Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 19, 2014

Nguyễn Đình Chú, Thầy tôi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 12 năm 2014.

NGUYỄN ĐÌNH CHÚ, THẦY TÔI

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới đầu đề của chúng tôi là các phần trích trong bài Chân dung Thầy tôi, Nhà giáo Nhân dân – Giáo sư Nguyễn Đình Chú của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận, Giảng viên cao cấp Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học HNguyen Duc Thuanải Phòng, trong tập sách của ông Văn học và ký ức, thời gian… (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, quí IV – 2014) từ trang 239 – 252.

—o0o—

(…) Thầy sinh ra từ vùng quê xứ Nghệ, năm 1929, năm ấy là năm Kỷ Tỵ, tại xã Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp), huyện Nghi Lộc. Ai cũng biết nơi ấy, một vùng quê nghèo, có dòng sông Lam trong xanh và dãy núi Hồng Lĩnh ngàn năm sừng sững. Nơi ấy cũng là nơi sinh của biết bao anh hùng nghĩa sĩ đã bỏ mình vì nước, những danh nhân tài hoa đã ra đời và sự nghiệp của họ đã làm rạng danh quê hương, non sông nước Việt… Vùng đất địa linh nhân kiệt, cái nôi văn hóa của dải đất miền Trung ấy cũng đã từng sinh ra nhiều nhà khoa học của thời đại mới, rất uyên bác, đã được Nhà nước tôn vinh…

(…) Hồi nhỏ, vốn con nhà Nho, cụ thân sinh không cho thầy học chữ Tây, nên đã nuôi hai ông đồ tới 4,5 năm dạy chữ Hán trong nhà cho thầy. Sau mới vào trường tiểu học Pháp Việt và nhờ nhảy lớp mà trước Cách mạng tháng Tám đậu Pờrime (Primaire) và bắt đầu vào trung học. Cách mạng tháng Tám thành công, thầy nghỉ học một thời gian, rồi vào học ở trường trung học Nghi Lộc, sau đó là trường Cấp III Huỳnh Thúc Kháng, Nghệ An. Những năm tuổi trẻ, thầy hoạt động rất sôi nổi trong phong trào thanh niên ở quê, và vì thế mà thầy sớm được giác ngộ lý tưởng cách mạng và được tổ chức kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm thầy mới 19 tuổi, vào cuối năm 1948, rồi là Thường vụ Tỉnh Đoàn học sinh sinh viên Nghệ An. Năm 1953, thầy học dự bị đại học ở Thanh Hóa. Năm ấy, thầy có quyết định của trên cử sang học ở Trung Quốc. Nhưng sau bị hoãn! Rồi thầy về địa phương chờ đi học ở Nga. Cũng hoãn. Thầy tham gia cấp ủy, làm nông nghiệp rất giỏi. Nhưng chính vào những năm tháng này, một bi kịch ập đến với gia đình thầy, cũng như nhiều gia đình khác, ấy là cụ thân sinh bỗng bị Đội cải cách quy sai và bị đấu tố, bị đi tù và mất trong tù… Với “sự kiện” này dẫn đến một hệ lụy là thầy bị xóa Đảng tịch! Trong cảnh ngộ ấy, thầy vẫn có đủ nghị lực để vươn dậy. Lao động sản xuất giỏi, sống trung thực, quyết tâm khẳng định bản chất lương thiện của gia đình và của bản thân. Hà Nội giải phóng, đất nước nhiều đổi thay, thầy thi vào Đại học Sư phạm Văn khoa và đỗ thủ khoa. Khi xin đi học, Hội nghị Dân Chính Đảng địa phương đã nhất trí cho đi!

(…) Tốt nghiệp đại học năm 1957, là thủ khoa, thầy được giữ lại trường làm giảng viên, là một bước ngoặt tVan hoc ky uc va thoi gianrong cuộc đời của thầy (…) Trong ý nghĩ của mọi người bấy giờ, thầy là học trò “yêu” của Giáo sư Trần Đức Thảo. Và vì thế mà công việc đầu tiên của thầy khi ở lại trường là thầy vè Khoa Sử làm trợ lý cho thầy Chủ nhiệm khoa Trần Đức Thảo về lịch sử triết học. Trong tâm thức của thầy, Giáo sư Trần Đức Thảo là một “thần tượng”, chưa một ai có năng lực tư duy như Giáo sư Trần Đức Thảo. Đúng được 8 tháng… thì buồn thay, lại một “sự cố” chính trị có ảnh hưởng đến thầy, là Giáo sư Trần Đức Thảo bị mắc vào vòng tai họa… Đây là câu chuyện trắc trở thứ hai trong những tháng năm còn rất trẻ, mới bước chân vào ngưỡng cửa sự nghiệp của thầy… Chuyện gia đình vừa đi qua, lại chuyện “đường đời”, nỗi buồn chồng lên nỗi buồn. Nhưng không thể nản lòng (…) Giáo sư Đặng Thai Mai đã yêu cầu (…) để thầy về làm trợ lý cho ông. Thầy cảm thấy ngại ngùng, vì trước đây thầy đã không dứt khoát khi Giáo sư Đặng Thai Mai cho người đến bảo thầy về làm trợ lý văn học Trung Quốc cho mình. Nhưng thật cảm động, trong buổi thầy đến gặp Giáo sư Đặng Thai Mai để nhận việc thì Giáo sư đã nói với thầy: “Biết cậu có điều buồn, thế cậu không biết là mình cũng có điều buồn sao! Hãy quên đi để mà làm việc!”. Rồi Giáo sư hỏi hoàn cảnh gia đình, động viên thầy viết bài in trên tạp chí, để vừa dẫn dắt thầy làm khoa học, vừa giúp thầy có thêm chút tiền gửi về nuôi gia đình! Lời nói và tình cảm ưu ái ấy của Giáo sư Đặng Thai Mai, mỗi lúc nhắc lại với học trò, thầy vẫn rưng rưng… Trong tâm thức, thầy rất biết ơn những người thầy lớn ấy đã dìu dắt thầy trên con đường công tác, con đường khoa học, trở thành nhà trí thức.

(…) thầy luôn lấy triết học để làm cơ sở nhìn nhận các hiện tượng văn học, quan tâm nghiên cứu và tư duy về những vấn đề mang tính vĩ mô, “tạo khung, dựng cốt” cho những công trình khoa học. Sau này, trong bài Giáo sư triết học Trần Đức Thảo, khi nghĩ về “cái may mắn” được học, tiếp thu những tri thức và những ảnh hưởng cách tư duy những vấn đề tổng quát từ vị Giáo sư khả kính đó, thầy viết: “Đối với tôi, được làm học trò của Giáo sư Trần Đức Thảo là một may mắn lớn, nhưng cũng có phần vất vả. Có điều là cái vất vả thì đã đi qua, còn cái may mắn thì còn mãi mãi” (Báo Giáo dục và Thời đại, số 23 (1129), ngày 7/6/1993. (…) Nhiều bài viết của thầy thực sự có tính chất mở hướng cho một vấn đề khoa học. (…) khi hướng dẫn Nghiên cứu sinh làm đề tài, nhiều người cũng đã được thầy gợi ý đi vào những đề tài thuộc “vùng cấm” của văn học trước đây, mà nếu không cứng tay thì dễ đổ. Khi nghiên cứu đề tài luận án về Văn trên Nam Phong tạp chí, tôi cũng là một trong số đó.

Đồng nghiệp và nhiều học trò được thầy dìu dắt nay đã trở thành những nhà nghiên cứu, những nhà khoa học, có ý mong muốn thầy ra Tuyển tập, nhiều lần thầy chối từ. Mãi gần đây, thầy mới cho làm. Và số trang bản thảo về Nguyễn Đình Chú tuyển tập của thầy sắp ra mắt bạn đọc, hiện tại đã là khoảng trên dưới 3000 trang khổ lớn. Một số lượng đồ sộ, là sản phẩm trí tuệ khoa học của suốt hơn 50 năm nghiên cứu và giảng dạy của thầy!

