. Công việc ấy gọi là “Truyền bá Đông Tây học thuật”. Việc truyền bá cần một công cụ: vậy phải trau luyện Việt ngữ cho thành một phương tiện xứng tầm.

Xem lại Việt ngữ, thấy lắm điều rắc rối. Thuở Trương Vĩnh Ký là thuở phổ biến chữ quốc ngữ, tức thứ chữ dùng mẫu tự la-tinh mà phiên âm tiếng Việt; sang thời Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh mới tiến lên trau dồi cái “văn quốc ngữ” (theo cách nói của ông Phạm).

Việt ngữ có dùng được vào văn học không? Thuở ấy lắm kẻ phân vân. Có ý kiến cho rằng: Việt ngữ kém lắm, so với văn Tàu văn Tây thì “trẻ lên ba đã khôn sao bằng người đầu bạc”. Cánh hăm hở sốt ruột nhất đề nghị nên gác tiếng Việt ra ngoài, trong phạm vi học thuật hãy lấy phăng cái tiếng Pháp ra xài ngay cho tiện . Nguyễn Văn Vĩnh, trong bài tựa bản dịch truyện Gil Blas de Santillane kể rằng thoạt đầu, thuở ông bắt tay vào việc, trong nước ta chưa mấy ai tin nổi có thể dùng tiếng Việt để dịch tiểu thuyết Tây. Vậy mà ông xắn tay xông vào, rốt cuộc làm nên sự nghiệp đồ sộ; Vũ Ngọc Phan cho rằng ông là quán quân dịch thuật Pháp văn một thời.

Nhưng chính Nguyễn Văn Vĩnh, chính ông quán quân ấy, con người mê say cực đoan từng xác quyết học quốc ngữ “là một sự bất đắc bất nhiên, là việc sống chết của nước Nam ta”, chính người ấy cũng phải cho rằng tiếng Việt có chỗ yếu lớn, khiến lắm lúc không thể đem nó ra xài được. Phải chờ trau luyện nó đã. Trong khi chờ đợi, ông Nguyễn dùng tạm tiếng Tây! Một bài báo của ông đăng trên tờ L’Annam Nouveau hồi 1935, nguyên cái nhan đề đã nêu rõ lý do: “Le francais, langue de discussion”. Ông kể rằng một đồng nghiệp, đến phỏng vấn về vấn đề trau luyện Việt ngữ, đã trách ông không chịu trao đổi ý kiến bằng Việt ngữ mà lại chọn nói tiếng Pháp. Theo ông, trong khi tranh luận, tiếng Việt thiếu tính cách trong sáng và chính xác. Trước đó năm năm, trong cuộc bút chiến với Phạm Quỳnh về vấn đề chế độ (lập hiến hay trực trị), hai ông cũng đều dùng tiếng Pháp (riêng Phạm Quỳnh có đăng trên Nam Phong bản Việt ngữ.)

Như thế, ông Nguyễn ông Phạm thuở ấy cùng gặp nhau ở một nhận định về nhược điểm của Việt ngữ: không phải thứ tiếng để cãi cọ. Nhưng cái ấy chưa hay ho bằng chuyện cả hai vị lại cùng gặp nhau nữa, ở nhận định về ưu điểm của Việt ngữ: Hai vị nhất trí về thành công rực rỡ của Truyện Kiều, tin tưởng ở Truyện Kiều, ca ngợi Truyện Kiều. Nguyễn Văn Vĩnh đem Truyện Kiều dịch ra Pháp văn, Phạm Quỳnh tung hô Truyện Kiều quá lời đến nỗi Ngô Đức Kế nổi đóa.

Một cái tiếng thoạt không mấy ai ngờ có thể dịch nổi truyện Tây, vậy mà đem ra dịch thì dịch phăng phăng nào thơ nào truyện nào kịch, thứ nào thứ nấy thiên hạ khen hay nức nở, kết quả sáng chói, đem viết truyện thì từng viết nên truyện hay đến nỗi “thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu xa và được rộng rãi như thế chưa?”, đến nỗi thành ra “là một kỳ công có một trong cõi văn thế giới” (lời ông Phạm). Thế rồi cũng một cái tiếng ấy mà đem ra cãi cọ với nhau tí chút lại không được, lại kẹt cứng. Thế có mâu thuẫn không? có quái lạ không?

Chỗ ấy Nguyễn Văn Vĩnh đã trải qua, nhưng không thấy thắc mắc gì. Phạm Quỳnh, ông có nghĩ ngợi về điều này. Theo ông, văn có hai thứ văn: văn nghệ thuật và văn luận thuyết. Về văn nghệ thuật thì Việt Nam đã đạt tới chỗ tuyệt vời; nhưng “về lối văn thuyết lý thì hầu như không từng thấy bao giờ.”

Quả là trong các tác phẩm bằng chữ Nôm được để lại, không hề có thứ ấy. Nguyễn Văn Vĩnh dùng chữ “tranh luận”, ý có hẹp. Cái yếu của ta không nhất thiết chỉ ở chuyện tranh luận; mà là cái yếu chung chung về biện luận, thuyết lý, biện giải, thuyết minh, lý luận… Không cần chờ tranh cãi nhau mới bày ra cái yếu; cứ diễn đạt cái suy tưởng là thấy yếu ngay.

Tại sao ta yếu món ấy? Phạm Quỳnh cũng có lời giải đáp: Vì tiếng ta giàu về phần “hình nhi hạ”, mà nghèo về phần “hình nhi thượng”. Nói thế nghe có lạ tai. Ông Phạm giải thích: Muốn dùng chữ triết học mà nói thì tiếng Nam ta có tính cách cụ thể (concret) hơn là trừu tượng (abstrait). Tiếng cụ thể diễn tả những cái do giác quan cảm nhận, tả trạng thái của sự vật “thì hay vô cùng tưởng không tiếng nước nào bằng”. Vậy, tiếng ta vừa quán quân (về văn nghệ thuật), vừa bất lực (về văn luận thuyết) là do ở chỗ quá thiên về cái cụ thể.

Tính cụ thể thắng tính trừu tượng trong Việt ngữ, ông Phạm phát biểu thẳng, không viện dẫn một tác giả nào, một bậc tiền bối nào. Ông là người đầu tiên nhận ra chỗ ấy chăng? Nếu đầu tiên thì chỉ là đầu trong số các văn nhân ta thôi, chứ người nước ngoài đã từng có kẻ thấy từ trước. Chẳng hạn giáo sĩ F. X. Marette. Trong một tập Biên niên truyền giáo (Annales de la propagation de la foi) in ở Paris năm 1833, ông này đã cho rằng “Việt ngữ phong phú về tiếng để diễn tả những cái thông thường và có thể cảm nhận được, nhưng nghèo về loại tiếng dùng vào các kỹ thuật cơ khí và các ngành mỹ thuật; Việt ngữ tuyệt đối không có tiếng để diễn đạt các ý tưởng trừu tượng.”1

Kể ra người ngoài có sáng hơn ta cũng không nên lấy làm lạ. Ta quen thuộc tiếng ta từ bé, ta không để ý; còn như kẻ đến từ xa, từ một truyền thống văn hóa khác hẳn, kẻ quen vận dụng tiếng nói vào vô vàn vấn đề trừu tượng, lại đang rao giảng tôn giáo, hàng ngày chuyên nói những chuyện tâm linh mờ mịt, chợt đụng đầu vào thứ tiếng “tuyệt đối” không có một từ trừu tượng nào, kẻ nọ phải sững sờ chứ. (Tuyệt đối ? ông giáo sĩ nọ có quá đáng không? Dù sao, con người có xác có hồn. Chữ xác là tiếng thuần Việt, chỉ thị một khối cụ thể; đến chữ hồn ông giáo sĩ gặp khốn khổ ngay. Hồn là tiếng Tàu. Ta không có tiếng gọi tên cái hồn, ta không mảy may để ý đến, không lúc nào thấy cần phải nói đến cái món trừu tượng ấy. Sao mà dân tộc ta đố kỵ trừu tượng đến thế!)

Kẻ sững sờ đã nêu ra sự lạ trước Phạm Quỳnh trăm năm; nhưng chỉ có thế rồi thôi. Phạm Quỳnh không thôi. Từ cái trừu tượng, ông liên hệ sang khả năng biện luận của dân tộc. Thấy ta kém biện luận, ông bắt tay vào việc chữa cái nhược điểm của tiếng Việt. Ông hô hào “đoàn luyện quốc văn”, “bồi bổ quốc văn”. Bồi bổ vào cho nó thật nhiều tiếng trừu tượng, biến nó thành một phương tiện tốt, đắc lực, thích hợp hơn cho loại văn luận thuyết.

Trong vòng mười năm đầu của Nam Phong, ông Phạm tính ra đã “phát hành kể có hàng ngàn tiếng mới”, ông đã dùng chúng vào các việc biên tập, dịch thuật, việc truyền bá Đông Tây học thuật.2

Phạm Quỳnh bắt được mối liên quan giữa loại văn biện luận và từ ngữ trừu tượng, nhưng khi bàn về vấn đề quốc học không thấy ông đề cập đến mối liên quan này.

Ta chưa từng có quốc học, Phạm Quỳnh và Phan Khôi hồi đó (1931) đều bảo thế. Ông Phan tìm hiểu kỹ càng thành tích trước tác của tiền nhân, cố xem có gì đáng gọi là quốc học chăng, ông kết thúc: “Tìm mãi không ra cho tới ngày nay tôi mới trịnh trọng và quả quyết mà nói rằng không có.” Ông Phạm tán đồng: “Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ theo học nước Tàu chỉ mới là người học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng, không những thế lại cũng không lọt ra ngoài vòng giáo khoa mà bước lên tới cõi học thuật nữa. Như vậy thì làm sao có học thuật được?”

Quốc học, hai vị đều hiểu là “gồm những phong trào về tư tưởng về học thuật trong một nước”. Vậy văn học thì ta có, quốc học thì không; nghệ thuật thì có, học thuật thì không.

Tại sao vậy? Phan Khôi, ta không thấy ông thắc mắc về điều này. Phạm Quỳnh vẫn kỹ càng, chu tất. Ông giải thích: đó là vì hoàn cảnh. Có hoàn cảnh địa lý, có hoàn cảnh lịch sử, có hoàn cảnh chính trị, thảy đều bất lợi cho sự phát triển của học thuật, tư tưởng, ở ta.

Tôi thầm chờ đợi thêm một lý do không được ông đưa ra: lý do bẩm chất. Chẳng hạn: Trời sinh ra dân ta vốn không thoải mái đối với những gì là tư tưởng, là lý luận, những gì trừu trượng. Bẩm chất ấy đã bộc hiện ra ở cái tiếng ta nói, làm gì nó lại chẳng bộc hiện ở những điều ta viết? Ông Phạm đã nhận ra rằng ta không giỏi biện luận vì tiếng ta nghèo trừu tượng, sao ông không nhận luôn rằng ta thiếu học thuật cũng có phần vì lẽ ấy? Có gì khiến ông ngại ngùng chăng?

Nói “trời sinh”, chẳng qua là buột miệng nói cách dễ dãi, nói theo cái ngôn ngữ thông dụng hàng ngày. Bẩm chất với hoàn cảnh xét ra cũng không trái nhau, còn có thể có liên hệ. Muôn loài sinh ra có giống giỏi bay, có giống chuyên lội, có loài mọc sừng, có loài dài cổ, có giống thở bằng phổi, có giống thở bằng mang v.v…: xét hiện tại thì là trời sinh ra thế, là bẩm sinh cả. Nhưng truy ngược tới tận nguồn thì có thể là do hoàn cảnh, dám lắm. Thuở ban sơ đâu có bao nhiêu loài. Từ một số ít, sinh vật phát triển ra nhiều. Tùy hoàn cảnh sinh sống khác nhau mà trong quá trình tiến hóa mỗi loài biến ra một vẻ, rồi truyền tử lưu tôn muôn vạn kiếp, hóa ra đặc tính bẩm sinh. Nói gần thì lươn ngắn chạch dài, thờn bơn méo miệng với trai lệch mồm là bẩm sinh; nhưng nói xa thì có thể qui cho những hoàn cảnh khác nhau. Xu hướng đố kỵ cái trừu tượng ở ta có lẽ không bỗng dưng mà có. Xem gần nó như tuồng một xu hướng bẩm sinh; nhưng nghĩ xa, không chừng nó đã phát sinh do một “hoàn cảnh” nào đó, trong thời đại hồng hoang. Thời nào? bao xa? Ai mà biết! Rồi đây hoàn cảnh đổi khác, xu hướng tinh thần nọ sẽ mất đi chăng? bao giờ mất? Ai mà biết được!

Họa chăng người ta chỉ đoán rằng hoàn cảnh phát sinh phải xa lắm, từ trước khi ta có tiếng nói. Bởi vì khó thể tưởng tượng nổi xưa kia ta vốn sử dụng thứ ngôn ngữ có nhiều từ trừu tượng; rồi dần dà loại từ ấy rụng dần, biến mất dần, rốt cuộc “tuyệt đối” không còn tiếng nào nữa. Ông Phạm nói đến hoàn cảnh, ông không có ý nói xa đến thế. Ông chỉ muốn chỉ thị cái hoàn cảnh ta sống gần khối dân Tàu lớn, đông và mạnh, cái hoàn cảnh khiến ta phải lo việc tự tồn đến nỗi quên việc suy tư. Hoàn cảnh ông nói đó là gần đây, mới vài ngàn năm, e không đến nỗi xóa tiếng của ta. Trái lại, sự tiếp xúc với nguời Tàu chính đã làm giàu thêm tiếng ta, nhất là tiếng trừu tượng. Trong bộ Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức có 13.276 chữ, trong đó 3.443 vốn gốc tiếng Tàu; chắc chúng nó đã bắt đầu chạy vào tiếng Việt từ thuở Bắc thuộc ấy.

Ta du nhập tiếng trừu tượng tích cực như vậy hết nghìn năm này đến nghìn năm khác, mà mãi vẫn chưa từng dựng nên quốc học, mà thành tích học thuật chưa có gì cả, khiến cho đầu thế kỷ này kẻ sĩ có ý thức phải ráo riết “truyền bá Đông Tây học thuật”.

Cùng lúc ấy, thế hệ Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh lại khẩn trương bồi bổ, và các thế hệ tiếp cũng lại tiếp tục bồi bổ quốc văn, du nhập thêm nghìn nọ nghìn kia tiếng trừu tượng mới nữa. Thế bây giờ — cuối thế kỷ — chúng ta đang đến đâu, về mặt học thuật? Chúng ta đã có chủ thuyết triết học riêng, có chủ thuyết kinh tế mới mẻ, đã mở ra những trường phái chính trị đặc biệt sáng giá chăng? Các bậc trí thức, học giả, của chúng ta đang hối hả “truyền bá học thuật Việt ra khắp Đông Tây” gấp gấp chăng?

Chuyện ấy chưa hề xảy ra. Chỉ thấy hoạt động ráo riết ở ta vẫn là truyền bá Đông Tây tư tưởng. Vẫn là truyền vào, chưa phải truyền ra. Cuối thế kỷ cái truyền vào cũng ráo riết không kém hồi đầu thế kỷ.

Chừng ấy cứu chữa chưa đạt kết quả; có lẽ lúc này chúng ta nên góp thêm một vài suy ngẫm.

Chẳng hạn về mối liên hệ giữa tiếng trừu tượng với khả năng biện luận suy tưởng. Đó là loại liên hệ thế nào? Bảo rằng vì thiếu tiếng trừu tượng mà kém về biện luận, hay bảo rằng vì ít suy luận nên không cần đến, không đặt ra tiếng trừu tượng, do đó loại tiếng này hóa nghèo. Như thế là cho rằng hai bên có liên hệ nhân quả: cái này sinh ra cái kia, hoặc ngược lại. Liên hệ như cha với con. Sửa cái nhân thì cái quả sẽ đổi khác.

