Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 18, 2014

Nhà báo Hữu Thọ: Tôi biết anh Phạm Tuyên… – Hồng Thanh Quang

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:15 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần thứ 4 tháng 4 năm 2014.

Nhà báo lão thành Hữu Thọ:

TÔI BIẾT ANH PHẠM TUYÊN (…) ĐỌC BÀI PHỎNG VẤN XONG TÔI CÀNG QUÝ ANH ẤY HƠN.

Hồng Thanh Quang

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Tuyên và đăng bài trên An ninh thế giới cuối tháng tháng 10-2009, nhà báo Hồng Thanh Quang, Phó Tổng biên tập tạp chí đã phỏng vấn nhà báo lão thành Hữu Thọ, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân và đăng bài trên tạp chí số 100 tháng 11 năm 2009, nhan đề Tôi có phần lo…. Dưới đây, chúng tôi xin trích một đoạn trong trang 9 có nói về nhạc sĩ Phạm Tuyên, dưới đầu đề mượn chữ của ông.

—o0o—

Phóng viên: (…) Những người này ở trong cơ chế thì anh “bảo hoàng hơn vua”,  nhưng bước vào cơ chế thị trường, khi thấy cảm giác là có thể thu lợi được nhờ việc tấn công chính cái thể chế mà anh đã từng phụng sự, anh đã từng góp tay xây dựng, nếu mà có công thì là có công, có tội thì là có tội, thì lại trở nên tích cực quá đà. Ông nghĩ thế nào về hiện tượng này? Và phải chăng chúng ta đã có một kẽ hở nào đấy trong việc tuyển chọn cán bộ để một số người có tính xu thời đã len vào hàng ngũ của chúng ta? Ông nghĩ thế nào về chuyện này và về hiện tượng gọi là xu thời của  một số trí thức?

Nhà báo Hữu Thọ: Trước hết phải nói vấn đề là như thế này: Trong cuộc đời không phải ai và lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Người nào cũng có khúc mắc, khúc mắc nhiều, khúc mắc ít; có những khúc mắc giữa cá nhân với nhau, cá nhân với tổ chức, và với cả chính sách ấu trĩ một thời gây thiệt thòi, bị kỳ thị, nhưng con người ta khác nhau ở cách xử sự những khúc mắc trong cuộc sống của mình.

Cách đây ít lâu, tôi có đọc bài phỏng vấn của Hồng Thanh Quang với anh Phạm Tuyên. Tôi biết anh Phạm Tuyên, từ trước đến nay tôi đều rất quý anh, nhưng đọc bài phỏng vấn xong, tôi càng quý anh ấy hơn. Vì đúng là, một con người có nhiều khúc mắc trong gia đình, nhưng ứng xử như cách  mà anh ấy trả lời Hồng Thanh Quang thì đúng là một con người có văn hóa, một con người đáng quý.

Trong cuộc đời có mấy ai khúc mắc hơn cuộc đời gia đình anh Phạm Tuyên, anh Phạm Khuê đâu! Nhưng các anh ấy xử sự như thế là tuyệt vời. Khi chơi với anh ấy, tôi cũng đã quý anh ấy rồi vì anh ấy rất đúng mực, nhưng đọc xong để hiểu sâu xa thêm, tôi mới thấy đấy là một con người tử tế; một con người đúng mực khi xử lý những vấn đề mà bản thân mình khúc mắc thì người ta càng quý. Còn bây giờ tôi xin nói với Hồng Thanh Quang, có những người cứ thích nói quá lên những khúc mắc của mình trong quá khứ vì tưởng nói quá lên thì người ta thương… Có những người ngày xưa đi đâu cũng khoe mình là con công nhân, con người lao động, còn bây giờ…

Phóng viên: Khoe bố mình là ông ký, ông phán…

Nhà báo Hữu Thọ: Khoe bố mình là quan nọ, quan kia… Thậm chí, có người bạn mà tôi chơi đã lâu, tôi cũng không nhớ là bạn mình có phải là con quan hay không, vì mình đâu có để ý tới chuyện đó. Bây giờ đọc phỏng vấn hay hồi ký của ông ấy thì mới biết, ông ấy là con quan nọ, quan kia… Mà tôi xin nói với anh, cuộc cách mạng của mình rất lạ, tôi ở trong đội tự vệ ở phố Tống Duy Tân, đội con nhà nghèo tham gia ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Tôi phải nói rằng, trong cuộc chiến đấu ngày 19/12/1946, cậu hy sinh đầu tiên, rất dũng cảm, là tấm gương của chúng tôi trong đội của tôi khi chiến đấu với địch ở gần vườn Bách Thảo là con một người mật thám, đó là anh Ngọc. Cuộc cách mạng của mình nó ghê gớm đến như thế, nó thu hút tất cả các lực lượng. Nhưng cuộc cách mạng to lớn nào cũng có sơ xuất, sai sót; cho nên nhìn lại lịch sử cần thông cảm.

Phóng viên: Trước ông nói ông là con công nhân, bây giờ ông vẫn nói ông là con công nhân (cười).

Nhà báo Hữu Thọ (cũng cười): Tôi xin nói với anh, cuộc sống bây giờ nó cũng có cái phức tạp lắm, thói cơ hội bây giờ phức tạp lắm. Tôi nói ví dụ nhé, ngày xưa chúng ta xếp gạch khi mua hàng mậu dịch. Nghĩa là tôi xếp hai cửa gạch để cửa nào cũng có phần tôi. Nó cũng như kiểu đánh bạc hai cửa. Cuộc sống bây giờ nó cũng có cả những người đánh bạc hai cửa, tức là hôm nay tôi vẫn đi đường này, nhưng tôi đã chuẩn bị sân sau để nếu như gặp tình hình khó khăn thì tôi vẫn là người ở bộ phận bên kia…

Phóng viên: Tôi hiểu. Thực tình tôi vẫn tâm niệm rằng, người tử tế thì đôi lúc phải biết thua và biết chấp nhận cái thua một cách đàng hoàng. Thua hay mất để còn danh dự. Chứ người lúc nào cũng muốn thắng, lúc nào cũng muốn mình trong đội tiền phong thì người ấy, tôi xin đảm bảo với ông rằng, không thể nào tử tế được, mặc dù có thể rất có tài trong một lĩnh vực cụ thể nào đấy. Có đúng không ạ?

Nhà báo Hữu Thọ: Con người phải sống cho nó biết mình và phải biết, dù mình có đóng góp bao nhiêu thì cũng là một phần nhỏ thôi, mà nói cuối cùng con người phải sống với xã hội, với dân tộc mình chứ.

Phóng viên: Ở trong bất cứ hình thái xã hội nào chứ không phải ở riêng chúng ta, với lịch sử hết sức đặc thù của chúng ta thời gian vừa qua đâu, thực ra nếu chúng ta muốn thành công bằng mọi giá thì bắt buộc chúng ta lắm khi phải đi ngược lại với lòng mình, ở đâu cũng thế. Thế thì ngay cả một số văn nghệ sĩ nổi tiếng cũng thế, tức là khi anh ở trong cơ chế bao cấp, anh ăn đủ hết lộc rồi mà tất cả biểu hiện hoạt động công khai của anh cũng đều vun vén, phụng sự cho cơ chế bao cấp đấy, thế tại sao lại tự nhiên có một cái gì đó nghĩ khác mà không dám nói ra? Thì tôi nghĩ, cái đấy có phải lỗi của cơ chế xã hội không hay là chính ở lỗi tầm cỡ, nhân cách của chúng ta, vì chúng ta không dám sống thật với bản thân mình và chúng ta bao giờ cũng muốn được hơn những điều chúng ta có thể xứng đáng? Tôi đặt vấn đề như thế để hỏi, với kinh nghiệm của ông, ông có thể lý giải hộ được không?

Nhà báo Hữu Thọ: Đúng như Hồng Thanh Quang nói. Tức là bản thân khi anh nói như thế, khi bây giờ anh viết lại những điều mà ngày xưa anh cho rằng anh không dám nói thì cũng là công nhận cái việc…

Phóng viên: Sự hèn của mình chứ!

Nhà báo Hữu Thọ: Bản thân anh là như thế chứ đâu xã hội người ta đều như thế cả, có phải không?

Phóng viên: Tức là không muốn làm bị sơ sảy gì nhưng lại muốn được phong anh hùng? Mà trong rất nhiều cuộc chiến đấu với chính bản thân mình để bảo vệ cái thiện thì chắc chắn, muốn làm anh hùng thì phải là  liều mình quyết tử. Cái đó thực sự là như thế chứ không thể nào ăn gian được…

Nhà báo Hữu Thọ (cười):…

H.T.Q.

Từ một luận điểm của Các Mác, nghĩ về “Vụ án Phạm Quỳnh”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 4 năm 2014.

TỪ MỘT LUẬN ĐIỂM CỦA CÁC MÁC,

NGHĨ VỀ “VỤ ÁN PHẠM QUỲNH”

Thủy Trường

Trong một lần trả lời phỏng vấn của phóng viên báo An Ninh Thế Giới (tháng 5 năm 2013) ông Nguyễn Thiện Nhân – Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, có dẫn một câu của Các Mác như sau:

Lịch sử chỉ đặt ra những vấn đề cho xã hội để giải quyết nếu tự nó đã chứa đựng những tiên đề để giải quyết”.

Trở lại “vụ” Phạm Quỳnh tháng 9 năm 1945.

Những “tiền đề” để minh oan cho “nhà văn hóa lớn” (theo tôn vinh của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhân dân Hải Dương) nay đã có đủ, đã “chứa đựng” đủ để “lịch sử đặt ra cho xã hội” hôm nay giải quyết.

Cụ Hồ cách đây gần 70 năm cũng đã nói: “Cụ Phạm không phải là người xấu. Tôi đã gặp Cụ ở Pháp”. Khi việc “đã lỡ mất rồi”. Cụ là một con người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại”.

Sach ve Pham Quynh

7 sach Pham Quynh

Nhiều cuộc hội thảo, trao đổi khoa học đã được ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam cho phép tiến hành. Nhiều sách của Phạm Quỳnh đã được Nhà nước cho xuất bản. Sách viết về Phạm Quỳnh cũng được nhiều nhà báo, nhà sử, nhà khoa học viết, in, công bố rộng rãi trong nước và cả ở nước ngoài.

Tổng Bí thư Đảng đã đến thăm gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai học giả Phạm Quỳnh, Chủ tịch nước trao tặng nhạc sĩ Giải Thưởng Hồ Chí Minh.

Truong Tan Sang Pham Tuyen Nguyen Phu TrongCon, cháu, chắt Phạm Quỳnh hơn nửa thế kỷ nay vẫn một lòng Trung với Nước, Hiếu với Dân…

Vậy, xã hội và lịch sử còn phải chờ gì nữa mà không thực hiện ngay lời Các Mác và Bác Hồ dặn.

T.T.

22/12/2013

Chúng tôi đã sống như thế: Già và Trẻ

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 2:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 4 năm 2014.

PHẦN IV: VƯỢT NÚI CHẶNG CUỐI CÙNG

GIÀ VÀ TRẺ

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 377 đến trang 384.)

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất  là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảBa Tuyet sach chung toi da song nhu they” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

* Bạn đọc đã nhiệt tình theo dõi Chúng tôi đã sống như thế trên Blog PhamTon, tính đến 11g50 giờ ngày 16/4/2014bài Mang con đi học đã được 17.233 lượt truy cập; bài Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ đã được 13.130 lượt người truy cập.

*

*     *

Cuộc đời rồi cũng phải đến hồi cuối, đó là quy luật! Cần phải chủ động tính toán để việc chi tiêu được hợp lý trước quỹ thời gian cứ đang cạn dần. Đến lúc này chúng tôi mới thấm thía câu “Lực bất tòng tâm”, biết bao việc cần làm mà chưa làm được. Nhiều khi chúng tôi thấy cần phải sống khẩn trương hơn giống như lớp trẻ đang tràn đầy nhựa sống, nhưng sức khỏe không cho phép. Có lẽ phải sống và làm việc vừa sức hơn. Cùng chung một tâm trạng, nhưng phong cách sống thì thật khác nhau, nhà tôi thì vẫn từ tốn, ung dung, còn tôi thì lại vội vã, hấp tấp. Cho dù thế nào đi chăng nữa thì chúng tôi vẫn bụng bảo dạ là phải tranh thủ thời gian và hoàn cảnh cho phép để hoàn thành những việc mình cần làm.

Càng về già chúng tôi lại thấy mình càng khác xa bọn trẻ bây giờ, khác cả trong quan niệm sống và trong cả những hành vi ứng xử hằng ngày. Sự khác nhau về tuổi tác dẫn theo sự kPham Tuyen_Nguyen Anh Tuyethác nhau về cách sống là dĩ nhiên. Nhưng ở đây lại có sự khác biệt còn sâu xa hơn nữa mà không phải bỗng chốc nhận ra ngay được. Ừ phải rồi, cái thời mình còn trẻ thật không giống với bọn trẻ bây giờ dù cùng lứa tuổi mười tám, đôi mươi đấy. Ở dây phải tính sự khác biệt đó bằng quãng cách thế hệ, thế hệ chúng tôi hồi trước có cách nghĩ, cách sống khác các cháu thanh niên bây giờ nhiều. Có những việc tưởng cỏn con mà cách ứng xử giữa hai thế hệ lại khác nhau một trời một vực. Ví như cái áo bị sờn, tôi thì cứ lụi cụi khâu khâu vá vá, còn các con thì bảo mẹ vứt đi mua cái khác mà mặc cho sướng. Không, tôi không thể vứt đi được, vì cái áo này mình đang mặc rất vừa, kiểu dáng màu sắc lại dễ chịu, vứt đi sao nỡ, nó như một phần cơ thể mình vậy. Có những cuộn len còn lại ngày trước, tôi lại lôi ra đan mũ, đan áo cho cháu. Các con tôi lại thấy sốt ruột, vì bây giờ ra hiệu thì ối thứ đẹp, tha hồ mà chọn. Đồ đạc trong nhà hơi hỏng một chút là các con tôi cứ muốn thải đi để mua sắm cái khác cho hợp mốt bây giờ, nhưng chúng tôi, nhất là bố cháu không chịu, cứ níu lấy những đồ cũ để sửa lại mà dùng. Chiếc đài nghe hằng ngày nay đã cũ, tiếng cứ ọc ạch thế mà vẫn không chịu thay cái mới, mặc dù việc nghe đài đối với ông như là hít thở không khí. Thỉnh thoảng vẫn mang ra vặn vặn, đập đập, sửa lại cho đến khi nghe được mới thôi. Cũng là tiết kiệm, nhưng đối với ông còn có ý nghĩa sâu xa hơn, vì các thứ đó là những đồ vật thân quen, hơn nữa lại là vật kỷ niệm của nơi này hay nơi khác gửi tặng. Các đồ vật trong nhà chúng tôi phần lớn là những tặng phẩm của các địa phương, của các ngành hay của bạn bè. Tuy không sang trọng, đến nay có những thứ không hợp mốt thời thượng, nhưng ẩn chứa trong đó biết bao là kỷ niệm, ân tình. Nói chung, chúng tôi cứ muốn giữ lấy tất cả mọi thứ như giữ lấy cái quá khứ chứa đựng biết bao nhiêu là giá trị đáng trân trọng của mình. Lại nữa, sách thì có tới gần vạn cuốn, cũ có mới có, buồng nào cũng sách là sách, kể cả buồng ngủ. “Ôsin” (Người phụ nữ giúp việc nhà – PT chú) dọn dẹp cứ muốn vứt đi cho rộng nhà rộng cửa, nhưng chúng tôi thì cứ muốn giữ lại. Có những cuốn rất cũ, long gáy, bong bìa, giấy đã ngả sang màu vàng nhưng vẫn không chịu bán cho đồng nát, vì có lúc phải dùng đến, phải tra cứu. Đây là tri thức nhân loại mà! Điều này thì khác xa với bọn trẻ bây giờ, có đứa còn nói: “đọc làm gì cho nhiều, chết rồi cũng thành ma thành cỏ!”, do đó văn hóa đọc cứ kém dần. Những thứ có được trong nhà chúng tôi không hẳn chỉ là giá trị vật chất mà điều đáng quý hơn vì trong đó chứa đựng cả giá trị tinh thần mà chúng tôi không nỡ vứt bỏ. Rõ ràng con cháu chúng ta thực dụng hơn nhiều, còn chúng ta thì lại quá “lãng mạn”!

Nhưng cái khác biệt giữa thế hệ chúng tôi với con cháu ngày nay chính là về quan niệm sống. Trong gia đình thì còn đỡ, bởi văn hóa truyền thống gia đình vẫn còn ảnh hưởng mạnh đến lối sống của con cháu chúng tôi, chứ nhìn ra ngoài thì thấy trong bọn trẻ ngày nay nhiều cháu sống buông thả, chộp giật, thực dụng một cách đáng sợ, khiến thế hệ trước nhiều khi không chịu được. Nói ngay đến thị hiếu thì quãng cách biệt giữa hai thế hệ là quá xa. Mới vài chục năm trước đây, khi cô con gái cả sang học ở Liên Xô, cháu rất thích những bài hát Nga nhưng cháu vẫn “tuyên bố”: “Dân ca Việt Nam là hay nhất!”. Và trong sinh hoạt tập thể của các cháu hồi đó không thể thiếu vắng những bài ca cách mạng trữ tình lẫn hành khúc. Thế mà giờ đây con của chúng nó, tức là cháu của chúng tôi, tuổi 9X hay tuổi teen thì khác hẳn. Dù nghe trên mạng hay nghe điện thoại di động, dù nghe nhạc qua máy chuyên dụng ở nhà hay ở nơi công cộng… thì hầu hết đều là “nhạc trẻ” mà phần lớn là rock, rap, hip hop… của Mỹ, Thái Lan, Hàn Quốc… lẫn vào đó là những bài hát Việt Nam mới nhưng phần nhiều mang tính chất ủy mị, não tình hoặc tán gái một cách trơ trẽn, cấm thấy có một bài bào là “nhạc đỏ” hoặc dân ca, nhạc cổ điển thì lại càng rất hiếm!

Các thế hệ trẻ, già bây giờ cứ như đang đứng ở hai cực, một bên là quá khứ, một bên là tương lai hay nói theo ngôn ngữ bây giờ thì một bên là truyền thống còn một bên là hiện đại, mà quãng cách giữa đôi bên thì còn quá rộng. Nhưng lịch sử của nhân loại cũng như lịch sử của mỗi dân tộc và của từng gia tộc thì không thể bị gián đoạn, không thể bị cắt khúc mà là một sự phát triển liên tục và do đó truyền thống cũng chuyển động như một dòng chảy chứ không bị ngưng đọng. Vậy thì giữa hai thế hệ phải có một cầu nối. Cầu nối đó phải là chúng ta chứ còn ai? Thế hệ đi trước bằng kinh nghiệm, bằng tri thức tích lũy được, lại có ước mơ một cuộc sống đẹp mai sau cho con cháu, phải là cái cầu nối giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ và tương lai. Điều đó dẫn đến một hệ quả là chúng ta, những bậc ông bà, cha mẹ cần phải, một mặt hiện đại hóa bản thân để hòa vào nhịp sống của bọn trẻ, hiện đại cả về cách nghĩ, cách sống của mình, đừng có khư khư ôm lấy cái truyền thống bất động mà gạt bỏ ngay cái mới, cái lạ lẫm như thể “người chết cứ níu lấy người sống” (mà K.Marx đã cảnh báo từ vài thế kỷ trước) thì làm sao có thể tạo được sự phát triển của xã hội? Nhưng mặt khác vẫn phải giữ lại cái gì là cốt cách của cha ông mà truyền cho con cháu cái tinh hoa của truyền thống để cho dòng chảy của lịch sử được liên tục và ngày càng tươi sáng hơn.

Tôi, đứng ở góc độ người cảm thụ, và nhà tôi, đứng ở góc độ người sáng tác, thường bàn luận với nhau về một câu nói của kiến trúc sư Kenzo Tanghe người Nhật, đại ý là: “Hãy quên đi truyền thống, ngPham Tuyen Nguyen Anh Tuyet Khue Van Cachiền tan nó đi, biến truyền thống vào máu thịt mà sáng tác” (dẫn theo Kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện). Đúng thế thật, chỉ ở trong bảo tàng hay nơi cất giữ thì truyền thống mới nguyên vẹn, không được thêm bới dù chỉ một tí xíu, còn ra sống với đời sống thì truyền thống phải tan ra hòa vào cuộc sống hiện đại, mới lọt tai, lọt mắt mà dễ đi vào thị hiếu thưởng thức của công chúng ngày hôm nay.

Tôi còn nhớ cách đây ít lâu, Chí gọi tôi bằng dì ruột từ Huế ra thăm và ở lại nhà tôi vài hôm. Vào khoảng gần 11 giờ đêm, Chí gọi tôi khẩn khoản nói: “Dì ơi! Tắt đài đi, nghe giọng hát này cháu rởn cả tóc gáy, nghe như tiếng từ dưới âm phủ vọng lên ấy”. Hóa ra anh chàng vừa nghe một khúc ca trù được trình bày bởi một giọng ca điêu luyện của nghệ sĩ nổi tiếng Quách Thị Hồ phát ra từ chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Nhưng chỉ sau đó ít lâu, cũng trong chương trình ca nhạc trên Đài, Chí được nghe bài Mái đình làng biển của Nguyễn Cường, cậu ta thích quá, cứ đòi tôi tìm cho văn bản để mang về Huế hát cùng với các bạn. Thế đấy, nhạc cổ mà cứ để nguyên si có khi lại làm cho giới trẻ xa lánh, nhưng một khi được người nhạc sĩ “biến nó thành máu thịt trong sáng tác của mình” thì sẽ tạo thành một tác phẩm hay được giới trẻ tiếp nhận dễ dàng. Bài Mái đình làng biểnlà một minh chứng. Ở đây Nguyễn Cường sáng tác bài hát này đã phảng phất âm hưởng ca trù, đó là một tác phẩm mới, hiện đại nhưng lại đượm hồn dân tộc, không thể trộn lẫn với bài hát ngoại lai nào cả, mà trở thành bài hát được nhiều người yêu thích, kể cả giới trẻ. Mới đây, những ca khúc của nữ nhạc sĩ Giáng Son cũng tương tự như thế. Cô sinh ra trong một gia đình “chèo nòi”, từ thuở bé đã rất yêu chèo, nhưng sáng tác của cô người nghe không nhận ra một làn điệu chèo cụ thể nào cả mà vẫn thấy thoang thoảng âm hưởng dân tộc trong đó, như bài Giấc mơ trưa, Chút nắng vàng bay, Nến trắng… được công chúng, nhất là các bạn trẻ yêu thích.

Tôi nghiệm thấy những ca khúc nào mà nhạc sĩ Phạm Tuyên thấm sâu âm hưởng dân tộc hòa vào máu thịt của mình để sáng tác thì những ca khúc đó được công chúng nhiệt tình đón nhận. Khó ai có thể nhận được trong sáng tác đó một làn điệu dân ca nguyên chất ở một miền quê cụ thể nào, dò đó là chính ca, ca khúc cộng đồng hay ca khúc trữ tình thì dân ca truyền thống đã tan ra và hòa vào hơi thở của cuộc sống đương thời mà thành những sáng tác mới, nên những bài hát đó của ông cùng với những tác phẩm có giá trị của các nhạc sĩ nổi tiếng khác đều mang tâm hồn dân tộc và sống mãi với thời gian trên mảnh đất Việt Nam yêu dấu của chúng ta.

Thực ra không chỉ âm nhạc mà tất cả mọi thứ thuộc về truyền thống đều không nên giữ nguyên si mà phải “nghiền tan ra” để dễ hòa vào cuộc sống hiện đại, khiến cho thế hệ trẻ dễ hấp thụ. Truyền thống chỉ nên giữ nguyên vẹn cho những ai muốn thưởng thức, nghiên cứu tìm hiểu giá trị thẩm mỹ của cha ông chúng ta góp phần phát triển “cái hiện đại”. Ngặt nỗi là bọn trẻ bây giờ lại thiên về thực hiện vế trước câu nói của Kenzo Tanghe: “Hãy quên đi truyền thống” mà lờ đi vế sau: “nghiền tan nó đi, biến truyền thống vào máu thịt” để sống và hoạt động trong thời đại.

Tất cả chúng ta, những thế hệ đi trước, với kinh nghiệm, vốn sống của mình đã tạo thành “một người khổng lồ” (theo cách nói của Newton, nhà vật lý nổi tiếng thế giới) cho thế hệ trẻ đứng trên vai mà vươn về phía trước. Nếu không có “người khổng lồ” thì thế hệ trẻ sẽ chẳng biết bấu bíu vào đâu để mà khôn lớn. Tất nhiên “người khổng lồ” dù cao lớn đến mấy cũng không thể có đủ tất cả những gì mà con cháu chúng ta cần có. Tuy vậy dù có “đứng trên vai người khổng lồ” nhưng phải bằng cái đầu và đôi mắt của mình, thế hệ trẻ mới sáng tạo ra những cái mới mẻ chưa từng có trong lịch sử. Chẳng nói đâu xa, ngay trong nhà tôi, mỗi lần điện thoại di động gặp sự cố, máy vi tính bị trục trặc hay cái máy photocopy bị hỏng hóc, chúng tôi lại phải càu cứu đến con cháu. Mà thật là lạ, chúng nó chỉ cần thực hiện vài thao tác nhẹ nhàng là mọi khúc mắc đều được thông suốt như là phép tiên vậy! Thế mới hay ở giới trẻ có biết bao nhiêu điều mà thế hệ ông bà, cha mẹ cần phải học ở chúng. Những cái trước đây ta cứ tưởng là chân lý tuyệt đối, nhưng giờ đây nó đã thay đổi. Ví như câu chế giễu của người xưa: “trứng khôn hơn vịt!”, trong nhiều trường hợp bây giờ lại rất đúng.

Ai cũng biết, đi đường mòn theo lối cũ thì khó bị lạc nhưng cứ luẩn quẩn loanh quanh trong một không gian chật hẹp, nhưng nếu đi đường mới thì rất dễ vấp ngã, bị lạc hướng và nhiều khi khó đạt tới đích, mà bọn trẻ, con cháu chúng ta lại thích đi trên những con đường mới toanh, khám phá theo ý thích, nhiều khi chỉ theo bản năng, nên sự vấp ngã, sự mất hướng là đương nhiên, khó tránh khỏi, nhất là những kẻ không biết “đứng trên vai người khổng lồ” như Newton đã từng làm như thế khi phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn. Vậy là hai thế hệ già và trẻ đều không thể sống tách nhau, quay lưng vào nhau được và như thế thế hệ già còn có bao nhiêu việc phải làm, mà đó lại là một sự nghiệp trọng đại – giáo dục – giúp cho con cháu chúng ta học hỏi những tinh hoa trong nền văn hóa dân tộc và nhân loại, tạo ra bệ phóng vững chắc để bay về tương lai.

N.A.T.

Quà tặng xứ mưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 4 năm 2014.

QUÀ TẶNG XỨ MƯA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi vừa nhận được bài này từ Huế gởi ra. Xin mời quí bạn tham khảo.

—0O0—

QTXM- Bạn đọc thân mến. NXB Tri Thức chỗ anh Chu Hảo vừa ấn hành cuốn sách mới của nhà văn Tô Nhuân Vỹ có đầu đề rất luận bàn : BẢN LĨNH VĂN HÓA. Đây là những vài viết, tiểu luận nhà văn viết trong nhiều năm qua, rất tâm huyết, gửi NXB nào họ cũng “sợ”, may có Tri Thức cuốn sách mới đến với bạn đọc.

Gần đây một số tờ báo như Hồn Việt, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã in lại những bài viết “đánh” cụ Phạm Quỳnh. Chúng tôi xin in bài viết của nhà văn Tô Nhuận Vỹ trong BẢN LĨNH VĂN HÓA để nói rõ quan điểm cổ hủ một thời , rằng  “ai không theo ta là địch”.

ĐIỀU GÌ CÒN BĂN KHOĂN VỀ PHẠM QUỲNH

Tô Nhuận Vỹ

 Đã có quá nhiều bài viết, nhiều dẫn chứng sinh động, cả trong nước và nước ngoài, và ngay ở cuốn sách Ban linh van hoacủa tác giả Nguyễn Văn Khoan1, về sự đóng góp  của Phạm Quỳnh cho Văn hóa Việt Nam. Tôi chỉ xin đi thẳng vào vấn đề cụ thể.

 1. Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

 + Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều cuộc kỷ  niệm về Phạm Quỳnh, đã có nhiều nhà xuất bản đã in lại nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh sau năm 1975… khẳng định sự đóng góp to lớn của Phạm  Quỳnh đối với sự gìn giữ, phát huy nền quốc ngữ,  nền văn học văn hóa dân tộc.