Năm 1984, thầy được phong Phó Giáo sư, rồi năm 1991, thầy được phong Giáo sư. Năm 1990, thầy là một trong số những nhà giáo đầu tiên của khoa Văn, của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Và năm 1998, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Câu chuyện bầu Giáo sư và Nhà giáo Nhân dân của thầy cũng có nhiều điều thú vị. Sự thật, vốn khiêm nhường, thầy đã chối từ những danh hiệu đó. Nhưng nhìn nhận sự cống hiến đích thực của thầy, Trường vẫn đề nghị bầu bổ sung, và thầy trúng với số phiếu rất cao. Bản lĩnh, uy tín và nhân cách lớn của thầy tất yếu sẽ đem đến điều đó và tất yếu phải là như thế! Và đặc biệt là sau bao nhiêu năm thầy chỉ tự nguyện làm “một người dân lương thiện”, và cố gắng sống theo lời dạy của cha: Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân, nhưng rồi cách đây hơn 20 năm ở tuổi 60 thầy lại trở thành một Đảng viên. Trong lễ kết nạp, thầy nói: “Tôi vào Đảng lại trước hết là vì tình bạn. Tôi vào Đảng lần này không giống như lầy trước. Lần trước chủ yếu là bằng cảm tính, bằng nhiệt tình còn nay tôi là một người có suy nghĩ để biết đúng sai. Nhưng để tránh chủ quan, một mặt tôi dựa vào cái đầu của mình. Mặt khác tôi tham khảo ý kiến của tập thể”

(…) Gần đây, vào năm 2008, khi viết Lời giới thiệu cho cuốn sách Văn trên Nam Phong tạp chí của tôi, thầy có đọc Lời bạt của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai của chủ bút tạp chí Nam Phong – nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở cuối sách, thấy có những điều oan trái mà gia đình nhạc sĩ, cháu con phải chịu bấy nhiêu năm, thầy đã khóc! Thầy bảo, “trước đây, vì điều kiện lịch sử xã hội, nên tôi có một bài báo viết không đúng về cụ Phạm Quỳnh, nay anh cần điều chỉnh, nghiên cứu, đánh giá lại cho thật khách quan và công bằng!”. Năm 1993, khi Giáo sư Trần Đức Thảo qua đời ở bên trời Tây, thầy xúc động viết những dòng vĩnh biệt người thầy kính mến của mình như sau: “Bầu trời Paris hôm 19 tháng 4 đó không biết có sụt sùi không. Nhưng lòng tôi muốn như thế”. (Báo Giáo dục và Thời đại, số đã dẫn)

Hải Phòng, tháng 6 năm 2010.

(Bài in trong sách Nguyễn Đình Chú tim đèn thắp sáng mãi,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010)

Tháng Mười Hai 18, 2014

Thượng Chi bàn về tiểu thuyết – GS.Nguyễn Đình Chú

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 1 tháng 12 năm 2012.

THƯỢNG CHI BÀN VỀ TIỂU THUYẾT

GS. NGND Nguyễn Đình Chú

Lời dẫn của Phạm Tôn:Bài này đã đưa lên Blog PhamTon tuần 2 tháng 12 năm 2009, nay đã vào sách Phạm Quỳnh một góc nhìn tập 2, (NXB Công An Nhân Dân, 2012) các trang từ 113 đến 122.

“Tôi thuộc trong số những người đã công kích Thượng Chi không kém phần gay gắt. (…) trải hơn 30 năm qua (…) Năm 1990 (…) quả là tôi đã có sự đổi giọng nhưng vẫn chưa hết băn khoăn vì vấn đề quá phức tạp”, Nguyễn Đình Chú đã thẳng thắn viết như thế từ tháng 12/1992. Và bản thảo Thượng Chi bàn về tiểu thuyết có những dòng ấy, ông đã gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên và PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con trai và con dâu Phạm Quỳnh. Nay ông cho phép chúng tôi sử dụng lại nguyên văn bài đó, xin mời các bạn cùng đọc.

Tháng 6/2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo Hải Dương đã tổ chức tọa đàm về Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong, bà Đặng Thị Bích Liên, ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh, và Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam phát biểu có tính chất đề dẫn. Sau phát biểu của Giáo sư Huệ Chi, giáo sư Nguyễn Đình Chú tiếp lời, ông xúc động nhắc lại có một thời ông nhìn nhận Tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng, còn phiến diện, ông thấy mình thật có lỗi và ngượng ngùng khi nhắc lại bài viết thời đó. (Theo bài của nhà văn, nhà giáo Khúc Hà Linh Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong ở Hải Dương, Blog PhamTon năm 2010)

—o0o—

Thượng Chi là bút danh của Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong tạp chí. Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến một hiện tượng thật sự phức tạp. Nó đã, đang và sẽ còn là giây co của các lực lượng xã hội, các quan điểm học thuật, không chỉ trong nước mà còn là ngoài nước, không chỉ với người Việt Nam mà còn là với một số người ngoại quốc. Tôi thuộc trong số những người đã công kích Thượng Chi không kém phần gay gắt qua bài Thực chất cuộc tranh luận chung quanh vấn đề Truyện Kiều giữa Ngô Đức Kế với Phạm Quỳnh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12 năm 1960. Nhưng rồi, trên đường học tập và nghiên cứu, trải hơn 30 năm qua nhất là trong những năm có sự đổi mới trong tư duy nghiên cứu văn học gần đây, thú thật tôi không khỏi có sự băn khoăn, thậm chí là ray rứt, về những gì mình đã viết về Phạm Quỳnh hơn 30 năm trước đó. Năm 1990, trong cuốn sách Tác giả văn học Việt Nam (Tập I, NXB Giáo Dục), ở mục Phạm Quỳnh, quả là tôi đã có sự “đổi giọng”, nhưng vẫn chưa hết băn khoăn vì vấn đề quá phức tạp. Sự “đổi giọng” phần nào của tôi hoàn toàn không phải là chuyện đón gió trong nhất thời mà là sau một chuyến đọc lại Nam Phong và hướng dẫn một sinh viên cao học làm luận văn với đề tài “Những vấn đề ngữ văn đặt ra trên Nam Phong tạp chí 1917-1934” cách đây hơn 10 năm. Luận văn này dẫu chưa phải là một công trình nghiên cứu khoa học ghê gớm gì nhưng cũng đã được một hội đồng giám khảo (trong đó nay đã là hai giáo sư và hai phó giáo sư) đánh giá xếp loại xuất sắc và đề nghị cho chuyển tiếp nghiên cứu sinh với đề tài này. Chỉ tiếc là với người học viên này, có chuyện “cơm áo không đùa với khách thơ” mà đành phải bỏ cuộc. Nói thật là qua chuyện đọc lại Nam Phong và hướng dẫn luận văn cao học này, riêng tôi, tự nhận ra một điều không thể chấp nhận với mình ngày trước là đọc chưa đến đầu đến đũa đã vội nói theo và nói lớn. Mà thực tế này, hình như cũng không chỉ là chuyện riêng mình, bởi một thời, cũng xin được nói thật, không ít người trong chúng ta đã có tình trạng lấy quan điểm lập trường thay thế sự lao tâm khổ tứ trong khoa học và dù muốn hay không, ít hay nhiều cũng đã có sự lười biếng, thô thiển trong việc xác định lập trường quan điểm học thuật vốn là điều cần thiết, không ai chối bỏ.