Mặt khác, lại có thể hiểu: thiếu tiếng trừu tượng và kém về suy luận là hai hiện tượng cùng biểu lộ một xu hướng tinh thần. Tiếng nói là phương tiện diễn đạt ý tình; phương tiện tốt thì diễn đạt tốt. Nhưng mặt khác tiếng nói tự nó cũng là biểu hiện của một xu hướng tinh thần của dân tộc, cũng là phản ảnh của một sở trường bẩm sinh tiềm ẩn, tự bản thân nó cũng ẩn ngụ những ý tình thầm kín của dân tộc, không sao? Là phương tiện, nó không phải thứ phương tiện như cây cuốc, lưỡi cày, như cái búa, lưỡi dao v.v… Hai sự kiện cùng phát sinh từ một xu hướng gốc, chứ không phải sự kiện này sinh ra sự kiện kia. Giữa đôi bên không phải là thứ liên hệ cha với con, mà là thứ liên hệ anh em song sinh. Cả hai cùng cội rễ, phát sinh từ một hoàn cảnh xa xôi. Hai sự kiện là hai chứng minh bổ túc cho nhau.

Về mối tương quan giữa hai hiện tượng này, dân tộc Ấn đã tự hiến làm một dẫn chứng lý thú. Ấn ngữ cực nhiều tiếng trừu tượng và người Ấn cực giỏi tài biện luận. Ai cũng biết các dân tộc La-mã, Hi-lạp và Đức là những dân tộc cừ khôi từng cung cấp cho nhân loại những nhà triết học lừng lẫy; Keyserling, một triết gia Đức, bảo rằng số từ ngữ triết trong tiếng sanscrit của Ấn-độ nhiều hơn tổng số từ ngữ triết của ba thứ tiếng La-tinh, Hi-lạp và Đức cộng chung lại. Còn người Ấn thì nhất khoái tranh luận. Trong khi ở các xứ khác lắm người ham thích xem đá cá, đá gà, xem chọi trâu, xem cọp voi đấu nhau, xem cả người với người đánh đấm nhau, đấu gươm đấu kiếm tranh giết nhau, thì ở Ấn từ vua quan đến dân chúng đều khoái xem đấu võ mồm. Hễ có cuộc tranh biện giữa các vị cao tăng thì người đông nghìn nghịt chen nhau nghe. Kẻ thắng có thể được nhà vua trọng thưởng đến cả nghìn con bò cùng với vàng bạc, được dân chúng đón rước cực kỳ trọng thể. (Đường Tam Tạng từ Trung Quốc sang Ấn-độ cũng tham dự những cuộc biện đấu lớn như thế.)

Hiểu theo cái ý hai hiện tượng nọ có tương quan song sinh thì việc du nhập, tăng bổ từ trừu tượng vào Việt ngữ sẽ không có hiệu lực phát triển tức thì khả năng suy tưởng, xây dựng nhanh chóng nền quốc học. Tăng bổ từ mới là cung cấp thêm phương tiện, trong khi cái thiếu không phải chỉ là phương tiện. Dù sao, có thêm vốn từ trừu tượng cũng làm chúng ta quen thêm, gần thêm các hoạt động nghiên cứu, suy tưởng. “Hoàn cảnh” sinh hoạt học thuật ấy, dần dần cải biến khuynh hướng “bẩm sinh” đố kỵ trừu tượng của ta. Và một ngày kia, ta sẽ vùng lên. Biết đâu?

Nói thế là nói điều quá xa xôi. Có phải Phạm Quỳnh đã ngại ngùng, và ngại ngùng chính vì chỗ xa xôi ấy? Giữa lúc thế hệ tiền phong đang tưng bừng, hồ hởi, sao nỡ gieo điều ngờ vực, nêu trở lực khó khắc phục?

Thực ra, không cứ là thế hệ tiền phong, thế hệ nào cũng ghét trở lực. Quốc học đã muộn mất bốn nghìn năm văn hiến, đến lúc này mà không dựng gấp sao được? Lên đỉnh cao trí tuệ phải vọt lên cấp kỳ. Chần chờ, sốt ruột lắm.

Một chút so sánh với người thiên hạ càng làm cho ta sốt ruột thêm. Ở Pháp cũng từng có thời lệ thuộc vào tiếng La-tinh (như ta xưa kia lệ thuộc vào chữ Tàu), rồi cũng từng nổi lên chủ trương thoát ly khỏi tiếng La-tinh mà xây dựng nền văn chương học thuật Pháp, vào thế kỷ XV. Không đầy một trăm năm, đã có những thành công cả về hai thứ văn nghệ thuật và văn luận thuyết. Bên này có Du Bellay, Ronsard, thì bên kia cũng có những Calvin (1509-1564), Montaigne (1532- 1592). Chẳng bao lâu xuất hiện Descartes (1596- 1650), Pascal (1623-1662).

Điều ấy có liên quan chăng đến bản chất của ngôn ngữ Pháp? Nói về cái phương tiện diễn đạt tư tưởng của tiếng Pháp, Montaigne — một vị trong thế hệ tiền phong — bảo: “Tôi thấy ngôn ngữ của chúng ta đã đủ phong phú.” (suffisamment abondant). Có phải bản chất ngôn ngữ ấy là một thuận lợi cho sự phát triển học thuật của Pháp? Còn ở ta… thật là sốt ruột.

Dù sao, nên tìm một lý lẽ để hạ hỏa, trong khi chờ đợi một nền quốc học rực rỡ.

Bấy lâu ta kém sút, không kém sút cả. Chỉ kém một bên thôi. Thiếu kém bên ấy, quốc gia vẫn bền vững, dân tộc vẫn tồn tại và phát triển, vẫn sống mạnh sống hùng, thắng sự xâm lăng của nhiều nước lớn và mạnh, thắng và nuốt tươi đôi ba nước nhỏ hay yếu, dân tộc vẫn hưởng một nếp sống có lễ nghĩa, có thuần phong mỹ tục, có nét văn hóa riêng, v.v… Ước mong, đòi hỏi phải hơn thế: vâng, thì cứ ước cứ đòi. Nhưng cũng nên biết rằng khắp thế giới xưa nay, cái số các dân tộc xây dựng được những hệ thống triết lý nguy nga có bao nhiêu đâu. Từ những trung tâm lớn như Trung Hoa, Ấn-độ, Hy-lạp… ánh sáng tư tưởng tỏa dần ra, rồi nhân loại được hưởng cả, lo gì. Vả lại, các công trình tư tưởng lớn lao rồi về sau không hề ngăn cản nổi sự suy sụp thảm hại ở một số quốc gia thuộc những khu vực văn minh lừng lẫy một thời. Vậy quốc học, có lẽ ta cũng không nên kỳ vọng quá đáng vào nó.

Người có hai phía: phía cảm thụ, phía suy tư; văn có hai thứ: thứ nghệ thuật, thứ luận thuyết. Ta xuất sắc về một phía thứ nhất. Không chừng đó lại là phía hay ho đa. Có được các giác quan mẫn nhuệ, có cảm xúc tinh vi, ta tha hồ hưởng thụ, sống một đời phong phú, đậm đà. Phía thứ nhất mà kém, không thể trông cậy vào ai được; ta không thể mượn chiếc lưỡi tinh tế của kẻ khác để thưởng thức chén trà ngon, tô phở ngon, ta không thể nghe nhạc hay bằng đôi tai sành sõi của kẻ khác, không thể xem tranh ngoạn cảnh bằng mắt kẻ khác, yêu đương rào rạt bằng con tim kẻ khác. Một dân tộc có thiên khiếu về cái cụ thể, một dân tộc sở hữu những giác quan tinh nhạy không phải là được Trời cưng sao?

Còn suy tưởng cao xa? Hãy giả vờ nêu thử một câu hỏi liều lĩnh: món ấy có thật là cần kíp không? Cao xa như lời Chúa, lời Phật, như bao nhiêu lời các đức Khổng Tử, Mạnh Tử, Aristote, Socrate, v.v… trước sau đều lần lượt tìm đến tai ta. Người Tàu người Tây nghe được mấy lời, ta cũng được phép nghe đủ mấy lời. Không một triết gia nào, không thánh hiền nào giấu giếm lời hay ý đẹp cả. Trái lại, mọi sản phẩm cao siêu nhất, quí báu nhất đều mong được truyền bá rộng rãi. Chỉ lo ta không cố gắng tiếp nhận, đừng ngại người không quảng bá. Rồi phát minh điện tử, bí mật vũ trụ, thiên hạ khám phá ra đến đâu, ta tha hồ biết theo đến đấy.

Thành quả của trí tuệ, ta hưởng chung với người; cảm nhận các giác quan thì của ai nấy hưởng kỹ.

Vậy lớp tiền phong đầu thế kỷ chủ trương truyền bá Đông Tây học thuật là chí phải. Rồi khi nhận thấy lớp tiền phong cuối thế kỷ vẫn mải miết tiếp tục truyền bá Tây phương học thuật cũng không đến nỗi phải lo lắng hoảng hốt.

4 – 1999

V.P.

————————

1 La langue annamite abonde en expressions pour les choses usuelles et sensibles, mais elle est pauvre pour ce qui regarde les procédés des arts mécaniques et les beaux arts; elle est absolument dépourvue d’expressions pour les idées abstraites.

2 Nam Phong số 119, kỷ niệm đệ thập chu niên.

 

Trường hợp Võ Phiến

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

TRƯỜNG HỢP VÕ PHIẾN

Thu Tứ

(Bài đăng trong mục Bình Luận – Phê Phán trang 8 báo Nhân Dân các ngày 7 và 10/10/2014)

—o0o—

Võ Phiến hoặc Tràng Thiên là bút danh của Ðoàn Thế Nhơn (1925) – nhà văn ở miền nam trước năm 1975, hiện định cư ở Mỹ. Văn nghiệp của Võ Phiến khá phức tạp mà nổi lên là xu hướng “chống cộng” cho nên được chính quyền Sài Gòn trước đây và một số người ca ngợi (!). Vừa qua, vì “được biết một tổ chức phi chính quyền trong nước đang có kế hoạch tích cực phổ biến những tác phẩm Võ Phiến chứa nội dung chính trị sai lầm”, nên từ Mỹ, tác giả Thu Tứ (bút danh của Ðoàn Thế Phúc – một người con của Võ Phiến) đã viết bài Trường hợp Võ Phiến nhằm phản bác kế hoạch nêu trên.

Dù viết về quan điểm chính trị – xã hội trong tác phẩm của cha mình, nhưng tác giả Thu Tứ đã có cách tiếp cận khách quan, để đưa ra một số lý giải, kết luận. Ðược sự đồng ý của tác giả, trong hai số báo ra ngày 7-10 và 10-10, Báo Nhân Dân trích đăng bài viết để bạn đọc tham khảo, qua đó nhận diện một người viết văn với nội dung chính trị sai lầm trong văn nghiệp của mình, đã đi ngược lại sự nghiệp chân chính của dân tộc như thế nào (Có thể đọc các tác phẩm của tác giả Thu Tứ tại website cá nhân gocnhin.net)…

Chẳng ai muốn chỉ ra cái sai của người đẻ ra mình! Chúng tôi làm việc này vì vừa được biết một tổ chức phi chính quyền trong nước đang có kế hoạch tích cực phổ biến những tác phẩm của nhà văn Võ Phiến chứa nội dung chính trị sai lầm. E rằng việc làm của họ có thể khiến một số người đọc hoang mang, ảnh hưởng tới đoàn kết dân tộc, chúng tôi quyết định tự mình phản bác nội dung này. Chúng tôi cảm thấy có một chút trách nhiệm về việc làm nêu trên của tổ chức phi chính quyền kia. Số là, trong hai năm qua, NXB Thời đại và Công ty Nhã Nam ở Hà Nội có in lại hai tác phẩm của nhà văn Võ Phiến là Quê hương tôi và Tạp văn. Cả hai tác phẩm này đều do chúng tôi chọn lựa và biên tập, theo sự ủy quyền từ lâu của thân phụ. Chúng tôi cố gắng chọn những tác phẩm giá trị nhất, không chứa hoặc chứa rất ít nội dung chính trị. Nếu có nội dung chính trị, khi biên tập chúng tôi loại bỏ hết. Mục đích của việc chọn và bỏ như thế là đưa những thành tựu văn học đỉnh điểm của văn nghiệp Võ Phiến đến với người đọc mà không gây hại cho nước. Chúng tôi đã tưởng mình thế là chu đáo với nhà, với nước! Hóa ra, việc hai tác phẩm Quê hương tôi và Tạp văn được người đọc trong nước đón nhận khá tốt lại chính là cái nền rất tiện lợi cho tổ chức kia toan đặt lên đấy thứ nội dung hoàn toàn bất ổn trong tác phẩm của Võ Phiến! Chuyện đang xảy ra còn làm chúng tôi sốt ruột về tương lai. Sẽ hết nhóm nọ đến phe kia những lúc nào đó đem vận dụng văn nghiệp Võ Phiến một cách có hại cho đất nước. Phải làm cho thật rõ về cái phần nội dung chính trị sai lầm trong văn nghiệp ấy ngay từ bây giờ.

Chúng tôi còn một lý do nữa khiến việc lên tiếng càng không thể tránh được. Do quan hệ đặc biệt và do ở gần nhà văn Võ Phiến trong không biết bao nhiêu năm, chúng tôi được nghe tận tai những phát biểu của ông về tình hình đất nước mà chắc chắn chưa ai từng nghe. Ngoài ra, do yêu thích văn học, chúng tôi đã đọc rất kỹ tất cả tác phẩm của Võ Phiến. Hơn nữa, chúng tôi còn đọc để soát lại trước khi đưa in phần lớn tác phẩm của Võ Phiến tái bản hoặc xuất bản ở nước ngoài. Kết quả của không biết bao nhiêu lượt nghe những lời phát biểu thoải mái và đọc rất kỹ tác phẩm là: không ai có thể biết lập trường chính trị và cách nhìn lịch sử của nhà văn Võ Phiến rõ bằng chúng tôi. Cái biết ấy trong tình hình lập trường bất ổn và cách nhìn cũng bất ổn đang được một số người tìm cách tái phổ biến, nó trở thành một sức nặng bắt chúng tôi phải bất chấp quan hệ tối thân thiết mà lên tiếng chỉ sai.

Trước khi về thăm quê hương lần đầu năm 1991, chúng tôi đã tuyệt đối tin những nghĩ ngợi của thân phụ mình về chuyện đất nước thời chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Chúng tôi về nước rất nhiều lần, mỗi lần rất lâu, thăm thân rất ít, coi như toàn bộ thời gian ở trong nước dành cho việc đi tham quan, chủ yếu tại miền bắc. Chúng tôi không ở khách sạn sang trọng, không đi “tua”, mà ở những nhà khách rẻ tiền, đi xe khách, xe ôm, xích-lô, có lần mua xe đạp đạp dạo quanh vùng ngoại ô Hà Nội thường xuyên đến nỗi có người ngồi chợ tưởng nhầm là dân buôn! Với lối đi tham quan như vừa nêu, chúng tôi trở nên rất đỗi hoang mang! Chúng tôi thấy người Việt Nam ngoài bắc vui vẻ, bình thản, vừa giữ được phần lớn nền nếp cũ, lại vừa có thêm cái phong cách “cách mạng”, mọi người bình đẳng, cũng rất hay. Bấy giờ miền bắc cũng như cả nước, đang có một số hiện tượng xã hội tiêu cực do kinh tế trì trệ kéo dài, vật chất rất thiếu thốn, nhưng nhìn chung người tuy nghèo mà văn hóa tinh thần rất đáng hãnh diện. Ðâu là cái ảnh hưởng cực xấu của chủ nghĩa cộng sản đối với văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam mà mình đã đọc thấy trong tác phẩm của người đẻ ra mình?! Than ôi, hóa ra chỉ là kết quả của những kinh nghiệm rất giới hạn cả về không gian lẫn thời gian cộng với những câu chuyện kể của một ít bạn bè người miền trung cùng hoàn cảnh, một số đồng nghiệp người bắc di cư, vài cán bộ cộng sản “hồi chánh”, thêm vài tác phẩm “nhân văn giai phẩm”, tất cả được một trí tưởng tượng hết sức phong phú và một tâm lý đặc biệt bi quan suy diễn nên!