 + Ai cũng biết, băn khoăn còn lại, tựu trung là Phạm Quỳnh đã từng trực tiếp hợp tác với Pháp (Từ Nam Phong cho đến việc tham chính ở cấp cao nhất của chính quyền do Pháp lập nên).

 2. Với điều băn khoăn này, suy nghĩ của tôi là:

 + Trong suốt chiều dài lịch sử, đất nước ta liên tục bị các thế lực lớn mạnh bên ngoài chế áp, xâm  chiếm. Lực lượng tiên tiến nhất, quyết liệt nhất của  nhân dân yêu nước là cầm súng chiến đấu, nhưng  không phải tất cả nhân dân yêu nước đều ra Liên  phòng, lên chiến khu, lên R. Nhiều người phải ở lại  vùng địch, buộc phải liên quan tới địch, thậm chí  làm cho địch. Nhưng không phải tất cả những người  ở lại đó đều không yêu nước, đều theo địch. Bác Hồ  còn nói “yêu nước tùy theo sức của mình”. Gần bùn  mà chẳng hôi tanh mùi bùn là cực khó, không phải  ai cũng làm được. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã  chỉ rõ: không phải chỉ có những người cộng sản mới  yêu nước. Sự giỏi dang nhất là người cộng sản đã  tập hợp được cả những người không ưa cộng sản  trong mặt trận chống Mỹ, đến cả tổng thống cuối  cùng của chế độ ngụy Sài Gòn cũng có hành động có lợi cho Cách mạng. Đó chính là TẦM NHÌN HỒ  CHÍ MINH trong việc đãi cát tìm nhân tài, trong việc  đoàn kết dân tộc, đặc biệt trong việc đối xử với các  nhân vật lớn mà cả “địch” và “ta” đều chú ý.

 Với Phạm Quỳnh, Bác Hồ đã thảng thốt khi  nghe tin ông bị giết.

 Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh? “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì?  Cách mạng được ích lợi gì?” ” Hỏi là đã trả lời,khẳng định: Phạm Quỳnh  là một học giả và việc xử như vậy là một sai lầm. Với tầm nhìn đổi mới ấy, trong những năm qua, mặt bằng dân trí cũng như mặt bằng quan trí đã có  những thay đổi lớn trong việc thẩm định nhiều giá trị văn hóa. Chúng ta đã trả lại đúng giá trị cho Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, một số tác giả  nhóm Nhân văn giai phẩm, cho Leopold Cadière…

          Tôi muốn nhắc lại trường hợp P. Cadière. Ông là  linh mục được dòng chính thống Paris bổ nhiệm, theo chân đoàn quân thực dân Pháp đi truyền giáo  xứ An Nam. Nhưng trên mảnh đất này, tâm hồn con  người và đầu óc bác học của ông đã được “khai  sáng”. Ông trở thành một nhà bác học lớn về xã hội học, dân tộc học, địa chất học, ngôn ngữ học, sinh  vật học… của Việt Nam mà bao chục năm trời vì vấn  đề chính trị (không phải là vô lý) mà chúng ta “quên” đi sự đóng góp vĩ đại của ông. Vừa qua, cuộc  hội thảo đánh giá sự nghiệp của ông đã được tổ  chức long trọng, chu đáo, trong ba ngày liền tại Huế đã chứng minh cho sự đúng đắn của tầm nhìn sáng rỡ này .

Khái niệm “địch”, “ta”, “bên này” “bên kia” trong  nhiều trường hợp khi sử dụng phải hết sức cẩn  trọng, trong đó yếu tố thời gian lịch sử nếu bỏ qua sẽ  “là Acid Sunfuric phá hủy hết mọi giá trị”, như J. P. Sartre đã nói.

   Cách nay hơn 30 năm, tôi có tiểu thuyết Ngoại ô, viết về cuộc sống của một vùng ngoại ô Huế sau giải phóng. Trong cuốn sách này có sự xung đột gay gắt  giữa tư tưởng “ai không theo ta là địch” với tư tưởng “ai không theo địch là ta”. Cuối cùng tư tưởng “ai không theo địch là ta” thắng thế. Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ, với nhiều lý do chính  đáng, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cần kết luận và vinh danh chính  thức sự đóng lớn lao cho văn hóa dân tộc của ông.

 Huế ngày 30/8/2012

(Trích sách BẢN LĨNH VĂN HÓA )

————

 1 Nguyễn Văn Khoan, Phạm Quỳnh – Một góc nhìn, Nxb Công  an nhân dân, 2011, tr.280.

( Tác giả gửi cho QTXM)

Tháng Tư 11, 2014

Trước mộ cụ Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 4 năm 2014.

TRƯỚC MỘ CỤ PHẠM QUỲNH

Ngô Minh

Lời dẫn của nhà báo Thanh Tùng: Ngày  6 tháng 3 âm lịch, nhằm tiết Thanh Minh, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng con cháu trong gia đình từ Hà Nội bay vào Huế viếng mộ cụ thân siNgo Minh doc tho truoc mo Pham Quynhnh – cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh.

Đến viếng mộ cụ Phạm có nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, các nhà văn Nguyễn Khắc Phê, Tô Nhuận Vỹ, Hà Khánh Linh, nhà thơ Ngô Minh, nhà báo Thanh Tùng (Chủ tịch Hội đồng Họ Phạm Thừa Thiên Huế). Tại mộ cụ Phạm Quỳnh nhà thơ Ngô Minh đã đọc bài thơ TRƯỚC MỘ CỤ PHẠM QUỲNH do anh sáng tác chiều 29 Tết Giáp Ngọ rồi hỏa vàng. Bản chép tay bài thơ này Ngô Minh đã ký tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Sau lễ viếng mộ, đúng Ngọ, mọi người cùng dùng cỗ chay tại chùa Vạn Phước.

2 giờ chiều cùng ngày, nhà báo Thanh Tùng đánh xe tiễn nhạc sĩ Phạm Tuyên xuống sân bay Phú Bài để bay trở ra Hà Nội.

Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ Trước mộ cụ Phạm Quỳnh bản chép tay của Ngô Minh.

 Tho cua Ngo Minh

 Tham mo cu Pham Quynh

Bạn văn Huế chụp ảnh lưu niệm cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình bên mộ cụ Phạm

Tham Chua Van PhuocChụp ảnh lưu niệm dưới mái điện thờ chùa Vạn Phước

Chúng tôi đã sống như thế: Chuyện bây giờ mới kể

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 1:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 4 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 364 đến trang 374. Đầu đề là của chúng tôi.)

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhấBa Tuyet va Tran Dang Khoat là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

* Bạn đọc đã nhiệt tình theo dõi Chúng tôi đã sống như thế trên Blog PhamTon, tính đến 8 giờ ngày 9/4/2014bài Mang con đi học đã được 17.233 lượt truy cập; bài Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ đã được 13.128 lượt người truy cập.

*

*     *

Anh luôn luôn trân trọng lẽ phải, có óc cầu tiến, học hỏi để không bao giờ bị tụt hậu trước thời cuộc. Nhiều người coi anh là người uyên thâm, vốn tri thức sách vở cũng như vốn hiểu biết cuộc sống ở anh đều sâu rộng và luôn luôn cập nhật, họ nói “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”! Do hoàn cảnh bất lợi khi bước vào đời, bước vào một nghề nghiệp quá tinh vi – Âm nhạc – đòi hỏi người hành nghề phải được học hành, được đào tạo công phu trong nhiều thời gian. Nhưng Phạm Tuyên đâu có được diễm phúc đó như nhiều nhạc sĩ khác! Đầu thập kỷ những năm 60 của thế kỷ trước, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật cử hai nhạc sĩ trẻ là anh và Trọng Bằng đi tu nghiệp âm nhạc tại Liên Xô. Hai người đã bàn tính với nhau những công việc cần thiết cho chuyến du học, như ôn tập đàn piano, bàn về quần áo, người thì mang “bộ nghiêm” (màu thẫm) người thì mang “bộ nghỉ” (màu nhạt) để đổi nhau… Thế nhưng đến phút cuối cùng tên anh bị rút khỏi danh sách lưu học sinh, chỉ vì cái lý lịch của anh “có vấn đề”. Ở đây trong cái rủi cũng lại có cái may! Anh không được học ở Tây hay ở Tàu gì cả mà chỉ tự học lấy thePham Tuyen doc sach Thuong Chi Van Tapo nhu cầu của mình, theo cách thức của mình, nên tác phẩm của anh không bị ảnh hưởng nặng nề bởi thầy Tàu hay thầy Tây nào cả mà mang bản sắc của riêng mình. Anh tâm niệm để sống thực sự có ích cho đất nước, cho nhân dân cần phải đứng vững trên đôi chân của mình và anh đã tự học, tự rèn luyện, tự đào tạo để đến nay gia đình và xã hội có được một nhạc sĩ Phạm Tuyên đã cống hiến cho cuộc sống biết bao tác phẩm có giá trị. Nhạc sĩ Văn Dung thường nói: “Mỗi nhạc sĩ chỉ mong có một vài bài hát của mình được nhiều người biết đến là hạnh phúc lắm rồi, nhưng anh Phạm Tuyên lại có rất nhiều ca khúc được đông đảo công chúng hâm mộ!”.

Đến nay tuy tuổi đã nhiều, nhưng anh vẫn thường xuyên tự học, ở anh cái sự học dường như không bao giờ chấm dứt và cái “đôi chân” suốt đời anh phải dựa vào dường như không bao giờ mỏi mệt.

Anh có một “thói”, nếu có thể gọi như vậy, đó là “thói” nghe đài “hơi bị nhiều”. Mỗi lần đi đâu về, chưa kịp thay quần áo đã vội bật Đài Phát thanh cũng như truyền hình. Ở nhà anh nghe đài liên miên, các bản tin sáng, trưa, chiều, tối, đêm… anh đều nghe tất, nghe không mệt mỏi, anh thường vừa làm việc vừa nghe phát thanh lại vừa “nghe” truyền hình, có khi vừa nghe phát thanh và vừa xem truyền hình. Anh còn muốn theo dõi nhiều kênh truyền hình cùng một lúc nên cứ thay đổi kênh liên tục, giá có được một chiếc tivi nhiều màn hình thì hay biết mấy! Có lẽ vì anh làm việc quá lâu ở “nhà đài” (gần 30 năm) nên không thể dứt bỏ Đài được.Anh còn đọc rất nhiều sách báo và ngày nào cũng truy cập internet hàng giờ. Nếu ở anh có tính tham lam thì đó là tham lam thông tin!

Pham Tuyen tham Dien Bien PhuNói về thói quen thì anh có một thói quen “hơi lạ” nữa là sáng tác nhạc trong thinh lặng! Mỗi lần sáng tác bài hát anh không đánh đàn hay hát lên thành âm thanh bài ca của mình mà thường nằm thật im lặng! Nhiều lần đi thực tế sáng tác cùng với các nhạc sĩ khác, đến nơi khi sáng tác bài hát, người thì gõ nhịp, người thì đánh đàn, người thì hát lên những giai điệu đang hình thành nghe thật vui… Riêng anh lại thinh lặng lên giường nằm rất sớm, mọi người cứ tưởng anh mệt nên phải đi ngủ. Nhưng không phải, anh đang sáng tác! Chính những lúc nằm im như thế, những giai điệu, những tiết tấu lại hiện lên trong đầu, đến khi hòm hòm gần xong bài hát anh mới đánh đàn lên thành âm thanh hoặc nhiều lần rủ tôi hát cùng để nghe xem bài hát hiện lên cả nhạc lẫn lời như thế nào, cần sửa đổi, điều chỉnh gì không. Lẽ dĩ nhiên tôi sẵn sàng hát theo ngay vì hồi hộp muốn biết sáng tác của anh và cũng là để “thẩm định” bước đầu.

Vào dịp 30 tháng 4 năm 1995, báo Người lao động (thành phố Hồ Chí Minh) tặng anh cùng một số nghệ sĩ nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Thi, soạn giả cải lương Trần Hữu Trang, Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Hương… một cái khánh trên có dòng chữ mạ vàng “Ấn tượng 20 năm”. Trong buổi lễ trao khánh, nhạc sĩ Phạm Tuyên lên nhận nhưng không phải cùng với những nghệ sĩ kể trên mà cùng với người thân của họ, vì những nghệ sĩ ấy đã mất, khiến anh rất xúc động.

Trong những phần thưởng được anh giữ gìn cẩn thận có rất nhiều huy chương của các ngành và các đoàn thể lớn nước ta tặng anh như: huy chương Vì thế hệ trẻ, huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, huy chương Vì sự nghiệp công đoàn, huy chương Vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ trẻ em, huy chương Vì sự nghiệp phát thanh và truyền hình, huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, huy chương Vì sự nghiệp văn nghệ Việt Nam, huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng, v.v… như một bộ sưu tập khá phong phú. Đây mới chính là phần thưởng đích thực của nhân dân, của cuộc đời trao cho anh.

Hoi thao chiec gay truong sonTình cảm và sự hâm mộ của nhân dân đối với nhạc sĩ Phạm Tuyên được thể hiện qua hàng trăm bức thư của các cháu thiếu nhi, của bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân, nông dân… gửi tới anh. Sau đây là một đoạn trong bức thư của một cựu chiến binh:

“…Từ suy nghĩ của mọi người tuy không nói ra – song nhân dân ta ai cũng đều công nhận có sự đóng góp tài tăng và công đức của nhạc sĩ Phạm Tuyên, người đã tự trang bị cho mình “Chiếc gậy Trường Sơn” đã cùng anh lính cụ Hồ ra đi đánh Mỹ cứu nước giành toàn thắng mà vang lên bài ca “Như có Bác trong ngày đại thắng”, đó là thứ tình người vô hình và vô giá của một con người có tâm huyết với dân tộc, luôn nặng tình, nặng nghĩa”.

…nhạc sĩ Phạm Tuyên chưa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động hoặc là danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân thì quả là thiệt thòi cho người nhạc sĩ có đức và đầy sáng tạo như ông Phạm Tuyên! Thưa nhạc sĩ Phạm Tuyên: – Dù thế nào đi chăng nữa thì trong lòng mến mộ của người dân Việt Nam hiện tại và mãi mãi muôn đời con cháu chúng ta vẫn ngân nga lời ca tiếng hát do nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác để lại trong lòng người một dấu son đậm nét đáng yêu và sẽ không bao giờ bị phai mờ…” (Trích thư của ông Trương Hữu Đông – Hội Người cao tuổi cụm dân cư 1 – B12 – Thủ Lệ I, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình- Hà Nội, ngày 7 tháng 9 năm 2001).

Trong những lần đi về cơ sở, đến đâu người ta cũng nhận ra anh, người nhạc sĩ thân thiết của họ – nhạc sĩ Phạm Tuyên – với ánh mắt và nụ cười đầy thiện cảm. Có một lần đến Pham Tuyen ky luu niem o Hoi AnHuế, gặp dịp người ta tổ chức du thuyền trên sông Hương cho các đoàn du khách từ nhiều tỉnh tới, Ban tổ chức mời nhạc sĩ cùng đi. Trước khi xuất phát, trưởng ban tổ chức trịnh trọng giới thiệu các vị đại biểu, nào là Chủ tịch, Bí thư, Giám đốc tổng công ty, Hiệu trưởng các trường Đại học… họ có hỏi anh nên giới thiệu anh với chức vụ hành chính hay danh hiệu nghệ thuật gì, anh chỉ cười mà nói: “Cứ giới thiệu tôi là nhạc sĩ thôi”. Lúc giới thiệu đến lượt anh thì người tổ chức bỗng cao giọng: “Đây là nhạc sĩ Phạm Tuyên – nhạc sĩ của nhân dân!”.Phải chăng đó là danh hiệu mà nhân dân trao tặng cho anh? Và thật kỳ lạ, cái danh hiệu ấy không chỉ nghe được ở Huế mà khi về một số địa phương khác người ta cũng gọi anh là “Nhạc sĩ của nhân dân”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã từng được đón tiếp và ca ngợi trong nhiều buổi gặp gỡ ở các địa phương. Đêm ngày 16 tháng 8 năm 2001, trong buổi giao lưu, giới thiệu tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Tuyên với thanh thiếu niên tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Đăk Lăk là một ví dụ. Đêm giao lưu đó, đồng chí Hoàng Chuyên, Giám đốc Trung tâm đã phát biểu:

“…Với chúng tôi- những người yêu nhạc Đăk Lăk còn hiểu và cảm nhận nhạc sĩ Phạm Tuyên là nhạc sĩ của mình, nhạc sĩ của nhân dân, nhạc sĩ của cách mạng, nhạc sĩ của phong trào và nhạc sĩ của tuổi thơ”.

“Những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên có sức lay động, truyền cảm mãnh liệt, dễ đi vào lòng người, được công chúng yêu thích và trường tồn vĩnh cửu trong lòng các thế hệ thanh thiếu niên. Hàng triệu người hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” chỉ là một ví dụ mà thôi bởi anh còn có hàng trăm ca khúc khác viết về nhiều mảng đề tài, nhiều lĩnh vực mà những thập kỷ qua cho đến hôm nay vẫn xanh tươi trong đời sống âm nhạc của chúng ta. Anh thực sự là nhạc sĩ của nhân dân, vì nhân dân”.

“… Nhạc sĩ Phạm Tuyên là nhạc sĩ – chiến sĩ bởi anh có mặt trên khắp các chiến trường, động viên cổ vũ nhiều lĩnh vực sản xuất chiến đấu… Công trường, xưởng máy, hầm thanOng Tuyen o Dac Lac ở đâu cũng có bước chân của anh. Đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sức mạnh ca khúc của anh như những sư đoàn thôi thúc hàng vạn chiến sĩ lạc quan chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp, cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Dường như ở mỗi thời điểm lịch sử anh lại dựng lên ngọn cờ, gióng lên tiếng chuông lôi cuốn cổ vũ lớp thanh niên phấn đấu cho sự nghiệp Cách mạng… Đối với Đăk Lăk anh đã viết bài “Vợ chồng H’Nhí về buôn mới” rồi “Màu xanh Đăk Lăk” và đặc biệt “Chú voi con ở Bản Đôn” đã là khúc hát yêu thích của nhiều người bản dân. Cứ theo tiêu đề của bài hát thì ta đã gặp anh ở trên rừng, dưới biển, hầm than, nhà máy, đồng chiêm, lên biên giới, ra hải đảo và trên cung đường Trường Sơn bom đạn ác liệt, ở đâu cũng có bước chân anh; bởi thế anh luôn là nhạc sĩ chiến sĩ cách mạng… Uy tín và hoạt động không mệt mỏi của anh đã góp phần thiết thực xây dựng và phát triển nền âm nhạc nước nhà”.

Trong bài viết “Phạm Tuyên – Nhạc sĩ của nhân dân” (Những người lao động sáng tạo của thế kỷ, NXB Lao Động, 2003), tác giả Diệu Ánh cũng đưa ra nhận định: “Tài năng và đức độ, hai cái đó đã kết tinh vào con người Phạm Tuyên mà hình thành nên một nhân cách sáng tạo trong suốt chặng đường dài để rồi sản sinh ra những tác phẩm nghệ thuật vô giá ngân vang mãi trong lòng mọi người. Anh thật xứng đáng được gọi là Nhạc sĩ của nhân dân”.

Không hiểu duyên số thế nào mà nhiều người hay gắn tên tuổi nhạc sĩ Phạm Tuyên với tên tuổi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Trên báo Tiền Phong vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã có bài báo ca ngợi hai nhạc sĩ được giới trẻ của hai miền Nam Bắc nước ta hết sức ngưỡng mộ, đó là Phạm Tuyên và Trịnh Công Sơn. Rồi trong một chương trình của Đài Truyền hình Hà Nội có tiêu đề là Một cõi đi về đã phác họa chân dung của bốn nghệ sĩ nổi tiếng luôn gắn bó với quê hương đất nước dù trong hoàn cảnh nào. Đó là nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê và hai nhạc sĩ tài ba là Phạm Tuyên và Trịnh Công Sơn. Dù ở ngoài nước hay ở trong nước thì tâm hồn họ vẫn thấm đượm tâm hồn Việt Nam. Chương trình truyền hình đó đã được tặng giải trong đợt Liên hoan truyền hình toàn quốc năm 2004.

Nhớ lại những ngày đầu mới giải phóng, Phạm Tuyên gặp Trịnh Công Sơn trong một hoàn cảnh đầy khó khăn ở Huế, qua những lần trò chuyện tâm sự với nhau, sau đó Trịnh Công Sơn nói với một người bạn ở Đài Truyền hình một nhận xét khá tinh tế: “Phạm Tuyên đúng là một kẻ sĩ Bắc Hà”. Anh lại còn thổ lộ một chuyện riêng tư thú vị là suýt nữa thì anh trở thành cháu rể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, gọi nhạc sĩ Phạm Tuyên bằng cậu ruột! Thế mới hay quả đất tròn! Sau đó, tại Sài Gòn, mỗi lần từ Hà Nội vào, Phạm Tuyên thường tới thăm Trịnh Công Sơn. Những lúc gặp nhau, Trịnh Công Sơn thường đem tác phẩm mới viết của mình, trong đó có bài Huyền thoại mẹ, “khoe” với Phạm Tuyên, và sự đồng cảm về nghệ thuật giữa hai con người ấy được nhân lên. Ngày Trịnh Công Sơn mất, Phạm Tuyên vô cùng đau buồn, anh viết ngay bài báo Lời chia buồn từ Hà Nội, rồi bỏ mọi việc để vào thành phố Hồ Chí Minh tiễn đưa Trịnh Công Sơn về nơi an nghỉ cuối cùng.

Pham Tuyen_Trinh Cong SonMới gần đây thôi, trên báo Thanh Niên ra ngày 29/12/2007, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, trong bài “Âm nhạc của tình yêu lớn”, nhà thơ Thanh Thảo đã viết: “…Có thể nói mà không sợ quá, nếu không có âm nhạc yêu nước, yêu dân tộc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, thì không thể có thắng lợi cuối cùng đầy tình yêu và lòng nhân ái của cuộc kháng chiến ấy. Vì âm nhạc là tiếng nói của con tim, của tâm hồn người Việt Nam yêu nước, yêu quê hương và thiết tha với những lẽ sống còn của dân tộc. Có Phạm Tuyên ở miền Bắc và có Trịnh Công Sơn ở miền Nam, họ khác nhau nhưng vô cùng gần nhau ở tình tự dân tộc…” Và trước đó, nhà thơ Thanh Thảo cũng đã có nhận xét đăng trên báo Thanh Niên rằng nhạc của hai nhạc sĩ đó đều rất hay nhưng lại rất khác nhau, mỗi người một vẻ. Nghe nhạc Trịnh Công Sơn ta thấy buồn, nhưng đọng lại là một sự hài lòng với cuộc đời. Ngược lại, nghe nhạc Phạm Tuyên ta thấy nhẹ nhàng, trong sáng, ẩn chứa một niềm tin, nhưng lại là một niềm tin vượt lên những khó khăn của số phận. Đó là một nhận xét rất tinh tế và sâu sắc.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Cuộc đời Phạm Tuyên là một pho tiểu thuyết bề bộn với nhiều cung bậc. Có thể tóm tắt bằng hai câu thơ xuất thần của Phạm Tiến Duật, một trong những thính giả rất yêu âm nhạc của ông:

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng

Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay

Cái khả năng không phải ai cũng có được của Phạm Tuyên là biến nỗi đắng trong cõi lòng mình thành sắc hoa vàng cho người đời chiêm ngưỡng. Ngắm sắc vàng lộng lẫy ấy, chẳng ai còn thấy vị đắng đâu nữa, lại ngỡ như không hề có nỗi cay đắng trong cõi đời này”.

Lúc sinh thời, mỗi khi gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhà thơ Phạm Tiến Duật thường ôm chầm lấy nhạc sĩ thật chặt mà nói: “Em mến anh kinh khủng!”. Đó chính là tấm lòng và sự thông cảm của Phạm Tiến Duật đối với cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Phạm Tuyên.

Như một cái duyên định trước, nhà thơ Phạm Tiến Duật nhận ngay làm người giới thiệu cho đêm nhạc của Phạm Tuyên tại Nhà hát lớn có tiêu đề Vầng sáng Hà Nội tháng 12/2002, nhân ngày kỷ niệm 30 Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Và chính anh là người đã mang bản trường ca của Erik Stinus, một nhà thơ nổi tiếng của Đan Mạch, với nhan đề khá đặc biệt Phạm Quỳnh và câu chuyện còn tiếp tục trong lần đi công tác vào 7/1997. Ở Đan Mạch về, anh đã trao bản trường ca cho Phạm Tuyên như một món quà vô cùng quý báu. Phạm Tiến Duật cho biết là anh đã dời lại ngày về nước để lấy được một bản dịch thô ra tiếng Anh với những câu mở đầu rất ấn tượng: “Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm đối với Phạm Quỳnh. Chúng ta không nên gọi ông là kẻ phản bội như trên những tờ truyền đơn hoặc bích trương… Xin hãy quan sát việc làm của ông ta như nhận xét công việc của bản thân mình…”. Bản trường ca này dài trên 300 câu và chỉ là một sự tưởng tượng của nhà thơ, nhưng lại rất gần với nhân cách của cụ thân sinh nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau này, qua bà chị của anh ở bên Pháp, Phạm Tuyên đã liên lạc được với nhà thơ Erik Stinus. Nhà thơ đã cho biết rằng ông đã từng sang Việt Nam ba lần, một lần để kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi, đã gặp Tướng Giáp và một số lãnh đạo nước ta. Ông rất ngạc nhiên khi nghe nhiều nhà văn, nhà văn hóa Việt Nam nhắc tới học giả Phạm Quỳnh với lòng cảm phục và thông cảm cho bi kịch lịch sử mà học giả phải chịu đựng.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã có ý định sẽ chuyển bản trường ca này thành trường ca bằng tiếng Việt để mọi người cùng đọc. Nhưng công việc chưa kịp làm thì anh đã vội ra đi! Ngày đó nhạc sĩ Phạm Tuyên vô cùng thương tiếc mà than rằng: “Tôi lại mất một bạn thơ yêu nhạc!”. Đó cũng là nhan đề một bài viết của anh đăng ở Tuần báo Văn Nghệ đúng vào những ngày tang lễ nhà thơ Phạm Tiến Duật.

N.A.T.

Tư liệu Phạm Tiến Duật (Tôi lại mất một ban thơ yêu nhạc)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 4 năm 2014.

TÔI LẠI MẤT MỘT BẠN THƠ YÊU NHẠC

Phạm Tuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ Phạm Tiến Duật, là bạn tri âm vong niên của nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con thứ 12 trong số 16 người con của học giả Phạm Quỳnh. Nhà thơ sinh ngày 14/1/1941, tại Thanh Ba, thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ. Mất ngày 4/12/2007, tại Hà Nội.

Phạm Tiến Duật xuất hiện như một ngôi sao lạ trên thi đàn Việt Nam từ năm 1969 với chùm thơ “không giống ai” Tiểu đội xe không kính nổi tiếng, giành giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ, và dần dà anh trở thành người lĩnh xướng của cả dàn thơ chống Mỹ cứu nước.

Trong điếu văn cpham-tien-duatủa nhà thơ Hữu Thỉnh, phó chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại lễ truy điệu ngày 11-12-2007 ở nhà tang lễ Bộ Quốc phòng có đoạn: “Một Tuyển tập Phạm Tiến Duật do những người bạn thân thiết biên soạn và xuất bản với thời gian nhanh kỷ lục và lễ công bố tác phẩm thật xúc động đã diễn ra tại Hội Nhà văn Việt Nam kịp vào lúc Anh vẫn còn đủ nhận biết. Có những lúc tưởng như trụ lại được, Phạm Tiến Duật đưa tay lưu luyến mọi người đến thăm. (…) Anh là một nhà thơ chiến sĩ đã trút hết đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Cảm ơn Phạm Tiến Duật đã để lại cho chúng ta niềm kiêu hãnh sống, niềm kiêu hãnh sáng tạo và dâng hiến. Ngọn lửa tài năng và trí tuệ của Anh đã thắp sáng trên văn đàn, đã cầm trong tay trong cuộc chạy đường trường suốt nhiều năm tháng qua sẽ còn sáng mãi. Những gì anh để lại cho chúng ta sẽ được Đảng và nhân dân gìn giữ mãi mãi, sẽ được chúng tôi những người đồng đội, đồng chí của anh gìn giữ mãi mãi”.