Với hoàn cảnh và tâm trạng đó, lần này khi nghe có cuộc hội thảo khoa học về Phạm Thượng Chi, tôi có ý định xin được trình bày một cách hệ thống những vấn đề ngữ văn trên Nam Phong, trong đó có phần chung và phần riêng Phạm Quỳnh. Nhưng rồi nghĩ lại thấy đường chưa dọn xong sao mình đã vội đẩy xe vào. Phương pháp luận về Nam Phong, về họ Phạm chưa được xác lập sáng tỏ hơn thì nói gì mà được chấp nhận. Đúng là như vậy đấy, khoa học đang cần xác định lại một cách thỏa đáng hơn, cũng có nghĩa là khoa học hơn cách nhìn cách nghĩ về trường hợp Nam Phong, Phạm Quỳnh đã đành mà còn là với nhiều trường hợp tương tự: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh…theo tôi, tạm thời một cách tốt nhất và trước hết là hẵng đi vào từng vấn đề cụ thể, xem đúng sai thế nào, rồi trên cơ sở đó, sẽ đến với cái tổng thể sau. Tôi tin chắc rằng quan sát sâu vào từng hiện tượng, từng vấn đề cụ thể của Nam Phong, của vị chủ bút Nam Phong thì sẽ có cách nhìn mới về cái tổng thể của nó ít ra là khác trước một cách hợp lý.

Với những ý nghĩ như thế, trong dịp hội thảo này, tôi xin trình bày ý kiến của Phạm Thượng Chi về tiểu thuyết.

*

*  *

Trên Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh là người bàn luận nhiều nhất về văn chương. Và với ông thì có lẽ tiểu thuyết là vấn đề được quan tâm nhất. Ông đã phát biểu về tiểu thuyết rải rác ở nhiều bài viết, nhưng tập trung nhất là trong tiểu luận Bàn về tiểu thuyết (Nam Phong số 43, 1921) và bài Bàn về bộ tiểu thuyết Vua Bể của De Vogue (Nam Phong số 3, 1917). Ông cho biết: tiểu thuyết có từ lâu. Ở nước Tàu tiểu thuyết thịnh hành từ thời nhà Nguyên. Ở nước Pháp, tiểu thuyết phôi thai từ thế kỷ 13-14 nhưng hình thể như ngày nay là mới bắt đầu từ thế kỷ 19. Ông cho rằng với thế giới, thế kỷ 19 là thế kỷ của tiểu thuyết. Ông đã định nghĩa tiểu thuyết “là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc hứng thú”, “phàm sách gì không phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thi ca, thời đều là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết có khi lại gồm được cả các lối kia”. Ông nói: “nghĩa chữ “tiểu thuyết” trong sách Tàu thời lại rộng nữa…”. Ông phân biệt với “tiểu thuyết bây giờ: theo lối tự sự, nói như thường (NĐC nhấn mạnh), cũng có đôi khi viết bằng lối vận văn như trong Kiều ”, “còn thể thức thời thực là muôn hình vạn trạng” (NĐC nhấn mạnh). Ông bàn về cách lập ý trong khi viết tiểu thuyết: “tất phải có một cái chủ ý ở trong. Cho nên trước khi kết cấu phải lập ý đã, nghĩa là định cái chủ não ở đâu, rồi mới đặt truyện…định răn đời…định tả thực…định hình dung…định diễn tả…bao giờ cũng phải có chỗ dụng tâm lập ý, rồi mới nhân đó kết cấu, không thời thành chuyện bông lông không có chủ đích”. Phạm Quỳnh đã bàn tới vấn đề hoàn cảnh và nhân vật trong tiểu thuyết. Về hoàn cảnh, ông quan niệm “là cái hoàn cảnh chung quanh mình, không những là cảnh vật hữu hình…mà lại là cái khí vị đặc biệt (NĐC nhấn mạnh) trong cảnh ấy nữa…, phải diễn làm sao được cái khí vị riêng của mỗi nơi ấy…” (NĐC nhấn mạnh). Theo ông là có hoàn  cảnh hữu hình và hoàn cảnh vô hình trong tiểu thuyết, và hoàn cảnh đó sẽ chi phối người đọc và cũng là tiêu chuẩn nghệ thuật của tiểu thuyết. Ông viết: “làm tiểu thuyết xưa nay đều có cái tài gây ra một hoàn cảnh…để…hun đúc thấm nhuần người đọc truyện, khiến cho tự mình sáp nhập với người trong truyện”. Ông cũng chú trọng đến kết cấu của tiểu thuyết mà theo ông, kết cấu “tóm lại là đặt thành một truyện hiển nhiên như truyện thật” (NĐC nhấn mạnh). “Tài nhà làm tiểu thuyết phần nhiều là ở cái tài kết cấu đó”, “kết cấu khéo là bịa đặt ra một truyện huyền mà vẫn căn cứ ở sự thực, khiến cho người đọc vẫn biết rằng truyện huyền không thực mà không thể không tin… Những nhà phê bình Âu Mỹ khen những tay làm tiểu thuyết thường nói là những tay “sáng tạo ra cuộc đời” (NĐC nhấn mạnh). Ông chủ bút Nam Phong cũng đã nhìn thấy hình thức “tiểu thuyết là muôn hình vạn trạng” tuy vậy “không phải là không có thể chia ra” loại này loại khác dựa theo sự khác nhau về phương pháp, có điều là “không nên coi những phương pháp ấy là nhất định”. Hai chữ “phương pháp” được ông nói ở đây “chỉ là cách thức có ý nghĩa thao tác, qui phạm, phép tắc” mà thôi. Ông chủ bút Nam Phong còn có nhiều ý kiến khác về tiểu thuyết. Trong bài Bàn về bộ tiểu thuyết Vua Bể của De Vogue, ông đã nói đến vấn đề đối tượng trung tâm của tiểu thuyết là con người. Ông viết: “Phần nhiều tiểu thuyết đã thành những bài nghiên cứu rất tinh tế, về nhân tâm thế sự” (NĐC nhấn mạnh). Đặc biệt, ông “mong cho trong văn giới nước ta xuất hiện được một bàn tay làm tiểu thuyết có tài để mô tả cái cảnh đáng kính đáng phục ấy (của đàn bà con gái) để lưu truyền mãi mãi về sau” (Sự giáo dục đàn bà con gái. Luận thuyết, Nam Phong, số 4, 1917).

Trở lên là những ý tưởng của Thượng Chi về tiểu thuyết. Chúng ta nghĩ gì về những ý tưởng đó? Việc này xin nhờ các nhà lý luận văn học phán xét. Ở đây với tư cách một người làm văn học sử, có thể nói như sau:

  1. Trong lịch sử văn học Việt Nam, trước Phạm Quỳnh, chưa ai nói về thể loại tiểu thuyết một cách có hệ thống và phong phú như thế. Thuộc thời kỳ văn học trung đại, người ta bàn nhiều là về thơ ca. Như thế là vì ở thời kỳ này, tiểu thuyết nói chung chưa phát triển. Nếu có thì mới là tiểu thuyết văn vần (truyện thơ) và tiểu thuyết văn xuôi chữ Hán mà cũng còn lơ thơ. Đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết (bao gồm đoản thiên, trung thiên, trường thiên) bằng văn xuôi tiếng Việt bắt đầu xuất hiện. Năm 1910, Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Thiện Trung ra mắt bạn đọc với một lời tựa có quan điểm viết truyện rất có ý nghĩa nhưng còn là một ý ngắn và cũng chỉ là một ý. Vào những năm 20 của thế kỷ, số người viết tiểu thuyết có tăng lên rõ rệt nhưng các tác giả cũng ít bàn về thể loại mà mình theo đuổi. Trần Trọng Khiêm có một số ý kiến hay trong lời tựa cho tác phẩm Kim Anh lệ sử của mình nhưng so với những gì Thượng Chi đã bàn thì còn nghèo hơn nhiều. Trên Nam Phong tạp chí, một số người như Trần Hữu Khánh, Tùng Đàm (Nam Phong, số 60, 1922), Vũ Đình Long, Nguyễn Mạnh Bổng… đó đây cũng có ý này ý khác về tiểu thuyết đáng ghi nhận nhưng vẫn không ai có ý kiến hệ thống như ông chủ bút của họ. Sau này, với các nhà tiểu thuyết (vẫn hiểu theo nghĩa rộng) chuyên nghiệp như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nhất Linh, Khái Hưng…không biết có ai bàn sâu vào tiểu thuyết hơn ông chủ bút Nam Phong trước mình, mặc dù một số ý kiến của một số vị về tiểu thuyết đã được người đời nay kính nể lưu truyền. Trong một tình hình như thế, ta nghĩ gì về Thượng Chi với lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam ta?
  2. Nói nhiều chưa là quan trọng bằng nói đúng. Thượng Chi đã nói đúng ở những điểm nào? Dù không phải là người làm lý luận văn học, lý luận tiểu thuyết, chúng tôi vẫn thấy ông có nhiều ý đúng. Đúng khi nói về thế kỷ 19 là thế kỷ của tiểu thuyết, tiểu thuyết là muôn hình vạn trạng, tiểu thuyết là “sáng tạo ra cuộc đời”, tiểu thuyết là “huyền” nhưng có căn cứ ở thực, tiểu thuyết là bài nghiên cứu rất tinh tế về nhân tâm thế sự, tiểu thuyết đi sâu vào tâm lý con người, trong tiểu thuyết có hoàn cảnh hữu hình và hoàn cảnh vô hình tức là hoàn cảnh có khí vị đặc biệt, khí vị riêng, tiểu thuyết hãy viết về cái cảnh đáng kính đáng phục của đàn bà con gái, tiểu thuyết phương Đông khác tiểu thuyết phương Tây, tiểu thuyết phải tạo ra những vật linh động như người sống…
  3. Nếu Phạm Thượng Chi chỉ thuần túy làm chuyện văn chương và có được một hệ thống ý kiến như trên về tiểu thuyết cũng như nhiều ý kiến khác của ông về ngữ văn nói chung, dù có chỗ đã bị thời đại bỏ qua, vẫn đủ cho ông xứng đáng là nhà lý luận tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam mà không ít sách báo trước cách mạng tháng Tám, sau 1945 tại các vùng văn hóa không chịu ảnh hưởng quan điểm Mác xít chi phối đã nói. Khốn nỗi, như mọi người đã biết, và biết quá rõ Thượng Chi và Nam Phong tạp chí của ông lại dính líu chặt chẽ với thực dân Pháp thuở đó. Mà ở đâu chứ trên đất nước này, hễ có hiện tượng đó thì thế nào cũng có loại ý kiến lên án, phủ nhận. Tất nhiên, loại án văn chương này không phải là không thể đem xử lại. Nhưng đó là chuyện sau, chuyện công phu, chuyện lâu dài. Nếu có thể được thì xin coi việc làm nhỏ của bài viết nhỏ này là một cách góp phần nhỏ chuẩn bị cho chuyện lâu dài, công phu về sau đó.

12-1992

N.Đ.C.

Tháng Mười Hai 12, 2014

“Chuyển nhà cho mẹ”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 12 năm 2014.

“CHUYỂN NHÀ CHO MẸ”

Bài Phạm Hồng Tuyến

Ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong facebook của Phạm Hồng Tuyến (www.facebook.com/hongtuyenvtv) có chia sẻ về việc cải táng mẹ là Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết từ nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội về quê cha chồng Hải Dương. Mộ bà bằng đá đen, nằm song đôi với kim tĩnh … dành sẵn cho nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng trong khuôn viên Lăng Quỳnh ngay gần Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

—o0o—

Nhac si Pham Tuyen va Nguyen Anh TuyetVẫn dòng cảm xúc về mẹ…. Trong hồi ký Chúng tôi đã sống như thế, tình cảm của mẹ với bố, với 2 chị em không thể nào tả xiết. Mẹ nhớ nhiều chi tiết đến kinh ngạc…

Đây là những dòng mẹ viết về hồi chị Tuyền ở 16 Hàng Da: “Tội nghiệp, những ngày ở nhà, cháu Tuyền rất háo hức mong ngày mong đêm để được đi học. Nhưng biết học trường nào đây? Cuối cùng phải gửi cháu lên nhà bác Bình ở Hàng Da và cháu đành phải tự học, hằng ngày cháu cứ lôi sách lớp Một ra rồi tự ra toán để giải và viết chính tả, rồi tự cho điểm bằng bút chì đỏ. Một buổi sáng tôi lên Hàng Da thăm cháu, cháu hí hửng khoe: “Mẹ ơi! Con học được chữ ngờ rồi, dễ quá! Thế mà nhiều người vẫn chưa học được”. Vì thỉnh thoảng cháu vẫn nghe người lớn phàn nàn: “Ai mà học được chữ ngờ!”. Có lần cháu trót “dấm đài”, tự vò quần rồi mang ra phơi, mồm còn nghêu ngao: “Nắng lên đi! Mang quần ta ra phơi” phỏng theo câu hát: “Gió lên đi! cho thuyền ta ra khơi” trong ca khúc Bám biển quê hương mà bố cháu viết trong lần đi thực tế Quảng Bình, Vĩnh Linh”

Còn đây là đoạn mẹ viết về giai đoạn đi sơ tán cùng các anh chị nhà cậu Huyên: “”Cháu Tuyền thì được gửi theo các cháu con nhà anh chị tôi sơ tán ở Sen Hồ (Bắc Ninh) được chăm sóc chu đáo… Xa nhà các cháu nhớ bố mẹ lắm, nhưng nhờ có đông anh chị em lại sàn sàn cùng lứa nên cũng vui, cũng khuây khỏa. Mỗi lần nhớ nhà, các cháu rủ nhau viết thư kể đủ thứ chuyện nơi sơ tán và cuối thư bao giờ cũng không quên câu: “Chào đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!”.

Và đây là đoạn về mình, đọc lại vẫn thấy giống tính cách bây giờ “Những năm còn chiến tranh, từ nơi sơ tán tôi đèo cháu Hồng Tuyến đến nhà Trần Đăng Khoa, mới ba bốn tuổi mà cháu đã thuộc rất nhiều bài thơ của Khoa. Vừa mới đến nơi, cháu Tuyến đã vội tụt ngay xuống khỏi xe đạp chạy luôn vào vườn để « kiểm tra » xem vườn nhà anh Khoa có bao nhiêu luống cải, bao nhiêu luống cà, có đàn kiến đủ các loại không. Khoa sợ quá ! Bởi Khoa tả cảnh đâu chỉ bằng những điều mắt thấy tai nghe mà bằng cả sức mạnh nội tâm.”
Lần nào đọc lại cũng xúc động, như có một luồng điện chạy qua…

Cai tang ba Tuyet_dat kim tinhPham Thi Thanh Tuyen tuoi nuoc tren dat moiHai chi em chuan bi do cung thap nhang cho meMo Nguyen Anh Tuyet va kim tinh Pham Tuyen

Đúng 2 năm trước, khi mẹ đi xa đã hơn 3 năm, trong 1 lần gọi được mẹ thì mẹ bảo: “2 năm nữa hẵng chuyển nhà cho mẹ!!!!”