Ngoài cái biết trực tiếp như vừa nêu, nhờ thói quen hay đọc sách báo mà chúng tôi biết thêm được vô số chuyện lạ đối với mình. Từ văn hóa, chúng tôi tìm hiểu sang lịch sử, mới biết đến, hay biết rõ nhiều chuyện đất nước rất to, như Tuyên ngôn Ðộc lập, Hà Nội kháng chiến 60 ngày đêm, chiến dịch Biên giới, chiến dịch Ðiện Biên Phủ, mà cho đến lúc ấy hoặc chưa nghe bao giờ hoặc chỉ nghe hết sức loáng thoáng với lời bình phẩm hạ giá kèm theo. Những “voi” sự kiện theo nhau lù lù bước ra từ quá khứ khiến chúng tôi hết sức bỡ ngỡ! Vì đã bị “tuyên truyền” rất kỹ, cũng phải đến hơn 10 năm sau lần về nước đầu tiên, sau khi nghĩ đi nghĩ lại không biết bao nhiêu lần, chúng tôi mới thấy được thật rõ ràng lịch sử dân tộc trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1975 thật ra là như thế nào…

Nhà văn Võ Phiến viết nhiều thể loại. Lập trường chống cộng của ông được đưa ra rải rác khắp nơi trong nhiều loại tác phẩm khác nhau, khi là hẳn một bài tạp luận hay tạp bút, khi là lời nhân vật trong truyện ngắn hay truyện dài, khi là những đoạn trong một tác phẩm phê bình hay nhận định văn học, v.v. Lập trường chống cộng của nhà văn Võ Phiến liên hệ đến ba vấn đề: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chọn lựa ý thức hệ.

Về giải phóng dân tộc, nhà văn Võ Phiến khẳng định không có nhu cầu! Ông cho rằng sớm muộn Pháp cũng trả độc lập cho ta, viện dẫn những chuyện xảy ra trên thế giới. Ðúng là đế quốc Anh đã tự giải tán trong hòa bình. Nhưng Pháp không phải là Anh. Pháp cương quyết tiếp tục giữ thuộc địa và cướp lại những thuộc địa tạm mất trong Thế chiến thứ hai. Song song với hành động tái xâm lược ở Việt Nam, tháng 8-1945 quân đội Pháp thảm sát hàng chục nghìn người dân nổi dậy ở thành phố Xê-ríp, An-giê-ri (Sérif – Algérie), và từ tháng 3-1947 đến tháng 12-1948 đàn áp kháng chiến ở Ma-đa-ga-xca (Madagascar), giết có thể đến hơn 100.000 người! Ngay cả sau khi thua to ở Ðiện Biên Phủ, phải chấp nhận rút khỏi Việt Nam, Pháp vẫn cố giữ Algérie để rất nhiều máu phải đổ nữa rồi mới chịu thôi làm đế quốc… Nhà văn Võ Phiến nhắc đến việc những miền đất ở châu Phi được Pháp trả lại độc lập dễ dàng: thì chính những nơi ấy đã may mắn được hưởng thành quả rực rỡ của kháng chiến Việt Nam và kháng chiến Algérie đấy chứ! Mà thực ra cũng không phải may mắn: ai cũng biết những “nước” Phi châu mới kia chỉ có cái vỏ độc lập chứ ruột thì vẫn nằm trong tay Pháp. Từ ngày “độc lập” năm 1960, các nước ấy đã bị Pháp ngang nhiên can thiệp quân sự hơn 30 lần! Vai trò áp đảo của Pháp trong vùng rõ ràng tới nỗi từ lâu đã sinh ra cái từ Francafrique: Phi nhưng mà “Phi Pháp”! Dân tộc Việt Nam với ít nhất hai mươi mấy thế kỷ văn hiến, dân tộc Việt Nam mà chính toàn quyền Ðông Dương Pôn Ðu-me (Paul Doumer) đã nhận xét là nhất ở Ðông – Nam Á, phải qua đến Nhật mới gặp được trình độ tương đương (dẫn theo Phạm Cao Dương, Lịch sử dân tộc Việt Nam, NXB Truyền thống Việt, California 1987), dân tộc ấy lại ngồi chờ giặc thua to ở nơi khác, ban phát cho một thứ gọi là độc lập hay sao?! Sau Thế chiến thứ hai, không phải đế quốc nào cũng chọn buông thuộc địa. Chính dân tộc Việt Nam Anh hùng đã dẫn đầu những dân tộc bị trị trong việc bắt thực dân Pháp phải buông thuộc địa… Lý luận “không cần kháng chiến” hoàn toàn không có giá trị. Gốc của nó là ở ý muốn bào chữa cho những người không tham gia kháng chiến và cái ý muốn phủ nhận công lao to lớn của Ðảng Cộng sản Việt Nam và ở một tâm lý tự ti về văn hóa dân tộc mà chúng tôi sẽ trình bày sau.

Về thống nhất đất nước, nhà văn Võ Phiến đặt chống cộng lên trên thống nhất đất nước. Sau khi thua ở Ðiện Biên Phủ, đế quốc Pháp phải chấp nhận rời khỏi nước ta. Cuộc kháng chiến lâu dài, anh dũng do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã thành công! Nhưng một số người Việt Nam – những người không tham gia kháng chiến hoặc theo giặc đàn áp kháng chiến (!) – không chịu để toàn dân đi bầu tự chọn chính quyền mà dựa vào thế lực siêu cường Mỹ dựng lên một “nước” trên một nửa nước! Tổ tiên ta bao nhiêu công phu, xương máu, qua bao nhiêu đời mới mở được chừng này đất, để bây giờ đất chia hai sao? Dân tộc Việt Nam mấy nghìn năm trải qua bao lượt thử thách vẫn là một để bây giờ thôi là một sao? Hễ có cơ hội, phải cố hết sức thống nhất đất nước. Cơ hội đã có: từ năm 1960, chính quyền Ngô Ðình Diệm bắt đầu lung lay, khởi đầu do một số đảng phái bất mãn về chính sách, sau đó do đông đảo Phật tử đấu tranh chống thiên vị tôn giáo. Năm 1963, chính quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ. Tiếp theo là đảo chính liên miên. Nhân tình hình thuận lợi, quân kháng chiến miền nam và quân đội miền bắc tiến công mạnh mẽ. Ðâu muốn chết đến người Mỹ, nhưng thấy “tiền đồn Việt Nam Cộng hòa” quá nguy ngập, Mỹ đành gấp rút cho hơn nửa triệu lính đổ bộ. Chính quyền Sài Gòn trở nên tạm ổn định, khoản tiền viện trợ lớn lại gây ra nạn quan chức tham nhũng hết sức trầm trọng. Tổn thất sinh mạng binh lính Mỹ, ảnh hưởng tai hại đến kinh tế Mỹ, sự kiên cường của kháng chiến ở miền nam và quân dân miền bắc, cùng với sự bất lực của chính quyền Sài Gòn, khiến nội bộ Mỹ trở nên chia rẽ trầm trọng, dẫn đến quyết định rút hết quân. Chỉ hai năm sau khi lính Mỹ rút, nước Việt Nam thống nhất. Tổn thất hơn 210.000 lính chết và bị thương, thả xuống gấp 3,5 lần lượng chất nổ đã thả trong Thế chiến thứ hai (!), tiêu tốn gần một nghìn tỷ USD (tính theo giá USD năm 2011), mà siêu cường Mỹ rút cuộc vẫn thất bại trong ý đồ chia hai nước ta… Mỹ thảm bại, chắc chắn có một phần do đã ủng hộ một chính quyền không được lòng dân. Bất chấp cơ hội thống nhất đất nước đã tới, nhà văn Võ Phiến vẫn tiếp tục ủng hộ sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn. Ðó là một lập trường đi ngược lại với lý tưởng dân tộc.

Về chọn lựa ý thức hệ, nhà văn Võ Phiến tuyệt đối bác bỏ chọn lựa chủ nghĩa cộng sản. Chọn lựa một chủ nghĩa, phải trên cơ sở nhu cầu đất nước và phải căn cứ vào kết quả cụ thể.

 Xét nhu cầu, thời Pháp thuộc có nhu cầu hết sức lớn là đánh đuổi giặc Pháp. Ðến cuối thập niên thứ nhất thế kỷ 20, nỗ lực cứu nước của các nhà Nho đã coi như hoàn toàn thất bại. Công cuộc giành lại độc lập đòi hỏi một đường hướng mới. Ðúng lúc ấy bên Tây phương nảy ra một thứ chủ nghĩa nhiệt liệt bênh vực người bị áp bức, với những phương cách rất cụ thể để tổ chức họ thành lực lượng đấu tranh lợi hại. Quốc gia tiên phong ứng dụng chủ nghĩa ấy là Liên Xô, một cường quốc. Ở Việt Nam đang có vô số người bị áp bức, nếu chọn chủ nghĩa cộng sản thì trước mắt có phương tiện để tổ chức họ thành đoàn thể chặt chẽ, thêm về lâu dài có thể có được nguồn ngoại viện cần thiết cho kháng chiến: tại sao lại không? Thời Pháp thuộc còn có nhu cầu khác cũng rất quan trọng là cải cách xã hội để san bằng những chênh lệch quá độ nảy sinh như một kết quả của tình trạng đất nước bị ngoại nhân cai trị lâu ngày. Tuy ở nước ta không có vấn đề giai cấp như một kết quả của cấu trúc xã hội truyền thống, trong thời Pháp thuộc đã xảy ra chênh lệch giàu nghèo quá độ, vì lúc bấy giờ, quan lại điển hình không còn là cha mẹ dân, không lo cho dân nữa, mà vừa ngay ngáy lo phục vụ giặc cho thật kỹ, vừa ngày đêm “tận tụy” bóc lột dân! Dưới quan, bọn hào lý cũng bận bịu “hai lo”: một phục vụ quan, hai bóc lột dân! Và vì trên quan dưới hào đều không vì dân, cho nên các địa chủ cũng tha hồ bóc lột! Chủ nghĩa cộng sản có vẻ là một phương tiện tốt để thực hiện việc cải cách này, tại sao lại không chọn?

Xét kết quả, đối với hai đại sự là giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, chủ nghĩa cộng sản rõ ràng là chọn lựa đúng. Nhờ đông đảo nhân dân đoàn kết chặt chẽ với tinh thần hy sinh cao độ và nhờ có ngoại viện cần thiết, mà cả hai đại sự đã thành công tốt đẹp. Ðối với việc cải cách xã hội, tuy trong một thời gian đã xảy ra sai lầm khiến một số người bị xử oan, nhưng mục đích san bằng bất công đã đạt được. Nhân đây cũng nên nói về ý nghĩa của việc “sửa sai”. Nó chính là một thí dụ về khả năng Việt hóa món nhập ngoại của dân tộc Việt Nam… Tiếc một phần do hoàn cảnh chiến tranh, trong cải cách ruộng đất việc xem xét lại đã không được tiến hành kịp thời. Nhìn chung, ở miền bắc văn hóa dân tộc đã làm mềm hẳn chủ nghĩa cộng sản, với kết quả là một xã hội về cơ bản vừa giữ được những giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa có một cái không khí bình đẳng hơn trước cũng tốt đẹp. Nghĩa là, ít nhất trong khung thời gian liên hệ, việc chọn chủ nghĩa cộng sản không có gì sai…

Trong khi những người cộng sản Việt Nam lập hết công giải phóng dân tộc đến công thống nhất đất nước, cùng lúc dần dần cải cách ý thức hệ cộng sản cho hợp với văn hóa truyền thống và điều kiện xứ sở, thì nhà văn Võ Phiến hững hờ với giải phóng, thờ ơ với thống nhất, đem toàn lực tiến công cái bản gốc của ý thức hệ ấy! Ông bảo chủ nghĩa cộng sản là xấu. Trông vào kết quả trên nhiều mặt, rõ ràng nó chẳng xấu cho đất nước, quê hương một chút nào!

Ngoài lập trường chống cộng, tác phẩm của Võ Phiến còn chứa một cái nhìn về lịch sử dân tộc trong thế kỷ 20. Ở đây có lẽ nên nhắc ngay đến cái khuynh hướng phân tích tâm lý nhân vật “chẻ sợi tóc làm tư”. Thật ra không chỉ khi viết truyện mà cả trong đời sống ông cũng thế, cũng thích chẻ cái mình nhìn ra cho thật nhỏ. Và ông đặc biệt ưa chú mục vào những cái xấu, bất thường (tuy bản thân không hề xấu hoặc bất thường). Mỗi người chỉ có đúng một cách nhìn. Tất nhiên nhà văn Võ Phiến đã nhìn lịch sử dân tộc bằng cách vừa nói. Kết quả là, đọc ông gần như toàn gặp những người dân không biết yêu nước là gì (thỉnh thoảng có gặp thì nhân vật yêu nước hiếm hoi ấy lộ vẻ lạc lõng rõ rệt); không thấy thực dân khai thác tài nguyên bóc lột lao động đâu cả, chỉ thấy cán bộ cộng sản hủ hóa; không thấy giặc Pháp tàn bạo với người Việt Nam đâu cả, chỉ thấy có dân bị đấu tố oan; không thấy đông đảo nhân dân nô nức ủng hộ chiến sĩ, hàng hàng lớp lớp chiến sĩ hăng say đánh giặc ngoại xâm, lập chiến công oai hùng đâu cả, chỉ thấy nhiều người bị làm khổ và nhiều kẻ liều chết ngớ ngẩn! Không có những việc tốt mà nhà nước cộng sản đã làm cho dân nghèo nào hết, chỉ có những xáo trộn xã hội hoàn toàn vô ích!… Dân tộc Việt Nam đâu phải như vậy. Sự thật về cuộc cai trị của thực dân Pháp, về cuộc kháng chiến của Việt Nam, về những việc làm của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đâu phải như vậy. Sở dĩ nhà văn Võ Phiến thấy vậy, bởi ông đã chăm chú nhìn những thành phần thiểu số, những chuyện lẻ tẻ, nhất thời…

Cách nhìn là quan trọng nhất. Nhưng nhìn đâu cũng có đóng góp vào cái thấy của người nhìn. Có thể đặt vấn đề, hay là quê hương nhỏ của nhà văn Võ Phiến là huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Ðịnh nó đã “ngoại lệ” khiến ông đâm ra dễ nghĩ lệch về chuyện đất nước? Quả thật, ở Phù Mỹ thời Pháp thuộc gần như không thấy bóng giặc Pháp mà chênh lệch giàu nghèo cũng không đáng kể. Nhưng ngay ở Phù Mỹ, chắc chắn cũng đã có rất nhiều người yêu nước, chẳng qua nhà văn không chú ý đến họ. Hơn nữa, chỉ nhìn tình hình Phù Mỹ mà thôi khó thấy được đại cục nước Việt Nam, thì thiết tưởng một người lên tiếng về đại cục như nhà văn Võ Phiến có trách nhiệm phải nhìn cho thật rộng, nhìn khắp cả nước, chứ đâu được nhận định về toàn quốc trên cơ sở tình hình ở chỉ địa phương mình! Cuối cùng, về “cách nhìn Võ Phiến”, có lẽ cũng nên nêu lên rằng lẽ tự nhiên nó dẫn tới tâm lý bi quan, là một nét nổi tiếng của văn chương Võ Phiến. Bi quan trong văn thì không sao cả. Nhưng trong cuộc đấu tranh để sinh tồn của cả một dân tộc, thì hết sức tai hại.

… Viết văn chống cộng thì lắm cây bút từ miền bắc di cư vào chịu khó viết. Nhưng tác phẩm của họ thường là lớn lời mà thiếu chi tiết cụ thể, rỗng lý luận. Tác phẩm chống cộng của nhà văn Võ Phiến ngược lại: lời nhỏ kể lể tỉ mỉ, đay nghiến, với lý luận (sai) kèm theo. Chính quyền Sài Gòn để ý và đánh giá cao lối viết ấy. Năm 1960, truyện vừa Mưa đêm cuối năm của nhà văn Võ Phiến được giải thưởng “Văn học toàn quốc”. Như Nhất Linh nhận xét trong Viết và đọc tiểu thuyết, lời văn trong tác phẩm giật giải văn chương ấy hãy còn thô vụng. Nó được chọn rõ ràng vì nội dung chính trị phù hợp với nhu cầu tuyên truyền của những người đang cai trị miền nam.