Dưới đây chúng tôi xin đăng bài Tôi lại mất một bạn thơ yêu nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên đăng trên trang 11 báo Văn Nghệ số 50 (15/12/2007)

—o0o—

Khi nghe tin Phạm Tiến Duật bị bạo bệnh tôi đã mấy lần điện hỏi thăm anh. Lúc đầu thì anh còn thều thào nhận ra tôi và vẫn tin rằng sẽ có ngày khỏi bệnh. Thế rồi cách đây mươi hôm khi tới thăm anh ở bệnh viện 108 thì anh đã phải thở bằng máy và không còn biết gì nữa. Và hôm nay (4/12) tôi bàng hoàng khi nghe tin anh đã ra đi vào cõi vĩnh hằng.

Là bạn vong niên tôi thỉnh thoảng vẫn gặp anh. Lúc anh còn làm ở tạp chí Diễn đàn văn nghệ , bao giờ gặp Duật chúng tôi cũng chỉ nói chuyện về âm nhạc. Qua câu chuyện tôi thấy Duật hiểu biết về âm nhạc khá sâu sắc và tất nhiên thuộc rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ. Kỉ niệm ngày mất của nhà thơ Xuât Diệu anh tìm ngay đến tôi để nhờ phổ nhạc gấp bài thơ Mưa của Xuân Diệu để trình diễn trong buổi lễ sau đó vài ngày. Duật dành cho tôi một cảm tình khá đặc biệt khi nói theo cách của Duật là “Em mến anh kinh khủng!”. Không biết là mến tôi hay là tác phẩm của tôi, điều đó không quan trọng mà chính là tấm lòng và sự cảm thông của Duật đối với cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của tôi.

Như một cái duyên định trước Duật nhận ngay làm người giới thiệu cho một đêm nhạc của tôi tại Nhà hát Lớn thành phố (Đêm nhạc Vầng sángpham-tuyen_tai-nha-o-hn Hà Nội tháng 12/2002)*. Khán giả thích thú vì người giới thiệu không chỉ làm cái việc nói tên tác phẩm và thời gian sáng tác mà còn nói lên nội tâm, những suy nghĩ của tác giả đằng sau những nốt nhạc khiến cho bản thân tôi vô cùng xúc động. Thơ và Nhạc, Nhạc và Thơ như có một mối liên hệ ẩn dấu bên trong, mặc dầu tôi chưa phổ nhạc cho bài thơ nào của Duật. Nhưng có một điều không thể không nói tới với lòng biết ơn của tôi đối với anh. Đó là vào tháng 7 năm 1997, sau một chuyến Duật đi công tác ở Đan Mạch về anh đã vội vàng mang tới nhà tôi một món quà vô cùng quý báu: đó là bản trường ca của Erik Stinus một nhà thơ nổi tiếng với đầu đề khá đặc biệt: Phạm Quỳnh và câu chuyện còn tiếp tục (nguyên văn tiếng Đan Mạch là Pham Quynh og den videre historie). Duật cho biết là anh đã phải dời lại ngày về nước để lấy được một bản địch thô bằng tiếng Anh, với những câu mở đầu thật ấn tượng: “Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm đối với Phạm Quỳnh, chúng ta không nên gọi ông là kẻ phản bội như trên những tờ truyền đơn hoặc bích chương…xin hãy quan sát việc làm của ông ta như nhận xét công việc của chính bản thân mình” Bản trường ca dài trên 300 câu này chỉ là một sự tưởng tượng của nhà thơ nhưng lại rất gần với nhân cách của cụ thân sinh ra tôi khi kể rằng cụ đã cất giấu một người hoạt động chống Pháp trong nhà, tránh sự lùng bắt của chính quyền thực dân lúc đó. Sau này, qua bà chị tôi ở bên Pháp, tôi đã móc nối với nhà thơ Đan Mạch và ông vô cùng cảm kích biên thư lại cho tôi và cho biết rằng ông đã từng sang Việt Nam ba lần, một lần để kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi và ông ngạc nhiên khi nghe khá nhiều nhà văn và nhà văn hóa Việt Nam nhắc tới thân phụ tôi với lòng cảm phục và thông cảm cho bi kịch lịch sử đã xảy ra cho gia đình tôi. Ông đã hoàn thành bản trường ca này ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 10/1980; tôi đã đưa cho Phạm Tiến Duật bản dịch mộc từ tiếng Anh sang tiếng Việt (do nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ, phát thanh viên tiếng Anh của đài Tiếng nói Việt Nam dịch) và Duật hào hứng nói rằng: “Em sẽ chuyển bản trường ca này một cách hoàn chỉnh hơn để xuất bản”. Tôi vô cùng cảm động trước nhiệt tình đó của nhà thơ và tất nhiên cũng mong có ngày được đọc bản dịch đó trên một tạp chí. Than ôi, Duật đã vội ra đi mà tôi chưa nói được một lời cảm ơn nào.

Viết những dòng này khi người bạn thơ của tôi đã về với cõi vĩnh hằng, tôi chỉ còn biết bộc bạch những tình cảm chân thành nhất đối với anh. Cầu mong cho sự nghiệp thơ văn của nhà thơ Phạm Tiến Duật sẽ còn tiếp tục được sưu tầm và phát hành rộng rãi đáp ứng lòng yêu mến và tôn trọng của những người yêu văn học nghệ thuật trong cả nước.

Ngày 4 tháng 12 năm 2007

* Ý thơ và thơ Phạm Tiến Duật

Tháng Tư 4, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Tiếng nói cuộc đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 4 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

TIẾNG NÓI CUỘC ĐỜI

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 355 đến trang 363)

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, Ba Tuyet va Tran Dang Khoacon dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngàyPham Tuyen _ Bac Ho 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

* Bạn đọc đã nhiệt tình theo dõi Chúng tôi đã sống như thế trên Blog PhamTon, tính đến 22 giờ ngày 1/4/2014bài Mang con đi học đã được 17.232 lượt truy cập; bài Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ đã được 13.127 lượt người truy cập.

*

*     *

Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên coi như chính thức bắt đầu khi anh phụ trách công tác Văn Thể Mỹ ở Khu Pham Tuyen Tran Long Anhọc xá Trung ương (tại Nam Ninh, Trung Quốc). Nhưng đóng góp của anh nhiều nhất và có hiệu quả nhất cho nền âm nhạc nước nhà là từ năm 1958, khi anh được điều về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam và nhận nhiệm vụ chỉ đạo công tác âm nhạc trên làn sóng phát thanh, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cổ vũ quân và dân ta xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hồi còn chỉ đạo các chương trình ca nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam, anh đặc biệt quan tâm đến các chương trình Tiếng hát gửi về Nam, rất vui mừng mỗi khi đón nhận những ca khúc của các nhạc sĩ từ miền Nam gửi ra, như Hồ Thuận An (Trần Hoàn), Thuận Yến, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh… Anh chủ trương duyệt bài thật nhanh và đưa ngay xuống Đoàn Ca nhạc của Đài, cho dựng khẩn trương để kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh của đồng bào trong đó và động viên các nhạc sĩ phấn khởi viết bài gửi ra. Không những thế, anh còn để tâm chăm chút sửa chữa bài sao cho thật hay, thật hợp, vì anh nghĩ các nhạc sĩ trong đó vừa đánh giặc, vừa sáng tác, trong hoàn cảnh vừa khẩn trương vừa gian khổ, không có thời gian để trau chuốt, nắn nót bài hát của mình. Sau ngày miền Nam được giải phóng, khi gặp anh các nhạc sĩ ấy rất vui vẻ nhắc đến những kỷ niệm khó quên: Đó là trường hợp nhạc sĩ Trương Quốc Khánh gửi bài Tự nguyện, trong đó có đoạn: “Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng/ Nếu là hoa…/ Nếu là mây…/ Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”, anh bỏ ngay chữ “Nếu” để nghe cho tế nhị; nhạc sĩ Thuận Yến gửi ra bài Người mẹ miền Nam tay không đánh giặc, trong đó có câu: “Mẹ vẫn đi… Vũ khí mang theo là xác con mình… » anh liền chữa lại thành « Vũ khí mang theo là chiếc nón lành… » để nghe đừng quá dữ tợn, không đúnTran lamg với phong cách nhân hậu của phụ nữ Việt Nam, v.v… Anh là người chỉ đạo các chương trình « Khắp nơi ca hát » (từ năm 1960), sau trở thành phong trào « Tiếng hát át tiếng bom » trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Anh cũng là người đề ra cuộc thi Tiếng hát hoa phượng đỏ (từ năm 1977) trên sóng phát thanh được thiếu nhi cả nước hưởng ứng nhiệt tình. Năm 1978, anh được cử sang phụ trách Ban Văn nghệ Đài Truyền hình Việt Nam và cũng là người khởi xướng việc tổ chức Liên hoan Văn nghệ Truyền hình toàn quốc. Cùng thời gian này anh được giao nhiệm vụ phụ trách Hội đồng nghệ thuật của Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam, rồi sau đó chuyển sang làm chuyên viên cao cấp của Bộ Văn hóa – Thông tin. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã là ủy viên Ban Thường vụ Hội nhạc sĩ Việt Nam liên tục trong 20 năm (1963-1983). Từ năm 1996 anh được bầu làm Tổng thư ký của Hội Âm nhạc Hà Nội, rồi lại tiếp thêm hai nhiệm kỳ nữa. Mặc dù anh đã thoái thác, xin không làm ở nhiệm kỳ thứ ba, nhưng toàn thể Đại hội X của Hội Âm nhạc Hà Nội (2005) nhất quyết không đồng ý để anh thôi, nên anh vẫn tiếp tục làm Chủ tịch Hội cho tới năm 2010 !

Nhưng con đường « công danh » của anh không phải là không gặp trắc trở. Do thành phần « bất lợi », anh thường bị cấp trên « cảnh giác », có người còn đặt vấn đề với đông chí Trần Lâm lúc đó là Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam tại sao lại để cho Phạm Tuyên « giữ tay hòm chìa khóa » về âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam, nơi mà lúc đó được coi là trung tâm âm nhạc lớn nhất của cả nước với hai nhiệm vụ quan trọng là đem tiếng hát động viên quân và dân ta trong công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hậu phương lớn của miền Nam. Nhưng khi thấy anh luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với trọng trách, cấp trên mới thực sự yên tâm, tin tưởng và đánh giá cao. Tuy vậy không đợt tăng lương nào lại không dính líu đến lý lịch của anh, cũng không có lần đề bạt nào mà gốc rễ gia đình anh lại không bị lôi ra. Cả những lần khen thưởng tuyên dương anh cũng gặp sự hẹp hòi, đố kỵ rất khó chịu và lại chịu thiệt thòi ! Anh phải thường xuyên gánh vác nhiệm vụ trọng trách nhưng luôn luôn chỉ giữ ở cái chức « phó », bởi anh không có « nhãn mác  thành phần cơ bản ». Khi thành lập Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam, mọi công tác về văn học nghệ thuật đều giao cho anh chỉ đạo nhưng anh chỉ nhận chức Phó Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của Ủy ban Phát thanh và Truyền hình, còn cương vị Chủ tịch thì người khác nhận (chỉ là danh dự), mà đến chức « phó » nhiều khi cũng khó. Khi anh được cử sang phụ trách Ban Văn nghệ của Đài Truyền hình Việt Nam (1978), thấy anh vừa có uy tín vừa có năng lực chỉ đạo tốt, đồng chí Chủ tịch Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam định đề bạt anh là Phó Tổng Giám đốc của Đài Truyền hinh Việt Nam (tất nhiên không thể là « trưởng ») nhưng « cấp trên » đã cho chỉ thị : « Hãy để cậu ấy có nhiều thời gian mà sáng tác ! ». Thế cũng hay, cái chức « phó thường dân » thế mà cũng tạo cho anh tâm trạng thanh thản, lạc quan để sáng tác, để sống vui tươi đến ngày hôm nay. Đúng là trong cái rủi lại có cái may !

Ở bất cứ cương vị nào, nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng không tiếc công sức để lo cho nền âm nhạc nước nhà. Suốt cả cuộc đời anh phải phấn đấu không ngừng vượt qua muôn vàn trở ngại, hướng tới lý tưởng cao đẹp cho cuộc sống và cho nghệ thuật.

Riêng sáng tác ca khúc, trong công trình nghiên cứu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Tiến sĩ Âm nhạc Lê Văn Toàn, Viện trưởng Pham Tuyen chau be mau giaoViện Âm nhạc Việt Nam có nhận xét : « Âm nhạc của Phạm Tuyên có sự khúc chiết, rành rẽ mà vẫn ánh lên nét giản dị, dễ phổ cập. Có lẽ chính vì trong cái giản dị đã ẩn chứ những sâu sắc, lắng động của nội dung, của tư tưởng nên nhiều ca khúc của ông đã có sức sống lâu bền và được đông đảo công chúng yêu mến… ». Đạt được sự giản dị trong nghệ thuật không phải là dễ dàng. Thật vậy, đúng như Lâm Ngữ Đường – một triết gia hiện đại Trung Quốc đã nói : « Sự giản dị lại chính là biểu hiện của sự suy tưởng sâu sắc và là điều khó đạt được trong khoa học và văn chương ».

Ngoài việc sáng tác ca khúc, anh còn viết lý luận âm nhạc. Anh là tác giả của nhiều bài báo, nhiều cuốn sách nghiên cứu, phổ biến kiến thức âm nhạc, giới thiệu kinh nghiệm sáng tác ca khúc, bàn về cái hay, cái đẹp của âm nhạc đối với đời sống con người, nhất là việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ trong âm nhạc cho thế hệ thanh thiếu niên. Có thể điểm qua một số cuốn sách của anh mà nhiều người quan tâm đến vấn đề giáo dục âm nhạc đã từng biết đến, đó là : Nhạc lý cơ bản (1956), Ký âm pháp cơ bản (1960), Kinh nghiệm sáng tác ca khúc (1968), Các bạn trẻ hãy đến với âm nhạc (1982), Âm nhạc ở quanh ta (1987), Âm nhạc với trẻ em (2000)… Những năm sau này anh cùng với nhạc sĩ của Hội Âm nhạc Hà Nội (như Hồ Quang Bình, Hoàng Dương, Vũ Tự Lân…) nghiên cứu và cho ra mắt bạn đọc những cuốn : Tân nhạc Hà Nội đầu thế kỷ XX đến 1945 hình thành và phát triển (2002) ; Ca khúc Hà Nội thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI (2008).

Với vốn ngoại ngữ của mình, anh còn là người đã từng dịch lời những ca khúc nổi tiếng thế giới để giới thiệu với chúng ta Pham Tuyen van congnhư tập Ca khúc trữ tình, bao gồm trong đó các bài Mặt trời của tôi, Trở về Suriento. Ngoài ra anh còn dịch Hoàng Hà đại hợp xướng, Ca ngợi Tổ quốc, Hái chè bắt bướm… (Trung Quốc), Kachiusa (Nga)… Ở loại công việc này anh vẫn không quên đưa những bài hát trẻ em của các nước đến với trẻ em Việt Nam như là những món quà tinh thần được các em rất ưa thích. Đó là những bài : Nụ cười, Ở trường cô dạy em thế (Nga), những bài hát trong phim Doremon, Ai cũng thích Kamishibai (Nhật)…

Còn một công việc nữa, đó là việc làm giám khảo cho các cuộc thi sáng tác ca khúc chuyên nghiệp, mà nhiều nhất là các liên hoan ca hát quần chúng, một loại công việc mất khá nhiều thời gian, công sức. Anh thường giữ vai trò Chủ tịch Ban Giám khảo nên phải tập trung chú ý nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn trong khi xem biểu diễn. Thường sau khi các đoàn biểu diễn xong, các thành viên ban giám khảo dã có thể « phủi tay » ra về, riêng Chủ tịch phải làm báo cáo tổng kết về mặt nghệ thuật, nên anh lại phải cặm cụi viết báo cáo, nhiều lần thức qua trưa hay thâu đêm để viết cho kịp. Anh là người thận trọng trong lúc khen chê về nghệ thuật. Và « của đáng tội » nghe anh khen mọi người đều thấy thích thú, mà khi nghe anh chê mọi người lại càng thích thú hơn, bởi anh có cách nói dí dỏm nhưng thâm thúy và với thái độ trân trọng người diễn. Hơn thế, anh còn chỉ ra cách khắc phục để nâng cao chất lượng nghệ thuật cho các đoàn về dự lien hoan.

Trong bài Phạm Tuyên – Tiếng hát ngày chiến thắng (Tài trí Việt Nam, NXB Lao Động, 2005) nhà thơ Bế Kiến Quốc đã đưa ra nhận xét : « Phạm Tuyên là ngườPham Tuyen Nguyen Thanh Trungi say mê công việc, ưa hoạt động, cởi mở chân thành. Có thể khẳng định rằng anh là một nhạc sĩ đã đóng góp rất nhiều vào đời sống âm nhạc của chúng ta trên nhiều lĩnh vực mà anh hoạt động ».

Mọi người tiếp xúc với anh đều nhận xét : nhạc sĩ Phạm Tuyên là người giản dị dễ gần. Từ các cháu thiếu nhi đến các cụ già, những người lao động ở những nghề nghiệp khác nhau, khi gặp anh đều muốn tỏ mối thiện cảm đặc biệt. Có lẽ người ta nhìn thấy ở anh một thái độ khiêm nhường, đôn hậu và dễ thông cảm, một thái độ tự tin mà không kiêu ngạo đối với bất cứ ai, ở anh toát lên một tình cảm chân thực đối với mọi người.

Tôi còn nhớ vào khoảng năm 1986, nước ta vừa mới đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một số đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước chủ trương phát động một cuộc thi viết quốc ca để thay cho bài quốc ca cũ. Thế là một phong trào toàn dân viết quốc ca diễn ra rất rầm rộ, lôi cuốn nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư tích cực tham gia. Nhạc sĩ Phạm Tuyên không tham gia nhưng nhiều người muốn anh giúp đỡ để viết quốc ca, người thì gửi thơ đến nhờ anh phổ nhạc, người thì mang bản « quốc ca » vừa sáng tác xong để xin anh ý kiến. Một hôm có một lão nông khoảng gần 60 tuổi mang đến nhà tôi một bó mía và một bị sắn, nói là “bồi dưỡng” cho nhạc sĩ Phạm Tuyên để nhờ anh hướng dẫn viết quốc ca ! Anh phải kiên trì thuyết phục để cụ già thấy là việc hướng dẫn viết quốc ca là quá sức của anh và việc viết quốc ca là quá sức của cụ, vì viết quốc ca rất khó. Thấy anh nói phải cụ mới bằng lòng ra về.

(…)

Anh rất quan tâm và thường trăn trở với phong trào âm nhạc của giới trẻ, không những nói chuyện, viết sách hướng dẫn thị hiếu âm nhạc mà còn quan tâm đến sáng tác của họ. Nhiều bạn trẻ mang cả bài hát vừa sáng tác cho anh nghe để xin ý kiến. Họ hát say sưa, nhiệt tình đến nỗi có lần quên cả giờ ăn mà anh vẫn kiên nhẫn ngồi nghe mặc dù rất đói bụng. Thấy cả nhà sốt ruột chờ cơm, anh giục mọi người ăn trước đi, anh nói không nên dội gáo nước lã vào sự hào hứng của người ta, rồi lại tiếp tục ngồi nghe. Đi đến đâu anh cũng « bị phát hiện » với lòng hâm mộ nhiệt thành của công chúng và việc xin chữ ký, chụp ảnh diễn ra ở những nơi anh đi qua là điều rất bình thường. (…)

N.A.T.

 

Tháng Tư 3, 2014

“Cây cúc đắng” vẫn “trổ hoa vàng”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:08 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 4 năm 2014.

 

Nhạc sĩ Phạm Tuyên:

“CÂY CÚC ĐẮNG” VẪN “TRỔ HOA VÀNG”

Hồ Cúc Phương (thực hiện)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là nguyên văn bài phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Tuyên do bạn Hồ Cúc Phương thực hiện, đăng trên các trang 40-41 tạp chí Nhân Dân hằng tháng số 181 tháng 5/2012.

—o0o—

Nhắc đến tác giả Như có Bác trong ngày đại thắng, người đời thường nhớ tới hai câu thơ của thi sĩ Phạm Tiến Duật: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay”… Chọn cách “quên” vị đắng lòng mình, để chắt chiu mật ngọt dâng đời sắc hoa vàng rực rỡ. Đó chính là nhạc sĩ Phạm Tuyên – người vừa được ghi nhận với Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý cho cụm tác phẩm Những ngôi sao ca đêm, Từ làng Sen, Đêm trên Cha Lo, Tiến lên đoàn viên Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng.

BÁC HỒ LÀ NGUỒN CẢM HỨNG VÔ TẬN

Đã thành thông lệ, mỗi độ tháng Năm mừng sinh nhật Bác, đi tới đâu cũng nghe thiết tha, dìu dặt chùm ca khúc của ông, Từ làng Sen, Suối Lê-nin đến Việt Bắc nhớ Bác Hồ, Em được nghe chuyện Bác Hồ

Bạn dùng cụm từ “chùm ca khúc” là chính xác, bởi trong gia tài gần bảy trăm bài hát của tôi, có một tình cảm bao la ngợi ca Hồ Chủ tịch. Hoặc đề cập trực tiếp như những ca khúc bạn vừa kể, hoặc chỉ gián tiếp nhắc tới trong một đôi câu ngắn ngủi như trong các bài Ai đi vô xứ Nghệ, Tổ quốc ngày mới hay giản dị lặp đi lặp lại trong phần điệp khúc ở Như có Bác trong ngày đại thắng… Những sáng tác tôi viết đều ít nhiều gắn với một sự kiện, một chiến công vang dội trong suốt chiều dài biên niên sử hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Và ở đâu cũng thấp thoáng bóng hình Đảng – Bác, như một nhân tố không thể thiếu trong mỗi bước đi vững chãi tới ngày toàn thắng của cả dân tộc. Hình tượng người cha già kính yêu cứ trở đi trở lại trong sáng tác của tôi cũng là vì thế.

Có thể hiểu hình ảnh Bác đã khơi gợi cho ông nguồn cảm hứng sáng tác vô tận để cho ra đời sáng tác về lãnh tụ mang sức sống vượt thời gian?

Trong suốt cuộc đời mình, tôi chỉ vinh dự được gặp Bác có một lần duy nhất, khi dẫn đầu đoàn học sinh (của Khu học xá Trung ương đóng tại Nam Ninh – Trung Quốc, nơi Phạm Tuyên là giáo viên phụ trách Văn – Thể – Mỹ – PT chú) về Thủ đô chào mừng ngày giải phóng rợp cờ hoa tháng mười và biểu diễn phục vụ Người. Hình ảnh giản dị, ân cần và rất đỗi gần gũi, thân thương của vị Chủ tịch nước đã đi vào trái tim và neo đậu lại trong tôi từ ngày ấy. Để rồi bốn năm sau đó, tôi đặt bút viết bài hát đầu tiên trong chùm ca khúc Em được nghe chuyện Bác Hồ từng được bao thế hệ thiếu nhi hòa giọng. Rồi bẵng đi tới hơn chục năm, chính xác là vào mùa xuân 1969, cảm xúc dạt dào từ những câu chuyện kể của người dân Việt Bắc nhớ Bác Hồ đã thôi thúc tôi cầm bút, để nhắc nhớ tình cảm mảnh đất chiến khu dành trọn cho Bác. Ca khúc viết theo điệu Nàng Ới này đã được nhà thơ Nông Quốc Chấn dịch ra tiếng Tày, được nghệ sĩ Đoàn văn công Việt Bắc gọi đùa là “Việt Bắc ca” và thể hiện bằng cả hai ngôn ngữ Kinh – Tày từ đó tới giờ.

Vâng, nhưng công chúng vẫn nhớ nhất Từ làng SenSuối Lê-nin, hai tác phẩm hình như được ra đời ngay sau nỗi đau mất Bác?

Tôi nhớ trong những ngày đau thương ấy chỉ có duy nhất ca khúc Trông cây lại nhớ tới Người của nhạc sĩ Đỗ Nhuận được phát đi phát lại liên tục. Người cha già của cả dân tộc đã về cõi thiên thu, tôi nghĩ, phải có một tác phẩm kể lại cho những thế hệ đi sau con đường cách mạng mà Bác đã từng đi. Chặng đường hơn nửa thế kỷ ấy. “Từ làng Sen có một người con chí lớn/ Mang lý tưởng cách mạng giải phóng quê hương” đến “Người là của dân ta, Bác Hồ yêu của mọi nhà/ Suốt cuộc đời bao nghĩa cả, vì độc lập tự do” đã theo giọng hát ngọt ngào sâu lắng âm hưởng dân ca xứ Nghệ của Nghệ sĩ Nhân dânThu Hiền đến với công chúng bao năm nay. Để cháu con cùng nhớ mãi: “Từ làng Sen đã tỏa làn hương thơm ngát/ Buông mát tên thanh bạch Hồ Chí Minh”.

Còn ca khúc Suối Lê-nin lấy cảm hứng từ âm hưởng làn điệu Then của người Tày, tôi phổ thơ của Trần Văn Loa sau chuyến đi Cao Bằng xuân 1970. Đọc bài thơ cùng tên đăng tải trên Báo Nhân Dân của thầy giáo này, tôi rất thích. Và hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu trong những ngày đầu kháng chiến đầy cam go nơi chiến khu Việt Bắc đã hiện lên thật lãng mạn bên con suối “dáng mềm mại thanh thanh”. “Đây con suối Lê-nin, xưa Bác ngồi câu cá/ Đây con suối Lê-nin, xưa Bác ngồi suy nghĩ/ Bên núi cao Các Mác, vạch con đường đấu tranh”.

Và những nét phác thảo gần gũi, thân thương của Người đã theo ông suốt chiều dài những ngày chống Mỹ, để có thể bật lên niềm hạnh phúc tột cùng với những tiếng reo vui ngập tràn cảm xúc thăng hoa khi bắc nam liền dải ở Như có Bác trong ngày đại thắng?

Câu chuyện ẩn sau ca từ, khúc thức của nhạc phẩm hoàn thành trong chưa tới hai giờ đồng hồ này, tôi đã từng chia sẻ nhiều lần với báo giới. Chỉ muốn cung cấp thêm đôi ba câu chuyện thú vị về sức lan tỏa nằm ngoài trí tưởng tượng của chính tôi với ca khúc để đời này. Ra đời trước thời điểm giải phóng Sài Gòn có hai ngày, bài hát đã vang lên trên sóng phát thanh lần đầu ngay chiều 30 tháng 4, khi tin chiến thắng được chính thức công bố với bè bạn năm châu. Và điệp khúc giản dị “Việt Nam, Hồ Chí Minh” lập tức được hát đi hát lại ở khắp nơi nơi, để mỗi con dân Việt thấy lòng ấm áp khi vẫn có cảm giác như có Bác trong ngày đại thắng. Tưởng chỉ mang tính thời sự trong một thời khắc lịch sử trọng đại của dân tộc nhưng rồi sức sống mãnh liệt của nó vẫn vẹn nguyên, dù dòng thời gian đã chảy trôi mấy chục năm.

Năm 1979, Đoàn ca múa Việt Nam sang biểu diễn đã được nghe ca khúc này ở rất nhiều nơi trên đất Nhật, bằng tiếng Nhật. Bạn bè xứ sở hoa anh đào giải thích: “Chúng tôi vẫn hát, bởi ca khúc này không chỉ ca ngợi chiến thắng lịch sử của các bạn mà còn là biểu tượng cho một Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh”. Nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, trong danh mục những ca khúc được chọn lựa không thể thiếu “Như có Bác Hồ…” bởi nó giản dị, dễ nhớ, dễ cảm và dễ hát.

“CÂY CÚC ĐẮNG” VẪN “TRỔ HOA VÀNG”

Ngoài những ca khúc về Bác kể trên, ông còn có nhiều bài hát về Đảng thành công như Màu cờ tôi yêu, Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng… Nhiều người từng nhận xét, “Phạm Tuyên là một trường hợp lạ, khó lý giải…”?

Tôi hiểu, bạn đang nhắc tới chi tiết Phạm Tuyên là con trai thứ chín của Phạm Quỳnh nguyên chủ bút báo Nam Phong, người sáng lập và là Tổng Thư ký Hội khai trí Tiến Đức, người từng giữ chức Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học rồi Thượng thư Bộ Lại dưới thời thực dân, đế quốc… Người ta thắc mắc, một nhạc sĩ viết về Đảng, Bác thành công sao lại có một lý lịch quá khứ nhạy cảm đến thế!

Bông cúc đắng” vẫn “trổ hoa vàng”, ông quả thật là một người rất bản lĩnh. Bởi người cùng cảnh ấy sẽ dễ bị dòng đời nhấn chìm, dễ bị những uất ức, bất mãn. Vậy mà ông có thể toàn tâm toàn ý đi theo Cách mạng trọn đời, vẫn là một đảng viên lão thành với 65 năm tuổi Đảng.