Đến năm nay, còn đang bối rối chưa có kế hoạch gì về việc này thì Nghĩa trang Văn Điển ra quyết định di dời các mộ ra khỏi khuôn viên, chậm nhất là ngày 30/11. Đi xem, thì ngày tốt và sớm nhất có thể rơi vào rạng sáng 30/11.

Nhà mới của mẹ thật rộng rãi, khang trang, nằm trong Lăng Quỳnh, nơi mà mẹ trước kia đã từng biết.

Hình như mẹ thấy sung sướng vì việc này qua việc hương cứ bùng cháy trong suốt quá trình đưa mẹ đi!!! Vậy là một việc lớn đã hoàn thành

Bài: Phạm Hồng Tuyến

Ảnh: Nguyễn Anh Tuấn

Danh hương Hoa Đường xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 12 năm 2014.

DANH HƯƠNG HOA ĐƯỜNG XƯA

Nhà giáo Ưu tú Vũ Thế Khôi.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề của chúng tôi, Blog PhamTon trích đăng bài Danh hương Hoa Đường xưa trong sách Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long – Hà Nội do Vũ Thế Khôi chủ biên (NXB Lao Động, Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây 2010) từ trang 232 đến trang 249.

—o0o—

Làng Hoa Đường huyện Đường An trấn Hải Dương xưa, một thời từng là danh hương: đầu thế kỷ này trong dân gian còn truyền tụng câu “Nam Hành Thiện, đông Hoa Vu tong phanĐường” để chỉ hai làng khoa bảng nổi tiếng đã tiếp nối được truyền thống đỗ đạt của “Tiến sĩ sào”: Mộ Trạch. Riêng Hoa Đường có 12 Tiến sĩ cả văn lẫn võ!

(…)

Văn hóa Việt truyền thống trước hết là văn hóa làng xã. Có một ý kiến chí lí: trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam mất nước, nhưng không hề mất làng. Chứng cớ hiển nhiên là các phong tục, tập quán ứng xử, lễ hội cùng ngôn ngữ chuyển tải chúng là tiếng Việt, dẫu có tiếp thu một số yếu tố, một số từ nhất định của văn hóa Hán, vẫn giữ nguyên gốc Việt cổ bản địa. Ngược lại, không ít quan tướng đô hộ đã Việt hóa hoàn toàn chỉ sau 3-4 đời nhập tịch làng Việt và viên quan nhà Đường, Vũ Hồn (804-853) là một trường hợp điển hình: vốn người huyện Long Khê, tỉnh Phúc Kiến, được cử sang làm An Nam kinh lược sứ (801-843), (theo Đại Việt sử ký toàn thư), đứng đầu bộ máy cai trị của nhà Đường ở Giao Châu, khi hết nhiệm kỳ ông không trở về Trung Hoa đang lâm vào cảnh rối loạn cuối triều Đường, các phe phái tàn sát nhau, mà ở lại “mảnh đất yên ổn của nhà Đường” (huyện Đường An), lấy vợ Việt, lập ra “tổ Tiến sĩ” Mộ Trạch và trở thành Thủy tổ của họ Vũ ở đất Đường An. Chính vì không để mất làng cùng các truyền thống văn hóa bản địa cổ truyển mà cuối cùng người Việt đã giành lại được nước. (…)

Đất Đường An xưa (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) nổi tiếng nhiều làng văn hiến. Cách đây thế kỉ rưỡi, danh sĩ Vũ Tông Phan (1800-1851) từng khẳng định trên Đường An văn chỉ bi, hiện vẫn sừng sững trong sân đình làng Vạc, rằng: “Đại Việt ta là nước văn hiến, mà huyện Đường An cũng là đất như vậy”.

(…)

Trong quyển Phả họ Vũ cụ Vũ Huy Chân viết: “(…) Sau hồi quân Mông Cổ xâm lăng đất nước, có một nhóm người họ Vũ và họ Phạm rời khỏi lũy tre làng tới sinh cơ lập nghiệp trên một khoảng gò đống, phá đất hoang để làm ruộng rẫy. Chỉ trong một thời gian mà ở đó mọc lên một thôn ấp mới có ao có vườn, giàn hoa cây cảnh trông có vẻ an cư lạc nghiệp. Do cảnh vật mà thành tên, người trong vùng liền đặt tên là thôn Bông”.

(…)

Tóm lại, có thể khẳng định rằng địa bàn của xã Hoa Đường sau này đã được khai phá, cư trú và giáo hóa chí ít từ đời Trần. Tuy nhiên, phải đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) thôn Bông cùng xã Ngọc Cục, cũng như toàn bộ làng xã lân cận Mộ Trạch mới thực sự trở thành một khu vực trù phú và phát triển cao về văn hóa. Chứng thực điều này là tấm bia chúng tôi mới phát hiện lại ở làng Vạc (Hoạch Trạch) – Đường An văn chỉ bi, bài kí do Tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn, cho thấy rằng đến cuối đời Lê sơ, các làng quê xung quanh Mộ Trạch nhất loạt khai đại khoa: Thời Cử – 1453, Hoạch Trạch – 1493, thôn Bông Ngọc Cục – 1493, Tông Tranh – 1499, Châu Khê – 1502. Nên nhớ rằng, làng Mộ Trạch có từ thế kỉ thứ IX, nhưng vì gánh nặng sứ mạng khai thiên lập địa cho nên phải bốn trăm năm sau, năm 1247, Vũ Vị Phủ mới đỗ Ất khoa thi Tam giáo và đến khoa Giáp Thìn 1304, hai anh em Vũ Nghiêu Tá và Vũ Nông mới mở đầu danh sách hơn ba chục Tiến sĩ họ Vũ làng Mộ Trạch. Vậy thì để có thể khai khoa vào năm 1493, thôn Bông, dẫu được trải qua ít nhất hàng trăm năm khai phá, phát triển, tất cả bắt đầu từ khoảng thế kỷ XIII-XIV.

(…)

Đình vọng Lương Ngọc

Tại làng Lương Ngọc ngày nay vẫn lưu truyền câu chuyện thầy địa lí lừng danh Tả Ao (thế kỉ XVIII?), có lần qua Hoa Đường, khen đình đẹp, nhưng thấy đình xây ngoài lũy tre, phán: “Đất này đãi ngoại, đi khỏi làng làm ăn xa thì thành đạt”. Có lẽ đấy là một cách dân gian giải thích về việc dân Hoa Đường từ xưa đã đi lập nghiệp trong khắp tứ trấn và tại kinh đô Thăng Long, do đặc thù nghề truyền thống của mình là làm thư lại. “Dân đâu, thần thánh đó”. Sách Đường phố Hà Nội (1979) của Nguyễn Vĩnh Phúc và Trần Huy Bá có nhắc đến ngôi đình vọng của làng Lương Ngọc ở 68A Hàng Bông – Hà Nội. Đầu năm Nhâm Thân 1992, chúng tôi lên làng Đại Yên thăm cụ Hoàng Đạo Thúy, được cụ chỉ bảo cho biết đây là một đình vọng lớn nhất Hà Nội, xưa xuân thu nhị kì tế lễ linh đình, vì dân Lương Ngọc ra Hà Nội làm ăn, đã lập cả một “Lương Ngọc xã thuộc Hà” có tới ba nghìn nhân khẩu! Cụ nói: ở đó còn phải có tấm bia gắn trên tường kể rõ lai lịch ngôi đình này, sao không thấy sách Đường phố Hà Nội nhắc tới?

(…) Văn bia đề Lương Ngọc vọng từ bi chí, lạc khoản ghi bia lập ngày 1/1/1918 đời Khải Định nhân dịp trùng tu đình vọng.