Sau Mưa đêm cuối năm, được chính quyền Sài Gòn khuyến khích, được “đồng chí” tán thưởng, ông tiếp tục cho ra đời những tác phẩm có nội dung tương tự, viết chống cộng mỗi lúc một thêm “tinh vi”. Thật ra tác phẩm của Võ Phiến trở nên “vi” (tỉ mỉ) hơn nữa, chứ không phải “tinh” (thấy đúng bản chất) hơn chút nào, vì nhìn cục bộ thì không thể thấy toàn thể. Cái tiếng “chống giỏi” của nhà văn nhanh chóng lan rộng trong cái tiểu xã hội phức tạp của những người chống cộng mà có lẽ đại đa số không thật sự chia sẻ nội dung cụ thể của tác phẩm Võ Phiến, chưa nói nhiều người hình như không hề cầm tới sách! Nhà văn Mai Thảo có lần đọc, thấy “nhiều sắc thái địa phương”. Nhà văn Vũ Khắc Khoan cũng thử đọc, rồi phàn nàn về những nhân vật “tù lù mù”. Chi tiết khó “chia”, mà lý luận hẳn họ càng thấy khó “sẻ”, vì vốn dĩ chính bản thân họ có hay lý luận rắc rối gì đâu. Ðại khái, mỗi người chống cộng vì một số lý do riêng, rồi hễ cứ nghe ai “chống giỏi” là rủ nhau hoan hô, không cần biết người kia cụ thể chống thế nào!

Cái lối được trầm trồ mà không được đọc rồi cũng xảy ra cho nhà văn Võ Phiến ở ngoài bắc. Một số người “Nhân văn giai phẩm” nghe tiếng chống cộng của ông, sinh ngay cảm tình, tuy hầu hết những người ấy chắc chắn chưa bao giờ đọc được một chữ văn của Võ Phiến! Thật ra giữa họ và nhà văn Võ Phiến có chỗ khác nhau rất căn bản: họ đều đồng lòng kháng chiến đánh đuổi giặc Pháp, lấy việc ấy làm quan trọng hơn cả, trong khi nhà văn Võ Phiến thì không. Nông nỗi của họ xảy ra là do họ nghĩ giải phóng dân tộc xong rồi, Ðảng không nên lãnh đạo văn hóa nữa, mà nên để “trăm hoa đua nở”. Nhưng việc nước đã xong đâu! Còn phải thống nhất đất nước. Với sự can thiệp của siêu cường Mỹ, công việc sẽ vô cùng khó khăn. Cần phải duy trì ý chí chính trị và tinh thần kỷ luật ở mức cao nhất. Tự do văn hóa sẽ ảnh hưởng xấu đến nỗ lực duy trì này, do đó Ðảng không thể chấp nhận được. Nhìn cách khác, tình hình đất nước bấy giờ chưa thích hợp với một cải cách chủ nghĩa lớn như vậy.

Vào cái khoảng thời gian Liên Xô vừa sụp đổ, cái tiếng chống cộng của nhà văn Võ Phiến còn khiến một số nhà văn Việt Nam ở trong nước tìm cách bắt liên lạc với ông, hẳn vì họ nghĩ Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng sắp sụp đổ! Có người nhân dịp đi công tác qua Mỹ, đã tỏ tình thân ái bằng cách tặng nhà văn Võ Phiến một chiếc đồng hồ đeo tay dùng lâu năm. Người ấy từng tự nói nhờ Ðảng mà tôi mới được thế này. Ấy thế mà khi tưởng Ðảng sắp đổ, ông vội vã đi ôm chầm lấy kẻ thù của Ðảng! Ngán cho “nhân tình thế thái”. Thân phụ chúng tôi có kể rằng, qua trò chuyện, thấy nhà văn kia dường như chưa hề đọc một tác phẩm nào của mình!…

Văn nghiệp Võ Phiến vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Tiêu cực, đáng bỏ đi, là phần chính trị, bởi đó là cái bi kịch của một người Việt Nam sống giữa thời kỳ lịch sử dân tộc cực kỳ khó khăn mà trước không tha thiết với độc lập, sau không tha thiết với thống nhất, khăng khăng đặt chuyện chống chủ nghĩa cộng sản lên trên tất cả… Sai lầm chính trị đã đưa tác phẩm của Võ Phiến ra khỏi lòng dân tộc. Ðất nước đã độc lập, thống nhất lâu rồi. Nay đến lúc, nhân danh bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam, đưa tác phẩm của Võ Phiến trở về, sau khi lọc bỏ nội dung chính trị. Nhà nước Việt Nam đã sáng suốt khi quyết định cho tái bản sách của Võ Phiến trong nước. Ðáng tiếc, một số người đang lợi dụng tình hình quốc tế mà âm mưu tái phổ biến cả những nội dung chính trị sai lầm. Việc tái phổ biến này vừa có thể gây mất đoàn kết, hại cho dân, cho nước, vừa xúc phạm sự thật lịch sử.

T.T.

Tháng Mười 10, 2014

Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:32 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

NGƯỜI HỌA SĨ CỦA ĐIỆN BIÊN NĂM XƯA

Châu La Việt

Sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã từng cầm súng và cầm cọ đi suốt chiều dài và sự khốc liệt của hai cuộc chiến tranh vệ quốc, từng có nhiều tác phẩm xuất sắc về hai cuộc kháng chiến này, nhưng họa sĩ quân đội, đại tá Phạm Thanh Tâm (bút Hoa si Pham Thanh Tamdanh Huỳnh Biếc khi tham gia Quân giải phóng miền Nam) vẫn được đông đảo đồng đội, công chúng yêu hội họa và đồng nghiệp gọi ông là người họa sĩ của Điện Biên năm xưa…

Trước hết, với tư cách nười lính, năm 22 tuổi ông có mặt trong đại đoàn 351 tham gia đánh trận tại Điện Biên Phủ, sống trọn “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt…”. Với tư cách một nghệ sĩ, từ thực tế nóng bỏng của mặt trận, ông đã sáng tác nhiều ký họa ngay trong chiến hào và sau này là người họa sĩ sáng tác được nhiều tác phẩm nhất về đề tài Điện Biên Phủ. Ông đã từng có một triển lãm nghệ thuật riêng về Điện Biên, từng có nhiều tranh đẹp về Điện Biên được lưu giữ trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, trong bộ sưu tập tranh của nhiều người nước ngoài… như các bức tranh: Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ, Cảnh nhà sàn Điện Biên Phủ, Thời gian khổ, Cô gái Thái ở Điện Biên

Tranh của ông (cùng cuốn sách Vẽ dưới lửa đạn) đã được phát hành tại Anh và nhiều nước khác, như nhà báo Buchanan – chủ bút nhật báo WallstreetDiễn đàn dự báo quốc tế ghi nhận: “Câu chuyện đầy say mê này đã làm thay đổi toàn bộ những định nghĩa, những hiểu biết trước kia của chúng ta về cuộc chiến tranh của dân tộc Việt Nam”.

Mùa xuân năm nay, người lính của Điện Biên năm xưa tròn 80 tuổi. Những tưởng ông có thể nghỉ ngơi, thảnh thơi với ấm trà, điếu thuốc… nhưng thật bất ngờ, ông vẫn đang miệt mài sáng tạo nghệ thuật bên một bức tranh sơn dầu khổ lớn về đề tài Điện Biên hào hùng… Vâng, một bức tranh sơn dầu khổ lớn với những người lính trong chiến hào Him Lam đang lắng nghe đồng chí Lê Nam – Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 141 phổ biến Nghị quyết của Bộ Tư lệnh mặt trận trước giờ xuất kích đánh trận mở đầu chiến dịch Điện Biên… Phải ghi nhận, bức tranh thật đẹp, dù người nghệ sĩ sáng tạo đã bước sang tuổi 80 và bàn tay cầm cọ đã run run. Nhưng nó vẫn tỏa ra những sắc màu lung linh, giàu cảm xúc, bởi đây là ký ức thiêng liêng của người lính, là dòng chảy nghệ thuật luôn tuôn trào trong tâm hồn ông hàng chục năm nay, là tinh hoa, là cấu tạo của tâm hồn người chiến sĩ – nghệ sĩ Điện Biên vô cùng oanh liệt.

“Đến bây giờ, đề tài người lính, đề tài Điện Biên Phủ… vẫn tràn đầy trong tôi , thậm chí có những lúc, tôi cảm thấy như mình đang mắc nợ với lịch sử khi được là nhân chứng của những sự kiện quan trọng, nhưng vẫn chưa thể hiện được bao nhiêu bằng các tác phẩm hội họa. Điều đó thôi thúc tôi cố gắng cầm cọ vẽ để tiếp tục sáng tác những tác phẩm kể lại cho mai sau về một thời máu lửa đầy hào hùng của dân tộc” – Họa sĩ, chiến sĩ Điện Biên Phủ Phạm Thanh Tâm tâm sự.

Báo Sài Gòn Giải Phóng 7/5/2012.

C.L.V.

Lịch sử một bức tranh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:29 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

LỊCH SỬ MỘT BỨC TRANH

Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Minh Tiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mùa sớm nắng chiều mưa Sài Gòn, chiều 22/9, giữa hai trận mưa, Họa sĩ , Nhà báo Phạm Thanh Tâm, một người Hà Nội, lại một lần nữa đi xe taxi, chống can inox bốn chân đến thăm một người bạn vong niên mới quen mà đã như thân thiết. Có lẽ vì cùng là người Hà Nội, lại cùng có chung những người thân thiết.

Xuan trong ham phaoSau mấy tuần trà ướp trong một bông sen do người Hà Nội tặng chủ nhà, và trò chuyện thân mật, tin cậy, chân thành về những chặng đường và những con người cả hai đều từng trải qua và quen biết, họa sĩ tặng chủ nhà một tập sách quí, bề thế của Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành nhân kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ nhan đề Trang sử vàng Điện Biên Phủ -Họa sĩ, Nhà báo Phạm Thanh Tâm- in song ngữ Việt Anh, khổ 33×26.5, do Richard di San Marzano thiết kế mỹ thuật.

Trong sách, chúng tôi may mắn thấy có hai điều mình muốn tìm hiểu lâu nay. Đó chính là bài Lịch sử một bức tranh (trang 76) viết về chính bức tranh chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ. (Tính đến ngày 5/10/2014 đã có 13.013 lượt người trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ truy cập.)

Trong bài có kể rõ trong đội văn công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ năm ấy có cả vợ chồng đích tôn của Phạm Quỳnh là Phạm Vinh và Vũ Thị Lương “cô gái múa lượn” trong tranh, cả hai cùng chạc tuổi với họa sĩ mới 21, 22 tuổi.

Và một bài nữa viết về chính họa sĩ nhan đề Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa (trang 90).

60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi 60 năm Giải phóng Hà Nội, Blog PhamTon xin trân trọng giới thiệu với các bạn cả hai bài trên.

—o0o—

Nếu ai có dịp đến tham quan nhà Bảo tàng Quân đội, chắc chắn không thể nào bỏ qua gian phòng trưng bày những bảo vật về chiến dịch Điện Biên lịch sử.

Trong số những bảo vật lưu niệm về tranh và ảnh của gian phòng có một bức tranh của họa sĩ quân đội Phạm Thanh Tâm.

Không gian của bức tranh là một căn hầm pháo 105 ly. Nòng pháo vươn qua lỗ châu mai về phía Điện Biên. Hai càng pháo bám chắc hai bên vách hầm trong tư thế sẵn sàng nhả đạn – nổi lên giữa hai càng pháo là 4 cô gái mặc áo tứ thân đang uyển chuyển duyên dáng trong một điệu múa dân tộc. Chung quanh là những gương mặt các chiến sĩ pháo thủ đang say sưa thưởng thức điệu múa.

Năm 1954, năm thứ 9 của cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp. Đội văn công Sư đoàn vừa ăn tết xong thì nhận được lệnh cấp tốc hành quân đi Điện Biên. Lúc đó chúng tôi đóng quân ở hậu cứ Sư đoàn gần cây số 14 trên đường Tuyên Quang đi Yên Bái. Đội đi Điện Biên gồm: Nguyễn Đức Phong đội trưởng, kiêm chính trị viên và các thành viên: Minh Tiến, Trọng Lanh, Hàn Đức Trọng, Xuân Sách, Phạm Vinh và các cô Vũ Thị Lương, cô Tý, cô Ngọc, cô Minh, tổ nhạc có: Nguyễn Bính (vi-ô-lông, ác-coóc-đê-ông), Ngọc Cương (nhạc sĩ kiêm đàn măng-đô-lin, Vương Cát Định (ghi-ta), Thịnh Đen (chẻo). Múa và nhạc kiêm ca hát và đóng kịch. Đoàn không có ca sĩ nổi danh như chị Kim Ngọc ở văn công Sư đoàn 312. Biết làm sao được, chiến sĩ thì nhiều nghệ sĩ thì hiếm phải tự lo lấy tất cả. Không có thầy, thầy cũng là trò, trò cũng là thầy. Múa xong là hát, hết hát thì sang đóng kịch. Kết thúc vai diễn, lại ngồi đốt những liều thuốc phụ (rơ-le) xin được của Pháo để có ánh sáng biểu diễn.

Đêm đầu tiên chúng tôi vượt bến Âu Lâu – Yên Bái. Ôi một đêm kỳ diệu! Cả đoạn sông Thao thượng nguồn vang lên bản Trang su vang Dien Bien Phutráng ca lịch sử. Quân ta như một con rồng khổng lồ bao gồm các sư đoàn chính quy, các đơn vị bộ đội địa phương, các đội dân công, nhân dân phục vụ thuyền bè. Tất cả đã theo lệnh của Bác Hồ và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiến vào Tây Bắc giải phóng Điện Biên. Dòng sông Thao sục sôi như nổi bão tố. Người qua sông, ngựa qua sông, xe đạp, xe thồ gồng gánh qua sông. Xe pháo rùng rùng chuyển động. Chân đất, chân giày, mũ lá, nón mê, đầu trần, thuyền nhỏ, thuyền to nhấp nhô chen nhau cắt ngang dòng sông lịch sử. Tất cả tiến vào Tây Bắc vượt “Núi vút ngàn trùng xa” trong nhịp bước “Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ” mà vẫn tràn đầy lạc quan để đi đến ngày thắng lợi. Trong đoàn quân vĩ đại ấy có Đội văn công của Sư đoàn Côn, Pháo 351 với đội múa trẻ trung đang độ tuổi 18, đôi mươi.

Ban ngày chúng tôi tập lại các bài ca điệu múa. Khi mặt trời bắt đầu xuống núi, toàn bộ lại lên đường hòa vào dòng thác đại quân và dân công cùng chảy ra tiền tuyến. Chính trong lúc hành quân đêm, nhóm múa chúng tôi có thời gian để sáng tác điệu múa mới (chưa có ai học sáng tác bao giờ). Mỗi đêm hành quân là mỗi đêm có những sáng kiến mới để chuẩn bị cho ban ngày tập luyện. Những ngày gian khổ ấy sao mà thương nhau thế, vượt qua Pha Đin trong mây vờn đỉnh dốc, rét buốt thấu xương, vượt Lũng Lô trong lửa bom rừng cháy “Chân không giày rớm máu, thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Hành quân tới Điện Biên, tổ múa chúng tôi đã sáng tác xong điệu múa tạm đặt tên là Vui sản xuất. Ý nghĩa của điệu múa muốn động viên chiến sĩ yên tâm đánh giặc, vì đã có hậu phương yên vui sản xuất để tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Động tác múa chèo thì học ở cụ Năm Ngũ trước hết, nhạc cũng học truyền khẩu rồi về hát lại để Ngọc Cương ghi lại cho vi-ô-lông của Bính Kính và cho các nhạc cụ khác đệm theo. Biên soạn múa và lời ca thì làm tập thể, cuối cùng mọi người cũng vừa ý. Quần áo múa thì góp lại mỗi người một mảnh dù trắng (của chiến sĩ cho làm kỷ niệm) đem nhuộm xanh đỏ. Thợ may là bốn cô nữ chiến binh. Thế rồi điệu múa đã được diễn cho chiến sĩ xem đêm đầu tiên tại mặt trận Điện Biên như ở phần đầu chuyện kể.