Tỷ phú Bill Gates có một câu mà tôi thấy rất đúng: “Cuộc sống vốn không công bằng, phải biết cách thích nghi và vượt lên nó”. Tôi cho rằng, người nào cứ đòi cuộc sống phải công bằng với mình, người đó suốt đời sẽ là một kẻ bất mãn. Làm sao có thể bắt tất cả luôn chiều theo ý mình? Đó là điều không tưởng.

Vâng, trân trọng cảm ơn cuộc trò chuyện thú vị với nhạc sĩ. Chúc ông luôn mạnh khỏe, có nhiều niềm vui, cảm hứng để tiếp tục ra đời nhiều tác phẩm hay về Đảng và Bác Hồ!

H.C.P.

……………………

Ảnh trong bài: Nguyễn Đình Toán

Tháng Ba 28, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Nỗi đau chiến tranh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 3:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 4 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

NỖI ĐAU CHIẾN TRANH   

Nguyễn Ánh Tuyết

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 266 đến trang 274)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu Ba Tuyet sach chung toi da song nhu thehọc giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

Sau chiến tranh, đất nước đã được hòa bình thống nhất, Phạm Tuyên có độ lùi lịch sử, đủ thời gian và sự bình tĩnh để nhìn lại những hy sinh, mất mát của những người ra tiền tuyến cũng như những người ở lại hậu phương đã đóng góp xương máu và cả những gì quí giá nhất của cuộc đời vào cuộc kháng chiến thần thánh vĩ đại của dân tộc, anh lại có những ca khúc chạm đến sợi dây tình cảm thiêng liêng đầy tính nhân bản. Có thể kể đến các ca khúc : Giá anh đừng yêu em, Chỉ có dòng sông biết, Mẹ vẫn chờ, Tiếng vọng Trường Sơn

Về bài Giá em đừng yêu anh phổ thơ Bùi Văn Dung vào lúc xảy ra chiến tranh biên giới. Bài hát thể thiện những day dứt thầm kín, những tình cảm sâu nặng của một người lính đang ở chiến trường nghĩ về người vợ trẻ ở hậu phương. Bài hát thật xúc động nhưng đã gặp phải một số phận khá long đong. Khi ca sĩ Ngọc Tân mới thu thanh lần đầu chưa kịp phát trên sóng phát thanh thì đã có một vài ý kiến không chấp nhận tứ thơ quá chân thật như : « Giá em đừng yêu anh thiết tha nhiều đến vậy… Anh đi dài năm tháng để mình em đợi chờ/ Đừng yêu anh bao giờ/ Hai phương trời bão nổi/ Biết lòng em bối rối/ Con tằm dứt lứa tơ/ Đừng yêu anh làm gì/ Chiến tranh dài lắm đấy/ Chờ anh nhiều như vậy/ Mùa xuân nào chịu yên !… ». Mặc dù ở đoạn kết tình yêu của người chiến sĩ vẫn nồng cháy, vẫn tràn ngập niềm tin : « Giờ có thể yêu em đám say và nồng thắm/ Hai phương trời đầy nắng/ Đợi anh về nghe em ! ». Phải tới mười năm sau, khi Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung đem ca khúc này biểu diễn ở Pháp với sự đồng tình của Bộ Văn hóa – Thông tin thì bài hát mới được trở lại trên sân khấu, trong các băng nhạc và các tuyển tập.

Bài Chỉ có dòng sông biết (phổ thơ Nguyễn Bách), bài hát chứa đựng một nỗi đau thầm kín của đôi trai gái đã mất đi mối tình đầu vì chiến tranh : « Nay anh trở lại, em đã là người mẹ ! ». Họ gặp lại nhau bên bờ sông năm xưa : « Nhưng tuyệt nhiên khong ai nói với ai về buổi chia ly chiều ấy » mà « Chỉ có dòng sông dạt dào cuộn chảy biết đôi bờ sống mãi một tình yêu ». Nỗi đau không phải do cảm giác có thực đem lại mà từ hai tâm hồn trống trải, lẻ loi. Âm nhạc của bài ca toát lên một nỗi buồn da diết, bâng khuâng. Bài hát ngay khi mới ra đời đã được Nghệ sĩ nhân dân Thanh Hoa đem hát cho bộ đội nghe, một vị tướng khi nghe xong đã xúc động nói : « Bài hát đó chính là câu chuyện của đời tôi!». Sau đó, trong đêm nhạc Lời ru mùa xuân của nhạc sĩ Phạm Tuyên nhân dịp 8/3/2001 do Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ tổ chức, Nghệ sĩ nhân dân Trần Hiếu hát bài này làm cho không khí khán giả trầm lắng hẳn xuống, có cả những giọt nước mắt! Để phá tan bầu không khí đó, nghệ sĩ liền xin hát tiếp một bài hát vui nhộn hiếm thấy của nhạc sĩ Phạm Tuyên mong giải khuây cho mọi người, đó là bài Chỉ một mình em biết (1988) phổ thơ Lập Em : « Em muống anh già đi như bao nhiêu người già/ Trước bao cô gái lạ anh chào thật hững hờ rồi quay đi vội vã/ Em muốn anh già đi như bao nhiêu người già/ Chỉ một mình em biết anh trẻ mãi mà thôi ! … ». Với dáng vẻ hài hước, Nghệ sĩ nhân dân Trần Hiếu đã làm cho không khí hội trường vui vẻ trở lại.

Bài Mẹ vẫn chờ (phổ thơ của Đoàn Thị Lam Luyến), không khí âm nhạc của bài hát nghe sao mà khắc khoải, xót xa trong niềm mong mỏi vô vọng. Biết là con mình đã hy sinh nhưng người mẹ vẫn bao đêm thấp thỏm đợi chờ và cứ day dứt băn khoăn : « Sao không về báo mộng, ở đâu con ? » Và người mẹ ấy « Rằm tháng bảy năm nào cũng gói bánh chờ con ». Rồi mẹ cũng có được niềm an ủi lúc tuổi già : « Xóm làng đã thay con dựng cho mẹ căn nhà/ Đã có bể nước trong/ Đã có cong gạo trắng ». Bài hát do Đăng Dương trình bày cùng nhiều hình ảnh đơn côi của những người mẹ đau khổ vì những đứa con không trở về, đã được phát trọn một chương trình truyền hình trên VTV1 nhân ngày thương binh liệt sĩ, trong dịp Nhà nước tặng huân chương cho những người Mẹ Việt Nam anh hùng. Trên Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã ngân vang bài ca này qua giọng hát sâu lắng mà thiết tha của Nghệ sĩ ưu tú Thúy Lan.

Bài Tiếng vọng Trường Sơn (trích thơ Nguyễn Hữu Quý). Trong một ngày hòa bình, đến thăm nghĩa trang Trường Sơn, người nhạc sĩ đã từng góp tiếng reo vui trong ngày đại thắng bỗng thấy tâm hồn mình lắng lại, lặng đi khi nhìn thấy : « Nằm kề bên nhau những nấm mộ giống nhau/ Mười nghìn bát hương, mười nghìn ngôi sao sáng/ Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng/ Mười nghìn đôi vai từng gánh Trường Sơn… ». Anh như nghe thấy lời khẩn thiết tự đáy lòng mình : « Mười nghìn tấm bia, nhưng còn mười nghìn nữa / Mười nghìn đồng đội rải khắp Trường Sơn… Mười nghìn đơn côi đang nằm trong cõi vắng/ Mười nghìn khát vọng mong được về bên nhau » và cũng chính từ trái tim anh đã vang lên « Tiếng vọng Trường Sơn ! Khát vọng Trường Sơn ! ». Âm nhạc trầm hùng nhưng lại ngân lên tiếng vọng khẩn thiết từ Trường Sơn khiến người nghe hết sức xúc động, muốn làm một điều gì đó cho thỏa vong linh những người nằm xuống nơi đây. Bài hát đã được thể hiện với giọng ca của nghệ sĩ ưu tú Ngọc Khang trong một chương trình ca nhạc tại Nhà hát lớn nhân kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sĩ. Sau đó bài hát được phát trọn trong chương trình Tác phẩm mới trên VTV1 bởi giọng ca của Nghệ sĩ ưu tú Trọng Thủy với hình ảnh nghĩa trang và núi rừng Trường Sơn, đem đến cho người nghe sự tưởng nhớ khôn nguôi đối với những liệt sĩ đã nằm lại Trường Sơn.Ca khúc Tháng tư này em ở đâu ? phổ thơ Nguyễn Công Sao là một bài hát trữ tình, anh viết về mối tình của một cô gái thanh niên xung phong sửa đường với anh lính lái xe ra mặt trận. Tình yêu của họ sao mà trong sáng và cao đẹp thế ! Dù đến bây giờ nước nhà thống nhất hòa bình đã mấy chục năm rồi mà họ vẫn xa cách nhau, vẫn tìm nhau, nhưng chỉ còn vọng lại câu hỏi day dứt : « Tháng tư này ngày ấy em ở đâu?». Rồi bao nhiêu kỷ niệm hiện về trong ký ức. Mấy chục năm rồi mà hình ảnh cô gái ấy trong lòng người yêu vẫn trẻ trung, xinh đẹp. Kỷ niệm thời chiến tranh gian khổ mà đẹp đẽ biết nhường nào: «Em còn nhớ những ngày như thế/ Đi san đường tiếng hát lẫn trong mây? Trường Sơn mưa bay mưa bay/ Đường trơn quá xe anh vượt dốc, cua tay lái vực sâu hun hút/ Em hối hả chỉ lối cho xe anh qua». Thoát nạn nhờ cô gái chỉ lối đi, nhưng lại thương cô phải ở lại nơi ác liệt « Xe anh qua rồi/ Em ở lại túi bom », và hình ảnh cô gái ấy vẫn cứ theo anh đi khắp chiến trường với mùi hương hoa rừng ngan ngát. Rồi cứ dồn dập những câu hỏi mà không có người trả lời : « Tháng tư này ngày ấy em ở đâu ? / Mái tóc dài có còn óng ả ? ». Người lính lái xe năm xưa vẫn yêu, vẫn chờ tin tức cô gái thanh niên xung phong, nhưng họ mãi mãi chia ly. Và câu hỏi cứ khắc khoải khôn nguôi : « Tháng tư này ngày ấy em ở đâu ? » vang vọng mãi trong lòng người.Ca khúc Tháng tư này em ở đâu?, lời thơ đã mang một sắc thái tình cảm nhớ thương da diết mà âm hưởng của bài ca lại càng da diết nhớ thương. Nhưng âm nhạc trong ca khúc này không hề sầu thảm bi lụy, vẫn ánh lên niềm tự hào vì đã chứng kiến một tình yêu tuyệt đẹp trong cuộc đời. Tác giả thơ Nguyễn Công Sao đã tâm sự trong một bức thư gửi tác giả nhạc : « Em viết bài thơ ấy cách đây cũng đúng một năm với tình yêu nồng nàn những người nữ Thanh niên xung phong đã một thời cùng với bọn em không tiếc máu xương « Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước »… Bài thơ của em được đăng báo là mừng, giờ lại được anh phổ nhạc thật xúc động. Em lấy làm hạnh phúc lắm, chẳng biết lấy gì để cảm ơn anh được ».Ca khúc Tháng tư này em ở đâu? đã vang lên trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và trong đêm nhạc Vầng trăng Hà Nội của nhạc sĩ Phạm Tuyên (2002) với giọng ca truyên cảm của Việt Hoàn, ca si đã thả hồn mình vào giai điệu và lời ca làm cho người nghe thật xúc động. Ca khúc này cũng đã được trình diễn theo một phong cách khác lạ : phong cách opéra bởi giọng nam trên nền piano trong cuộc vận động sáng tác âm nhạc quốc tế nhân Festival Huế 2004.Một vài người bạn trách anh sao viết nhạc buồn vậy ? Không, đó là nỗi lòng của chính anh, anh cũng như chúng ta, những người đã được hưởng hòa bình, hạnh phúc, ấm no do biết bao người đã hy sinh mang lại, giờ đây chúng ta không thể sống vô tư trong hòa bình được. Phải hiểu thật sâu sắc công ơn của những người đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân ; có cảm nhận sâu sắc hết nỗi mất mát, đau thương ấy mới thấy quý trọng những thành quả của ngày hôm nay và thấy hết trách nhiệm của mình đối với cuộc sống mới. Chính L.S Vygotsky, nhà tâm lý học Nga lỗi lạc (đầu thế kỷ trước), trong cuốn Tâm lý học nghệ thuật nổi tiếng đã viết : « Đối với nghệ thuật, khi viết về nỗi buồn không cốt để làm lây lan nỗi buồn sang người khác, mà phải làm sao cho họ trải nghiệm được và vượt qua nỗi buồn ấy mà đứng lên ».Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, một cuốn nhật ký có số phận thật đặc biệt, do một người lính Mỹ bên kia chiến tuyến đã cất giữ cẩn thận sau 35 năm, nay đưa lại cho gia đình, đất nước cô, được xuất bản, là một sự kiện làm xúc động lòng người không những trong nước mà cả nhiều nước trên thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà Nhà xuất bản Random House – một nhà xuất bản lớn hạng nhất nước Mỹ đã chọn ngày 11/9/2007 – sáu năm sau thảm kịch khủng bố mà nước Mỹ phải gánh chịu làm ngày phát hành quyển nhật ký Đặng Thùy Trâm dưới tiêu đề Đêm qua tôi mơ thấy hòa bình, lấy từ một câu trong cuốn nhật ký giờ đây đã thành bất tử. Đó là cái nhan đề thật đẹp, thật xúc động ! Sau 35 năm « cư trú » tại nước Mỹ, giờ đây nhật ký Đặng Thùy Trâm đã chính thức quay trở lại nước Mỹ và đã có tới 14 nước mua bản quyền cuốn nhật ký có lửa ấy, nghĩa là sắp tới đây Nhật ký Đặng Thùy Trâm sẽ « phủ sóng » trên toàn thế giới với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Khát vọng hòa bình, hạnh phúc của một người con gái Việt Nam đã trở thành thông điệp đến với hàng tỷ người trên hành tinh. Một sự kiện bi hùng như vậy đã tác động mạnh đến mọi người, đến giới văn nghệ sĩ, nhất là giới nhạc. Một số nhạc sĩ đã viết ca khúc về sự kiện đặc biệt này. Nhưng có một điều lạ là không hề thấy xuất hiện một tác phẩm âm nhạc nào của những nhạc sĩ trẻ đang được coi là « ăn khách » hiện nay ! Họ mải làm gì mà trái tim không biết rung động ? Hay trái tim họ đang thổn thức với những nỗi « thất tình » hay đang bận « tán gái » ? Hay họ còn mải chạy theo các mốt rock rap, hip hop đang là thời thượng nhằm quốc tế hóa âm nhạc Việt Nam với nội dung rỗng tuếch mà không thấy hồn dân tộc đâu cả ? Còn đối với nhạc sĩ Phạm Tuyên thì sự kiện này đã tác động mạnh đến anh, làm cho trái tim anh rung lên để bật ra những nốt nhạc bi hùng, thế là ca khúc Ngọn lửa Thùy Trâm ra đời. Bài hát được dàn đồng ca của Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện với giọng lĩnh xướng của Nghệ sĩ ưu tú Phan Muôn vừa trầm hùng vừa tha thiết, nghe sao xúc động lạ thường. Sau đó ca khúc Ngọn lửa Thùy Trâm được phổ biến ở nhiều đoàn nghệ thuật, có đơn vị còn dàn dựng theo hình thức hợp xướng rất bề thế.Khi bài hát vang lên trong một cuộc gặp mặt của Hội Âm nhạc Hà Nội, nhà phê bình âm nhạc Dương Viết Á hồ hởi thốt lên : « Viết về đề tài này không ai qua được Phạm Tuyên!». Và một hôm hai chúng tôi mang bản nhạc và đĩa CD bài Ngọn lửa Thùy Trâm đến tặng gia đình bà Doãn Thị Ngọc Trâm (mẹ của Thùy Trâm), cả gia đình bà và hàng xóm cùng ngồi nghe xung quanh ban thờ người nữ liệt sĩ anh hùng ấy, mọi ngườ inhư nín thở lắng nghe từng giai điệu, từng lời ca của bài hát, một không khí thật trầm lắng. Nghe xong, Kim Trâm, cô em út của Thùy Trâm xúc động nói : «Viết về chị Thùy em đã có nhiều nhạc sĩ đến nhà gửi tặng bài hát, bài nào nghe cũng hay, nhưng hôm nay được nghe bài Ngọn lửa Thùy Trâm của nhạc sĩ Phạm Tuyên, em thấy xúc động hơn cả. Bài hát quá hay!».

N.A.T.

Cái gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:44 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 4 năm 2014.

CÁI GÌ CỦA LỊCH SỬ HÃY TRẢ LẠI CHO LỊCH SỬ

Nguyễn Ánh Tuyết

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 248 đến trang 250)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong hội thảo Ký ức và lịch sử diễn ra tói 19/3/2014 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội) do Nhà xuất bản Tri Thức tổ chức, nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã phát biểu. Ông cũng kiến nghị cần phải đưa cuộc chiến biên giới phía Bắc năm 1979 vào sách giáo khoa và các tài liệu nghiên cứu lịch sử để nhân dân được hiểu biết đầy đủ về lịch sử đau thương, mất mát của dân tộc. Vì “Chiến tranh là hố sâu ngăn cách giữa các quốc gia. Viết ra những sự thật chính là xây những cây cầu bắc qua hố sâu đó”- nhà sử học Dương Trung Quốc nói. (báo Tuổi Trẻ, thứ sáu 21/3/2014, trong mục Văn hóa – Nghệ thuật).

—o0o—

Hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới xảy ra, anh lại viết ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do đúng vào đêm 17/2/1979 khi nghe Đài báo tin quân giặc tràn đến biên cương nước ta. Và hàng triệu người dân yêu nước đã nghe bài hát ấy như một lời giục giã khẩn thiết của lòng mình. Lời ca và nhạc điệu của ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do nghe sao da diết lạ thường: “Việt Nam! Ôi nước Việt yêu thương! Lịch sử đã trao cho Người một sứ mạng thiêng liêng/ Mang trên người còn lắm vết thương/ Người vẫn hiên ngang ra chiến trường/ Vì một lẽ sống cao đẹp cho mọi người: Độc lập – Tự do!”. Bài hát cũng đã gợi lên ở người nghe lòng tự hào với những chiến công hiển hách trong lịch sử của dân tộc ta: “Đất nước của ngàn chiến công vẫn sục sôi khí thế hào hùng/ Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa đang gọi tiếp thêm những bản hùng ca!”.

Bài hát được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam gây xúc động mạnh cho mọi người, từ các nơi: Tây Bắc, Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, nhiều lá thư gửi về Đài nói lên cảm tưởng của họ, những người đang sống vào thời điểm khi mà chúng ta vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ và chỉ mới hưởng hòa bình chưa được bao lâu thì phải bước vào một cuộc chiến đấu mới. Các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang phổ biến cho nhau ca khúc này và coi đây là lời động viên đầy tâm huyết. Nhiều người trong giới nhạc cũng nói lên niềm khâm phục tài năng viết ca khúc chính trị nhanh nhạy mà đầy sức lay động của nhạc sĩ Phạm Tuyên ở những thời điểm lịch sử như thế này.

Ngay sau đó, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng một số nhạc sĩ của Đài Tiếng nói Việt Nam lên ngay biên giới để hòa nhập vào cuộc chiến đấu mới của dân tộc. Và bài Tiếng đàn bên bờ sông biên giới cũng kịp ra đời để động viên quân và dân, nhất là tuổi trẻ miền biên cương trong cuộc chống trả khốc liệt với bọn xâm lược bành trướng dã man. Âm nhạc thống thiết với lời ca: “Từng mảnh đất nơi đây thắm máu và thắm hoa/ … Tuổi trẻ chúng ta chiến đấu và hát ca”… Trong chuyến đi biên giới này, anh cũng cho ra đời một loạt bài chống quân xâm lược bành trướng và ca ngợi tinh thần chiến đấu Tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh (người anh hùng đã hy sinh ở cột mốc số 0), Có một đóa Hồng Chiêm (người con gái đã dũng cảm hy sinh đẹp như một đóa hoa trong cuộc chiến đấu với quân giặc tàn bạo trong chiến tranh biên giới). Âm hưởng của những bài ca ấy đến nay vẫn nằm trong hồi ức của những ai đã sống những ngày đau thương và sôi nổi ấy.

Chỉ tiếc rằng giai đoạn lịch sử bi thương và hào hùng ấy, “người ta” không muốn nhắc lại (vì lý do chính trị?) nên những khúc ca bi tráng thời kỳ đó cũng như bị “loại ra” khỏi dòng âm nhạc cách mạng đầy tự hào của nhân dân ta. Tại sao lại như vậy? Chẳng lẽ chúng ta lại bỏ quên một giai đoạn lịch sử đẫm máu và vẻ vang đó ư? Năm 2004 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho xuất bản tập nhạc đồ sộ Những khúc quân hành vượt thời gian, nhiều khúc quân hành có giá trị (kể cả một số ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên) đã có mặt trong đó. Nhưng tiếc thay ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do có sức lay động lòng người trong chiến tranh biên giới lại không được đưa vào. Thấy tiếc quá, một số đồng chí trong Hội đồng biên tập đề nghị với tác giả của nó là nên thay cụm từ “Quân xâm lược bành trướng dã man” bằng cụm từ khác mà không có chữ “bành trướng”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhất định không đồng ý vì anh muốn giữ lại tính lịch sử của tác phẩm. Và khúc quân hành nổi tiếng đó đã không có mặt trong tập nhạc Những khúc quân hành vượt thời gian! Phải chăng “người ta” cứ muốn quên đi một chặng đường đấu tranh bi hùng của đất nước, nhưng làm sao có thể quên được? Chúng ta vẫn phải ghi nhớ và ghi nhớ đến muôn đời, vì đó là lịch sử! Cái gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử!

N.A.T.

 

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 4 năm 2014)

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 2:27 sáng

cung ban doc (tuan 1 thang 4 nam 2014)

Tháng Ba 21, 2014

Người nối lại giao tình giữa hai nhạc sĩ Việt – Mỹ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

 

NGƯỜI NỐI LẠI GIAO TÌNH GIỮA HAI NHẠC SĨ VIỆT – MỸ

Priscilla Aquilla

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN với các đối tác vừa diễn ra tại Ba-li In-đô-nê-xi-a, trong đó có nhiều cuộc tiếp xúc song phương. “Sáng 22/7, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã có cuộc tiếp xúc song phương với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hi-la-ri Clin-tơn bên lề các cuộc họp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với các đối tác.

Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Hi-la-ri Clin-tơn đã chia sẻ đánh giá về những tiến triển mới trong quan hệ hai nước; bày tỏ hài lòng về những bước phát triển tích cực trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Hoa Kỳ trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, an ninh, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, nhân đạo, v.v. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Clin-tơn nhất trí hai nước tiếp tục phấn đấu thúc đẩy, nâng tầm quan hệ song phương lên mức cao hơn, hướng tới quan hệ đối tác chiến lược” (Báo Nhân Dân ngày 23/7/2011, trang 8).

Thật ra, đã có những người Mỹ nhảy dù tiếp xúc với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu, trên chiến khu Việt Bắc và họ đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và chỉ sau năm năm nửa triệu quân Mỹ đổ bộ ồ ạt vào Việt Nam qua cảng Đà Nẵng, trực tiếp tàn sát đồng bào ta ở miền Nam và bắn phá, ném bom miền Bắc nước ta thì một nhạc sĩ – ca sĩ Mỹ nổi tiếng – Pete Seeger đã lặn lội sang Việt Nam tìm gặp người nhạc sĩ tri kỷ, tri âm Phạm Tuyên (sinh tại Hà Nội, 12/1/1930). Pete Seeger (sinh tại New York, 3/5/1919) từng đi đầu nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông cầm đàn, vừa đi vừa ứng tác, tiếp sức cho cuộc biểu tình tuần hành bằng cách nghĩ được câu nào gảy đàn và hát ngay lên cho các hàng người hát theo, rồi tiếp đến câu sau, như làn sóng lan đến cuối đoàn người tuần hành. Cứ thế biết bao bài hát phản chiến đã ra đời, sau này ông gửi cho nhạc sĩ Phạm Tuyên 267 bài. Lần ấy ông đến Việt Nam tìm Phạm Tuyên vì ông được nghe trên sóng của đài phát thanh Cu-ba bài hát Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ của Phạm Tuyên viết tặng ông cuối năm 1969, nhân tình cờ nhìn thấy trên màn hình ti-vi hình ảnh chàng thanh niên Pete Seeger cầm ghi ta hát vang bài hát về Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn biểu tình tuần hành chống chiến tranh Việt Nam.

Dưới nhan đề Người nối lại giao tình giữa hai nhạc sĩ Việt – Mỹ và ảnh của chúng tôi là toàn văn bài viết bằng tiếng Anh đăng trên báo Thanh Niên Weekly (Tuần san Thanh Niên) số 18-24/2/2011 của Priscilla Aquilla nhan đề Forcing hate to surrender (tạm dịch là Xoá bỏ hận thù). Bản chuyển ngữ sang tiếng Việt của bạn Nguyễn Văn Chiên (sinh năm 1940, tại Viên-chiên Lào).

—o0o—

NGƯỜI MỸ TIẾP XÚC

VỚI NHỮNG BÀI HÁT CHỐNG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

VÀ NỐI LẠI HAI THẦN TƯỢNG.

Mẹ Việt Nam, có biết chăng giờ này đoàn con đã lên đường”. Đó chỉ là một đoạn, đồng ca, trong bài hát mà Molly Hartman O’Connell  hiểu, chị nhắc lại, vì tiếng Việt của chị còn vụng về nhất là khi chị mới nghe lần đầu.

Và đó là bài hát chiến tranh Việt Nam mà những sinh viên quê ở Brooklyn (New York) từng học nhân chủng học ở Đại học Columbia lần đầu tiên đã nghe thấy trong chương trình Tiếng hát những đêm không ngủ do nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Tuyên dàn dựng năm 1970 để lại ấn tượng trong lòng người nghe .

Bài hát đó đã lóe lên trong cô ý muốn biết người đã sáng tác ra bài hát và cô muốn hiểu vai trò của bản nhạc này đã tác động như thế nào.

Theo đúng truyền thống phải có nhận xét sơ bộ của các nhà nhân chủng học, Molly quyết định phải tập để tự hát cho được những bài hát chiến tranh Việt Nam và cô đã được nhạc sĩ thanh nhạc Cao Nguyệt Hảo hướng dẫn, bà là một thành viên đã về hưu của Nhà hát Ca múa Nhạc Quốc gia Hà Nội.

Dù cho, “Tôi là sinh viên, tôi không phải là ca sĩ”, cô nói với báo Tuần san Thanh niên .

Được nhận học bổng Fullbright, Molly rời  thành phố quê hương năm 2003 để đi học về những vấn đề  phụ  nữ đương đại cũng như về ngôn ngữ Việt Nam theo chương trình trao đổi giữa hai nước.

Tên Việt Nam của chị là Mai Lý, Molly tự nhiên thích những bài hát cách mạng Việt Nam khi chị làm quen với các bạn bè cũng như khi nói chuyện với những người phụ nữ ở đây, nhất là những người trước 1975 từng là tù chính trị.

Cha mẹ chị từng là công nhân và nhà hoạt động xã hội trong cộng đồng, và các anh của chị biết nhiều về các phong trào âm nhạc chống chiến tranh, nên rất dễ dàng cho Mai Lý đi sâu vào âm nhạc chiến tranh ở Việt Nam.

 “Tôi biết nhiều bài hát từ bố mẹ, bố mẹ tôi cùng thế hệ với Bob Dylan, ban nhạc Woodstock năm 1969. Bố mẹ tôi rất quan tâm và cảm thấy gần gũi với bất cứ vấn đề gì tôi nói về Việt Nam, dù rằng bố mẹ tôi thời gian đó chưa đến Việt Nam.”

Họ thực sự như đã sống trong giai đoạn đó và họ biết tất cả những câu chuyện về bối cảnh chiến tranh, kể cả những chuyện về Côn Đảo, nơi nổi tiếng về nhà tù xây từ thời chính quyền thực dân Pháp, bởi vì thời đó, mọi chuyện đều được biết thông qua tạp chí và các kênh truyền thông. Molly, hiện nay đang làm tại một công ty tư nhân ở thành phố Hồ chí Minh. Cô nói: “ Không như bố mẹ, khi tôi nghe một bài hát, hay khi tôi được nghe kể về thời kỳ đó , tôi phải mường tượng ra những gì xảy ra. Thực vậy, điều rất hay là hầu hết những người trong thế hệ trước, như bố mẹ tôi  chưa bao giờ nghĩ  hay tìm kiếm các thông tin về Việt Nam ngày nay sau chiến tranh. Họ chỉ biết về Việt Nam trong những ngày xưa đó.