(…) Qua văn bia chúng ta được biết đích xác thời điểm lập đình này là tháng 5/1892 đời vua Thành Thái, lí do lập đình vọng là vì từ đời vua Tự Đức giặc giã liên miên, đi lại cách trở, không về quê được, đành bái vọng tại gia, nên các vị làm quan bàn với chức sắc mua đất, rồi quyên góp tiền bầu hậu, lập đình thờ vọng. Phần Điều lệ cho biết việc thờ cúng ở đình vọng phải tiến hành theo nghi thức đúng như ở đình chính trong nguyên quán, kể cả việc giỗ hậu cụ Nghè Lập Trai và bà chính thất họ Phạm của quan Tạo sĩ.

Vậy ngôi đình này là sở hữu của đồng hương Lương Ngọc tại Hà Nội và là một di tích lịch sử – văn hóa, cho phép tìm hiểu nguồn gốc, quá trình phát triển dân cư và phố phường Hà Nội cũng như tục thờ vọng như một truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn”.

(…) Như vậy, tổng cộng Hoa Đương có 12 vị đỗ đại khoa.

Ngoài ra, có đến 11 Cử nhân triều Nguyễn quê gốc tại đây, trong đó một số vị nổi tiếng không kém gì các ông Nghè, như: Ông Cử Dưỡng Am Phạm Hội, ông Cử Kim Cổ Ngô Dạng.

(…)Nếu tính cả 12 vị Tiến sĩ trong hai thế kỉ XVIII-XIX, khoa trước đó đều phải thi đỗ Cử nhân, thì trong suốt hai trăm năm, trung bình cứ năm, sáu năm Hoa Đường lại có một đám khao vọng và vinh quy bái tổ. Năm Kỉ Hợi (1779), một lúc phát cả văn (Tiến sĩ Phạm Quý Thích) lẫn võ (Tạo sĩ Vũ Tá Cảnh). Trong thời kì đó, mạch đại khoa của Mộ Trạch lại kiệt hẳn từ 1754, tiếng tăm Hoa Đường càng nổi lên như cồn!

(…)

Sự nghiệp khoa bảng của Hoa Đường bước sang thế kỉ XVIII nở rộ như vậy không ngẫu nhiên.

Nhân tố khách quan là môi trường tự nhiên và xã hội mà người xưa gọi là “địa linh nhân kiệt”. Hoa Đường vừa gần chợ, vừa ven sông – “thứ nhất cận thị, thứ nhì cận giang”, thuận tiện cho giao lưu, mà giao lưu là tiền đề cho phát triển. Hoa Đường lại được hưởng trực tiếp sự lan tỏa văn hóa từ hai trung tâm văn hiến cổ đại: từ “Tiến sĩ sào” Mộ Trạch (cùng chung một cánh đồng, Vũ Tộc hoa phả viết: “mạch đất từ Mộ Trạch, qua Ngọc Cục dẫn vào địa phận Hoa Đường; họ Vũ ở Lương Ngọc chiếm đến 1/3 dân số và đến ½ số nhà khoa bảng, hẳn cũng có những người gốc gác họ Vũ ở tổ Tiến sĩ Mộ Trạch”) và từ cổ danh hương Phù Ủng (cùng chung một dòng sông phố Ủng) và chợ Hoa Đường xưa họp ở cả đôi bờ, nên vùng này xưa dân gian vẫn gọi là Ủng Hoa Đường).

Nhân tố chủ quan là người Hoa Đường làm một nghề truyền thống mà cái gốc là văn chương chữ nghĩa. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (tập I), ở đoạn liệt kê những nghề truyền thống của các làng quê thuộc huyện Đường An, Phan Huy Chú viết: “… làng Hoa Đường về huyện Đường An, quen việc viết, tính toán, không thể kể hết ra được”. Lại nữa, tòng chức thư lại đương nhiên phải rời quê đi làm ăn xa, nhưng đó chính cũng là điều kiện thuận lợi cho cá nhân mở mang đầu óc, học hỏi vươn lên ở các trung tâm phủ huyện trấn hoặc kinh đô, để rồi lại về đóng góp phát triển làng quê. Bởi vì truyền thống và phong tục buộc phải vinh quy bái tổ, thăm viếng phần mộ tiên liệt và bái yết từ đường, cho nên ngày xưa làm quan to đến đâu, thành đạt đến đâu cũng không dám quên nghĩa vụ đóng góp xây dựng quê cha đất tổ, không đứt mối liên lạc với làng quê.

(…)

Lương Ngọc, danh hương văn hiến xưa và căn cứ kiên cường của du kích đường số 5 trong kháng chiến (chống thực dân Pháp – PT chú), hiện nay theo chủ trương của Đảng bộ xã Thúc Kháng đang xây dựng “làng văn hóa”. Cách đây vài năm xã đã xây trường học mới. Thôn Lương Ngọc đã dựng Nhà văn hóa trên nền trường Tống sư xưa (do Thượng Thư bộ Học Phạm Quỳnh đặc cách cho đặt ở nguyên quán mình). Ngày Thương binh liệt sĩ năm nay xã đã khánh thành Nghĩa trang liệt sĩ, quy tập hài cốt 162 người bỏ mình vì nước.

(…)

Ngày nay, ơn nhờ đường lối Đổi mới, sự sáng suốt và năng nổ của lãnh đạo, sự đồng tâm hiệp lực của dân làng và đồng hương Lương Ngọc khắp nơi, danh hương Hoa Đường xưa đang bước vào một giai đoạn phát triển mới đầy hứa hẹn.

V.T.K.

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 12 năm 2014.

BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Ở NGUYÊN QUÁN LƯƠNG NGỌC – HẢI DƯƠNG

Lời dẫn của Phạm Tôn:Sau khi báo Đại Đoàn Kết đã đưa tin, nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi gửi cho chúng tôi bài này.

—o0o—

Ngày mồng Một tháng Mười năm Giáp Ngọ, tức 22/11/2014, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con gái, con rể, và cháu chắt học giả Phạm Quỳnh đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh.

Cùng đi có Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách Phạm Quỳnh, một góc nhìn, NXB Công An Nhân Dân 2011, có dẫn lại lời Hồ Chủ tịch an ủi hai con gái cụ Phạm: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Vị khách mời thứ hBia tuong niem Pham Quynh o Hai Duongai là Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã phát biểu quan điểm đánh giá nhân vật Phạm Quỳnh với huyện ủy Cẩm Bình: “Có công minh lịch sử sử mới có công bằng xã hội”. Về đến làng Lương Ngọc, chúng tôi thấy còn những vị sau đây tham gia lễ khánh thành: ông Phạm Văn Tỏ, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ Hải Dương cùng các ông Nguyễn Huy Thư, Bí thư Đảng ủy, Bùi Huy Cường và Phạm Kiệt, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Xã Thúc Kháng. Còn có mặt một vị khách đặc biệt nữa phải nhắc đến dẫu ông đã trở về làm dân sau 5 khóa liền được Đảng bộ và nhân dân Thúc Kháng bầu làm Bí thư Đảng ủy và chủ tịch xã, người đã bền bỉ 17 năm cùng lãnh đạo và bà con dân làng và Hội đồng hương Lương Ngọc các địa phương đưa danh hương Hoa Đường xưa trở thành Làng văn hóa nay – đó là ông Vũ Đình Năng.

Cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của Cụ về Hoa Đường – “đất Tổ quê Cha”. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê Cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Hữu Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha là Phạm Quỳnh đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Thế nhưng…các vị đại diện nhân dân thành phố có quần thể di tích được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa thế giới, đã xin được bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế.

Cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, Phó giáo sư Tiến sĩ Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, ốp đá đen vân trắng trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống):

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp, và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa

PHẠM QUỲNH

(1893-1945)

Chủ bút báo Nam Phong

hiệu Thượng Chi

Với việc khánh thành Bia tưởng niệm Thượng Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Lang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

V.T.K

0932332003

Tháng Mười Hai 5, 2014

Phạm Quỳnh với Nam Phong Tạp chí (1917-1934)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 12 năm 2014.