Đội văn công Sư đoàn sau đêm diễn đã chuyển sang phục vụ đơn vị pháo cao xạ ở gần khu vực đồi Độc Lập. Ba ngày sau chúng tôi hành quân trở lại căn hầm pháo cũ để tiếp tục phục vụ đợt 2 của chiến dịch. Thật không ngờ, chúng tôi không bao giờ còn được gặp lại các pháo thủ ở căn hầm số 2 đã bắn những viên đạn pháo đầu tiên vào Him Lam, mở đầu cho chiến thắng Điện Biên. Tất cả 7 chiến sĩ hy sinh. Máu của họ còn vương đầy vách hầm. Nơi biểu diễn điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” đầy những mảnh đạn.

Chúng tôi tìm đến những ngôi mộ còn đỏ màu đất như mới, viếng những người anh hùng và đặt lên nấm mồ một cành hoa sim tím của núi rừng Điện Biên giữa những tiếng khóc nức nở của 4 cô gái văn công Sư đoàn.

Những pháo thủ đang yên giấc ngàn thu và tất cả chúng tôi lúc bấy giờ không ai nghĩ rằng hình ảnh của họ và 4 cô gái văn công Sư đoàn trong điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” sẽ sống mãi trong bức tranh nổi tiếng của họa sĩ đại tá Phạm Thanh Tâm.

Hà Nội, tháng 5 năm 1998.

NSND Đ.M.T.

Hà Nội Gió Mùa thắng lớn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:23 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

HÀ NỘI GIÓ MÙA THẮNG LỚN

(Tin của Đức Triết trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 6/10/2014)

Vở cải lương Hà Nội gió mùa đoạt giải vở diễn xuất sắc nhất và ba huy chương vàng, ba huy chương bạc cá nhân tại Liên hoan sân khấu thủ đô lần 1 tại Hà Nội.

Cai luong Ha Noi Gio Mua thang lonTại lễ bế mạc Liên hoan sáng 5-10, cùng với Hà Nội gió mùa (Nhà hát Cải lương VN), hai vở Cánh chim trắng trong đêm (Nhà hát Chèo Hà Nội), Những người con Hà Nội (Nhà hát Kịch Hà Nội) được trao thưởng vở diễn xuất sắc nhất.

Bên cạnh đó, ban tổ chức còn trao 19 huy chương vàng, 23 huy chương bạc cho các cá nhân nghệ sĩ.

Sáu vở diễn khác tham gia liên hoan gồm Ðạo học (Nhà hát Kịch VN), Nhà có ba chị em gái (Nhà hát Tuổi Trẻ), Bản danh sách điệp viên (Ðoàn kịch nói Công an nhân dân), Ðường đua trong bóng tối (Nhà hát Cải lương Hà Nội), Ðô đốc Bùi Thị Xuân (Nhà hát Tuồng VN) và Lời nói dối cuối cùng (Nhà hát Chèo VN).

Có thể thấy bên cạnh những vở diễn đậm chất tuyên truyền thì vẫn có một số vở không kém phần gai góc khi xoáy sâu vào những nỗi đau trong lòng Hà Nội như Hà Nội gió mùa, Ðường đua trong bóng tối, Lời nói dối cuối cùng.

PGS.TS Trần Trí Trắc, chủ tịch hội đồng giám khảo, nhận xét:

“Chín vở diễn tham gia liên hoan lần này đã đề cập nhiều vấn đề thời sự của đời sống xã hội… ở những thời điểm xa xưa và hôm nay, chiến tranh và hòa bình, lịch sử và hiện tại, truyền tải những thông điệp có giá trị về nhân sinh, lẽ sống mang tính triết học, tính thời sự và tính nhân văn.

Các nghệ sĩ, đạo diễn… đã có nhiều cố gắng với nhiều mảng miếng sáng tạo để có những khoảnh khắc sân khấu lay động lòng người”.

Cả chín đêm diễn ra liên hoan, các rạp Công Nhân, Hồng Hà, Tuổi Trẻ, Ðại Nam, Kim Mã… đều kín ghế.

Khán giả thủ đô đã thêm một lần được thưởng thức những đêm kịch hay về đề tài Hà Nội. Còn các nghệ sĩ thì được dịp “cháy” hết mình với nghệ thuật vì tình yêu Hà Nội.

Ngay sau Liên hoan sân khấu thủ đô lần thứ nhất, vở cải lương Hà Nội gió mùa nhận nhiều suất diễn mới: suất diễn vào tối 8-10 tại Học viện An ninh nhân dân, Hà Đông, Hà Nội và ba suất diễn các tối 10, 15, 16-10 tại Nhà văn hóa tỉnh Bắc Ninh.

Đ.T.

Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà – Phạm Tôn

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

PHẠM QUỲNH, NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NHÀ

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2014), chúng tôi xin mời quý bạn đọc câu chuyện về một con người Hà Nội gốc (bốn đời) giữa những người ruột thịt và những người thân thiết như người nhà.

Bài này đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 (56).2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà.

—o0o—

Cụ tổ của Phạm Quỳnh là Cử nhân Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854). Cụ có hai đời vợ và một bà thiếp. Nhưng đến năm bốn mươi tuổi mới sinh được một trai là ông Khiêm Trai Phạm Ngạch. Ba mươi hai tuổi, ông Ngạch đỗ tú tài, có hai con đều chết khi mới mười bảy tuổi. Nên khi ông mất sớm, đã cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự gia sản của cụ Phạm Hội để lại: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, do học trò xây dựng nên để thờ thầy[1]

Ông nội lại chỉ sinh được một trai là Phạm Hữu Điển (thân phụ Phạm Quỳnh), rồi bị cảm mà chết trẻ ngay khi vừa làm xong bài thi, cho vào ống quyển còn đeo ở cổ, chưa kịp nộp. Sau được xét chấm đỗ tú tài. Phạm Hữu Điển cũng đỗ tú tài, sinh được Phạm Quỳnh mới chín tháng thì vợ ra đi mãi mãi, mẹ phải bế cháu nội sang hàng xóm xin bú chực và mớm cơm cho ăn, rồi sớm khuya chăm sóc tận tình khi cháu bị đậu mùa. Mãn tang vợ ít lâu, ông Điển tục huyền, sinh được một trai nữa, đặt tên là Phạm Bái. Năm Phạm Quỳnh lên chín, thì ông mất; sau đó chú bé Bái cũng chết yểu. Bà vợ kế còn trẻ, đi bước nữa. Phạm Quỳnh thơ dại sống với bà nội và cụ Tú, vợ ông Ngạch, người cho gia đình thừa tự. Và ông đã lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc chu đáo của hai bà cụ nghèo khổ, vắt kiệt sức tàn gìn giữ giọt máu hiếm hoi của cả dòng họ. Côi cút, cô đơn từ nhỏ, Phạm Quỳnh tha thiết quý mến từng người ruột thịt thân yêu của mình. Điều đó ăn sâu vào tiềm thức của ông. Suốt đời ông yêu thương chăm sóc những người thân như luôn e sợ có thể có ngày ông lại mất họ…như đã từng mất mát quá nhiều từ thuở lọt lòng.

Cụ Tú và cụ Cả là bà nội Phạm Quỳnh, sống trong cảnh gieo neo, chật vật, bòn từng quả táo, trái bồ hòn, ít rau cỏ lèo tèo trong vườn sau nhà và buôn bán lặt vặt nuôi cháu khôn lớn[2]. Đến năm mười sáu tuổi, Phạm Quỳnh đi làm, đời sống gia đình mới bớt khó khăn. Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extrême Orient), Phạm Quỳnh đi qua một cửa hiệu bán đồng hồ, bao giờ cũng dừng lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt xinh xắn bày trong tủ kính, thèm thuồng mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi ông nhận thêm việc dạy tiếng Việt tính theo giờ cho một vài người Pháp ở trường, thu nhập có khá hơn, ông mới dành dụm mua cho mình chiếc đồng hồ đúng như thế, ở hiệu ấy, và giữ luôn bên mình như một vật báu suốt nhiều năm ròng, kể cả khi đã trở thành Thượng thư triều đình Huế[3]

Hồi trẻ, say mê văn minh Pháp, nên khi hai bà cụ bảo về quê thăm và sửa sang phần mộ ông cha thì ông từ chối không đi, nói là: “Người đã mất rồi thì nên để cho người ta yên”; cho là: “Người mất rồi thì kỉ niệm để trong lòng là đủ”. Nhưng đến khoảng năm 1915, khi ông chừng hai mươi hai tuổi, bà cụ Tú qua đời, thì ông lại giữ đúng lễ xưa, khiến Hoàng Đạo Thuý, người bà con kém ông bảy tuổi, cũng là người say mê văn minh Pháp phải ngạc nhiên: Đầu đội mũ dứa, tay chống gậy trúc, đưa tiễn cụ đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng ở cánh đồng Bạch Mai, cạnh một bờ rào[4]

Từ nhỏ ở Hàng Trống, cho đến sau này về Hàng Da, rồi vào Huế, Phạm Quỳnh bao giờ cũng giữ nguyên nếp kê bàn học và làm việc dọc trước bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ, có đặt những bài vị ghi danh các vị bằng chữ Hán và sau này, còn đánh số thứ tự để khi giỗ vị nào thì vợ con theo lời ông bảo dễ dàng lấy đúng bài vị vị đó đặt ra trước, tiện chuẩn bị bày biện bàn thờ. Ông rất trọng kị giỗ gia tiên. Khi cỗ bàn đã bày xong thì ông khăn đóng áo dài, trịnh trọng thắp nhang khấn vái, sau mới đến vợ và các con vào lễ. Ông còn kể cho vợ và các con về tiểu sử vị giỗ ngày hôm đó và thường dạy các con: “Phải làm sao cho gia đình mình trong như thuỷ tinh, không chút bụi mờ; giữ gìn đạo đức, nền nếp sao cho khỏi hổ với vong linh các cụ[5]

Với người khuất núi còn như vậy, Phạm Quỳnh càng yêu kính hơn những người trên còn sống. Chính vì thấy cụ Tú quá già, cụ Cả tuy còn khoẻ nhưng tuổi cũng cao mà hai cụ ngày đêm vẫn vất vả vì mình, cho nên đi làm được một năm thì ông lấy vợ là cô Lê Thị Vân, để có người đỡ đần hai cụ. Ông thường cùng vợ về quê ở thôn Nhân Thục làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh[6] thăm mẹ vợ, thường gọi là cụ Ký (do ông chồng làm ký lục, bấy giờ đã qua đời), thăm các cô em vợ là Hợp, Mai và cậu út Tốn. Chính những lần về quê vợ này, ông ra đồng xem bà con nông dân làm lụng mà đã ghi được biết bao câu ca dao tục ngữ dân ca hay, tăng thêm đáng kể vốn từ ngữ dân tộc của ông.[7] Hồi đã khá giả ông nói với cậu Tốn là muốn biếu bà mẹ vợ một ngôi nhà, hỏi có muốn lấy nhà ở Hà Nội cho tiện việc học hành làm ăn sau này của các em không, thì cậu Tốn trả lời là anh chị cho thì tùy anh chị thôi. Thế là ông bàn với vợ, bà bảo: “Cứ làm cái nhà to ngay giữa làng, chớ làm ở Hà Nội, dân làng có mấy ai ra Hà Nội đâu mà biết”. Rồi cho dỡ ngôi nhà gỗ còn tốt đi để xây ngôi nhà mới tại làng, đến nay (năm 2000) vẫn còn.[8]

Cô Vân có em gái là Hợp, nhà quen gọi là cô Nhỡ, bởi dưới cô còn một em gái nữa là cô Mai. Chị đi lấy chồng bấy giờ đã là nhà báo nổi danh ở Hà Nội, còn em vẫn ở quê làm ruộng, mò cua, bắt ốc, hái rau,…Có khi nhớ chị, cô đem những thứ ấy sang tận Hà Nội, lên bán ở chợ Hàng Da ngay gần nhà chị để tiện ghé thăm. Bà chị xấu hổ vì thấy em gái ăn mặc lôi thôi lếch thếch, lại còn quang gánh, thúng mủng, nên thấy mặt là thường đuổi về ngay. Nhưng những lần gặp ông thì thật là may. Ông mở cửa, đi thẳng vào nhà như “những nhà nho chân chính”, không thấy em vợ đứng cạnh cửa. Khi cô đánh tiếng chào, thì ông mừng rỡ, vồn vã hỏi thăm buôn bán thế nào, mẹ và các em bên nhà có được mạnh khoẻ không, rồi cuối cùng, bao giờ cũng móc túi lấy tiền dúi cho, bảo là: “Dì cầm tạm, đỡ tiền tàu xe”. Sau đó, mới gọi to báo cho vợ biết là có em gái sang chơi. Trước khi về, cô sang chào ông thì bao giờ ông cũng đưa sang vợ, nói là “Cho dì tiền tàu xe và mua quà cáp cho bà và các em bên nhà”[9]

Sau này, năm 1928, ông có mua lại của ông chủ Mỹ Ký (chuyên làm đồ trang sức bằng vàng giả, nổi tiếng một thời) một trang trại ở ấp Thái Hà, nhưng chỉ để mẹ vợ ở cùng gia đình cậu út Tốn; gia đình ông thỉnh thoảng mới về thăm thôi[10]

Phạm Quỳnh rất yêu vợ nhưng tính tình kín đáo, thường ít để lộ ra ngoài. Năm 1909, mới làm việc có một năm, ông đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương Bác Ngữ (Ecole des Langues Orientales), một dịp may hiếm có, thời ấy người trẻ tuổi nào cũng ao ước. Vậy mà ông đã từ chối. Chỉ vì mới …lấy vợ! Sau này, năm 1922 có dịp sang Pháp thăm trường ấy, ông đã ghi lại trong nhật ký: “Giá nhận đi hồi ấy thì Trường Bác Cổ không đề cử ông Phan (Văn Trường- PT ghi chú), và sự nghiệp mình có lẽ lại xoay ra một phương diện khác.” Nhưng ông không hề tỏ ý tiếc… Cũng trong dịp này, sau khi thăm bảo tàng Trocadero và bảo tàng Guimet ở Paris, ông lại ghi: “Thứ bảy, 27-5: Người Tây bình phẩm đàn bà An Nam có thói nhuộm răng đen thường nói rằng: Trông miệng người đàn bà An Nam tối om như cái hố sâu. Người Tây có lẽ lấy thế làm xấu thật, nhưng ta lại cho thế là đẹp. Cô con gái nào nhuộm răng khéo, đen nhánh như hạt huyền, thì tựa hồ như có duyên thêm lên. Tôi xin thú thật rằng, tôi không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng, dẫu đẹp mười mươi mà xem bộ răng đủ chán ngắt rồi. Vì người đẹp là người thế nào? Là một người hệt với hình ảnh một kẻ “ý trung nhân” của mình. Kẻ “ý trung nhân” của người An Nam ta là một người đàn bà da trắng, tóc dài, hình dáng yểu điệu… mà phải có bộ răng đen nhay nháy (chúng tôi nhấn mạnh – PT) mới được. Nếu răng trắng thời hỏng toẹt, không hệt với người trong mộng nữa.” Ông ghi nhật ký đúng như thế. Mà đây lại là nhật ký để đăng công khai đều đặn trên báo Nam Phong của ông! Vì ông đang nhớ vợ, mà kẻ “ý trung nhân” như ông tả ở trên, thì bất cứ ai đương thời quen biết gia đình ông đều dễ dàng nhận ra ngay đó chính là chân dung của vợ ông, cô gái một làng quan họ xứ Kinh Bắc. Ngày 23-6, ông ghi: “mình mặc jaquette, vào hiệu ảnh chụp cái ảnh gửi về nhà”. Đó là bức ảnh đầu tiên ông mặc âu phục, tóc cũng đã cắt mất cái “búi tó củ hành”. Trước thay đổi lớn đó về hình thức, ông thấy cần “thông báo khẩn” cho vợ biết. Ông gửi ngay ảnh đó về[11] với lời đề tặng đúng kiểu của riêng ông “Gửi hiền thê, ở nhà10

Vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn với nhau nên thương yêu, chiều chuộng, giúp đỡ nhau, suốt đời không hề có xích mích gì. Bà Cả Mọc, tên thật là Hoàng Thị Uyên, một nhân vật nổi tiếng về hoạt động xã hội của Hà Nội đầu thế kỷ thứ 20, là cháu bà thiếp của cụ Phạm Hội, lập hội Tế Sinh. Đây là một hội từ thiện chuyên trông con nhỏ cho những người lao động nghèo đi làm ban ngày và còn mở một trại dưỡng lão ở Phúc Yên giúp các cụ già cô đơn, không nơi nương tựa.[12] Phạm Quỳnh coi bà như bà mình, thường đến thăm hội, trò chuyện cùng bà. Bà Cả Mọc nhận vợ Phạm Quỳnh làm thủ quỹ của hội. Cô Vân vốn không biết chữ, nhưng tinh ý lại nhớ dai. Cô chỉ thu, chi rồi cố nhớ thật kỹ, về nhà thuật lại để chồng ghi chép hộ. Hằng tháng, ông phải viết hàng trăm biên lai, chứng từ và vào sổ sách thay cô. Ông viết bằng bút lông ngỗng, chữ nhỏ mà rất đẹp. Các vị trong hội biết chuyện thường gọi đùa ông là “ông thủ quỹ”[13]

Sau này, tuy bận nhiều công việc, ông vẫn cố dành chút giờ rảnh rỗi đem Nhị Độ Mai, Kiều,… ra đọc cho vợ nghe. Vì bà, tuy không biết chữ nho lẫn chữ quốc ngữ nhưng lại rất sành tiếng Việt, thuộc nằm lòng Truyện Kiều và vô số ca dao tục ngữ dân ca…[14]. Tuy không ham, nhưng ông cũng cố học đánh mạt chược mà ông biết bà thích và chơi khá thạo. Chỉ cốt để cùng bà và gia đình tiêu khiển trong mùa mưa xứ Huế.[15]

Còn có bằng chứng nào “hùng hồn” hơn về tình yêu của ông đối với vợ là họ đã có với nhau đến mười sáu mặt con! Ông bà sống với nhau được ba mươi sáu năm, kể từ người con trai cả sinh năm 1911 đến cô con út sinh năm 1938, trong hai mươi bảy năm ấy, ngoài ba người mất từ khi chưa đầy tuổi tôi, cũng còn lại đến năm trai và tám gái. Tuy đông con như thế nhưng hiếm có người cha nào trên đời này lại yêu thương chăm sóc con cái đến như ông. Những người con của ông, ít tuổi nhất nay cũng đã ngót bảy mươi, người lớn tuổi nhất hiện còn sống đã ngoài chín mươi, nhưng không một ai quên được nhưng kỉ niệm về tình thương yêu và sự chăm sóc ông đã dành cho mình. Đông con như thế mà ông vẫn chú ý đến từng người một, và yêu thương chăm sóc các con như nhau, không hề có sự “trọng nam, khinh nữ” hoặc “con yêu, con ghét” như thói thường vẫn vậy. Ông cũng không bao giờ lấy quyền làm cha để bắt các con phải theo ý mình, mà chỉ cảm hoá bằng tình thương yêu và lẽ phải mà thôi. “Dĩ thân vi giáo” là cách giáo dục của ông. Ông bao giờ cũng thân thiết, gần gũi bầy con đông đúc, nhiều vẻ.

Các con ông gọi cha bằng Thầy, gọi mẹ bằng Me và xưng là Em. Có lẽ là do ông gọi vợ theo kiểu TâyMe (Mère) , còn bà thì gọi ông theo kiểu taThầy nó. Và cả hai đều quý các con, thường gọi nựng khi còn nhỏ là Em, lâu ngày hình thành nếp xưng hô độc đáo của riêng gia đình ông.

Mười sáu tuổi lấy vợ thì mười bảy tuổi ông có con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Theo lệ cũ: tên con trai suy từ tên cha ra, đã có cây quỳnh tất phải có cành giao. Hai năm sau, vợ ông sinh một bé gái trắng nõn nà như cọng giá, nhà bèn đặt tên là Giá, ông cũng chấp nhận. Hai năm sau nữa, lại một bé gái ra đời, cứ ngày ngủ đêm thức, nhà lại đặt luôn cho tên là Thức, ông lại cũng chấp nhận, cho làm khai sinh như thế. Sự dễ dãi này cũng dễ hiểu, người thời ấy thường không coi trọng việc đặt tên cho con gái, vì sau này lấy chồng thì sẽ lấy tên chồng thôi. Nhà số 1 phố Hàng Trống là nơi chôn nhau cắt rốn của ba anh em. Sau này, khi đã là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong, dọn về ở số 5 phố Hàng Da, các con sinh ra đều được ông chọn đặt tên cẩn thận. Trước chuyến đi Pháp năm 1922, ông có thêm ba con, một trai là Phạm Bích, hai  gái là Hảo và Ngoạn. Mới hai mươi chín tuổi, ông đã sinh đến sáu con.[16] Chỉ đọc những dòng ông viết trong Pháp du hành trình nhật ký đăng trên báo Nam Phong năm ấy, cũng thấy được ông thương yêu các con đến thế nào

Thứ ba, 20-6: Chánh Công ty rượu Đông Pháp mời cơm trưa…Dự tiệc… còn có ông em ruột… bà em dâu và hai đứa cháu gọi ông bà bằng bác. Hai thằng bé ngộ quá, mình chơi đùa với chúng nó lại càng thêm nhớ đến lũ con ở nhà.” Phải, ở nhà ông cũng có hai thằng bé là Giao và Bích mà…

Thứ sáu, 23-6:…vào hiệu ảnh, chụp cái ảnh gửi về nhà”.[17] Ông gửi ảnh ấy về thì bà lại gửi sang cho ông bức ảnh ông mặc áo gấm bế bé gái Ngoạn. Ảnh chụp trước lúc ông đi xa. Ai ngờ, sau đó ông diễn thuyết đến bốn bận, có lần ở cả Viện Hàn Lâm Pháp, khiến các báo Paris xôn xao lên, tranh nhau đăng bài nói của ông, còn xin cả ảnh để đăng kèm cho thêm sức thuyết phục. Bấy giờ, tuy mới chụp ảnh mặc âu phục gửi về nhà, nhưng ông lại không dùng ảnh ấy, mà đưa đăng bức ảnh mặc áo dài khăn đóng, đang bế con gái mới vừa mấy tháng. “” Phạm Thị Ngoạn, sau này là tiến sĩ đại học Sorbonne Paris với luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong) nghiên cứu về sự nghiệp chủ yếu của đời ông, vẫn luôn giữ bên mình bức ảnh đó, coi như báu vật quý nhất đời mình. Bà nắn nót đề sau ảnh dòng chữ: “Tôi đã có mặt trên báo chí Paris từ năm 1922”. Năm 1921 là năm sinh bà Ngoạn

Thứ bảy, 24-6: cơm trưa rồi đi chơi cửa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.” Thế là đang sống giữa Paris phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, lòng ông vẫn hướng về quê nhà; ông vẫn nhớ là sắp đến Tết Trung thu, và càng nhớ các con.

Thứ năm, 29-6: Năm giờ chiều mới ở vườn bách thú ra, trước khi lên xe, mua một mớ cartes postales (bưu ảnh) các giống thú lạ để gửi về cho các trẻ nhỏ ở nhà. Nào là sư tử, nào là hổ báo, nào là hươu nai, nào là vượn khỉ, mỗi cô mỗi cậu được mấy con giống, xem mà tranh nhau ỏm tỏi! Còn cái con nai cao cổ kia, chắc anh chị nào cũng thích, ta phải mua đến nửa tá mới đủ. Nửa tá là đúng, bấy giờ ông có vừa đúng nửa tá…con, hai trai bốn gái, kể cả cô mới sinh mấy tháng trước khi ông đi.

Và rồi, “Thứ hai, 17-7: đi vào vườn Luxembourg. Vào đến giữa vườn, trông cái cảnh mới đẹp sao!…Nhưng đẹp nhất là cái cảnh mặt trời về tây, bóng dương đã xế, mây vàng ngẩn ngơ, thật là Trời tây bảng lảng bóng vàng

Không gì đẹp bằng góc trời đó, mà cũng không gì buồn bằng đám mây đó. Vì trông mây, lại sực nhớ đến nhà: Lòng quê gửi đám mây vàng xa xa. Mến cảnh nhớ nhà, nhớ nhà mà mến cảnh, trong lòng lại càng ngổn ngang thêm nữa. Trời vừa sập tối, lính canh vườn đã nổi trống để giục khách tháo lui. Lủi thủi bước ra, đi thẳng về trọ…mãi canh khuya vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Từ ngày sang đây đến giờ, đến hôm nay, mới thấy buồn là một, thật là: Lạnh lùng thay giấc cô miên”[18]

Ông nhớ nhà, nhớ vợ và các con là phải. Biết bao việc hằng ngày trong gia đình gắn bó với ông. Ở nhà, bữa ăn nào các con trai cũng ngồi bàn ăn cùng thầy, các con gái thì ngồi sập ăn cùng me. Thỉnh thoảng có thì giờ, ông cùng các con đi xem phim, cứ mua bốn năm vé, mấy cha con cùng ngồi xem. Thời ấy, phim câm, thỉnh thoảng có chiếu chữ Pháp trên màn ảnh. Ông đọc rồi giải thích cho mấy anh chị em, cứ truyền khẩu nhau mà nghe. Khi có kịch cải lương hoặc vở chèo nào hay, thì ông mua vé cho vợ đi xem cùng các con.[19]

Sáng sáng, ông dậy sớm, đun nước pha cà phê, không phải để ông uống mà là dành cho các con. Ông mua sẵn từng chai lít dầu cá (thứ thuốc bổ tốt nhất thời ấy) cho lũ trẻ. Mỗi sáng, gọi các con đến xếp hàng, tự tay ông rót từng thìa dầu cá cho vào chén cà phê nhỏ, đưa cho từng đứa uống, rồi bảo lau miệng bằng giấy bản ông để sẵn bên bàn, sau đó ăn xôi, đi học. Trước khi ăn cơm, ông bảo các con rửa tay xà phòng trong chậu đặt gần bàn ăn. Ông lo chăm sóc các con như thể sợ vẩn vơ là có thể lúc nào đó, ông sẽ bị mất một đứa, mà đứa nào ông cũng quí, cũng yêu với tất cả tấm lòng! Vậy mà, ông đã phải gánh chịu tai hoạ đó. Không phải chỉ một lần…

Cô con thứ bảy mất lúc mới được nửa năm, còn cô thứ chín cũng chỉ sống với ông vẻn vẹn có chín tháng. Cả hai đều trắng trẻo, xinh xắn. Ông mời thầy thuốc người Pháp là Piquemal đến tận nhà chạy chữa hằng ngày mà vẫn không sao cứu được. Ông đi bộ theo chân kiệu tang bé nhỏ, đưa các con đến tận mộ. Vậy mà đêm về, có lần đang ngủ ông bỗng hốt hoảng choàng dậy, vội vã chạy sang buồng vợ, tưởng như nghe thấy có tiếng con nhỏ khóc. Ông vốn cận thị, lại không kịp đeo kính, nên lao cả đầu vào cửa kính mới bừng tỉnh, rồi thở dài, lủi thủi về lại giường nằm, trằn trọc cho đến sáng. Con gái đầu của ông, cụ Phạm Thị Giá, đến năm ngoài tám mươi tuổi, vẫn còn nhớ như in trong óc cảnh tượng này.

Năm 1926 ông bà lại sinh một gái. Ông quyết định đặt tên con là Hoàn và nói rằng: “Đây là trời “hoàn” lại, thay cho hai người con gái đã mất”. Bé Hoàn được ông bà yêu chiều đặc biệt. Bữa cơm thì cho ngồi ghế mây cao ở giữa, ông một bên, bà một bên. Ông hỏi: “Em yêu thầy hay me?”. Khi cô bé trả lời: “Em yêu thầyme”, thì bà lại hỏi: “Em yêu me hay thầy?”. Và cô bé đáp: “Em yêu methầy!”. Ông như muốn nhìn thấy qua hình hài bé Hoàn cả hình bóng hai con gái ông rất mực yêu thương nhưng mệnh yểu.

Nhưng định mệnh trớ trêu vẫn bắt ông phải đau khổ vì mất con một lần nữa. Sau bé Hoàn, bà lại sinh cho ông một bé gái, đứa con thứ mười một của ông. Thấy con gái xinh xắn, nhỏ nhoi, ông mới đặt tên cho em là Yến. Bấy giờ có nữ thi sĩ Pháp là bà Jeanne Duclos Salesse mến phục tài ông, thường lại nhà chơi, thấy cháu bé mới sinh, hỏi tên, rồi làm tặng một bài thơ, có câu:

Xin chào Chim Yến Nhỏ, đã khéo chọn hình mẫu từ những nét của mẹ em xinh đẹp, để ngời sáng lên như một viên kim cương, ơi Chim Yến”

Nhưng mới được năm tháng tuổi thì em mắc bệnh hiểm nghèo, chữa chạy chăm sóc thế nào bệnh cũng chẳng hề thuyên giảm, cứ ngày một nặng lên. Bé Yến suy kiệt, héo hon dần ngay trước mắt ông. Nhiều đêm, ông bế con gái nhỏ, yếu ớt như cái giải khoai, để em gục đầu vào vai mà nhẹ nhàng đi quanh bức tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng muốt, cao chừng tám mươi  phân, cổ tượng ông có đeo cho một chuỗi hạt san hô đỏ, trước tượng, đặt một lư trầm thơm ngát. Ông cứ đi như thế suốt đêm, bế con vác vai, miệng khe khẽ ngâm nga những câu thơ cổ, mong ru em ngủ, giấc ngủ mong manh, chập chờn. Nhưng rồi, việc ông lo sợ nhất vẫn cứ đến, Chim Yến Nhỏ lại cũng bỏ ông mà bay đi. Sau khi tác giả bài thơ tặng em về Pháp được một tháng.

Nhiều năm sau, khi được tin bà Salesse mất, ông có làm bài tưởng niệm, trong đó có câu:

Bà Jeanne Duclos không còn nữa! Kỉ niệm về bà gắn bó với một sinh linh nhỏ nhoi thân thiết với tôi, sau khi bà lên đường một tháng, đã bay về Trời; nơi ấy, chắc là bà sẽ gặp lại em

Ông vẫn không sao quên được tổn thất lớn lao mình đã phải chịu đựng năm ấy. Mất một đứa con, là ông đứt một khúc ruột

Giữa hai cô con yểu mệnh, ông được một trai khôi ngô, mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong “nhị thập bát tú” (sau này sẽ là Giáo sư nổi tiếng về lão khoa, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, và từng được bầu làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Dương quê hương ông, với số phiếu cao nhất). Sau Chim Yến Nhỏ, ông lại được thêm một trai nữa. Cậu này thay chỗ bé Hoàn trong bữa ăn gia đình, được ngồi giữa ông bà. Ông đau dạ dày, quanh năm chỉ ăn xôi với ít thịt gà thịt lợn kho. Bữa xôi nào, ông cũng chỉ xắn ăn chung quanh, để lại giữa đĩa một cái “cù lao” nhỏ, dành cho bé Tuyên. Cái cung cách để dành lại cho con một chút thức ăn đó, ông có đã lâu. Cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ: “ Có đêm, tôi ngủ đã lâu, tỉnh dậy, thấy bên bàn giấy thầy đèn vẫn sáng. Tôi thương thầy làm việc quá khuya, mở cửa sang, thì thầy hỏi: “Con ngủ rồi à, sang đây ngồi chép cho thầy.” Tôi ngồi vào bàn viết và thầy ra ngồi ghế xích đu, cầm quyển sách, dịch và đọc thẳng như người ta đọc chính tả cho tôi viết, đến mỏi cả tay. Đêm càng khuya, thầy càng tỉnh táo và giọng đọc vẫn rõ ràng. Sau chừng hai tiếng đồng hồ, tôi vừa mỏi tay, vừa buồn ngủ thì thầy mới như chợt nhận ra, và bảo tôi cắt cam cho thầy xơi…Cam bổ làm sáu, thầy xơi bốn miếng, còn hai miếng, bảo tôi ăn. Thầy còn nói vào mắc áo có cái gi-lê trắng của thầy, trong túi có gì thì thầy cho. Tôi vào lục túi, được mấy hào lấy làm sung sướng lắm, đó là thầy thưởng công cho tôi”.[20]

Sau đó, ông bà còn sinh hai gái nữa, đặt tên là Diễm (tên khai sinh bị ghi nhầm là Giễm, không sửa được!) và Lệ; chỉ bằng vào hai cái tên thôi, cũng đủ biết hai cô xinh đẹp dường nào. Rốt lòng là một trai tên Tuân, một gái út tên Viên, có thể là do khi sinh ra cô tròn trặn, mà cũng có thể ông cho đàn con đông đến như vậy là “viên mãn” rồi.