 “Vì thế khi tôi thông báo cho bố mẹ tôi rằng tôi sẽ đi Việt Nam để tìm hiểu, thì họ không hề e ngại chút nào, họ rất phấn khởi. Bố mẹ tôi nói: “OK, đi Việt Nam đi, và tìm thấy những gì ngay tại chỗ nhé ”.

Hành trình đến Việt Nam của cô và hành trình tìm hiểu âm nhạc yêu nước Việt Nam của cô đã đi sâu hơn những gì cô dự định .

Nhạc sĩ Hảo đã dậy Molly không chỉ hát như thế nào và phát âm lời bài hát ra sao, mà ông còn giải thích  ý nghĩa và những chuyện đằng sau mỗi bài hát; ông còn giới thiệu cho các sinh viên người Mỹ của ông  một số nhạc sĩ thời chiến tranh, như Phạm Tuyên, Phan Huỳnh Điểu, Lư Nhất Vũ và Trương Tuyết Mai.

Cái hay nhất trong chuyện của Molly không phải là cô trở nên nổi tiếng như thế nào và cô đã được mời trình diễn trong chương trình các kênh TV như HTV của nước sở tại, cũng không phải là cô đã nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi hát.

Mà cái hay nhất là sau lần đầu tiên gặp nhạc sĩ 81 tuổi Phạm Tuyên, ông đã nói lên cảm hứng sáng tác bản nhạc đỏ kinh điển Như có Bác trong ngày đại thắng và bản Gẩy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ; tặng Pete Seeger vào năm 1969.

Ông Tuyên nói với cô trong lần gặp năm 2007 đó tại nhà ông ở Hà Nội, là bài hát đã được sáng tác  để  đáp lại Bài ca Hồ chí Minh của Pete Seeger, một ca sĩ dân ca Mỹ 92 tuổi, và đó là một nhân vật biểu tượng cho sự hồi sinh âm nhạc dân ca Mỹ giữa thế kỷ 20. Pete Seeger  cũng  đi tiên phong trong âm nhạc chống chiến tranh, ông đã dẫn đầu đoàn một triệu người đi bộ ở Washington D.C. năm 1969  để phản đối chiến tranh Việt Nam.

Pete Seeger nghe được bài hát của ông Tuyên khi bài hát được Đài Phát thanh Cuba La Habana phát sóng vài tháng sau đó. Xúc động về bài hát, Pete tìm đường sang Hà nội, và gặp Phạm Tuyên đầu những năm 1970. Đến khi Molly thăm ông Tuyên thì  họ đã mất liên lạc với nhau.

 “Mai Lý là một ca sĩ, người hâm mộ đặc biệt của tôi không phải vì cô là một người Mỹ có thể hát bài hát Việt Nam, mà còn vì những tình cảm của cô, đặc biệt tình yêu của cô và sự đánh giá cao âm nhạc truyền thống và âm nhạc cách mạng Việt Nam, mà nhiều người trẻ ở Việt Nam ngày nay không hiểu” ông Tuyên nói.

Molly kết luận. “Nhiều người trẻ Việt Nam thích bài hát Mỹ, và nhiều người trong số đó thích nhạc pop, trong khi  những người Mỹ lại  muốn học nhiều hơn nữa về âm nhạc truyền thống Việt Nam.” “Nhạc pop không có ý nghĩa thực tế, chỉ để vui nhộn. Khi một ca sĩ Việt Nam hát một bài hát bằng tiếng Anh, âm thanh nghe rất hay nhưng bài hát không có ý nghĩa văn hóa. Tôi cho rằng âm nhạc truyền thống phải được trao đổi giữa hai nước, vì  không có nhiều người trình diễn nhạc này ở nước chúng tôi .”

Ông Tuyên nói ông có nhiều lý do biết ơn Molly hơn là thấy sự quan tâm của cô đối với âm nhạc cách mạng Việt Nam.

 “Hơn thế nữa, tôi rất muốn cảm ơn Molly vì cô đã bắc chiếc cầu cho tôi nối lại mối liên hệ với Pete Seeger”.

Ngày15 tháng 2, ông Tuyên đã nhận được lá thư có lời của 200 bài hát chống  chiến tranh  của Pete Seeger, và cả đĩa CD từ người nhạc sĩ và ca sĩ Mỹ này. Sau khi  nghe những câu chuyện quanh bài hát Gẩy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ, Molly hứa sẽ giúp người nhạc sĩ Việt Nam tiếp xúc với Pete Seeger ở bên Mỹ, vì cha mẹ cô quen biết nhiều nghệ sĩ thế hệ đó.

 “Thật sửng sốt là Pete Seeger, đã nổi tiếng và hằng ngày nhận được nhiều thư từ, mà ông lại viết thư hồi âm cho tôi sau khi tôi tìm cách tiếp xúc với ông.” Molly nói, cô đã gửi cho Pete  bản dịch bốn bài hát của Phạm Tuyên.

Với việc Bob Dylan đã sắp sang Việt Nam để tưởng nhớ Trịnh Công Sơn, tình đoàn kết giữa các nghệ sĩ của thế hệ chiến tranh Việt Nam đã được thắt chặt .

Trong lá thư cuối cùng  gửi cho ông Tuyên, ông già Pete Seeger 92 tuổi viết: “Tôi đã mất giọng rồi, vậy mà tôi vẫn làm việc. Là những nhạc sĩ,nghệ thuật của chúng ta phải vượt qua rào cản ngôn ngữ và những khác biệt trong văn hóa hay chính trị để làm việc vì hòa bình”.

P.A.

Ngày đất nước trọn niềm vui và niềm tin của tác giả bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

Ngày đất nước trọn niềm vui và niềm tin của tác giả bài hát

Như có Bác trong ngày đại thắng

Thanh Tùng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này đã đăng trên báo trang 4 số Tiền Phongkỷ niệm ngày thống nhất, ngày nối tròn một vòng Việt Nam” cuối tháng 4/2010 với nhan đề Ngày đất nước trọn niềm vui. Nhưng ở đây, theo lệ của Blog, chúng tôi đăng theo nguyên văn bản thảo tác giả gửi cho chúng tôi “xem chơi”, sau khi được phép của ông.

—o0o—

Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học kể: Ngày 4-10-2002, nhân gặp nhà thơ Huy Cận (thành viên phái đoàn của Chính phủ lâm thời từ Hà Nội vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại) ở cuộc nghiệm thu một công trình khoa học tại Hạ Long, ông có hỏi về cái chết của cụ Phạm Quỳnh, nhà thơ Huy Cận trả lời: “Chính Bác đã nói: Đã lỡ mất rồi

Hồi ấy, nhạc sĩ Phạm Tuyên chưa được gặp Bác Hồ nhưng ông được nghe nhà thơ Huy Cận truyền lại lời nhắn gửi. Bác Hồ nói: Cụ Phạm là người của lịch sử, hãy để lịch sử sau này, đánh giá lại, các con cháu cứ yên tâm đi theo cách mạng.

Khôi ngô ngay từ khi mới lọt lòng mẹ, cụ thân sinh mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong nhị thập bát tú. Ứng với lời tiên tri, sau này ông trở thành đại biểu quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Việt Nam, Nhà giáo Nhân dân, vị giáo sư nổi tiếng về lão khoa, đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong ngành Y tế, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi. Ông là GS Phạm Khuê.

Em trai ông, nhạc sĩ Phạm Tuyên nổi tiếng với bài Như có Bác trong ngày đại thắng mà cả đất nước Việt Nam ai cũng biết hát. Hồi năm ngoái qua Xiêm Riệp, đến các khu đền tháp Angkor, chỗ nào tôi cũng gặp một ban nhạc dân tộc của những người khuyết tật, nạn nhân của thảm hoạ diệt chủng. Anh bạn hướng dẫn viên nói đây là du khách Việt Nam, tức thì dàn hợp xướng không chuyên này chuyển sang trình bày bài Như có Bác trong ngày đại thắng. và du khách lại rút ví bỏ vào cái thùng đan bằng mây những tờ tiền giấy. Tôi kể chuyện này với nhạc sĩ Phạm Tuyên, ông cười hồn hậu và bật mí: Tết vừa rồi có một vị lãnh đạo cao cấp đến thăm tôi. Ông nói rất chân tình: Đi nước ngoài bọn tôi chỉ biết hát mỗi một bài Như có Bác trong ngày đại thắng. Các bạn cũng biết bài đó và vỗ tay hát theo, chỗ thì bằng tiếng nước họ chỗ thì bằng tiếng Việt Nam, nhưng nhịp điệu thì rất chuẩn. Phạm Tuyên sáng tác bài Như có Bác trong ngày đại thắng vào đêm 28-4-1975, đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam tập và thu âm ngay trong buổi chiều ngày 30-4 để phát sóng trong bản tin thời sự đặc biệt lúc 17h, chính thức công bố với cả thế giới chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Đi vào con đường âm nhạc từ trong kháng chiến chống Pháp, tên tuổi và sự nghiệp của Phạm Tuyên được khẳng định từ đầu thập niên niên 60 với nhiều ca khúc cho nhiều lứa tuổi. Nhiều sáng tác cho thiếu nhi đã trở thành bài hát truyền thống qua nhiều thế hệ như: Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hành khúc Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Hát dưới cờ Hà Nội, Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội, Đêm pháo hoa, Cô và mẹ… Nhiều ca khúc của ông từ hồi đó đã trở thành ngành ca, thành nhạc hiệu của nhiều chương trình phát thanh như Bài ca người thợ rừng, Bài ca người thợ mỏ, Bám biển quê hương, Yêu biết mấy những con đường, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Từ làng Sen, Đêm Cha Lo, Từ một ngã tư đường phố.

Sự nghiệp âm nhạc của Phạm Tuyên đã có khoảng hơn 600 ca khúc. Ông viết nhiều và viết rất nhanh. Có những ca khúc đánh dấu một thời điểm lịch sử, một thời khắc thiêng liêng, một sự kiện trọng đại, một chiến dịch như: Chiếc gậy Trường Sơn, Miền Nam anh dũng và bất khuất (hợp xướng), Con kênh ta đào… Bài Từ Làng Sen Phạm Tuyên sáng tác sau ngày Bác ra đi. Thập niên 80 từ tứ của nhạc phẩm này ở Nghệ Tĩnh xuất hiện các hội thi Hát từ Làng Sen, một phong trào ca hát về Bác Hồ lan toả khắp các địa phương. Dần dần hội thi phát triển lên qui mô toàn quốc, tổ chức 5 năm một lần. Như có Bác trong ngày đại thắng viết trước khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử hai ngày. Gửi nắng cho em…viết đầu năm 1976, “khi hai miền cùng vào một vụ chiêm”… “cùng vào mùa một ngày vui thống nhất…”. Ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do được ông sáng tác ngay trong đêm đầu tiên của ngày xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc – năm 1979. Có thể coi đây là ca khúc mở đầu cho một dòng nhạc xuất xứ từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc Tổ quốc với những bài rất hay như Gửi em ở cuối sông Hồng, Tình yêu trên dòng sông Quan họVì thế có người nói rằng các ca khúc Phạm Tuyên là một biên niên sử bằng âm nhạc.

Hơn thế nữa Phạm Tuyên còn là một nhạc sĩ viết về Đảng hay nhất với các tác phẩm tiêu biểu: Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Màu cờ tôi yêu, Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng. Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể, hồi lên chiến khu Việt Bắc ông học trường Pháp lý. Có cái hay là ở trường này được học ngoại ngữ và được giác ngộ về Đảng nhờ một số sách do các ông Lê Đạt, ông Đặng Đình Hưng cho. Sách viết về chủ nghĩa cộng sản in bằng tiếng Pháp. Nhiều ca khúc viết về Đảng sau này của ông là sự giải mã kiến thức, sự giác ngộ từ sách tiếng Pháp. Ví dụ như thơ Aragon có câu khiến lúc đó ông phải giật mình: Đảng cho tôi màu xanh nước non nhà. Hay nhà văn chiến sĩ Cộng sản Pháp Paul Vaillant – Couturier nói rằng: Chủ nghĩa Cộng sản là Mùa xuân của nhân loạiNhờ thế ông mới có bài Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng Đảng đã cho ta cả một mùa xuân…

Màu cờ tôi yêu là một kỷ niệm với Diệp Minh Tuyền. Có lần Diệp Minh Tuyền giãi bày: bây giờ viết về Đảng khó thật. Phạm Tuyên bảo đúng  là khó nhưng không thể không viết, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Sau đó, ở trên máy bay Diệp Minh Tuyền đưa cho Phạm Tuyên một bài thơ về Đảng. Ông đọc thấy hay, trong đó có câu ông cứ nhấn đi nhấn lại ý của tác giả: Suốt đời lòng dặn giữ lời/Đường dài muôn dặm chớ rời tay nhau…

Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Tuyên được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Bám biển quê hương, Đảng đã cho ta cả một mùa xuân, Chiếc gậy Trường Sơn, Gẩy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Như có Bác trong ngày đại thắng. Gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên dịp ông vào dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Huế tôi hỏi: Vì sao người viết Như có Bác trong ngày đại thắngvẫn chưa được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh? Ông cười và lại dẫn lời của tỷ phú Bill Gates: “Cuộc sống vốn không công bằng, phải tìm cách thích nghi và vượt lên nó”.

Đúng như thế, cuộc sống vốn không công bằng với gia đình Phạm Tuyên nhưng ông đã hoà nhập, thích nghi để vượt qua mọi trở ngại, vượt lên chính mình. Ông có người em ruột tốt nghiệp đại học Văn Khoa, ở miền Nam không tránh khỏi đi lính. Sau này anh em gặp nhau ở Mỹ, chú em nói: Cây gậy Trường Sơn của anh văng đến đâu là em phải chạy khỏi chỗ đấy… Biết Phạm Tuyên qua Mỹ, nhiều người nể trọng nhưng cư dân mạng bên ấy lắm kẻ chửi ông ra rả, cho ông là đứa con bất hiếu. Ông cười, khi về đến nhà mở mạng lại thấy có người viết: Phạm Tuyên là đứa con rất có hiếu.

Ông thường nói cuộc đời nhiều khi cũng gặp trắc trở nhưng bản thân tôi lại may mắn được gặp nhiều người tốt. Ví dụ: Sau khi tốt nghiệp Trường Lục quân về làm Đại đội trưởng Trường Thiếu sinh quân ông được Hiệu trưởng là Lê Chiêu giới thiệu vào Đảng. Sau này gặp lại ông Lê Chiêu nhạc sĩ Phạm Tuyên hỏi, việc anh giới thiệu một người có lý lịch như tôi vào Đảng thì có gặp phiền phức gì cho bản thân hay không? Ông Lê Chiêu bảo, cũng có chút ít thôi nhưng không sao; ai hỏi thì mình bảo Tuyên là người tốt, cần được kết nạp, mà nếu có là con quan Thượng thư thì chắc phải là con của bà ba, bà tư, tức là thuộc thành phần không bóc lột… Lúc đó đâu có ai biết rằng Phạm Tuyên là con của bà cả, và quan Thượng thư đầu triều như cụ Phạm Quỳnh lại chỉ có duy nhất một vợ. Ngày trước cụ Phạm có một công trình nghiên cứu về ca trù. Công trình này về sau Viện Âm nhạc Việt Nam đã in lại. Nhân đọc cuốn sách này có người hỏi Phạm Tuyên: Cuộc đời ông cụ chắc đã gặp khá nhiều đào nương? Nhạc sĩ Phạm Tuyên bảo, ngày trước, nếu có ai hỏi ông về chuyện tế nhị này thì ông trả lời: tôi lấy vợ sớm… Gặp người tò mò hơn thì cụ bảo: Gặp đào nương không bao giờ tôi nghĩ chuyện gì khác. Tôi lấy vợ sớm nên nó chỉ bằng con mình thôi. Tôi không bao giờ có ý nghĩ gì khác với các đào nương ngoài thưởng thức và nghiên cứu nghệ thuật hát ca trù. Thời kỳ làm quan ở Huế cũng có những lúc người ta mời cụ xuống đò. Cụ từ chối nhẹ nhàng: Con gái tôi đã lớn rồi…

Nhân vào Huế, bạn bè đồng hành từ Hà Nội và thân hữu ở Huế cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên sắm sửa lễ vật, hương hoa dâng lên cụ Thượng Chi ở nơi cụ an nghỉ phía trước chùa Vạn Phước. Trước mộ phần cụ Thượng Chi nhạc sĩ Phạm Tuyên bày tỏ niềm vui và niềm tin về sự cởi mở của giới nghiên cứu trong việc nhìn nhận đánh giá lại các nhân vật lịch sử. Ông rất mong muốn được chứng kiến một sự giải toả về cụ thân sinh và gia đình mình.

Có những người dấn thân trong một bối cảnh lịch sử phức tạp, đầy biến động và đầy thử thách. Bản thân họ cũng gặp những mâu thuẩn, bế tắc không thể giải quyết nổi dẫn đến những ứng xử đầy tính nghịch lý bởi ranh giới giữa cái đúng và cái sai không rõ ràng. Phạm Quỳnh là một nhân vật điển hình, nổi bật lên trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cận – hiện đại, nhưng lại gây nên nhiều tranh luận với những ý kiến khác nhau. Gần đây, nhiều tác phẩm với hàng nghìn trang sách của cụ Thượng Chi đã được in lại; nhiều bài viết nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh đã được đăng tải trên các tờ tạp chí, các tờ báo có số lượng phát hành lớn là một tín hiệu rất đáng mừng. Cụ Thượng Chi đã trở lại vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam và trong tình cảm của đông đảo độc giả. Trong tiến trình đổi mới, đất nước ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh, đã có một cách nhìn khác về những nhân vật từng bị đối xử không thấu tình đạt lý.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên và tác giả bên mộ cụ Thượng Chi

Độc giả nhiều thế hệ viếng mộ cụ Thượng Chi

Huế, 26-3-2010

TH.T

Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên: Ở những thời điểm lịch sử (P2)

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Ở NHỮNG THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ 

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 250 đến trang 266)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trangBa Tuyet sach chung toi da song nhu the. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

(Tiếp theo kỳ trước)

B

ên cạnh những ca khúc Phạm Tuyên viết về cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân, ta không thể không nhắc tới một mảng đề tài anh viết để khích lệ, động viên bè bạn trên thế giới chiến đấu vì độc lập tự do của nước họ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân đế quốc. Có thể kể những ca khúc sau đây, như bài Lời ca chiến thắng vang vọng Trường Sơn ca ngợi tình đoàn kết chung lưng đấu cật của hai dân tộc Việt – Lào với âm nhạc dạt dào, trong sáng mà thắm thiết: “Bên kia Trường Sơn súng diệt Mỹ vang gần xa/ Bên này Trường Sơn có ngàn tiếng súng đang cùng hòa/ Việt – Lào tay nắm chặt tay đi giữ gìn lấy non sông của ta”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên còn là người chỉnh lý bài Quốc ca Lào. Vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tình hình cách mạng Lào có nhiều tiến triển tốt, cần có một bài Quốc ca để cổ vũ nhân dân Lào đấu tranh giành độc lập tự do cho đất nước. Lúc đó đồng chí Xi-xa-nạ (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng Cách mạng Lào phụ trách tuyên huấn của Đảng bạn) và một vài đồng chí người Lào nữa đang làm việc ở bộ phận phát thanh tiếng Lào của Đài Tiếng nói Việt Nam liền ôn lại những bài ca cách mạng Lào và muốn chọn trong đó một bài làm Quốc ca. Họ đang lúng túng thì nghĩ ngay đến nhạc sĩ Phạm Tuyên (lúc đó đang phụ trách âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam) nhờ giúp đỡ. Họ hát lại cho anh nghe một số các bài ca Cách mạng Lào, nhưng câu nhớ, câu chăng, chưa ra hình thù nào cả. Và anh đã giúp họ chọn bài rồi chỉnh lý lại, sau này bài hát đó đã được chọn làm Quốc ca Lào cho đến bây giờ.

Bài Nụ cười Bay-on mừng nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng nhờ sự giúp sức của quân đội Nhân dân Việt Nam, với âm hưởng trầm hùng và sâu lắng: “Rồi một mùa xuân đã về với bao nhiêu tấm lòng/ Một cuộc hồi sinh sau ngàn đêm tối tăm hãi hùng/… Nhân dân Khơ-me đã đứng lên trong oán hờn/ Tay cầm thêm chắc súng dựng lại cuộc đời đẹp tươi/ Nụ cười Bay-on sáng lên trên đỉnh tháp xưa/ Nụ cười nhân ái sáng trong bao niềm ước mơ”… Ca khúc này anh viết ngay sau khi nhân dân Campuchia vừa mới thoát khỏi nạn diệt chủng, khi đất nước chùa tháp còn đang ngổn ngang nhà tù và xác người.

Bài Có bà mẹ Nga, với giai điệu trầm lắng thắm thiết mang âm hưởng Nga, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã gửi gắm lòng biết ơn của mình đến nước Nga Xô – viết. Trong đấu tranh, hai đất nước đã gần nhau hơn, tình đoàn kết thân thiết giữa hai dân tộc được thể hiện qua tình cảm của một bà mẹ Nga: “Có người mẹ Nga thương đứa con Việt Nam trong những năm dài đầy lửa khói gian nan/ Xa lũy tre xanh đến xứ sở Bạch Dương/ Mong ngày trở về đi giải phóng quê hương”… Rồi với một điệp khúc tha thiết nâng tình mẫu tử ấy thành ngọn lửa sưởi ấm lòng người: “Ơi! Tấm lòng bà mẹ Nga nhân hậu và rộng lớn bao la/ Mẹ thấu hiểu những mất mát của chiến tranh/ Mẹ khát khao những sớm bình minh trong lành/ Ơi! Tấm lòng bà mẹ Nga như tấm lòng mẹ Việt Nam ta/ Sưởi ấm lòng con trên đường dài tranh đấu/ Mãi mãi gắn liền hai đất nước bên nhau”. Và những đứa con trên đất Nga ngày ấy đã trở về Việt Nam thành những người lính đấu tranh dũng cảm trước quân thù, thành những người con bền bỉ, sáng tạo xây dựng đất nước sau chiến tranh. Họ là những công dân, những nhà lãnh đạo của đất nước Việt Nam đang hội nhập vào thế giới bao la. Anh viết bài này cũng đang trong tâm trạng nhớ hai con gái của mình đang học ở Nga.

Bài Thấy chăng anh, cảng của chúng tôi? gửi các bạn thủy thủ nước ngoài vẫn lui tới cảng Hải Phòng ngay trong những ngày bom B52 của giặc Mỹ dội xuống làm rung chuyển cả biển trời: “Từ ngoài khơi xa mênh mông, anh có thấy chăng phía chân trời/ Vầng hào quang trong đêm thâu tỏa ánh sáng ngời… Bến Việt Nam đây, Hải Phòng đây!/ Đón gió mát bốn hướng đang thổi tới/ Trong tình mến thương chan hòa nồng hậu và thắm tươi”…

Đ

ặc biệt bài Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ! anh viết từ cuối những năm 60 thế kỷ trước tặng nghệ sĩ Pete Seeger người đã dẫn đầu đoàn biểu tình ở Washington chống chiến tranh ở Việt Nam với cây đàn ghi-ta và hát bài hát The Ballad of Ho Chi Minh (Bài ca Hồ Chí Minh) của Ewan MacColl. Tình cờ qua Đài Phát thanh La Habana (Cuba) Pete Seeger đã nghe được bài hát Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ! và ông đã tìm cách đến với Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh (qua con đường Trung Quốc). Ở sân bay Gia Lâm dã chiến, hai vợ chồng Pete gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, họ ôm lấy nhau và cùng ca vang bài hát này.

Gần 40 năm đã trôi qua, bài ca tưởng như đã đi vào quá khứ như một kỷ niệm về một thời hào hùng khó quên. Vậy mà mới đây chúng tôi lại được nghe một cô gái Mỹ đến thăm nhà và hát bài ca sôi nổi này. Đó là vào một buổi trưa tháng 7 năm 2006, cô đi xe ôm đến nhà chúng tôi. Cô nói tiếng Việt khá tốt. Gặp chúng tôi cô nhanh chóng tự giới thiệu: “Cháu tên là Molly Hartman-O’Connell, xin cứ gọi cháu tên Việt Nam là Mai Ly cho dễ. Cháu được biết địa chỉ của nhạc sĩ Phạm Tuyên là do nghệ sĩ Nguyệt Hảo ở Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh cung cấp. Cháu có hát được một số bài hát của chú nên lần này ra Hà Nội để đón ba má cháu từ bên Mỹ lần đầu tiên sang Việt Nam ở sân bay Nội Bài, cháu tranh thủ đến gặp chú”. Cách xưng hô và tự giới thiệu rất mộc mạc và chân tình ấy tự nhiên chúng tôi thấy ở cô có một cái gì thật gần gũi với gia đình, Mời cô vào nhà uống nước, nhạc sĩ Phạm Tuyên hỏi ngay xem cô hát được bài gì của anh. Cô nhanh nhẹn chỉ tay vào chếc đàn piano như muốn nhờ nhạc sĩ đệm giúp. Và bài hát mở đầu cho cuộc gặp mặt đầy thú vị này là bài Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ! viết từ năm 1969 tức là 13 năm trước khi Mai Ly chào đời! (cô sinh năm 1982). May Ly hát rất chuẩn, rất sôi nổi, đúng với chất rock như ý định của tác giả. Căn phòng nhỏ bỗng vang lên giai điệu bài ca mà mấy chục năm nay chúng tôi mới lại được nghe do chính một nữ thanh niên Mỹ hát: “Oa-sinh-tơn đêm nay lửa tranh đấu đang rực cháy/ Nghe tiếng hát anh vang mọi nơi chân lý đang tỏa sáng ngời/ Sông Pô-tô-mắc ngày đêm đã in bóng anh đẹp thay/ Tay gảy đàn miệng hát vang đi giữ lấy cuộc đời!”. Và đoạn điệp khúc có lửa: “Gảy đàn lên đi bạn ơi theo tiếng súng miền Nam/ Đi lên nhân dân Mỹ chúng ta hãy xiết chặt tay!/ Cùng đấu tranh cho hòa bình, diệt chiến tranh xâm lược/ Cùng hát lên nhiệt tình bài ca Hồ Chí Minh!” Khi cô hát xong, nhạc sĩ cầm lấy tay cô gái cám ơn và hỏi đôi điều. Mai Ly sôi nổi nói ngay: “Ba má cháu cũng đi biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Hồi đó cháu chưa ra đời. Ba cháu là John O’Connell hiện là Chủ tịch một hội Từ thiện, còn má cháu là Gretchen Hartman, nhà tâm lý học. Cháu sang Việt Nam từ năm 2003 là nghiên cứu sinh của tổ chức Fulbright về đề tài Phụ nữ học. Cháu dự các lớp tiếng Việt ở Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và ở Đại học Sư phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh nên đến nay cũng tạm giao dịch được bằng tiếng Việt”. Cô còn nói thêm bằng tiếng Việt: “Cháu vừa đi Côn Đảo với bà Trương Mỹ Lệ (chị của Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa) và cháu rất xúc động cùng hát với nữ cựu tù Côn Đảo bài Tiếng hát những đêm không ngủ mà chú đã viết tặng cho phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh sinh viên Sài Gòn cách đây 40 năm”. Thế là nhạc sĩ lại ngồi vào đàn và bài Tiếng hát những đêm không ngủ lại được cô gái Mỹ hát vang lên trong căn phòng nhỏ.

Vậy là sau gần 40 năm, từ bên kia bán cầu các bạn Mỹ vẫn hát về Việt Nam, về Hồ Chí Minh mà cô gái Mai Ly (tên Mỹ là Molly Hartman – O’Connell) là hiện thân cụ thể của tình cảm ấy với tiếng hát sôi nổi và giàu ước mơ trong bài Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ!