PHẠM QUỲNH VỚI NAM PHONG TẠP CHÍ

(1917-1934)

Nguyễn Đức Thuận

Lời dẫn của Phạm Tôn: Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận, Giảng viên cao cấp, Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Hải Phòng, vừa gởi cho gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tập sách mới xuất bản của ông Văn học và Ký ức thời gian (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, quý 4/2014)

Từ trang 232 đến trang 237 là bài Phạm Quỳnh với Nam Phong tạp chí (1917-1934) này.

—o0o—

Sau cuộc chiến “bình định” bằng súng đạn (từ 1858 đến 1897), thực dân Pháp đắt đầu chuyển sang tấn công nước ta trên mặt trận văn hóa. Nam Phong tạp chí (Nguyen Duc Thuan1917-1934) (Nam Phong Tạp chí, (Văn học khoa học tạp chí), Đông Kinh ấn quán, Imprimerie Tonkinoise 14-16, Rue du Coton, HN, (từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934) là sự nối tiếp của Đông Dương tạp chí (1914-1917). Chánh mật thám Đông Dương Louis Marty là “người sáng lập” ra tạp chí này đã chọn Phạm Quỳnh làm chủ bút phần Việt ngữ, và Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán ngữ.

Trong bối cảnh chính trị của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX, không thể làm gì để giành lại độc lập cho dân tộc, Phạm Quỳnh chủ trương xây dựng một nền quốc học, quốc văn mới, từ đó dần dần tiến tới giành tương lai tươi sáng cho đất nước. Và ông đã đành lòng cộng tác với Louis Marty với vai trò là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong. Nói đến Nam Phong tạp chí, vì vậy, ít hay nhiều cần phải nói tới sự nghiệp của Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892 tại số nhà 17, phố Hàng Trống, Hà Nội. Bút danh Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, Lương Ngọc. Nguyên quán họ Phạm này vốn ở làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thân phụ là Phạm Hữu Điển đỗ tú tài nho học, thân mẫu là Vũ Thị Đoan. Phạm Quỳnh mồ côi mẹ từ khi mới chín tháng tuổi, và đến năm 9 tuổi, lại mồ côi cha, sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc dạy dỗ của bà nội từ nhỏ. Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa Trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat), ra làm thông ngôn tại Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội (École Française d’Extrême-Orient). Một năm sau, năm 1909, kết duyên với cô Lê Thị Vân, sinh cùng năm 1892, nguyên quán làng Thọ Vực, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (Theo: Phạm Thị Ngoạn, Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, Luận án tiến sĩ, nguyên tác Pháp văn đã đăng trong tập Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Hội Nghiên cứu các vấn đề Đông Dương, bản dịch của Phạm Trọng Nhân, Ý Việt, Yerres, 1993). Có lẽ, với tài năng, tư chất của một người đỗ “thủ khoa” và đã có những năm tháng làm việc ở nơi viện sách Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, được tiếp cận với bao nhiêu sách vở, tri thức Đông Tây kim cổ, Phạm Quỳnh sớm trở thành một người có học vấn uyên bác? Trí thức Bắc Hà thời đó đã suy tôn “Tràng An tứ hổ”, gồm bốn học sinh xuất sắc nhất trường Thông ngôn Hà Nội là: “Vĩnh – Quỳnh – Tố – Tốn”. (“Vĩnh – Quỳnh – Tố – Tốn”: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn VVan hoc ky uc va thoi gianăn Tố, Phạm Duy Tốn).

Từ năm 1917 đến năm 1932, Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, phụ trách lớp dạy về Ngôn ngữ và văn chương Hán Việt tại Trường cao đẳng Hà Nội từ năm 1924 đến năm 1932. Ông là người sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai trí tiến đức tại Hà Nội, Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ từ năm 1925 – 1928, Phó Hội trưởng Hội địa dư Hà Nội năm 1931 và Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ Xã hội Bắc kỳ năm 1931-1932. Ngày 11 tháng 11 năm 1932, Phạm Quỳnh được Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm chức Thượng thư kiêm Ngự tiền Văn phòng, rồi đến ngày 02 tháng 5 năm 1933, được bổ nhiệm chức Thượng thư Bộ Quốc gia Giáo dục, kết thúc thời kỳ làm chủ bút Tạp chí Nam Phong từ số 198 năm 1932. Chức vụ chủ bút Nam Phong tạp chí lúc đầu chuyển giao cho Nguyễn Trọng Thuật, rồi tiếp đến Lê Văn Phúc và sau cùng được chuyển sang tay người con rể của ông là Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng, một người rất giỏi tiếng Pháp và am hiểu văn hóa Tây phương. Bên cạnh đó, là sự trợ giúp của các nhà Hán học nổi tiếng: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, Lê Dư, Bùi Kỷ, Nguyễn Tường Tam… Nhưng cho dù ai chủ nhiệm, quản trị và dù có cố gắng thế nào đi nữa, thì sự nghiệp của Nam Phong tạp chí cũng đành phải dừng lại ở tháng 12 năm 1934, với 210 số! Bởi vì, về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tạp chí ở vào giai đoạn trước Cách Mạng Tháng Tám, cũng là một hành trình khí dài, trí cũng cùng và lực đã kiệt. Song, dù sao Nam Phong tạp chí cũng đã đi trọn con đường lịch sử của nó. Những người kế nhiệm quản lý tờ tạp chí đã không đủ sức để làm được như sự nghiệp của Phạm Quỳnh, và nhất là, về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách mạng lớn trên văn đàn: như cuộc cách mệnh thi ca của Phong trào thơ mới mở đầu từ tháng 3/1932, và trào lưu lãng mạn của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn khởi phát từ năm 1933. Nam Phong tạp chí đã trở nên bất cập trước tiến trình phát triển, trước sự đổi mới của lịch sử văn học nước nhà và trở thành đối tượng công kích của nhiều tờ báo, nhất là tờ Phong Hóa, một tờ báo mang tính chất là cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn, thể hiện một luồng tư tưởng mới với một sự đổi thay mới về hình thức và có sức thu hút ghê gớm trên văn đàn nước ta vào những năm ba mươi của thế kỷ trước. Tháng 12 năm 1934, Nam Phong tạp chí “thoái vị”, “từ giã công chúng”. Bài “Tổng thuật sự nghiệp Nam Phong” nằm ở trang 299, mở đầu cho số tạp chí cuối cùng, số 210, do Nguyễn Hữu Tiến soạn, bằng một giọng văn tràn đầy xúc động nồng nàn, đã để lại cho độc giả một nỗi niềm bâng khuâng… Nó được tác giả bài báo ví như “bài hát giã đám của các anh em đào kép”. Trong bài viết, nhà bỉnh bút chung thủy với tờ tạp chí cho tới ngày vĩnh biệt độc giả này, đã ôn lại hành trình ngót mười tám năm hiện diện của Nam Phong tạp chí trên văn đàn Việt Nam; tưởng cũng có thể lấy đó làm một trong những cơ sở để nhìn nhận, đánh giá vai trò của Nam Phong, một tờ tạp chí có vị trí chủ đạo trong nền báo chí nước nhà trước Cách Mạng Tháng Tám. (Dù rằng đó là những lời nhận xét chủ quan của chính bản báo).