Bà Phạm Thị Hoàn còn nhớ: “Vào Huế tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh tay trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai, chóng nhớn, vươn vai, chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến thầy tôi “tỏ tình” với các em bé, nên cũng yên chí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy”.[21] Ông vẫn yêu mến, chăm sóc các con hết lòng, dù đó đã là các con thứ mười bốn, mười lăm, và mười sáu của ông.

Ông thường nói với các con là mình không có tuổi thanh niên. Trong thời gian còn làm báo, đôi khi ông cũng có lần cùng bạn bè tới các ca lâu tửu điếm, thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán thời ấy cho phép, người ta hỏi ông có “chấm” một cô đào nào không thì ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy, nên không bị cám dỗ”.[22]

Ông không bao giờ cáu giận, to tiếng với ai cả. Bực mình lắm, cũng chỉ thấy ông tặc lưỡi là cùng. Ông không bao giờ dùng quyền uy hay hình phạt. Con trai cả ông đã kết duyên với con gái ông bạn văn thân thiết nhất của ông, sinh được hai trai, thì lại đem lòng yêu thương và lấy một cô gái Huế “tân thời”, rồi đưa nhau vào tận Sài Gòn sinh sống như dân lao động, khi ông đã là mệnh quan của triều đình. Ngày giỗ kị, các quan mũ áo chỉnh tề đã tề tựu đông đủ, mới thấy cậu cả về nhà, mặc bộ đồ tây vàng, thời ấy chỉ những người phát thư mới mặc, đi thẳng vào giữa hàng các quan đang khúm núm, chìa tay ra suồng sã bắt tay từng người và chào hỏi tự nhiên. Tin đồn: “Cậu cả con cụ Thượng vào Sài Gòn mở tiệm cơm đeo bị cói đi mua thịt bò ở chợ Bến Thành” khiến không ít người dị nghị: “Sao cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú Ba Tàu!” Nhưng ông chẳng có hình thức trừng phạt gì, cũng không trách mắng con trai. Ông vẫn thương và giúp đỡ tận tình cả con trai với cô vợ cả và hai con trai, lẫn cô vợ lẽ và ba đứa con, không hề phân biệt đối xử, coi cũng như các con cháu khác của ông vậy, khiến cho gia đình tám con người ấy vẫn sống hoà hợp lâu dài mà không đi đến hận thù, đổ vỡ. Đương thời, một thạc sĩ y khoa trẻ, tốt nghiệp từ Pháp về Huế, do yêu thương và quyết xin cha cho lấy một cô gái Huế “tân thời” người Hoàng Tộc, nhưng trái ý cha, đã bị bắt nằm sấp trước bàn thờ tổ tiên, trên mông đặt một cái roi mây “để tổ tiên trừng phạt tội bất kính, làm bại hoại gia phong”, ngay trước mặt bà con dòng họ, làm xôn xao xứ Huế một thời.[23]

Ông theo dõi tỉ mỉ và tạo mọi điều kiện cho con cái phát huy thiên hướng của mình, không hề áp đặt, kể cả trong học hành lẫn vui chơi, giải trí. Hồi đi công cán Quảng Trị, ông mua hẳn một ngôi nhà gỗ lớn, rồi cho tháo dỡ về lắp trong khuôn viên biệt thự Hoa Đường của gia đình, giữa vườn cây cỏ hoa lá xanh tươi. Chung quanh nhà, chạy một hàng hiên tráng xi-măng xanh mát rượi. Kế đến là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Có lẽ vì nghĩ đến bầy con cháu đông đảo đang trưởng thành mà ông đã chọn mua ngôi nhà gỗ lớn này. Đúng là một Thiên Đường của lũ trẻ, giữa thiên nhiên thoáng mát. Con trai con gái lớn ông, mỗi người một phòng riêng. Cậu cả thì thích ghi-ta phím lõm, chơi các bản vọng cổ cải lương; cậu hai lại thích ghi-ta cổ điển phương tây; cậu ba ham đàn phong cầm; cậu tư mê cả ghi-ta lẫn phong cầm, sau này sẽ thành nhạc sĩ nổi tiếng của nước ta là Phạm Tuyên, tác giả hơn sáu trăm ca khúc, đặc biệt là bài  Như có Bác trong ngày đại thắng mà hầu như người Việt Nam nào cũng thuộc…Có lần rỗi rãi, ông xuống thăm nhà gỗ, thì gặp Phạm Bích con trai thứ hai của ông đang đệm đàn và hát cùng Hoàng Gia Lịnh bài Việt Nam bất diệt anh này mới sáng tác đưa bạn xem thử. Ông khen hay, bảo cứ hát tiếp đi, rồi đứng yên nghe hai người hát cho đến hết bài, mới đi chỗ khác. Kỉ niệm ấy, đến năm ngoài tám mươi tuổi cụ Lịnh vẫn còn nhớ rõ.[24]

Lần khác, muốn giới thiệu các con với một bạn người Pháp, ông đưa bạn xuống nhà gỗ, tình cờ gặp đúng lúc bọn trẻ đang tổ chức “chiếu phim” với máy chiếu tự làm lấy bằng bìa và phim bằng giấy bóng kính do Phạm Tuyên vẽ. Âm nhạc do Phạm Vinh, đính tôn của ông (sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là nhạc sĩ quân đội, trưởng Đoàn Văn công Trường Sơn) tùy cảnh trong phim mà mở các đoạn nhạc thích hợp có trong những đĩa hát cũ, bằng kèn hát lên dây cót. Các cháu nhỏ, đứa lo “soát vé”, đứa lo “đưa chỗ” cho khách. Ông khách người Pháp được xem buổi chiếu phim ấy vừa thích thú vừa thương lũ trẻ, sau này đã gửi tặng các con ông một máy chiếu phim 8mm hiệu Pathée, thật ngoài mong ước của lũ trẻ. Còn các cô gái thì đan len, thêu thùa hoặc học hát cũng là ở nhà gỗ cả. Các con cháu ông có thói quen hát nhiều bè, chỉ cần một người cất tiếng hát là có người khác phụ hoạ, hát đệm theo luôn, có khi đến ba bốn bè. Về thể thao, các con ông ham bơi lội, quần vợt, săn bắn và câu cá ở ngay con sông nhỏ An Cựu trước cổng nhà. Hầu như ai cũng biết vẽ. Và tất nhiên, ham đọc sách báo, thích thơ văn. Gia đình có cả một thư viện đồ sộ hàng vạn cuốn sách, tủ sách kín tường, cao đến tận trần nhà. Trong nhà cũng ra được một tờ Gia đình tuần báo, có đủ cả “bản báo phóng viên”, “biên tập”,  “hoạ sĩ trình bày”…thuật lại những diễn biến trong đại gia đình tuần qua, giới thiệu các món ăn kỳ lạ, và có phóng sự thuật cả chuyện “có tiếng ai đó khóc trong đêm khuya…” để trêu chọc nhau cho vui. Hội trường nhà gỗ còn là nơi các thầy dạy kèm được ông  mời đến dạy các con cháu nhỏ học buổi chiều và buổi tối. Hầu như ông không phải nhắc nhở con cháu về việc học, tự chúng có lòng ham học, ham hiểu biết rồi.

Vào tuổi xế chiều, Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập vẫn thấy cần chia sẻ một ký ức tuổi thơ với đông đảo cử tọa của Ngày Phạm Quỳnh (năm 1999). Một hôm cậu Tập, học trò lớp nhất tiểu học được bạn cùng bàn là Xương mời đến chơi biệt thự Hoa Đường. Cậu đến thì bị hai lính lệ gác cổng đuổi. Hôm đi học, bèn nói cho Xương biết. Chủ nhật sau, cậu đi câu cá ở sông An Cựu, qua cổng thì hai anh lính hôm trước rượt theo, lễ độ Mời vào chơi với cậu Xương Cụ Thượng muốn gặp cậu. Cậu vào thì Xương giới thiệu với bác mình là cụ Thượng. Giáo sư kể: “Thong dong, hiền từ, tế nhị không nhắc đến chuyện cũ, cụ Phạm thăm hỏi gia đình tôi và dẫn vào thư viện xem sách. Sách, đâu cũng sách là sách… Cụ giảng cho biết thế nào là loại sách quí…”[25]

Con người cô đơn là ông luôn tìm thấy niềm vui, nguồn sống trong bầy con cháu đông đảo, lạc quan, năng động. Ông như thấy có trách nhiệm với cái bộ lạc mà ông đã sinh ra ấy, đến mức ông ngần ngại trước tất cả những quyết định gì có thể gây tổn thất cho bộ lạc của mình, làm “sẩy đàn, tan nghé”, ông e ngại tất cả những gì quyết liệt, mang tính bạo lực. Những việc ông dồn tất cả tâm sức vào làm cũng chỉ là để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân, cho đất nước sau này, mà ông còn chưa biết chắc là sẽ nên làm thế nào để đạt được. Ông chỉ cố gắng làm những gì mà sức mình có thể làm được thôi. Có lẽ vì thế mà ông ít tâm sự cùng vợ con việc mình làm, cứ lặng lẽ âm thầm làm một mình, chẳng dám lôi kéo ai, kể cả những người thân nhất của ông đi vào con đường của mình, mà ông biết là có không ít chông gai, lại khó được chia sẻ. Ông tìm nguồn an ủi, chỗ dựa tinh thần chính từ trong bộ lạc thân yêu của mình, để tiếp tục sống mà làm việc. Có lẽ ông nghĩ: không nên làm cho con cháu sớm phải bận tâm với những việc ngoài tầm suy nghĩ của chúng; cứ để cho chúng sống hồn nhiên được lúc nào hay lúc ấy; bởi cái gì phải đến, tất sẽ đến đúng lúc cần phải đến thôi…Ông vốn là người cho thì thật nhiều, mà nhận thì chẳng bao nhiêu.

Ông cũng không nệ “môn đăng, hộ đối” như lề thói đương thời. Cô con cả ông được một thanh niên nghèo người Huế đem lòng yêu thương. Anh là con một quan huỵên thanh liêm về hưu trước tuổi, tự làm việc nuôi thân ăn học thành tài, lại thay cha nuôi cả gia đình đông đúc, sau này là một trong tám vị sáng lập trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng ở Hà Nội. Thấy người có đức có chí, khi con gái thuận tình, thì ông cũng bằng lòng gả cho. Ông trọng ông thông gia là quan huyện thà về hưu ở lứa tuổi bốn mươi còn hơn là theo lệnh Tây đi lùng bắt những “người làm quốc sự”mà mình cho là lương dân. Một lần sinh nhật ông, ông này đến dự, có cho người mang theo một mâm lễ lớn, phủ vải đỏ. Ông đưa hai tay đón nhận, cảm ơn là Đã cho quà nhiều quá! Và sai người nhà mang vào nhà trong, rồi kính cẩn mời ông thông gia vào bàn thượng khách. Ông không cho khách dự – phần lớn là các quan trong triều và giới thượng lưu trí thức- thấy món quà tặng đó: Chỉ là một buồng chuối tiêu cắt ở vườn nhà![26]

Vợ chồng cô con cả sinh con đầu lòng năm 1932, ông vào tận bệnh viện thăm cháu gái và cho biết là năm ấy, ông sẽ vào làm quan trong Huế. Ông vuốt má cháu ngoại đầu tiên mà nói: “Sang năm, vợ chồng cho cháu về Huế thì tiện, có bên nội lại có cả bên ngoại nữa.” Sau đó, cứ mỗi lần gia đình này về Huế, ông lại cho lái xe ra tận ga đón, rồi đưa thẳng cả nhà về bên nội ở  một thời gian, sau mới cho đón về bên ngoại, ở lại lâu hơn.

Các con ông đều lấy người mình yêu thương, không hề có cảnh “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” như đương thời. Ông yêu quý tất cả dâu  rể, âu yếm tất cả các cháu nội ngoại. Khi ở Huế, những dịp con cháu về đông đảo, cả nhà quần tụ trong biệt thự Hoa Đường rộng lớn, bữa ăn phải đánh chuông báo mới biết mà về cùng ăn. Ông ngồi đầu một bàn dài, ăn xôi, vợ con dâu rể và lũ cháu nội ngoại lớn nhỏ tuỳ tiện chọn lấy chỗ nào thích thì ngồi hai bên bàn, ăn uống trò chuyện vui vẻ. Buổi chiều mát thỉnh thoảng có mụ Mệ người làng An Cựu bán chè đậu ván quen, gánh một gánh đầy vào nhà, là con cháu bu lại, mỗi người một bát, ăn cho nhanh còn thêm bát nữa, chỉ loáng cái đã hết cả gánh hàng. Mụ Mệ cười tươi, phô hai hàng lợi cứng, không còn sót một cái răng nào, giữa tiếng xôn xao của lũ trẻ mời mụ ngày mai lại đến. Con cháu mụ Mệ cũng thường vào Hoa Đường chơi với con cháu ông.

Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình hằng ngày như người nhà. Cho nên, sau khi gia biến, ông không còn, nhưng cụ Hạt, cụ bếp Nguyên, u Nấm, u Viết vẫn giúp việc vợ con ông cho đến tuổi già, tận tình và trung tín. Cụ thợ may Liễn (tên thường gọi là ông Hai Lươn, em ông Cả Trạch), thường xuyên thăm nom, giúp đỡ gia đình cô con cả ông những khi có việc. Các con cái cụ như Sâm, Nhung…thường đi lại, gắn bó thân thiết với cháu ngoại Phạm Quỳnh. Các ông Bồng, Huệ, Thìa, Khoá, Hồ, Gà… vẫn gắn bó như xưa. Năm 1954, Hà Nội giải phóng, hội nghị giáo dục toàn miền Bắc họp lần đầu. Con trai Phạm Quỳnh là giáo viên Khu Học xá Trung ương từ Nam Ninh (Trung Quốc) về nước dự. Buổi tối, họp kín, chỉ toàn Đảng viên. Giờ giải lao, thì có một người cùng họp đến gặp, hỏi có phải là con Cụ Phạm không, rồi tự xưng Tôi tên là Thìa, em anh Khoá đây, thân thiết, không chút e ngại.

Trẻ con đông, lại nhiều cháu trai hiếu động, gây ồn ào, đổ vỡ, hư hỏng này nọ. Nhưng, tuyệt nhiên không đứa nào bị ông trách mắng hay có hình phạt nào cả. Có con cháu quây quần là ông vui rồi.

Vốn là nhà nghiên cứu, ông lập hẳn một quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh nặng mấy cân, hay mắc bệnh gì, tính tình ra sao, lớn lên lấy vợ lấy chồng  tên là gì, năm nào sinh con ông ghi đủ cả[27]

Bà Hoàn, hồi nhỏ ở Huế thường giúp ông các việc vặt như: mở máy hát các điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy, những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần Cung Oán…hay đọc sách cho ông nghe và chuyên cắt móng tay cho ông. Năm gần bảy mươi tuổi, bà vẫn còn nhớ: “Mỗi lần như vậy, thầy tôi lại nói đùa: Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn. Riêng câu đó cũng chứng tỏ thầy tôi luôn luôn dung hoà cái xưa và cái nay”.[28]

Ông yêu quý những người thân của mình và cũng được đáp lại bằng tình cảm kính yêu chân thành, tha thiết nhất.