Về bài hát này cũng có một kỷ niệm hay hay. Đó là vào những năm 80, sau khi miền Nam được giải phóng khoảng chục năm, trong một hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quốc, anh được mời làm giám khảo. Bỗng nhiên có một diễn viên trẻ người Sài Gòn to cao, đẹp trai đến gặp, lễ phép xin được hát bài Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ! theo phong cách nhạc rock mà lại là rock mạnh, vì “Hát như thế mới đã!”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên vui vẻ trả lời: “Rất hoan nghênh, chính tôi cũng đã viết bài đó theo phong cách rock”. Quả thật, tiết mục đã gây được tiếng vang và đạt huy chương vàng. Chàng trai đó là Chánh Tín, người đã từng là diễn viên điện ảnh trẻ của miền Nam cũ. Sau hội diễn, một dịp nhạc sĩ Phạm Tuyên vào công tác tại Sài Gòn Chánh Tín biết được liền tha thiết mời anh đến nhà chơi và anh đã nhận lời. Hôm đó, từ 10g sáng đến 4g chiều, Chánh Tín và vợ là Bích Trâm cũng làm công tác nghệ thuật cùng tiếp anh, họ ngồi với nhau chuyện trò không ngớt, không khí ngày càng cởi mở và chân thành. Cả hai vợ chồng Chánh Tín đêu nói là đã đọc khá nhiều tác phẩm của nhà học giả Phạm Quỳnh, hơn nữa khi thi tú tài, Bích Trâm đã làm luận văn về học giả nổi tiếng ấy. Nay lại được tiếp chuyện với người con trai của cụ, thật là dịp may hiếm có, lòng cảm động lạ thường, không khí trở nên ấm cúng như cuộc gặp gỡ của những người thân sau bao năm xa cách, rồi hai vợ chồng Chánh Tín cứ ôm lấy nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong không khí thân mật đầy tin tưởng đó, Chánh Tín đã hỏi Phạm Tuyên về con đường tương lai của mình trong chế độ mới để vượt lên những rào cản do định kiến của các cán bộ phường đối với văn nghệ sĩ cũ dưới chế độ Mỹ ngụy. Chả là trước giải phóng Chánh Tín được coi là một diễn viên điện ảnh đầy triển vọng, nay cách mạng về, những người như Chánh Tín bị liệt vào phần tử “có vấn đề” nên khó được tham gia vào hoạt động nghệ thuật nào trong chế độ mới. Lúc đó, người thân của họ ở hải ngoại lại muốn bảo lãnh cho hai vợ chồng sang Mỹ. Suy nghĩ một lúc, rồi bằng kinh nghiệm của mình, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã khuyên hai vợ chồng Chánh Tín: “Không gì bằng sống trong quê cha đất tổ và hãy đứng vững trên đôi chân của mình!”. Kết thúc cuộc gặp gỡ hiếm có đó, hai vợ chồng Chánh Tín bắt tay thật chặt nhạc sĩ Phạm Tuyên với vẻ mặt rạng rỡ mà nói: “Nhạc sĩ Phạm Tuyên ở lại được thì tụi em cũng ở lại được”. Quả nhiên trong mấy chục năm qua, Chánh Tín cùng vợ đã gây dựng được một sự nghiệp điện ảnh đáng cho nhiều người phải chú ý.

Có một Khúc hát hòa bình của em bé châu Mỹ, anh phổ thơ của Ana Pixarô năm 1983 được ca sĩ Thanh Hòa, một giọng nữ trầm ấm, mềm mại hát và đã phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam làm người nghe xúc động. Phảng phất âm hưởng của thổ dân da đen, âm nhạc đã quyện với lời thơ theo phong cách Mỹ Latinh thành một bản hùng ca vừa thiết tha vừa quyết liệt. Bằng bài ca nhỏ này, tình cảm của anh đã vượt biên giới, vượt qua cả nửa vòng trái đất để đến với những em bé nghèo khổ đang ở chính nơi châu Mỹ giàu có nhất thế giới.

N

hững ca khúc của Phạm Tuyên có sức cổ vũ lay động như vậy ở những thời điểm không thể quên, nên nhiều người đã cho rằng ca khúc Phạm Tuyên như một cuốn biên niên sử bằng âm nhạc.

Và một trang sử hào hùng nhất, vẻ vang nhất, tràn đầy niềm vui nhất của cả dân tộc đã đến, đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975 – ngày giải phóng Sài Gòn – giải phóng miền Nam,Phạm Tuyên đã kịp ghi lại cảm xúc ấy bằng một tiếng reo vui: Như có Bác trong ngày đại thắng. Ca khúc đó dường như đã nằm sẵn trong niềm mơ ước cháy bỏng, niềm tin mãnh liệt của tác giả vào ngày toàn thắng chỉ còn đợi đến giây phút thiêng liêng đó là ùa ra và cộng hưởng ngay với triệu triệu niềm vui của mọi người trên toàn đất nước.

Chiều 30 tháng 4 năm ấy, tất cả anh chị em Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam cùng một số anh chị em bên Giao hưởng Hợp xướng tập hợp tại phòng thu thanh của Đài để dàn dựng và thu ngay ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng để kịp phát trong bản tin chính thức công bố tin toàn thắng cho cả nước và trên toàn thế giới biết. Tất cả mọi người đều hết sức phấn chấn. Chưa có một bài hát nào được dàn dựng, thu thanh và phát với một tốc độ nhanh như vậy! Cũng chưa có một bài hát nào mà khi tập, cả người hát, người đệm đàn, người dàn dựng, người thu thanh đều rưng rưng nước mắt, nước mắt của niềm vui vì ngày đại thắng!

Những ai đã nghe bài hát đó một lần là đã nhập tâm cái điệp khúc: “Việt Nam – Hồ Chí Minh!”. Đây chính là niềm khát vọng, là tiếng nói từ trái tim của mỗi người trong ngày vui đại thắng. Hầu hết những người Việt Nam trong những ngày này, ai cũng tưởng nhớ tới Bác Hồ, Người lúc sinh thời đã nói lời bất hủ: “Miền Nam luôn trong trái tim tôi” và tác giả của bài ca đó đến thời khắc này mới được biết chiến dịch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam là chiến dịch mang tên Bác – chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày hôm đó, 17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cả dân tộc mừng vui đến nghẹn thở khi nghe tin đại thắng được trịnh trọng tuyên bố qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cùng với tiếng hát lạc quan, hào hùng mà tràn đầy xúc động của bài Như có Bác trong ngày đại thắng. Hàng chục triệu người vừa nghe, vừa khóc, vừa nhẩm theo, học thuộc khi loa phóng thanh phát đi bài đó trên mọi đường phố, làng quê của đất nước. Sự ra đời của bài hát cũng đáng ghi nhớ, vì nó gặp được “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” như tác giả của nó đã từng nhận định.

Nhớ lại đúng vào thời điểm 21 giờ 30 đêm 28 tháng 4 năm 1975, khi nghe bản tin thời sự loan báo Nguyễn Thành Trung, một trung úy phi công “ngụy” đã ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất, một niềm xúc động dâng trào với linh cảm là chẳng còn bao lâu nữa thôi thì Sài Gòn và cả miền Nam sẽ được giải phóng! Đêm hôm ấy, tôi thấy anh bồi hồi khác thường, trên tay cầm mẩu giấy và chiếc bút chì ra đứng đầu cầu thang, nơi đó có một bóng đèn chiếu sáng, ngoài trời lâm thâm mưa. Anh cứ đứng đó ghi xong cả giai điệu và lời ca của bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng để không phá giấc ngủ của vợ con (vì nhà rất chật). Cả cuộc đời gắn bó với nhân dân, với đất nước, sống với lý tưởng cao đẹp, một cuộc đời không ngừng phấn đấu vươn lên, khổ đau và hy vọng để bây giờ có thể hát lên: “Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông!”.

Bài hát được anh sáng tác trong một khoảnh khắc ngắn ngủi vào cái đêm 28/4/1975, nhưng nói cho chính xác thì nó được sinh ra từ khoảnh khắc đó cộng với cả cuộc đời anh. Và chỉ mấy ngày sau thôi bài hát đã vang lên khắp cả miền Bắc và cả các đô thị, xóm ấp miền Nam mới giải phóng đúng vào ngày lễ 1/5 năm đó.

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng đã vang lên trong các cuộc liên hoan, trong các ngày lễ trên khắp đất nước, đến nay đã hơn 1/3 thế kỷ mà nó vẫn còn sống mãi với thời gian. Bài hát đã được vang lên trong nhiều cuộc gặp gỡ, giao lưu với bạn bè quốc tế. Bài hát đã được hát ở nhiều nước (Nga, Đức, Cuba, Trung Quốc, Nhật Bản…) Trong bài viết Phạm Tuyên – người Nhạc sĩ của nhân dân, đăng trong cuốn Những người lao động sáng tạo của thế kỷ (NXB Lao động, 2003) tác giả Diệu Ánh đã viết về ca khúc này như sau: “Bài hát là thông điệp hòa bình, là niềm kiêu hãnh, lạc quan của dân tộc, là lời hiệu triệu, là niềm tin vào tất thắng của chính nghĩa. Bài hát ngân nga mãi trong lòng mọi người, là nhịp cầu nối hai miền đất nước, giữa các quốc gia đã từng yêu mến và ủng hộ Việt Nam đấu tranh cho thống nhất và hòa bình”. Ca khúc này thường được trình bày dưới dạng ca khúc quần chúng, nhưng cũng đã được thể hiện ở thể loại hợp xướng. Với giọng hát nhiều bè của nam nữ ca sĩ Đài Tiếng nói Việt Nam hòa cùng giọng hát trong trẻo của đội Sơn ca thành một bản hợp xướng huy hoàng vang vọng đến trái tim mọi người. Ca khúc đó còn được trình bày dưới hình thức diễn xướng do ca sĩ nổi tiếng người Nhật Takimoto cùng với giọng hát điêu luyện của hai ca sĩ trẻ Trọng Tấn và Khánh Linh, lúc bay bổng, lúc dồn dập, lúc thiết tha, lúc lắng đọng làm người nghe ngỡ ngàng. Hôm ấy tôi đang theo dõi bài hát này trong một chương trình giới thiệu nhạc sĩ người Nhật được truyền hình trực tiếp tại nhà hát lớn thì có giọng gấp gáp của Dương Viết Á, nhà phê bình âm nhạc trong điện thoại: “Bật máy nhanh lên mà nghe! Bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng sao mà hay thế, hay như một bài thơ!”.

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng đã được Nhà nước thưởng Huân chương Lao động hạng ba với câu ghi trên huân chương: Tặng thưởng nhạc sĩ Phạm Tuyên – đã có thành tích xuất sắc trong việc sáng tác bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng góp phần cổ vũ kịp thời cho ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 1985 – Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Trường Chinh (đã ký). Để mừng đón huân chương, tôi đã thịt hai con gà đang nuôi trong chuồng làm một bữa miến mời bạn bè đến chung vui. Trong bữa “đại tiệc” đó, nhiều bạn bè, đồng chí đến dự đều ngồi bệt xuống sàn nhà ăn liên hoan! Bữa liên hoan đó thật đơn sơ nhưng vui vẻ và ấm cúng! Sau đó mỗi lần anh đi công tác vào miền Nam, bạn bè trong đó nghe tin vui đều đòi: “Anh Hai cho bọn em rửa huân chương với!”. Mà thật là tội vì Nhà nước chỉ thương cho anh độc mỗi huân chương thôi, phần thưởng tinh thần mà! Đây cũng là trường hợp đặc biệt Nhà nước ta thưởng huân chương cho một bài hát.

Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay, bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng phổ biến tới mức mà mọi người, từ em bé mới tập nói cho tới các cụ già, ai cũng thuộc, người ta hát khi gặp nhau, khi giã bạn. Có một chuyện thật cảm động, đó là sau ngày giải phóng miền Nam chừng chục năm, anh về thăm Tây Ninh, nơi có chiến khu D nổi tiếng, trong một cuộc gặp mặt với các đồng chí và bà con địa phương thì bỗng nhiên có một em bé gái khoảng mười tuổi đến khoanh tay trước mặt anh mà nói: “Con cảm ơn bác vì bác đã đặt tên cho con”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên rất ngạc nhiên, lần lại quá khứ thì rõ ràng chưa từng có sự việc ấy? Nhưng đó là câu chuyện có thực 100%. Số là ngay sau ngày miền Nam giải phóng, đồng chí Bảy Nứ (tức là Trần Văn Nứ) được điều động về Nam công tác (đồng chí ấy là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954) đúng vào thời kỳ vợ chuẩn bị sinh con. Khi chia tay chị ấy gặng hỏi chồng: “Nếu sinh con thì đặt tên gì?”. Bảy Nứ suy nghĩ một hồi rồi nói với vợ; “Nếu là con trai thì đặt tên là Đại Thắng, nhưng nếu là con gái thì em cứ hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng, lần theo lời bài hát ấy nếu gặp chữ gì hay phù hợp với con gái thì đặt tên con bằng chữ ấy”. Và chị đã sinh con gái, theo lời chồng chị làm như vậy, chị nhẩm lời bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng, đến câu: “Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”. Như bắt được vàng, chị lấy ngay chữ Huy Hoàng đặt tên cho con. Thế là cháu bé có tên là Huy Hoàng. Cháu Huy Hoàng là một cháu bé thông minh, hồi học lớp 5, Huy Hoàng đạt giải 3 cuộc thi Văn toàn quốc. Sau này đã tốt nghiệp Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và bây giờ là cán bộ ngân hàng của tỉnh Tây Ninh.

Xung quanh ca khúc này có khá nhiều chuyện vui. Có một câu chuyện lạ về tính phổ biến của bài hát: Trong một cuộc hội chợ tại công viên 29/3 ở Đà Nẵng, người ta xúm quanh một con chim nhồng (một loài vẹt) đang cất tiếng hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng! Thấy lạ, nhiều người khách hỏi mua nhưng chủ của nó không bán mà chỉ để khoe thôi. Ông nói: “Tiếng “hát” của con chim nhỏ này là niềm vui của cả nhà chúng tôi đấy!”. Năm sau nữa lại một ông chủ khác cũng mang đến hội chợ 29/3 này một con chim nhồng biết hát ca khúc đó mà còn hát hay hơn để khoe với mọi người chứ không bán. Bài Như có Bác trong ngày đại thắng cũng thường vang lên tại các sân vận động mỗi khi có bàn thắng. Mới gần đây thôi, khi đội tuyển Việt Nam giành Cup AFF, một giải bóng đá lớn vào bậc nhất Đông Nam Á, một giấc mơ sau hàng chục năm của hàng chục triệu người dân Việt Nam nay biến thành hiện thực. Ngay sau tiếng còi của trọng tài kết thúc trận đấu, cả tuyển thủ lẫn cổ động viên liền hát vang ca khúc này ngay tại sân vận động. Không chỉ ở sân Mỹ Đình mà cả khắp Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế,… người ta đổ ra đường đông nghịt với lá cờ đỏ sao vàng hòa trong tiếng hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng, như tiếng reo vui của lòng mình một cách thật tự nhiên trước một thắng lợi to lớn.

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng sở dĩ đi sâu được vào lòng người, giữ lại bền lâu trong tâm hồn hàng triệu người nghe, theo các nhà phê bình âm nhạc thì vì nó vừa mang tính khái quát lại vừa mang tính cụ thể. Ca khúc đó đã nói lên tầm vĩ đại của cuộc đấu tranh oanh liệt của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời lại nói được một cách cụ thể, một thời kỳ lịch sử 30 năm để giành toàn vẹn non sông, vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ở Nhật, ngay từ những ngày đầu bài hát mới ra đời, 49 tỉnh thành đã in ra để ca hát trong cộng đồng. Họ nói: “Chúng tôi hát bài này không chỉ để ca ngợi chiến thắng 30 tháng 4 của các bạn mà là để ca ngợi một nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”.

Về bài hát này, trong một bài viết có nhan đề: Phạm Tuyên – Tiếng hát ngày chiến thắng ở chuyên mục Tài trí Việt Nam của tạp chí Thế giới mới số đặc biệt 30/4 (131) nhà thơ Bế Kiến Quốc đã viết: “Trong một số thời điểm đặc biệt, lịch sử luôn cần có một ca khúc xuất hiện tức thời và được hàng vạn, hàng triệu con người hát vang trên những đường phố, quảng trường, cánh đồng, chiến lũy… Hạnh phúc thay những nhạc sĩ đáp ứng được yêu cầu ấy của lịch sử. Đó là Văn Cao với “Tiến quân ca”, đó là Đỗ Nhuận với “Chiến thắng Điện Biên Phủ”, đó là Lưu Hữu Phước với “Giải phóng miền Nam”. Và đó là Phạm Tuyên với “Như có Bác trong ngày đại thắng”. Những ca khúc “tức thời” đó đã bộc lộ tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cổ vũ hàng triệu con người cùng tham gia vào một nhiệm vụ chính trị. Những ca khúc đó đã đi thẳng vào lòng người nhẹ nhàng mà sâu sắc, không thể có lời động viên, hô hào nào sánh bằng!”.

Tính đến nay, bài Như có Bác trong ngày đại thắng có đến hàng quá nửa trăm bài ngợi ca của các nhà báo, những người yêu nhạc. Anh cảm thấy vui, nhưng cũng ngại khi thấy bài ca ngợi nó được đăng tải trên báo chí nhiều quá.

Trong lời dẫn chương trình Những cung bậc thời gian tôn vinh những tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Tuyên (vào thứ 7, ngày 7 tháng 7 năm 2007) nhân nhạc sĩ Phạm Tuyên tròn 77 tuổi, nhạc sĩ Hồ Quang Bình đã nói: “Những bài hát ra đời trong khói lửa của cuộc chiến tranh giữ nước của ông, thực sự đã để lại trong tâm khảm ký ức của bao người những vẻ đẹp nhiều sức thuyết phục. Đó là những giá trị cao cả của tinh thần công dân yêu nước, của nhạc sĩ là chiến sĩ hiện diện trên mọi nẻo đường chiến đấu giành độc lập, tự do. Chiếc gậy Trường Sơn, Bám biển quê hương, Đêm trên Cha Lo v.v…có sức lan tỏa mạnh mẽ, mang hơi thở của một thời: hiến dâng trọn vẹn trái tim mình cho quê hương mãi mãi thanh bình”.

Phải nói thêm một chút về đêm nhạc đặc biệt này. Đây là một đêm nhạc thật hiếm thấy mà những bạn đồng nghiệp thân thiết của nhạc sĩ Phạm Tuyên ở Hội Âm nhạc Hà Nội đã tổ chức với tấm lòng quý mến anh và ngưỡng mộ tác phẩm của anh. Họ bí mật chuẩn bị công phu trong một thời gian khá dài, từ kịch bản, chọn bài, đạo diễn nghệ thuật, mời diễn viên… đến việc chạy kinh phí… mà không cho anh Phạm Tuyên biết! Đến đêm diễn, nhạc sĩ Văn Dung nói với anh: “Anh chỉ coi mình là khán giả chứ không phải là người trong cuộc!”. Thế rồi đêm diễn đã thành công, gây ấn tượng bất ngờ, vượt ngoài mong ước của tác giả, được nhiều người xem đánh giá cao. Riêng nhạc sĩ Hoàng Giai một hội viên Hội Ấm nhạc Hà Nội đã rất hài lòng liền cho ngay 10 điểm 10: về mặt tên đêm diễn, về tác phẩm, về kịch bản, về đạo diễn, về giới thiệu, về diễn viên (mặc dù không có “sao” nào cả)… Nhưng có lẽ điểm 10 xuất sắc nhất là tấm lòng của những người dàn dựng chương trình và của công chúng yêu âm nhạc.

N.A.T.

Tháng Ba 20, 2014

“Dù có tiếng sủa, đoàn xe vẫn cứ tiến”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:58 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

“DÙ CÓ TIẾNG SỦA,

ĐOÀN XE VẪN CỨ TIẾN”

Sông Hương

“Vụ án Phạm Quỳnh” năm 1945 tại Huế, dưới thời một nhà lãnh đạo trẻ tuổi, sang năm 2015, “hưởng thọ” 60 tuổi.

Đã tốn khá nhiều giấy, mực, điện năng, hội nghị, báo, tạp chí, công trình… về vị chủ bút báo Nam Phong này ở trong nước, và ở nhiều nước ngoài.

M

ười mấy năm gần đây, với sự ra mắt hai tập Phạm Quỳnh – Một góc nhìn của tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan, một người con xứ Huế, nơi Phạm Quỳnh đã sống, làm việc và viết suốt 13 năm cuối đời và gửi lại nắm xương tàn, một sách nữa của tác giả cùng quê Hải Dương với Phạm Quỳnh, nhà giáo Khúc Hà Linh mới ra mắt hơn một năm đã phải tái bản, nhiều trước tác của chính Phạm Quỳnh được xuất bản, blog PhamTon – blog cá nhân duy nhất chuyên đăng các bài viết về Phạm Quỳnh bước sang năm thứ 6, Tỉnh ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam ở Hải Dương đã tôn vinh người con của quê hương mình là “Nhà văn hóa lớn”.

T

ại Huế, một cuộc “hội thảo giới thiệu sách Phạm Quỳnh” với sự tham dự của nhiều nhà báo, nhà thơ, nhà nghiên cứu đã ca ngợi Phạm Quỳnh là người có công lớn với nền văn học nước nhà. Một số nhà giáo nhà khoa học, học giả, trước đây “chưa hiểu hết được “thế thái nhân tình”, “vai đóng” của Phạm Quỳnh, đã có những lời “phê” chưa chính xác, gần đây đã tự cải chính, chấp nhận mình đã “hơi vội vàng”.

C

hủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét “Cụ Phạm không phải là người xấu” Không xấu, phải là tốt (hay tốt vừa cũng được?) Vậy xấu, theo Bác Hồ là ai? “Là … “có 2 loại người không được vào Đảng Việt Nam (mà Bác định thành lập sau khi giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1945): Phản quốc và tham nhũng”. Dù có viện sĩ, tiến sĩ, giáo sư, nhà báo, … nào đó còn “cao giọng”, “lên tiếng”, “có lập trường (?)” cao “thọc gậy bánh xe”, có lẽ bánh xe tiến bộ, bánh xe lịch sử vẫn đi lên, đi đến chân lý … dù có muộn.

Tháng 3/2014.

S.H.

Đã đến lúc lịch sử cân đánh giá đạo đức và tài năng của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:52 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

ĐÃ ĐẾN LÚC LỊCH SỬ CẦN ĐÁNH GIÁ

ĐẠO ĐỨC VÀ TÀI NĂNG CỦA THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

Nguyễn Văn Thịnh

(Trích bài Mấy lời gởi ông Tô Nhuận Vỹ đăng trên tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh năm 2012. Đầu đề là của chúng tôi)

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hồn Việt số 79 tháng 3/2014 đăng bài Ông Phạm Quỳnh có công gì với đất nước vẫn là cụ Đặng Minh Phương, quê Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên, sinh ngày 15/7/1928 và về hưu ngày 3/10/1993.

Không còn là “sưu tầm” như trước nữa mà đây là bài do chính cụ viết.

Mở đầu bài “đại luận” hai trang, cụ viết: “Gần đây, nhất là vào cuối năm 2013, đầu năm 2014, một số nhà báo và nhà xuất bản đã đăng nhiều bài, in sách đề cao những người như Phan Thanh Giản, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh… Cái mưu đồ lấy cớ đổi mới, xét lại chính sử, lộn ngược lịch sử được gieo mầm trong một số cuộc hội thảo về triều Nguyễn ở Thanh Hóa năm 2009, hồi đó đã bị các báo vạch trần, phản bác một cách chính xác, mạnh mẽ như các tờ Hồn Việt, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh v.v…”

Phần cuối bài “đại luận”, nhà báo lão thành còn viết: “Sau cùng, cần nhắc thêm điều này: không được lợi dụng những “sử liệu giả” – bịa ra những câu nói không có nguồn gốc, xuất xứ từ bất kỳ sách nào, báo nào, ai làm chứng… của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hòng gỡ tội cho Phạm Quỳnh”.

Rõ ràng cái máu “sưu tầm chuyên nghiệp” của cụ lại nổi lên, lúc nào cũng thích “sách nào, báo nào”, cứ như là hễ đã vào sách vào báo là không thể nào sai được.

Thật tiếc cho nhà sưu tầm chuyên nghiệp, viết bài này vào tháng 2/2014 mà không biết rằng trước đó cả mấy năm trời, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về Phạm Quỳnh của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan Phạm Quỳnh – Một góc nhìn năm 2011, trong đó có tư liệu của nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh với Thượng Chi Phạm Quỳnh (từ trang 139 đến trang 162). Rồi năm 2012 lại xuất bản Phạm Quỳnh – Một góc nhìn (tập 2) có bài Biết ơn những con người nhân hậu mà dũng cảm (từ trang 272 đến trang 284) trong đó nêu lên những ý kiến của nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy, Nhà văn Nguyễn Công Hoan, bà Phan Thị Minh tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Châu Trinh, và nhà văn Anh hùng Lao động Sơn Tùng…Cũng có thể đọc được những ý kiến này của Hồ Chủ tịch trong hồi ký của PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết Chúng tôi đã sống như thế (NXB Tri Thức, 2013) và trong tiểu thuyết của nhà văn Hà Khánh Linh Những dấu chân của mẹ (NXB Văn Học, 2013).

Thật tiếc cho một “nhà sưu tầm” mà bỏ lọt nhiều nguồn tư liệu về nhân vật mà cuối đời cụ bỗng quan tâm và dốc hết sức mình để diệt cho bằng được.

Chúng tôi may mắn có trong tay một bài đăng trên tờ Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh mà cụ đã đề cao ngay từ đầu bài “đại luận”. Theo đúng chủ ý của nhà báo lão thành, chúng tôi chỉ xin trích đăng những phần liên quan đến Phạm Quỳnh, mong bạn đọc có thêm tư liệu tham khảo đáng tin cậy…

*

*     *

G

iữa tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, nhằm dịp lễ Vu lan, đêm 30/8/20012 (14/7Âm Lịch), Hội đồng họ Phạm ở Thừa Thiên-Huế tổ chức ra mắt tập II cuốn sách “Phạm Quỳnh – Một góc nhìn” của Tiến sỹ sử học Nguyễn Văn Khoan. Trước đông đảo cử tọa, có nhiều nhà nghiên cứu và văn nghệ sỹ, trong bài phát biểu “Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh”, ông Tô Nhuận Vỹ, sau khi giảng thuyết rằng: “Khái niệm địch ta, bên này bên kia trong nhiều trường hợp phải hết sức cẩn trọng”, ông nói: “Chúng ta đã trả lại đúng giá trị cho Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, một số tác giả trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, cho Léopold Cardière…” để rồi kết lại: “Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ với nhiều lý do chính xác, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng góp lớn lao cho văn hóa dân tộc của ông”.

Xin được tách ra một trong số các nhân vật ông Vỹ đã nêu là Phan Thanh Giản. Người viết thật sự chưa hiểu ý của ông về cái gọi là “đúng giá trị” của Phan nhân cụ thể ở chỗ nào? Cũng là dịp may được tìm hiểu sâu về nhân cách, tài năng, công và tội với dân với nước của hai nhân vật lịch sử đều là đại quan đầu triều này trong những điều kiện lịch sử rất trái nghịch nhau.

(…)

P

hạm Quỳnh thông minh học giỏi, 15 tuổi đã được tuyển vào làm việc ở Viện viễn đông bác cổ danh giá của nước Pháp văn minh tân tiến hàng đầu lúc ấy. Với ý chí ham học hỏi tìm tòi càng sớm nổi danh là người hiểu sâu biết rộng. Vào đời bằng nghề làm báo, 24 tuổi đã làm chủ tạp chí Nam Phong, càng có dịp mở rộng các mối quan hệ xã hội, nhậy cảm với thời cuộc và vốn kiến thức càng phong phú. Ở tuổi “nhi bất hoặc”, ông hăm hở “dấn thân vào hoạn lộ tưởng sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng” để rồi hối hận vì đã lỡ lầm.