Năm 1945, sau khi từ quan rút về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường lúc mới năm mươi hai tuổi, ông nghiền ngẫm và miệt mài đọc, dốc tâm huyết dịch những bài thơ Đỗ Phủ mình tâm đắc nhất. Được đúng năm mươi mốt bài thì gửi Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người bạn văn chương thân thiết sành thơ và bắt đầu viết Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút trong một cuốn vở học trò, mới được non năm mươi trang giấy.[29] Tháng sáu năm ấy, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân, được cụ Nguyễn Văn Tố, người đồng sự với ông ngày trước ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, giới thiệu đến thăm ông. Sau này, khi viết bài Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, ông An có thuật lại những lời ông nói bấy giờ: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”…”Hiện thời, tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu, rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học”…” Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này”…”Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào, phong phú hơn xưa…Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.”[30]

Từ lâu, ông đã muốn thoát khỏi quan trường mà không sao thoát được. Năm 1932, nghe tin ông nhận vào Huế làm quan, Hoàng Đạo Thúy đã can ngăn hết lời, nhưng ông vẫn ngây thơ trả lời rằng: “Tôi vào thử một tháng, không làm được gì thì tôi lại ra”.[31] Ông còn nói với nhà báo Nguyễn Vạn An vào tháng 6-1945: “Trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả”.31

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[32] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[33] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường. Rồi ngày 23-8, nghe có lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa huy động nhân dân tham gia mít-tinh tại sân vận động Huế,[34] ông giục con cái chuẩn bị áo quần chỉnh tề, đem cờ nhà may, sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng cùng dân làng An Cựu.

Nhưng rồi, đến trưa ngày 23-8, cùng lúc cuộc mít-tinh lớn diễn ra tại sân vận động, thì có mấy người đi xe hơi đến “đón” ông đi. Cô Hoàn, thường quấn quít bên ông từ nhỏ, vội vàng chạy theo ông, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy thuốc magnésie bismurée cho thầy nhé” (Vì cô vẫn biết mỗi ngày ông phải uống thuốc ấy bốn lần do đau dạ dày). Thì ông quay lại, dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về[35]

Xe chạy, và ông không bao giờ về nữa

Trước cổng  biệt thự Hoa Đường xưa “là chiếc cầu cho các thuyền dọc hay đò ngang ghé đậu nay vẫn như xưa. Người dân quê chân phương không ai bảo ai, đã đồng lòng đặt tên là Bến Cụ Phạm”.[36]

Tháng 10- 2000 – Tháng 4-2006

* Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(56). 2006 với nhan đề Phạm Quỳnh-Người nặng lòng với nhà


[1] Hoàng Đạo Thúy: bản dịch Trích gia phả họ Hoàng Đạo:

-Phụ: Bên Ngoại (Hoàng Đạo Thành soạn, viết)

– Phả ký học trò viết (Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết)

[2] Hoàng Đạo Thuý: Các việc tiếp theo (viết ngày 16-7-1991, tại Hà Nội)

[3] Phạm Thị Giá:   -  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[4] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[5] Phạm Thị Giá:   -  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[6] Theo lời kể của ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này, năm 1999

[7] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[8] Theo lời kể của bà Lê Thị Trung, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này ngày 19-1-2000

[9] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[10] Phạm Thị Giá:    -      Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-          Thư gửi con trai (25-5-1988)

-          Thư gửi em gái (14-9-1992)

[11] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[12] Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa, NXB Văn Hoá – Thông Tin, Hà Nội, 2000

[13] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[14] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[15] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[16] Phạm Thị Giá:  -  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[17] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[18] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[19] Phạm Thị Giá:  -  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

- Thư gửi em gái (14-9-1992)

[20] Phạm Thị Giá:  -  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[21] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[22] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[23] Theo lời kể của bác sĩ Ngô Văn Quỹ, trực tiếp kể cho người viết bài này, tại Thành phố Hồ Chi Minh, năm 1999

[24] Theo lời kể của Giáo sư  Sử  học Hoàng Gia Lịnh, sống ở Paris trực tiếp kể cho người viết bài này.

[25] Nguyễn Phước Bửu Tập – Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá số 50, Mỹ

[26] Theo lời kể của bà Tôn Nữ Việt An, cháu ngoại Phạm Quỳnh, trực tiếp kể cho người viết bài này qua điện thoại (tháng 1-2006)

[27] Phạm Thị Giá:  -  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[28] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[29] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và Di cảo, NXB An Tiêm, Paris, 1992

[30] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23-3-1952

[31] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[32] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[33] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[34] Tố Hữu: Nhớ lại một thời, trích hồi kí đăng trên Tạp chí Văn học, số 8 năm 2000, chương V: Khởi nghĩa

[35] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[36] Phan Kính Đức: Từ Hồ Chí Minh đến Phạm Quỳnh, tạp chí  Sóng, Mỹ

Tháng Mười 3, 2014

Đại hội đại biểu toàn quốc mặt trận tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII thành công tốt đẹp và bế mạc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 10 năm 2014.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VIII THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP VÀ BẾ MẠC

(Trích tin trên trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 28/9/2014

Chiều 27-9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014-2019, thành công tốt đẹp và bế mạc.

(…) Các tham luận tập trung vào các nội dung: Không ngừng củng cố, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên trongBe mac dai hoi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; . Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò của người tiêu biểu, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; Đổi mới hoạt động, mở rộng mạng lưới bạn bè quốc tế, nâng cao hoạt động đối ngoại; Xây dựng cộng đồng có tổ chức thống nhất, đoàn kết, phát triển ổn định, hội nhập với nước sở tại, hướng về quê hương, đất nước…

(…)

Các đại biểu đã thông qua Nghị quyết của Đại hội, nêu rõ mục tiêu hành động trong nhiệm kỳ 2014-2019, đó là: MTTQ Việt Nam tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, góp phần phát triển bền vững kinh tế – xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc của nhân dân.

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, Nghị quyết nhấn mạnh nội dung cơ bản năm Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, bao gồm: Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; Phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh; Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế; Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới”, Đại hội kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam ta ở trong nước và nước ngoài tích cực hưởng ứng thực hiện năm Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng Đảng và Nhà nước tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

—o0o—

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG:

MONG MẶT TRẬN PHẢN BIỆN SẮC SẢO, CHÂN TÌNH

(Trích tin của Lê Kiên trên trang 3 báo Tuổi Trẻ thứ bảy 27/9/2014)

Chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc VN lần thứ VIII “đoàn kết và thành công”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài phát biểu tại phiên khai mạc ngày 26-9 rằng ông mong muốn Mặt trận là người phản biện sắc sảo, chân tình để giúp Đảng và chính quyền tự điều chỉnh.

Bên cạnh biểu dương, khẳng định những việc làm được và vai trò to lớn của Mặt trận, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ ra những mặt chưa làm được, còn hạn chế, bất cập. “Phương thức vận động, tập hợp, xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân vẫn chưa theo kịp những yêu cầu mới. Mặt trận chưa thường xuyên và thiếu cơ chế phối hợp với các tổ chức thành viên trong việc nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Các cuộc vận động, phong trào thi đua có nơi còn hình thức, hiệu quả chưa cao. Vai trò đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận còn hạn chế” – Tổng bí thư nói.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị trong nhiệm kỳ tới, Mặt trận cần quan tâm hơn nữa đến tâm tư, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân phát huy khả năng sáng tạo, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung.

Lanh dao chup anh cung dai bieu“Mặt trận cần phát huy dân chủ, thân ái trao đổi, bàn bạc, bảo đảm sự bình đẳng, tôn trọng, thông cảm lẫn nhau; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những quan điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; làm sao để Mặt trận các cấp thật sự là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội, là nơi mọi người đều có thể nói lên tiếng nói, nguyện vọng của mình, đóng góp trí tuệ, công sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” – Tổng bí thư nhấn mạnh.

Tổng bí thư cũng đề nghị: “MTTQ cần tiếp tục vận động nhân dân tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, củng cố hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh; thực hiện tốt hơn nữa chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các tổ chức đảng và cơ quan chính quyền, bao gồm cả việc giám sát các cán bộ, đảng viên, các đại biểu dân cử, các công chức, viên chức cơ quan nhà nước các cấp; tích cực tham gia chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, làm cho tổ chức đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự là của dân và vì dân; chủ động góp ý kiến với đảng và Nhà nước trong việc hoạch định cơ chế, chính sách, làm người phản biện sắc sảo, chân tình, giúp Đảng và chính quyền tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để lãnh đạo, chỉ đạo tốt hơn”. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

L.K.

—o0o—

Giám sát, phản biện xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đặc biệt quan trọng của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong nhiệm kỳ mới

Đinh Song Linh thực hiên

(Trích bài do Đinh Song Linh thực hiện, đăng trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 26/9/2014)

LTS: Trước thềm Ðại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ VIII, đồng chí NGUYỄN THIỆN NHÂN, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam đã dành cho Báo Nhân Dân bài trả lời phỏng vấn về những thành tựu, kết quả hoạt động của MTTQ các cấp nhiệm kỳ qua (2009-2014) và những vấn đề, nội dung công tác trọng tâm của MTTQ Việt Nam trong nhiệm kỳ mới (2014-2019). Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

PV: Thưa Chủ tịch, giám sát và phản biện xã hội là những nhiệm vụ quan trọng của MTTQ Việt Nam đã và đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội và các tầng lớp nhân dân. Ðề nghị Chủ tịch cho biết, để thực hiện có hiệu quả cao công tác giám sát, phản biện xã hội, MTTQ các cấp cần làm gì?

Ðồng chí Nguyễn Thiện Nhân: Nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội được Ðảng ta quy định tại các văn kiện Ðại hội X, XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và gần đây là các Quyết định 217 và 218, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội và Quy định về MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Ðảng và chính quyền; đặc biệt, đã được quy định tại Ðiều 9 Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013. Việc Ðảng và Nhà nước ban hành các quy định về giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam một mặt phù hợp với vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam, một mặt đáp ứng được mong mỏi của MTTQ các cấp và đông đảo nhân dân, nhận được sự quan tâm, đồng tình và đánh giá cao từ dư luận xã hội. Ðây là những cơ sở quan trọng để MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của mình trong thời gian tới.

Nguyen Thien NhanChúng tôi xác định, đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đặc biệt quan trọng của MTTQ Việt Nam trong nhiệm kỳ tới. Chính vì vậy, Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên phải chủ động phối hợp để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Hiến pháp năm 2013 tới các tầng lớp nhân dân, nhất là những nội dung quy định về MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đề xuất Nhà nước cụ thể hóa các nội dung trong Hiến pháp thành các quy định pháp luật; phối hợp tổ chức các diễn đàn nhân dân, hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử, đa dạng hóa các kênh tiếp nhận, tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân với Ðảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam; theo dõi, giám sát việc giải quyết các đề nghị chính đáng của nhân dân.

Mặt trận chủ động phối hợp chính quyền và các tổ chức thành viên trong công tác giám sát và phản biện xã hội. Theo đó, những vấn đề lớn liên quan đến lợi ích của đông đảo các tầng lớp nhân dân sẽ do Mặt trận giữ vai trò chủ trì, hiệp thương với các đoàn thể, tổ chức thành viên để cùng tham gia. Các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị – xã hội thì các tổ chức chính trị – xã hội chủ động công việc giám sát, phản biện. Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội chủ động đề xuất, phối hợp các cấp chính quyền liên quan lựa chọn giám sát các nội dung, lĩnh vực phù hợp, thiết thực với đời sống nhân dân. Có nhiều hình thức huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân tham gia phản biện xã hội. Ðề xuất bổ sung trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi) quy định cụ thể về giám sát, phản biện xã hội.

Tổ chức góp ý và tập hợp ý kiến của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các dự thảo văn kiện và đề xuất sáng kiến xây dựng Ðảng, xây dựng đất nước vào dịp Ðại hội Ðảng lần thứ XII. Ðề xuất sớm ban hành quy định về việc Ðảng vừa là thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận. Tham gia chuẩn bị và tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, vận động nhân dân thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong bầu cử. Tổ chức các diễn đàn và các phương thức phù hợp để phát huy sáng kiến của nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức ở trong và ngoài nước hiến kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vận động nhân dân chủ động, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Phối hợp đề xuất, xây dựng các cơ chế, phương thức phù hợp phản ánh tới cấp ủy Ðảng, chính quyền và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở ngay tại mỗi địa bàn dân cư, cơ quan, đơn vị. Tích cực tham gia đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là ở cấp xã, nơi giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân. Phối hợp và đề nghị chính quyền cùng cấp thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch những vấn đề nhân dân yêu cầu. Phối hợp với Chính phủ hình thành cơ chế đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của chính quyền cơ sở. Tham gia giám sát thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân, tham gia giải quyết và giám sát các cơ quan chính quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Tiếp tục thực hiện tốt vai trò của Mặt trận trong thực hiện sáng kiến pháp luật, tham gia hoạch định chính sách, xây dựng, tuyên truyền phổ biến và thực thi pháp luật. Tập trung triển khai thực hiện có kết quả Ðề án tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2013 – 2016.

Mặt trận các cấp cần tiếp tục phối hợp thực hiện có hiệu quả chương trình tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo Chỉ thị 23/CT-TTg, ngày 27-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ. Ðồng thời, triển khai các chương trình phối hợp đã ký kết và sẽ ký kết giữa Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam với các tổ chức, các bộ, ngành có liên quan về: giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trong các loại hình doanh nghiệp; giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp; giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ sở khám, chữa bệnh và nhà thuốc ngoài công lập; giám sát việc thực hiện Luật Khoa học và công nghệ và Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế…

Giám sát và phản biện xã hội là việc MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội đã làm nhiều năm nay. Song với Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 và các Quyết định 217-QÐ/TW và 218-QÐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị, trách nhiệm và quyền hạn của MTTQ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội đã được pháp luật hóa ở mức cao nhất, cơ chế thực hiện giám sát và phản biện xã hội được cụ thể hóa, đòi hỏi đóng góp của MTTQ Việt Nam phải cao hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy, MTTQ Việt Nam phải tự vươn lên về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam 84 năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo của Ðảng, sự phối hợp, tạo điều kiện của Nhà nước, sự phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng, tham gia của các tầng lớp nhân dân, MTTQ Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình, triển khai có hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Ðảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

PV: Xin cảm ơn đồng chí Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam.

Đ.S.L.

—o0o—

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, TẬN DỤNG THỜI CƠ, VƯỢT QUA THÁCH THỨC

(Trích bài Xã luận đăng trên trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 26/9/2014)

Hôm nay, ngày 26-9, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Ðình, Hà Nội, khai mạc trọng thể Ðại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ VIII. Với tinh thần “Ðoàn kết – Dân chủ – Ðổi mới – Phát triển”, Ðại hội là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta. Ðại hội là tiếng nói chung của toàn thể đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, đoàn kết, đồng lòng, chung sức, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ðại hội diễn ra trong bối cảnh 5 năm qua, công cuộc đổi mới của đất nước tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Toàn Ðảng và toàn dân phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

(…)

Hiến pháp (sửa đổi năm 2013) nêu rõ: MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Ðảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng khẳng định: Tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân.

Ðể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quan trọng nêu trên, MTTQ Việt Nam cần tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động. Tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Tích cực tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền vững mạnh, góp phần phát triển bền vững kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HÐH, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Tiếp tục đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cùng các phong trào thi đua yêu nước khác. Các cấp ủy Ðảng, chính quyền cần chăm lo, phát huy hiệu quả hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân; phát huy vai trò của MTTQ trong mọi mặt của đời sống xã hội, qua đó tăng cường mạnh mẽ đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo đời sống nhân dân, xóa đói, giảm nghèo…

Ðại hội lần thứ VIII MTTQ Việt Nam diễn ra trong thời điểm lịch sử quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những thời cơ thuận lợi đan xen cùng khó khăn, thách thức. Hơn bao giờ hết, MTTQ Việt Nam có sứ mệnh phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết của hơn 90 triệu người Việt Nam ở trong và ngoài nước tạo nên nội lực ngày càng mạnh mẽ và bền vững để phát triển đất nước, cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý giữ vững hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên toàn thế giới.

N.D.

Trang sau »

The Rubric Theme. Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 27 other followers