Quan Thượng thư Bộ Học sau qua Bộ Lại, Phạm Quỳnh nhậm chức trong cảnh dân nước điêu linh dưới ách nô lệ của đại quốc Phú-lang-sa. Mọi việc triều chính nhất nhất đều dưới quyền điều hành của viên Khâm sứ người Pháp. Cả vua và quan đều biết rõ chỉ là thân bù nhìn. Dân tình ngột ngạt trong cảnh cá chậu chim lồng. Người có tâm thì đau lòng miễn cưỡng lựa lách theo thời thế. Kẻ háo danh trục lợi thì an phận tay sai. Trong hoàn cảnh ấy thì với thần dân trăm họ cả vua lẫn quan đều phải làm ngơ bỏ ngoài tai trước lời thị phi là “phường bán nước buôn dân”. Phạm Thượng thư than thở: “Khi tôi ra đời nước đã mất rồi còn đâu mà bán!”. Đúng ra tội bán nước, trước hết vua quan triều đình Tự Đức phải gánh lấy, trong đó Phan Thanh Giản mang trọng tội. Sự biến đã qua rồi, các lớp hậu sinh mỗi người ứng xử tùy theo thế sự và tài năng, nhân cách của mình. Những ai nặng lòng với nước đi tìm con đường cứu quốc khác nhau và không tránh khỏi sự trấn áp tàn bạo của ngoại bang thống trị. Như Trần Quý Cáp với phong trào Duy Tân. Phan Bội Châu với phong trào Đông Du và Hội Việt Nam quang phục. Lương Văn Can với trường “Đông kinh nghĩa thục”. Phan Châu Trinh với chủ trương “Bất như học”, thức tỉnh dân bằng việc “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh” để mau tiến kịp bằng người. Nguyễn Thái Học quyết liệt với chủ nghĩa “tam dân”. Hai người bạn vong niên đồng cảnh đồng môn Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh đều là những nhà văn hóa xuất chúng, cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta nhằm giữ nguyên hồn nước, hoạt động rất hăng hái, về chính trị cùng ôn hòa mà mỗi người một cách. Ông Vĩnh sôi nổi muốn kéo cả nước cùng chui vào cái rọ “trực trị” mong được bình đẳng với người Tây. Ông Quỳnh mềm dẻo với tài khéo nói tích cực vận động cho một chính thể “quân chủ lập hiến” lấp lửng với ông vua mà quyền hạn do dân kiểm soát, vừa giữ được thể diện quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc lại vừa có độc lập tự do. Dịp viên Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud qua Hà Nội, ông gửi thư thỉnh nguyện: “Hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Lời lẽ thì ôn hòa mà ý chí thì quyết liệt. Viên Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi báo cáo lên Toàn Quyền Đông Dương Jean Decoux nhận xét như sau: “Thượng thư Bộ Lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật… Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc kỳ và Trung kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam kỳ, tiến tới hình thành một quốc gia Việt Nam… Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hòa hoãn nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành bất di bất dịch nơi ông ta”. Trong khi một thế hệ trẻ khác theo trào lưu mới tin vào sức mạnh của sự liên minh giai cấp cần lao toàn thế giới chủ trương cách mạng triệt để vì muốn giành độc lập cho tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngửa tay xin ai được.        Thời thế tạo anh hùng! Thất bại thảm hại cùng với sự sụp đổ của nền Đệ tam cộng hòa ở chính quốc Pháp và thắng lợi của phe dân chủ trước chủ nghĩa phát xít thế giới tạo điều kiện cho sự nổi dậy của các dân tộc bị áp bức là thời cơ ngàn năm có một để tổ chức Việt minh do Đảng Cộng sản làm nòng cốt chớp thời cơ tiến hành cuộc Cách Mạng Tháng Tám thắng lợi mau chóng trong cả nước.

S

ự thể ấy là đại phúc cho quốc gia dân tộc nhưng cũng là sự bất hạnh cho một số người! Cụ Hồ từng chia sẻ với một đại quan có thân nhân bị sát hại: “Khi dân chúng bị ức hiếp nổi dậy, lỗi lầm không thể tránh khỏi và chuyện bi thảm xảy ra!”. Nhưng vì không chế ngự được cái “tiểu khí” ông ta không nhìn ra “đại nghĩa” mà theo ngả khác. Cuối cùng thảm họa còn lớn hơn! Vào lúc giao thời ấy, dù học giả Thượng Chi đã về ở ẩn tại tư gia cặm cụi mải mê dịch thơ, viết ký… thì cả bên này bên kia vẫn nhìn ở vị cựu Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh còn tiềm ẩn tài năng lớn! Đó là mầm mống cho nỗi oan nghiệt với con người “kinh luân chứa một túi đầy” này. Ngay lúc được tin cụ Phạm bị bắt, Cụ Hồ đăm chiêu nói với những người giúp việc: “Bất tất nhiên!”, nghĩa là không nhất thiết phải làm như thế. “Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới!”. Sau Cụ Hồ lại nói với hai người con gái lớn của cụ Phạm rằng: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm. Đó không phải là một người xấu. Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Các con cháu cụ cứ vững tâm đi theo cách mạng”. Ông Hoàng Hữu Nam vừa là thân hữu với gia đình họ Phạm lại đang giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ lúc bấy giờ đã khuyên hai bà con gái đại ý là: Bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng nên phải giữ cụ tại một nơi yên ổn. Các chị không nên vào Huế vì nhân dân đang nổi dậy có khi lại bị bắt giữ lôi thôi. Ông Nam nhận sẽ “tư” vào Huế đưa gia đình cụ ra Hà Nội. Kết cục là toàn bộ gia đình cụ Phạm gồm 14 người cả nam và nữ, từ con nít và người đang tuổi thanh xuân đến bà già được đưa ra Hà Nội đoàn tụ gia đình an toàn cùng nguyên vẹn các đồ đạc tư trang. Riêng cụ Thượng Chi thì bị “khử” chưa rõ trong hoàn cảnh nào. Nhận được tin này, Cụ Hồ thốt lên: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? cách mạng lợi lộc gì?… Thật là không may cho cụ Thượng Chi, không may cho gia đình cụ Phạm!”. Cách mạng là sự đổi thay khởi nguồn từ những mâu thuẫn xã hội sâu xa. Cuộc cách mạng nào cũng nhân danh sự công bằng bác ái nhưng bị kích động cực đoan hoặc vì tư thù hay vụ lợi đã xảy ra không ít điều bất nhẫn làm mờ đi cái thiện căn của nó và hằn sâu những hận thù. Thực tế là từ cấp trung ương tới thành phố Huế của chính quyền mới không từng lập một phiên tòa nào kết án “Phạm Quỳnh làm tay sai cho giặc Pháp” để ghép tội tử hình. Tình trạng lộn xộn trong những ngày đầu khởi nghĩa, không chỉ ở một nơi là điều hiển nhiên ai cũng biết. Vậy có thể coi cái chết của vị học giả lớn này như một trong những tai họa giữa “phen thay đổi sơn hà”! Tất nhiên là với những người thân thích ruột rà thì nỗi thương đau cứ đeo đẳng mãi và cũng là sự thiệt thòi lớn khó bù đắp được cho nền văn hóa nước nhà. Còn việc đánh giá các trước tác của người quá cố lớn mức nào và ảnh hưởng xã hội tới đâu không chỉ là công việc của vài người trong một thời gian. Cái chết của cụ Thượng Chi được mọi người, mọi giới trong xã hội thật lòng thương tiếc thì việc phục hồi danh dự cho nhà văn hóa Phạm Quỳnh dù có gặp lực cản nào cũng dễ vượt qua. Như Cụ Hồ đã nói: “Cụ Phạm là người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Đã đến lúc lịch sử cần đánh giá và khó có lý do nào để khắt khe trước đạo đức và tài năng của cụ.

(…)

N

gười viết xin được dẫn ra vài lời nói mang tính tiêu biểu của hai nhân vật lịch sử này còn được giữ trong thư tịch để tùy bạn đọc suy ngẫm:

Thượng thư Phan Thanh Giản: (…)

   Thượng thư Phạm Quỳnh:

- Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được vì chúng tôi đã có một Tổ quốc…

- Chính trị và văn hóa một đàng là gốc, một đàng là ngọn. Gốc có vững thì ngọn mới tốt được. Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị. Điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại thì chỉ có hai cách: một cách là bạo động, một cách là ôn hòa.

- Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn… Tiếng là nước. Tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn không sao vãn hồi được nữa.

- Khi sang Paris được mời diễn thuyết tại trụ sở Viện hàn lâm ông khéo chọn đề tài “Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt ách bảo hộ Pháp” để nói lên ý chí của mình: “Người Pháp phải tôn trọng truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ dầy dặn đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy chỉ có thể đóng lại theo lối mới cho hợp với thời trang chứ không thể đem một thứ chữ khác in lên những trang đã đầy chữ rồi”, đã được những cử tọa vào hàng danh giá tinh hoa của nước Pháp lắng nghe và vỗ tay tỏ lòng biệt đãi khách phương xa là điều chưa từng thấy.

- “Công bộc” là làm đầy tớ chung, không cho riêng ai, nghĩa là cho dân cho nước. Cái tiếng “công bộc” vẻ vang biết chừng nào. Muốn làm một kẻ “công bộc” cho xứng đáng phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ dàng. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “công bộc” cho dân mà bề trong làm đầy tớ riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những hành vi bất chính đáng của mình thì thật là dễ lắm mà cũng hèn lắm. Cho nên ai ôi! Làm “công bộc” mới khó chứ làm “tư bộc” vẫn dễ , làm “công bộc” mới danh giá chứ làm “tư bộc” thật đê hèn. Cái huy hiệu “công bộc” đã tốt đẹp như thế , cái địa vị “công bộc” đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” của dân cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” của dân mới mẻ này. Các ngài làm như thế  để tỏ ta là người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng thời nay và bớt được lòng oán hận của công chúng.

- Khóc bạn Nguyễn Văn Vĩnh: Sống lại như tôi là sống nhục – Chết đi như Bác chết là vinh – Suối vàng Bác có dư dòng lệ – Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Cả hai ông quan đầu triều này lúc sinh thời được dư luận khen là sống liêm khiết và thanh bạch. Khi chết đi, cụ Thượng Chi để lại gia tài là cái biệt thự tư Hoa Đường trong đó có một thư viện sách cổ kim đủ loại vào hàng lớn nhất kinh thành Huế bấy giờ. (…)

R

õ ràng rằng về cả tài năng và nhân cách, Phan Thanh Giản không thể sánh với Phạm Quỳnh. Một kẻ gây họa và một người muốn gỡ khỏi tai ương mà chuốc họa! Mượn chuyện cụ Phạm để đề cao Phan là cột thêm vào một nỗi hàm oan làm cụ Phạm đau hơn!

N.V.T.

Tháng Ba 14, 2014

Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên: Ở những thời điểm lịch sử

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 7:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 3 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Ở NHỮNG THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ 

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 232 đến trang 250)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất Ba Tuyet sach chung toi da song nhu thelà tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

T

heo sát từng bước cuộc đấu tranh giành độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã kịp thời sáng tác những ca khúc chan chứa tình yêu đất nước mà có sức cổ vũ mạnh mẽ hàng triệu người dân đứng lên chống kẻ thù xâm lược. Theo Hiệp định Genève (được ký năm 1954) thì hai năm nữa (1956) sẽ có Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhưng Tổng tuyển cử đã không thành vì địch ra sức phá hoại hiệp định này. Đế quốc Mỹ đã nhảy vào Việt Nam hất cảng thực dân Pháp, lập chính quyền thân Mỹ Ngô Đình Diệm, chúng chủ trương chia cắt lâu dài đất nước ta để trị. Từ giữa những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ trước, nhân dân miền Nam bị sống dưới ách đô hộ, kìm kẹp dã man của bọn Mỹ Diệm, chúng lập nhà tù , “ấp chiến lược” (mà thực chất là nhà tù), lê máy chém đi khắp nơi, giết chóc, hãm hiếp dân lành, những người đấu tranh đòi độc lập, thống nhất đất nước. Những vụ thảm sát như Phú Lợi, những cuộc tự thiêu của sư sãi như ở Huế xảy ra không ngớt từ đô thị đến làng quê miền Nam. Uất hận trào dâng khắp cả nước… Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, nhân dân miền Nam từ già tới trẻ đã vùng đứng lên đập tan ách xiềng xích của chúng. Vì miền Nam ruột thịt, nhân dân miền Bắc, một mặt xây dựng hậu phương vững mạnh, mặt khác ra sức chi viện sức người, sức của để giải phóng miền Nam. Trong cao trào Cách mạng đó, năm 1960 nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết chương “miền Nam anh dũng và bất khuất” (trích trong tổ khúc hợp xướng Tổ quốc 4 chương).

Chương hợp xướng “miền Nam anh dũng và bất khuất” được phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, ngay từ đầu đã gây xúc động mạnh trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với tuổi trẻ.

Âm nhạc đoạn đầu tha thiết, thương đau với giọng lĩnh xướng nam trung: “Quê ta đất miền Nam mây mù che khắp bầu trời/ Bóng thù đè nặng trên miền Nam xương máu còn rơi/ Phương Nam xóm làng quê vẫn bền gan giữ lời thề/ Sông núi đau thương mong chờ ánh dương tràn về…”. Tiếp đó là đoạn nhạc thể hiện tình cảm và ý chí đấu tranh thống nhất nước nhà của toàn dân tộc với niềm tin không gì có thể lay chuyển được: “Mối tình Nam Bắc khăng khít thêm bền lâu/ Đây tình quê hương như núi cao biển sâu…/ Hẹn một ngày mai cùng nhau vui dưới bóng cờ/ Chung sóng biển Đông con thuyền ta lướt yên lành/ Vang tiếng ca ngày thống nhất, hòa bình”. Sau đó, hòa với  lĩnh xướng là dàn hợp xướng bốn bè, âm nhạc trở nên trầm lắng, đau thương da diết: “Nay bao cảnh điêu tàn đau khổ vì Mỹ ngụy tàn sát/ Tù đày và chém giết lan tràn miền Nam xót xa…”

Uất hận dâng trào lên đến cực điểm, âm nhạc đoạn tiếp cuồn cuộn sôi nổi, quyết liệt với hợp xướng bốn bè “Máu thắm đã kêu trả máu! Đầu van trả đầu! Đời đời không quên mối hận thù sâu/ Ta mau đứng lên!… miền Nam kiên cường vùng lên!”. Càng đấu tranh càng giữ vững niềm tin vào thắng lợi, âm nhạc trở nên hùng mạnh và ngời sáng: “Từ trong đấu tranh, miền Nam vững tin ngày thống nhất/ miền Nam anh dũng đứng lên giành lấy chiến thắng/ Thống nhất Bắc Nam vững bền! Niềm tin ta càng vững bền!”

Sau khi dàn hợp xướng của Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình diễn thành công thì nhiều trường đại học cũng tổ chức các dàn hợp xướng đông người trình diễn hợp xướng này và rất thành công, góp phần bồi đắp tình cảm Bắc Nam và nâng cao ý chí đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày nay nước nhà đã độc lập thống nhất, chúng ta sẵn sàng khép lại quá khứ, bỏ qua hận thù, dang rộng cánh tay đón tiếp những ai trở về quê hương xây dựng Tổ quốc, dù họ đã từng ở bên kia chiến tuyến, đã từng bắt bớ, tra tấn, chém giết chiến sĩ và đồng bào yêu nước rất dã man, trong đó có không ít tên ác ôn đầy nợ máu! Nhưng chúng ta không bao giờ quên một chặng đường lịch sử rất ác liệt mà nhân dân ta đã anh dũng hy sinh chiến đấu kiên cường cho dù đầu rơi máu chảy với lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù sâu sắc vì thống nhất đất nước. Đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Chỉ có như vậy chúng ta mới thấy quý nền độc lập tự do của nhân dân trên toàn bờ cõi và quyết tâm xây dựng, bảo vệ non sông gấm vóc Việt Nam yêu dấu.

Khi đất nước còn bị chia cắt làm hai miền, tấm lòng của nhạc sĩ Phạm Tuyên luôn hướng về miền Nam, ngày đêm bám sát tình hình đấu tranh của đồng bào trong đó. Mùa thu năm 1970, cả Hà Nội dõi theo từng bước phát triển của phong trào học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam đấu tranh chống Mỹ ngụy. Người ta đọc được trên báo điệp khúc Dậy mà đi trong phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe của Sài Gòn và các đô thị miền Nam. Rồi vào một đêm tháng 9 năm 1970, sau khi nghe tin tức về cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã ghi lại cảm xúc của mình trong ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ. Bằng sức tưởng tượng, anh hình dung những đêm đấu tranh ở miền Nam, học sinh, sinh viên họp nhau lại trong tiếng bập bùng của đàn ghi-ta, hát lên những khúc ca về đất nước để động viên nhau trong cuộc đấu tranh quyết liệt này: “Âm vang bao tiếng ca truyền đi trong màn đêm/ Bập bùng lửa căm hờn hòa với tiếng hát bừng lên/ Ta đi khai sáng thêm ngọn lửa thiêng từ bao đời/ Lời ca bốc lửa đấu tranh sáng lên ngời ngời!

Âm hưởng trầm hùng, thúc giục của bài ca đã phản ánh tình cảm của giới trẻ miền Nam bấy giờ: “Dậy mà đi đồng bào ơi! Dậy mà đi đồng bào ơi! Mẹ Việt Nam có biết chăng giờ này đoàn con đã lên đường! Vượt rào gai dẫu khói mù vẫn đi! Máu đã đổ sân trường giục ta bền chí…”

Bài hát được phát trong buổi Tiếng hát gửi về Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam nhanh chóng đến với thanh niên học sinh, sinh viên ở miền Nam và được anh chị em phổ biến khá rộng rãi. Sau này, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, các nhạc sĩ Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh cho biết ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ được coi là ca khúc của phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên và ghi nhận sức cổ vũ của bài ca đối với tuổi trẻ miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ giành độc lập thống nhất đất nước. Họ nói vui rằng: “Ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ là của chúng tôi!”. Đặc biệt, bài hát này đã được hãng băng đĩa của Đảng Cộng sản Nhật Bản dịch ra tiếng Nhật, thu thanh và phổ biến vào năm 1979.

Qua theo dõi chiến sự hằng ngày, anh hết sức mến phục những gương chiến đấu dũng cảm của đồng bào và chiến sĩ miền Nam và kịp thời phản ánh vào tác phẩm của mình. Ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm được viết năm 1971 để ca ngợi người con gái trẻ đất Mỹ Tho đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc. Mặc cho đạn bom quân thù tàn phá, chị vẫn ra chiến trường với lòng yêu đời, yêu cuộc sống, với lòng yêu đất nước đến nồng nàn: “Đi chiến trường giữa mùa hoa/ Đẹp thay đất nước ta/ Trái tim thiết tha nồng cháy chúng ta đi giữ lấy quê nhà”… Những người như Hồng Gấm sẽ sống mãi với quê hương đất nước: “Viên đạn diệt quân xâm lăng nhắc tới Hồng Gấm/ Viên gạch dựng xây tương lai nhớ mãi Hồng Gấm”… Với “Niềm hạnh phúc trong đấu tranh nở hoa muôn sắc diệu kỳ”, Hồng Gấm đã hóa thân thành những cánh chim bay liệng trên bầu trời Tổ quốc cho thế hệ trẻ cùng bay theo: “Ta như cánh chim tung bay vượt qua dông tố ngàn trùng/ Và mỗi chúng ta hãy là một Hồng Gấm anh hùng” vì “Đường dài tiến quân rộn ràng có Hồng Gấm cùng đi”.

Ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm với âm hưởng lôi cuốn đầy sức lãng mạn, giàu ước mơ bay bổng, vừa mới ra đời đã được tiếp sức bằng những giọng ca trẻ ở cả hai miền Bắc Nam cho tới tận bây giờ. Tuy ở Hà Nội nhưng tâm hồn Phạm Tuyên lại gần gũi với mảnh đất phương Nam, gắn bó với cuộc sống và chiến đấu của đồng bào miền Nam nên bài hát đã mang đậm âm hưởng dân ca Nam Bộ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu  âm nhạc Lư Nhất Vũ đã nhận định: “Ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm là một ca khúc hay, đầy sức lôi cuốn, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã vận dụng nhuần nhuyễn điệu thức dân ca Nam bộ nên được người dân nơi đây coi là bài hát của xứ mình”.

Rất nhiều ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên đều có xuất xứ từ cuộc sống đầy biến động, từ cuộc đấu tranh khốc liệt của đất nước. Bài hát của anh sở dĩ có sức sống lâu bền trong lòng người yêu âm nhạc bởi nó mang hơi thở, nhịp đập trái tim của nhân dân.

Điều đó, chúng ta có thể thấy rõ một phần qua “Sức sống của ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn”, là đầu đề một bài báo của tác giả Thái Kiều Ngân đăng trên báo Nhân dân ngày 15/4/2000, có đoạn như sau:

“Đầu những năm 70 khi còn là chiến sĩ trong quân ngũ từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn vào Nam, bọn lính trẻ chúng tôi thường hát bài: Chiếc gậy Trường Sơn. Cả Đại đội đều thuộc làu làu bài này, nhưng ít ai được biết đến tác giả của nó. Sau này làm báo, may mắn tôi có dịp làm quen với tác giả: Nhạc sĩ Phạm Tuyên”.

Bài hát Chiếc gậy Trường Sơn được ông sáng tác một cách tình cờ, ngẫu hứng. Chuyện là mùa hè năm 1967, ông Quách Vinh, Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây có mời các nghệ sĩ Văn Cao, Phạm Tuyên, Chế Lan Viên, Hoàng Vân… đi thực tế tìm cảm hứng sáng tác ở Hòa Xá huyện Ứng Hòa…Tối đến nhóm nghệ sĩ được mời nghỉ lại tại nhà khách sơ sài của Ủy ban Nhân dẫn xã. Khoảng 4 giờ sáng, Phạm Tuyên nghe thấy những bước chân chạy rầm rập của dân quân tự vệ (bộ đội tại làng). Họ tập luyện bằng cách đeo hàng chục cân gạch đá trên lưng vừa đi, vừa chạy; với hy vọng sau này có đủ sức đi bộ vượt Trường Sơn vào Nam đánh đế quốc Mỹ. Ông chủ tịch Hòa Xá cho biết: Ở xã có một tập tục mới là trước khi thanh niên địa phương tòng quân, chính quyền tổ chức chia tay giản dị nhưng trang trọng, tặng những tân binh trẻ mỗi người một chiếc gậy có tên gọi là Gậy Trường Sơn. Còn người ra trận thì tặng lại người vợ, người yêu của mình chiếc nhẫn chung thủy được làm bằng đuy-ra, vỏ xác máy bay Mỹ.”

Bâng khuâng trước hiện tượng rất thơ này, Phạm Tuyên đã dùng âm luật của đồng bằng Bắc bộ để sáng tác. Âm hưởng của ca khúc dương như được vang lên từ một địa phương rất xa Trường Sơn qua câu: “Trường Sơn ơi! Nơi núi mờ xa mà ta chưa qua…” Hình ảnh Trường Sơn thời ấy như một biểu tượng của khó khăn mà thanh niên mơ ước sẽ vượt qua. Bài hát không nhắc đến địa danh Hòa Xá, tác giả đã từ một hiện tượng cụ thể mình từng chứng kiến để rồi khái quát lên thành một hình tượng mang tính thời đại- phản ánh sinh động một khía cạnh của lịch sử thời đánh Mỹ. Ca khúc đã khích lệ thanh niên vươn tới ước mơ của mình với một khí thế “Sức trẻ đi cứu nước vững vàng hơn dãy Trường Sơn””.

Phạm Tuyên viết ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn từ năm 1967 mà mãi đến bốn năm sau (1971) anh mới đến Trường Sơn. Đúng như anh tưởng tượng, những hình ảnh trong bài hát chẳng khác mấy hiện thực: “Có suối reo, có gió ngàn cây, có dốc cao vực sâu mất lối/ Mây trắng quyện dưới chân bước bồi hồi/ Có nắng lửa đốt thiêu vách núi…”. Bài hát như lời quê hương thôi thúc tuổi trẻ lên đường cứu nước: “Trường Sơn ơi! Cho dẫu hiểm nguy bền tâm vững chí/ Trong bước đi nghe tiếng đồng quê/ Nghe gió reo bờ tre gốc lúa/ Nghe tiếng người mến thương vẫn dặn dò/ Giữ vững truyền thống của đất nước…” và bồi đắp cho họ lòng quyết tâm giải phóng miền Nam: “Trường Sơn ơi! Ta đã lên đường/ Khi lửa tiền phương đang nhắc ta gấp bước đường xa/ Khi thù giặc cướp nước cháy bỏng trong lòng ta”.

Khi mới giải phóng miền Nam, tình cờ anh được nghe một ca sĩ Sài Gòn hát bài Chiếc gậy Trường Sơn, ngạc nhiên và thú vị, anh tìm hỏi ngay ca sĩ thì được trả lời: “Em khoái bài này vì nói có khí thế lắm, hay lắm!”. Trong không khí âm nhạc quanh quẩn với đời sống cá nhân nhỏ bé thời Mỹ ngụy thì sự tiếp thu tự nguyện dạng ca khúc cách mạng quả là điều đáng mừng. Rồi vài ngày sau đó, anh gặp gỡ với một số anh em họ hàng trong đó có người đã tham gia ngụy quân, họ nói vui với anh: “Gậy của anh khua đến đâu, chúng em chạy re đến đấy!”

Sau ngày miền Nam giải phóng, dân làng Hòa Xá rất tự hào với Chiếc gậy Trường Sơn, họ lập nhà truyền thống đặt tên là Chiếc gậy Trường Sơn và bản nhạc Chiếc gậy Trường Sơn do nhạc sĩ Phạm Tuyên chép tay được lồng khung treo trang trọng chính giữa phòng truyền thống. Dân làng Hòa Xá coi anh như một thành viên của làng, mỗi khi dân làng đón huân chương hay mở hội truyền thống, anh đều có mặt như về với quê hương của mình và cùng họ, kể cả những người đã vượt Trường Sơn lẫn những bạn trẻ ngày hôm nay ca vang bài Chiếc gậy Trường Sơn.

Bài hát có thật nhiều kỷ niệm khó quên, đến nay anh còn giữ bài Chiếc gậy Trường Sơn do Lê Văn Ngọc, một chiến sĩ đã chép tay trên đường đi B (tức là đi vào miền Nam) để truyền nhau hát khắp chiến trường Nam Bộ thời kỳ 1968-1975, đã hy sinh ở mặt trận, do đồng đội là Trân Danh Lân gửi đến cho nhạc sĩ.

Bài hát Chiếc gậy Trường Sơn đã nằm trong danh mục 10 bài hát hay nhất về Trường Sơn trong cuộc bình chọn do Binh đoàn Trường Sơn kết hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1999.

Cùng với Đường mòn Hồ Chí Minh – Đường Trường Sơn – con đường chiến lược nối liền Bắc Nam, một hệ thống những con đường trên khắp hậu phương miền Bắc được trải dài để phục vụ sản xuất, chiến đấu và chi viện cho miền Nam. Trong một đợt đi thực tế vào tuyến lửa do Bộ Giao thông Vận tải tổ chức (1966), anh đã viết bài ca nổi tiếng Yêu biết mấy những con đường với âm nhạc rộn ràng mà thiết tha: “Đường ta đi dài theo đất nước bao la hiền hòa/ Đường ta tỏa đi khắp nơi làng quê tới chốn rừng xa/ Đường ta đi vượt qua bão tốt bền vững lời thề/ Trong đêm khuya nghe tiếng tiền phương miền Nam chiến đấu vọng về”. Với đoạn điệp khúc thắm thiết ngập tràn niềm tin: “Yêu biết mất những con đường/ Dạn dày lửa khói nặng tình thương/ Đường từ hậu phương trăm mối ra chiến trường/ Ngày về chiến thắng qua những con đường”.

Trong khói lửa của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ đối với miền Bắc, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã tiếp sức cho chúng ta một loạt ca khúc hấp dẫn mà giàu sức lay động. Hai ca khúc Đêm trên Cha LoTừ một ngã tư đường phố cũng được ra đời trong thời gian này.

Mùa xuân năm 1971, Bộ Nội vụ (tức là Bộ Công an bây giờ) có tổ chức cho một số nhạc sĩ đi thực tế viết về lực lượng an ninh, lúc đó gồm cả lực lượng công an (áo vàng) và lực lượng biên phòng (áo xanh). Đoàn đi vào vùng “cán xoong” phía nam Khu Tư, lúc ấy đang bị địch đánh phá ác liệt để lên đồn biên phòng Cha Lo – Đồn anh hùng 111 ở miền Tây Quảng Bình. Một chuyến đi thật quá vất vả, vất vả không chỉ vì trèo đèo lội suối, cũng không chỉ vì địch rượt đuổi, mà còn vì sức khỏe của anh quá tồi. Trước khi đi bác sĩ Phạm Khuê và các bác sĩ khác đều khuyên anh nằm viện vì các khớp chân tay và cả cổ đều bị cứng nhưng anh vẫn xin đi để viết bài với sự động viên nhiệt tình của các đồng chí “quân hàm xanh”.

Qua một ngày đường vất vả lại bị máy bay địch bắn đuổi dữ dội, các nhạc sĩ đã được chiến sĩ biên phòng đón vào một hang đá đèo Mụ Giạ. Trong không khí của một đồn biên phòng ở đầu đường mòn Hồ Chí Minh, đêm đêm vẫn rì rầm tiếng xe ô tô chi viện cho miền Nam, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết bài Đêm trên Cha Lo ngay tại vọng gác của đồn biên phòng này. Cảnh và người ở đây đúng như anh viết trong lời bài ca theo giai điệu trầm hùng ấm áp: “Đêm nay ta về bên nhau nghe tin thắng trận miền Nam/ Biên giới sáng trong niềm vui mới, vang vọng tiếng đoàn xe qua/ Hỡi gió núi hãy hát cùng ta niềm hân hoan gửi vào tiếng ca/ Suối ngàn hãy ngân theo điệu khèn, nắng quê hương bừng lên”… Tiếp theo là đoạn điệp khúc dạt dào đầy tình thương mến và quyết tâm: “Ơi Cha Lo! Ơi Cha Lo! Nơi rừng núi miên Tây Tổ quốc bừng sáng lung linh một vì sao!/ Vì một tiếng ru hời hay tiếng đánh vần bi bô! Những cánh đồng hợp tác hay những nhà máy khói bay / Có chúng tôi đây vững vàng trên miền Tây!”

Có một câu chuyện cảm động dọc đường lên Cha Lo mà khi về anh đã kể cho mẹ con tôi nghe: Hôm đó đang phóng xe giữa đường thì máy bay Mỹ rượt theo và bắn xối xả, đoàn phải nấp vào một hang lèn thì gặp một cô gái chừng hơn hai mươi tuổi đang ẩn trong đó. Anh liền hỏi bằng giọng Quảng Bình (vì anh là rể của Quảng Bình): “O đi mô rứa vô đây có một mình?”. Cô gái thản nhiên đáp: “Em đi thăm người nhà – chồng em đang ở trên nớ” và cô chỉ tay về phía đồn Cha Lo. Vì vậy trong bài hát có câu: “Em thân yêu ở nơi xa nghe chăng tiếng vọng miền Tây/ Em có thấy góc trời biên giới như rực ánh hồng chân mây?”.

Ngay tại vọng gác của đồn biên phòng, anh đã dạy bài hát này cho một số chiến sĩ biên phòng ở đó, coi như món quà lưu niệm bằng âm thanh của nhạc sĩ. Âm hưởng trầm hùng, phảng phất chất dân ca miền Tây Quảng Bình đã nhanh chóng được các chiến sĩ đón nhận nồng nhiệt. Bài hát sau khi được tốp ca nam Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương và Đoàn Nghệ thuật Công an thu thanh, phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã nhanh chóng đi vào đời sống và ngày nay đã trở thành một bài ca truyền thống của lực lượng bộ đội biên phòng. Không những thế, nó còn trở thành bài ca truyền thống của nhân dân huyện Minh Hóa nơi có đồn Cha Lo đóng. Cứ mỗi năm khi giao thừa đến là chiến sĩ biên phòng của đồn lại tụ tập tại Văn phòng Huyện ủy huyện Minh Hóa cùng các đồng chí lãnh đạo huyện hát vang bài ca này, họ còn gọi ca khúc này là “huyện ca”. Thỉnh thoảng ở Hà Nội, các chiến sĩ biên phòng từ đồn Cha Lo lại đến thăm chúng tôi tặng mật ong rừng và vài đồ lưu niệm làm bằng đuya-ra từ xác máy bay giặc Mỹ.

Ca khúc Đêm trên Cha Lo đã lọt vào danh mục những bài hát hay nhất về bộ đội biên phòng trong cuộc bình chọn do Bộ tư lệnh Biên phòng và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1999. Và mới đây (2007) anh cũng đã được tặng bằng khen của Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng về bài hát này nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập.

Còn bài Từ một ngã tư đường phố cũng được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết trong dịp này, nhưng với một bối cảnh khác, khi anh trở về Hà Nội, để tặng cho lực lượng cảnh sát giao thông.

Mùa hè năm 1971, địch ngừng ném bom miền Bắc, nhưng không khí chiến tranh vẫn còn. Bối cảnh của một xã hội vừa có hòa bình lại vừa sẵn sàng chiến đấu là một hình ảnh độc đáo của thủ đô Hà Nội trong những ngày này. Trên mỗi ngã tư đều “có đèn đỏ, đèn xanh”, “cuộc sống reo vui từng giờ” nhưng khí thế chi viện cho miền Nam vẫn thấy rõ trên các đường phố với những đoàn xe chở bộ đội vào Nam. Chỉ cần đứng ở “Một ngã tư đường phố” cũng thấy hết sức sống của cả dân tộc. Không khí rộn ràng của Thủ đô vừa xây dựng vừa chiến đấu đã được phản ánh trong ca khúc vừa sôi nổi vừa vui tươi: “Từ một ngã tư đường phố, cuộc sống reo vui từng giờ/ Khi nắng mai về người và xe nối nhau đi trên đường/ Đèn đỏ đèn xanh đang nhảy múa như ngàn hoa/ Niềm vui phấn khởi trong ánh mắt bao người qua”… Nhộn nhịp mà ân tình với những câu ca: “Chào những chị công nhân tan ca về nhịp bước nhanh nhanh trên vỉa hè/ Chào những chàng trai ra đi chiến trường hẹn với quê hương tan giặc mới về/ Chào những đàn em bé khăn quàng đỏ nhịp bước tung tăng vang tiếng hát hòa/ Đường phố chúng ta vẫn đang còn hẹp/ Nhường bước giúp nhau đích xa cũng gần/ Tự hào đi trong tiếng kèn tiến quân ngân vang” và không ai có thể quên được những chiến sĩ cảnh sát đang làm nhiệm vụ giữ trật tự an ninh cho nhân dân ngay giữa ngã tư: “Và trên ngã tư này đây, trong nắng mưa hay đêm ngày/ Thân thiết dáng hình của người chiến sĩ giữ trật tự an ninh/ Bảo vệ hạnh phúc cho câu ca rộn rã lúc bình minh/ Trái tim hòa nhịp cuộc sống mới trên ngã tư thân yêu!”.

Về bài hát này cũng có nhiều kỷ niệm vui, anh kể cho tôi nghe một câu chuyện nhỏ: Ngày Hà Nội mới có đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư, một hôm anh đi làm, đến ngã tư, vì mải suy nghĩ nên cứ thế vượt đèn đỏ, ngay lập tức một chiến sĩ cảnh sát xuất hiện giơ tay chào nghiêm chỉnh trước mặt anh và nói to: “Chào nhạc sĩ của Ngã tư đường phố, anh đã vi phạm luật giao thông! Xin phạt nhạc sĩ một bài hát về luật giao thông!” Anh lúng túng cười xin lỗi rồi vội vàng lên xe, thật hú hồn!

Bài hát lần đầu tiên do hai ca sĩ Mạnh Hà và Thúy Hà biểu diễn đã nhanh chóng phổ biến trong lực lượng cảnh sát giao thông và tuổi trẻ Thủ đô và các thành phố khác. Đến mấy chục năm sau, khi chính phủ ban hành Nghị định 36/CP về trật tự giao thông, các đồng chí ở Bộ Công an đã quyết định dùng bài hát này để lực lượng quần chúng diễu hành trong buổi lễ phát động thi đua thực hiện Nghị định này. Và âm điệu vừa rộn ràng vừa tha thiết ấy cứ mỗi buổi sáng lại vang lên trong buổi phát thanh và cả trên truyền hình Vì an toàn giao thông và ca khúc xinh xắn ấy vẫn vang lên trong nhiều hội diễn quần chúng cho tới ngay hôm nay. Ngay vừa mới đây (2007), anh được Bộ Công an tặng bằng khen về những bài hát về ngành công an, đặc biệt là bài Từ một ngã tư đường phố.

Phạm Tuyên có nhiều ca khúc mà lời ca và giai điệu đã trở thành món ăn tinh thần của nhân dân về những thời điểm đáng ghi nhớ, nhiều người đã hát mà không nhớ tên tác giả, vì hình như những bài ca ấy tất yếu phải ra đời trong thời điểm lịch sử ấy. Chính vì vậy mà sau khi giải phóng miền Nam, tờ Tin sáng, một tờ báo nổi tiếng của Sài Gòn đã đăng một bài phỏng vấn anh với nhan đề: “Phạm Tuyên – Người viết nhạc dưới bom B52 và trong ngày đại thắng”.

Đúng như vậy, dưới bom B52 anh đã viết Hà Nội – Điện Biên Phủ với âm điệu hào hùng như để nói với thế giới: “Đâu chỉ vì non nước riêng này/ Phất ngọn cờ sao chính nghĩa”. Về hoàn cảnh ra đời của ca khúc, xin đọc một đoạn trong tập thơ văn Hà Nội mười hai ngày đêm ấy (NXB Văn Học, 1973) có một đoạn ghi nhanh của nhà báo Hữu Thọ như sau: “… Buổi sáng ngày 28/12/1972, một nhạc sĩ (đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên) đến gặp tòa soạn. Anh mang đến một bản nháp bài hát mới làm đêm qua. Trên ghế đá dưới gốc đa, anh hát cho mấy người nghe. Mọi người đều biết bom địch ném vào khu nhà anh ở. Chiếc dương cầm của anh bị hỏng. Nhưng anh muốn đóng góp tâm hồn mình vào cuộc chiến đấu chung. Bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ ra đời như thế! Hôm sau bài hát đó được đăng trên một tờ báo (báo Nhân Dân). Hôm sau nữa, Đài Phát thanh dựng bài đầu tiên về Hà Nội 12 ngày đêm chiến đấu của ta phát đi muôn phương…”.

Bài hát như một hành khúc đĩnh đạc, khỏe khoắn. Đoạn I rắn rỏi, kiên định, mở đầu với cảnh rực sáng: “Bê-năm-hai tan xác cháy sáng bầu trời/ Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời!”… Đoạn II thì hào hùng nhưng tha thiết: “Hà Nội đây!/ Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta?/ Đâu chỉ vì non nước riêng này/ Phất ngọn cờ sao chính nghĩa/ Hà Nội ơi!/ Trong bom đạn vẫn ngời ánh sáng tương lai/ Ghi chiến công tuyệt vời: một “Điện Biên” sáng chói!/ Hà Nội ơi!…”.

Buổi phát thanh đêm 29/12 bài hát đã truyền đi trên sóng đã gây xúc động cho nhiều người. Anh em ở miền Nam sau này cho biết là: Hà Nội vẫn đánh giặc, vẫn ca hát và ngâm thơ, đó là tín hiệu của một ngày chiến thắng không xa! Và thật là thú vị, vì ngày 30/12 Mỹ đã phải xuống thang. Anh tâm sự: “Phải chăng vào mùa xuân năm 1975, khi tôi cất tiếng hát reo vui ngày đại thắng trong vài dòng nhạc ngắn ngủi lại chẳng có những xúc cảm mạnh mẽ bắt nguồn từ những hành khúc rắn rỏi, quyết liệt và cũng đầy hy vọng, tự hào như những gì đã được ghi lại một cách say sưa và hối hả trong bài Hà Nội – Điện Biên Phủ?”. Đây cũng là một ca khúc mang tính nhạy cảm chính trị và tính dự báo cao.

Về ca khúc này đã có một phát hiện lý thú: Khi nghiên cứu về chiến thắng B52 trên bầu trời Hà Nội, một câu hỏi được đặt ra: “Báo nào, đài nào đã sử dụng từ Điện Biên Phủ trên không đầu tiên? Câu hỏi khó khăn ấy đã được cán bộ của Bảo tàng quân chủng Phòng không Không quân vào cuộc. Các anh chị đã đến các thư viện lớn, lật từng trang báo (Nhân dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới…) phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973. Cuối cùng họ đã đạt kết quả, tìm ra được đáp số. Đó là báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số ra ngày 29/12/1972, có dòng chữ “Hà Nội – Điện Biên Phủ” nhan đề một bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên và cạnh đó ở trang 2 có một dòng chữ “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không” (Lưu Trọng Lân, Tổng tập Ngàn năm văn hiến Thăng Long, tr. 1957).

Hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới xảy ra, anh lại viết ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do đúng vào đêm 17/2/1979 khi nghe Đài báo tin quân giặc tràn đến biên cương nước ta. Và hàng triệu người dân yêu nước đã nghe bài hát ấy như một lời giục giã khẩn thiết của lòng mình. Lời ca và nhạc điệu của ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do nghe sao da diết lạ thường: “Việt Nam! Ôi nước Việt yêu thương! Lịch sử đã trao cho Người một sứ mạng thiêng liêng/ Mang trên người còn lắm vết thương/ Người vẫn hiên ngang ra chiến trường/ Vì một lẽ sống cao đẹp cho mọi người: Độc lập – Tự do!”. Bài hát cũng đã gợi lên ở người nghe lòng tự hào với những chiến công hiển hách trong lịch sử của dân tộc ta: “Đất nước của ngàn chiến công vẫn sục sôi khí thế hào hùng/ Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa đang gọi tiếp thêm những bản hùng ca!”.

Bài hát được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam gây xúc động mạnh cho mọi người, từ các nơi: Tây Bắc, Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, nhiều lá thư gửi về Đài nói lên cảm tưởng của họ, những người đang sống vào thời điểm khi mà chúng ta vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ và chỉ mới hưởng hòa bình chưa được bao lâu thì phải bước vào một cuộc chiến đấu mới. Các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang phổ biến cho nhau ca khúc này và coi đây là lời động viên đầy tâm huyết. Nhiều người trong giới nhạc cũng nói lên niềm khâm phục tài năng viết ca khúc chính trị nhanh nhạy mà đầy sức lay động của nhạc sĩ Phạm Tuyên ở những thời điểm lịch sử như thế này.

Ngay sau đó, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng một số nhạc sĩ của Đài Tiếng nói Việt Nam lên ngay biên giới để hòa nhập vào cuộc chiến đấu mới của dân tộc. Và bài Tiếng đàn bên bờ sông biên giới cũng kịp ra đời để động viên quân và dân, nhất là tuổi trẻ miền biên cương trong cuộc chống trả khốc liệt với bọn xâm lược bành trướng dã man. Âm nhạc thống thiết với lời ca: “Từng mảnh đất nơi đây thắm máu và thắm hoa/ … Tuổi trẻ chúng ta chiến đấu và hát ca”… Trong chuyến đi biên giới này, anh cũng cho ra đời một loạt bài chống quân xâm lược bành trướng và ca ngợi tinh thần chiến đấu Tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh (người anh hùng đã hy sinh ở cột mốc số 0), Có một đóa Hồng Chiêm (người con gái đã dũng cảm hy sinh đẹp như một đóa hoa trong cuộc chiến đấu với quân giặc tàn bạo trong chiến tranh biên giới). Âm hưởng của những bài ca ấy đến nay vẫn nằm trong hồi ức của những ai đã sống những ngày đau thương và sôi nổi ấy.

Chỉ tiếc rằng giai đoạn lịch sử bi thương và hào hùng ấy, “người ta” không muốn nhắc lại (vì lý do chính trị?) nên những khúc ca bi tráng thời kỳ đó cũng như bị “loại ra” khỏi dòng âm nhạc cách mạng đầy tự hào của nhân dân ta. Tại sao lại như vậy? Chẳng lẽ chúng ta lại bỏ quên một giai đoạn lịch sử đẫm máu và vẻ vang đó ư? Năm 2004 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho xuất bản tập nhạc đồ sộ Những khúc quân hành vượt thời gian, nhiều khúc quân hành có giá trị (kể cả một số ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên) đã có mặt trong đó. Nhưng tiếc thay ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do có sức lay động lòng người trong chiến tranh biên giới lại không được đưa vào. Thấy tiếc quá, một số đồng chí trong Hội đồng biên tập đề nghị với tác giả của nó là nên thay cụm từ “Quân xâm lược bành trướng dã man” bằng cụm từ khác mà không có chữ “bành trướng”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhất định không đồng ý vì anh muốn giữ lại tính lịch sử của tác phẩm. Và khúc quân hành nổi tiếng đó đã không có mặt trong tập nhạc Những khúc quân hành vượt thời gian! Phải chăng “người ta” cứ muốn quên đi một chặng đường đấu tranh bi hùng của đất nước, nhưng làm sao có thể quên được? Chúng ta vẫn phải ghi nhớ và ghi nhớ đến muôn đời, vì đó là lịch sử! Cái gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử!

N.A.T.

Một tượng đài âm thanh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 3 năm 2014.

 

MỘT TƯỢNG ĐÀI ÂM THANH

Thanh Thảo

Một người bạn thuở nhỏ và thuở đi chiến trường vừa gọi điện cho tôi: “Tại sao không có tên nhạc sĩ Phạm Tuyên trong danh sách đề cử những nhạc sĩ nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh?”.

Tôi không biết trả lời anh ra sao, vì chính tôi cũng rất thắc mắc về điều này, một “thắc mắc không biết hỏi ai”. Bạn tôi là một người say mê âm nhạc cách mạng (bây giờ ta hay gọi là “nhạc đỏ”), và anh đã chép tay rất nhiều ca khúc cách mạng của các nhạc sĩ Việt Nam, trong đó đặc biệt là những ca khúc của Phạm Tuyên mà anh rất yêu. Cũng có một chút duyên riêng: Hồi nhỏ, khi học ở Khu học xá Nam Ninh – Trung Quốc, người thầy dạy nhạc của bạn tôi chính là nhạc sĩ Phạm Tuyên. Nhưng không phải vì “đạo thầy trò” mà trò ngưỡng mộ thầy, mà vì những ca khúc của Phạm Tuyên – hồi ấy là những ca khúc viết cho thiếu nhi – đã khiến đám học trò nhỏ chúng tôi say mê. Bởi nó trong trẻo và thấm đẫm tình yêu nước, yêu cuộc sống. Khi chúng tôi lớn lên, gia nhập quân đội và thành những người lính đi chiến trường, âm nhạc của Phạm Tuyên theo suốt chúng tôi trên những chặng đường hành quân, nhất là trên những nẻo rừng Trường Sơn. Bài hát Chiếc gậy Trường Sơn là bài hát được chúng tôi hát nhiều nhất khi đi bộ xuyên rừng, khi bị những cơn sốt rét hành hạ.

Vào chiến trường Nam Bộ, tôi nhớ, khoảng tháng 12 năm 1972 ở ven lộ Bốn Mỹ Tho, khi nghe đài báo tin B52 Mỹ ném bom Hà Nội, tôi đã bật khóc. Tôi khóc vì đã biết về sự tàn khốc của bom rải thảm từ B52, vì thương Hà Nội và cũng vì ở Hà Nội còn cha mẹ tôi, không biết có kịp sơ tán hay chưa. Sau giải phóng, tôi mới biết trong thời điểm ấy chính cha mẹ tôi cũng phải đội bom B52, giống như con mình phải đội bom B52 ở chiến trường Nam Bộ. Nhưng, điều gây xúc động lớn cho tôi còn hơn cả tin B52 ném bom Hà Nội lại chính là khi tôi được nghe, qua sóng của Đài phát thanh tiếng nói VN, bài hát của Phạm Tuyên “B52 tan xác rơi trên bầu trời/Hào khí Thăng Long sáng lên ngời ngời…”, do nghệ sĩ Trần Khánh và hợp ca của Đài tiếng nói VN thể hiện. Nỗi đau được nén lại đến tột cùng, và hùng khí của một dân tộc cũng được đẩy lên tới tột đỉnh. Những ai đã sống đúng thời điểm ấy mới cảm thấy hết được sức lay động của ca khúc mà Phạm Tuyên cho biết là ông đã sáng tác ngay tại căn hầm tránh bom của Đài tiếng nói Việt Nam, khi vừa viết xong đã được các ca sĩ của đài thực hiện ngay và đưa lên sóng phát thanh. Như một người lính, tôi mang ơn Phạm Tuyên vì ca khúc ấy của ông, nó đã khiến tôi yên lòng khi nghĩ về Hà Nội và những người thân yêu của mình đang dưới tầm bom hủy diệt. Âm nhạc không chỉ mang đến cảm xúc, mà còn giữ cho ta niềm tin và hy vọng.

Suốt cuộc đời sáng tác âm nhạc hơn 60 năm của mình, Phạm Tuyên đã thuộc hoàn toàn về Cách mạng, và âm nhạc của ông xứng đáng là “một tượng đài bằng âm thanh” của Cách mạng và cuộc chiến tranh vệ quốc. Có thể Phạm Tuyên còn viết nhiều ca khúc hay về tình yêu, về cuộc sống bình thường, nhưng tôi có cảm giác, phần chính yếu trong âm nhạc của ông là những bài hát về lòng yêu nước, về thân phận của một dân tộc muốn bảo vệ nền độc lập của mình thì phải chấp nhận nén chặt đau thương để sống còn. Âm hưởng của âm nhạc Phạm Tuyên là âm hưởng của “bi kịch lạc quan” theo nghĩa đẹp đẽ nhất của thuật ngữ đầy đối chọi này.

T.T.

“Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 2 tháng 12 năm 2011.

Nhân tạp chí Hồn Việt số 79 tháng 3/2014 đăng lại bài Tư tưởng chính trị và xã hội của nhóm Nam Phong - Phạm Quỳnh của giáo sư Trần Văn Giàu; xin mời các bạn đọc thêm bài sau đây:

“Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”

(Tư liệu của nhà văn anh hùng lao động Sơn Tùng)

Nhà văn Sơn Tùng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Nhân Dân ngày 22/10/2011 đăng trên trang nhất tin Triển lãm tài liệu, hiện vật về chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946:

“Sáng 21-10, tại Khu di tích Phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh, khai mạc triển lãm  về chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946. Ðây là hoạt động thiết thực kỷ niệm 100 năm sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (1911-2011) và 65 năm chuyến thăm ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị nguyên thủ một quốc gia độc lập (1946-2011).

Triển lãm trưng bày gần 200 tài liệu, hiện vật lưu niệm về chuyến thăm Cộng Hòa Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946. Trong đó, có những tài liệu, hiện vật quý lần đầu được công bố như: Bản thảo một số bài phát biểu, thư, bài viết có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quốc kỳ Việt Nam treo tại lễ mít-tinh kỷ niệm Quốc khánh 2-9 do kiều bào ta tổ chức tại Pa-ri năm 1946; phù điêu và tranh vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian ở Pháp… Số tài liệu và hiện vật này do các cá nhân và nhiều đơn vị  ở trong nước và ở Cộng hòa Pháp, trong đó có Hội Người Việt Nam tại Pháp sưu tầm, lưu giữ và hiến tặng.”

Để bạn đọc hiểu rõ hơn về một số sự việc liên quan đến những tư liệu này, chúng tôi xin mời bạn đọc phần trích trong Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh và Thượng Chi – Phạm Quỳnh mà nhà văn đã ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên công bố trên Blog PhamTon. Tư liệu chép tay này tròn 20 trang, viết xong ngày 8/12/2008 (tức 12/11 Mậu Tý) tại Hà Nội – Chiếu Văn.

*

*   *

“LÚC NÀY CÒN CỤ PHẠM QUỲNH THÌ…”

Hồ Chủ tịch, Thượng khách thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp từ 31/5 đến 20/9/1946. Ông Vũ Đình Huỳnh tháp tùng Hồ Chủ tịch. Ông Vũ Đình Huỳnh vừa nói, vừa mở tập Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp –Đ.H viết là sở cứ: …“Pháp không chịu công nhận Việt Nam độc lập mở chiến tranh xâm lược ở Nam Bộ từ 23/9/1945 đang lan rộng ra Nam Trung Bộ mà lại mời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thượng khách thăm chính thức nước Pháp, đó là điều chưa từng có trong lịch sử. Còn kỳ lạ hơn, sau lễ đón nghi thức nguyên thủ quốc gia tại phi trường Le Bourget ngày 22/6/1946, Hồ Chủ tịch về nhà khách chính phủ Royal Monceau. Tại đây, liên tiếp các chính khách, các nhà văn hóa danh tiếng, các tướng lĩnh, các văn nghệ sĩ, báo giới, các đảng lớn ở Pháp… đến chào Hồ Chủ tịch.

Người đến chào Hồ Chủ tịch đầu tiên là Đại tướng Juin, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp. Rồi Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại Moutet, Bộ trưởng Justin Godart, nhà kiến trúc sư danh tiếng Francis Jourdain, giáo sư nghị viện Privet CTS Paillet, tướng Petit, chủ tịch báo giới Cộng hòa Pháp Bayet, trạng sư Nordman, văn sĩ Bloch, bà Cotton lãnh tụ phụ nữ Dân chủ. Điều lạ là, Đảng Cộng hòa bình dân (MRP- đảng của thủ tướng Bidault) do ông Schuman chủ tịch đảng dẫn đầu đoàn, ông Francisque Gay – Bộ trưởng, ông Michelet – Bộ trưởng, ông Collin ủy viên trung ương, ông Gortais ủy viên trung ương, ông Debey- ủy viên trung ương, ông Ammury ủy viên trung ương, ông Terrenoir – ủy viên trung ương, ông Max André- trưởng đoàn đại biểu Pháp, Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau. Kế đến là đoàn Đảng Xã hội Pháp đến chào Hồ Chủ tịch gồm có bà Morty Capgras, ông Moutet – Bộ trưởng, ông Philip-Bộ trưởng, ông Luyssy nghị viên, ông Rosenfeld- Viện sĩ, ông Boutbrien- bác sĩ và các ủy viên trung ương Roux, Stble, Dechezelles… Hồ Chủ tịch từng sinh hoạt trong đảng Xã hội… các vị vui chuyện với Người suốt 8 giờ tối đến 2 giờ sáng… Đoàn Đảng Cộng sản Pháp: Hai ông bà Cachin, Thorez Phó chủ tịch chính phủ, bà Braun Phó chủ tịch Quốc hội, bà Jeannette Vemersche nghị viên, bà Vaillant Couturier nghị viên, Duclos Phó chủ tịch Quốc hội, Marty ủy viên trung ương, Mauvais ủy viên trung ương, Billoux Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Tillon Bộ trưởng Bộ quân khí…

Một đoàn văn sĩ, thi sĩ lừng danh thế giới đến chào Hồ Chủ tịch: Triolet, Aragon, Richard Bloch, Boene, Moussinac, Masson, Séghers, Pierre Emmanuel. Ông bà Joliot Curie hai nhà bác học thế giới đến chào Hồ Chủ tịch rất thân tình, đàm đạo gần hai tiếng đồng hồ. Về sau, hai nhà bác học Joliot Curie còn gặp Hồ Chủ tịch mấy lần…Lại…không thể tưởng tượng nổi, nhà danh họa Picasso gặp Hồ Chủ tịch ôm choàng lấy nhau hồi lâu! Vừa hàn huyên Picasso vừa ký họa chân dung Hồ Chủ tịch. Bức chân dung lịch sử ấy người giao cho tôi cất giữ. Hơn hai mươi năm sau tôi gặp họa, bị khám nhà nên không còn nữa.

Đến như cựu Toàn quyền Đông Dương hai lần A.Saraut cùng với con rể là Thượng sứ Sainteny đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và ôm chặt lấy Nguyễn Ái Quốc năm xưa trước quan khách trong bữa tiệc long trọng!

Trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau, Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn: ông Phan Anh, ông Bửu Hội, ông Hoàng Minh Giám, ông Nguyễn Văn Huyên, ông Trịnh Văn Bính, ông Dương Bạch Mai, ông Nguyễn Mạnh Hà, ông Tạ Quang Bửu, ông Đặng Phúc Thông, ông Huỳnh Thiện Lộc, ông Chu Bá Phượng, ông Hoàng Văn Đức. Trưởng đoàn là ông Phạm Văn Đồng. Lúc các thành viên đoàn Việt Nam vào đủ trong phòng, Hồ Chủ tịch nói với ông Phạm Văn Đồng, có ông Đỗ Đình Thiện và tôi (Vũ Đình Huỳnh): “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Người im lặng. Ông Đồng đáp lời: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà!…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Mà cũng chỉ có Bác Hồ! Sau khi ở Pháp về, ngày 4/12/1945, trong phiên họp Chính phủ Người đề nghị trợ cấp hằng tháng cho hai bà Thành Thái, Duy Tân mỗi bà 500 đồng Đông Dương

Lời bình của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu năm nay 89 tuổi, vừa nhận giải thưởng “Nghiên cứu – 2008” của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, công nhận thành tựu suốt đời của cụ. Trong một lần vui chuyện cụ đã kể cho chúng tôi: Năm nọ, thành phố Hồ Chí Minh có yêu cầu Giáo sư Trần Văn Giàu và cụ chủ biên một tập sách giới thiệu toàn diện về Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Khi cùng làm việc với nhau, bỗng một hôm Giáo sư Trần Văn Giàu thở dài: “Giá như bây giờ còn cụ Phạm Quỳnh, có phải là đỡ không…” Câu nói ấy vô tình gần giống hệt lời Hồ Chủ tịch nói năm 1946, trước ngày khai mạc Hội nghị Việt Pháp tại Fontainebleau trên đất Pháp.

Trang sau »

The Rubric Theme Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.