Qua bấy nhiêu năm tháng nhiệt tâm với sự nghiệp của tạp chí Nam Phong, những bài viết của Phạm Quỳnh nói riêng và ảnh hưởng của tờ tạp chí nói chung, mai sau chắc sẽ còn nhiều người, nhiều ngành khoa học khác nhau tìm đến thẩm định, đánh giá theo những góc độ khoa học riêng của mỗi ngành và nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của mỗi người. Ngoảnh lại, sáu mươi, bảy mươi năm đã trôi qua, không ít người khen, và cũng không ít người từ những góc độ và những thời điểm nhất định của lịch sử – xã hội trước đây lên án Phạm Quỳnh, ông chủ bút của tạp chí Nam Phong. Nhưng thời gian sẽ là thước đo những giá trị đích thực của mỗi sự việc và mỗi con người!

Bằng vào những bài viết của Phạm Quỳnh thuộc nhiều lĩnh vực nói chung và phần văn học nói riêng, về cơ bản chúng tôi đánh giá cao vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong trong việc xây dựng nền quốc học và quốc văn cho nước nhà hồi đầu thế kỷ XX…Đọc văn Phạm Quỳnh ta “đọc” được tư tưởng, tình cảm và lòng khát khao của ông về việc xây dựng một nền quốc học, quốc văn mới cho nước nhà những năm đầu thế kỷ XX. Trước đây, vì nhiều lý do khác nhau, đã có những nhận định như những tảng đá nặng đè lên cuộc đời và văn nghiệp của Phạm Quỳnh. Không nên lật ngược lại hoàn toàn điều đó, nhưng cũng không nên quá “ám ảnh” vào những điều đó. Vấn đề là, đến nay chúng ta đã có đủ điều kiện để nghiên cứu trong một không gian rộng lớn, cái nhìn tỉnh táo hơn, thì cần có điều chỉnh và xem xét lại một cách công bằng, khoa học hơn. Khoa học trước sau vẫn phải được nhìn nhận bằng cái nhìn khoa học… Xét riêng về văn học, thật khách quan để nhìn nhận, những gì Phạm Quỳnh làm được và để lại cho đời, cứ xem vào quá khứ buổi quốc văn còn sơ khai hồi đầu thế kỷ XX cho đến nay, đều là rất đáng quý. Ảnh hưởng lâu dài của văn trên Nam Phong và văn nghiệp của Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà đã có nhiều người khẳng định. Chúng tôi ghi nhận ở ông chủ bút Phạm Quỳnh, là một người tài hoa, uyên bác, một tấm lòng trải gần 18 năm khát khao “phụng sự cái chủ nghĩa bồi đắp cho nền quốc văn” đầy nhiệt thành của ông. Ông là một nhà văn lớn, một học giả lớn về văn hóa, văn học của nước ta giai đoạn đầu thế kỷ XX. Tấm lòng của ông, công sức của ông đối với văn hóa, văn học của dân tộc ta ở vào giai đoạn “tìm đường” ấy, là rất đáng được những lớp người của thế kỷ XXI khẳng định, tôn vinh. “Dạ đài cách mặt khuất lời…” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Lịch sử văn học Việt Nam đến nay cần nhìn nhận ông như những tác giả khác đầu thế kỷ XX. Đằng sau những bài viết có giá trị học thuật khá cao, mà ở vào giai đoạn bấy giờ ít có người nào có được một tri thức thâm viễn như ông, là hình ảnh của ông. Ông mong ước qua việc kiến thiết vững vàng nền quốc học, quốc văn mà dân trí ta ngày một mở mang, đất nước ta ngày một đi lên, từ đó sẽ dần dần tiến tới tương lai văn minh, tươi sáng cho dân tộc trong những ngày đau thương của đất nước.

Trong bóng đêm đen tối của lịch sử dân tộc những năm đầu thế kỷ XX, đặt bên những nẻo đường cứu nước của nhiều chí sĩ cùng thời, đến nay nhin lại, chúng ta cần ghi nhận ở ông một tinh thần dân tộc và một phần công lao không nhỏ của ông bắt nguồn từ một tấm lòng nhiệt thành đối với nền “quốc văn”, “quốc học” của nước nhà, giữ gìn lấy cái tinh hoa của dân tộc giống nòi, đồng thời biết tiếp nhận cái hay của người mà bồi bổ, gây dựng lấy cho mình một nền văn hóa mới, một nền văn học mới.

(Bài đã đăng trên Thông báo khoa học Trường Đại học Hải Phòng, số 6/2007, tr 51-55 và Thông tin Khoa học Xã hội và Nhân văn Hải Phòng, số 2 (42) 2012, tr 50-52. In lại có bổ sung)

N.Đ.T.

 

Dựng bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 12 năm 2014.

DỰNG BIA TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HÓA PHẠM QUỲNH

Vũ Thế Khôi

(Bài đăng trang 9 báo Đại Đoàn Kết số 332 ngày 28/11/2014)

Khánh thành Bia tưởng niệm Thương Chi Phạm Quỳnh, Làng văn hóa Lương Ngọc, vốn là danh hương Hoa Đường xưa với 12 tiến sĩ cả văn lẫn võ, có thêm một điểm đến đầy ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tấm lòng tri ân của quê hương với người con hiếu thảo của mình, một nhà văn hóa kiệt xuất của thời hiện đại đầy sóng gió.

Ngày 22-11, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng đông đủ các con trai gái, dâu rể, cháu chắt đã về Làng văn hóa Lương Ngọc, xã Thúc Kháng huyệBia tuong niem Pham Quynh o Hai Duongn Bình Giang, tỉnh Hải Dương để khánh thành Bia tưởng niệm thân phụ của ông là cụ Phạm Quỳnh

Tham dự buổi lễ, TS sử học Nguyễn Văn Khoan, tác giả sách “Phạm Quỳnh, một góc nhìn”, dẫn lời Hồ Chủ tịch đánh giá: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, người từ năm 1975 đã có những đánh giá xác đáng về cụ Phạm Quỳnh rằng: “Có công minh lịch sử mới có công bằng xã hội”.

Theo sử sách, cụ Phạm Quỳnh lâm nạn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, di hài được tìm thấy năm 1956, đem về an táng ở chùa Vạn Phước xứ Huế trên đường Nam Giao xưa (nay đổi tên thành Điện Biên Phủ). Theo lời nhạc sĩ Phạm Tuyên, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình có ý đưa về quê gốc, để thỏa nỗi nhớ nhung đau đáu của cụ về Hoa Đường – đất tổ quê cha. Nói đất Tổ là vì tiên tổ là Giáo thụ phủ Anh Sơn (Nghệ An) Hương cống Dưỡng Am Phạm Hội còn mộ phần nơi đây. Nói quê cha, là vì tại đây, trải qua mọi biến thiên của thời cuộc, dân làng vẫn gìn giữ được lăng mộ của Tú tài Phạm Điển, mà chính người con nổi tiếng hiếu thảo với cha đã xây dựng dưới triều vua Bảo Đại, và hiếu thảo cả với quê hương – cho đặt tại Lương Ngọc trường Tổng sư của toàn tổng Ngọc Cục.

Trước đó, UBND thành phố Huế dự định bảo tồn nguyên trạng phần mộ của Thượng Chi Phạm Quỳnh như một bộ phận của di tích lịch sử văn hóa xứ Huế. Song, cảm thông với nỗi niềm canh cánh của nhạc sĩ Phạm Tuyên, lãnh đạo và nhân dân Lương Ngọc đã tạo điều kiện mở rộng khu lăng cụ Tú Điển và chủ động đề nghị ông dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Thượng Chi Phạm Quỳnh ngay tại đây, nguyên quán của Cụ.

Nhà bia do cháu ngoại của cụ Thượng Chi là kiến trúc sư, PGS TS Tôn Thất Đại thiết kế, phong cách hiện đại, đơn giản và thanh thoát, trang nghiêm. Trên hai trụ trước khắc câu nói nổi tiếng của Thượng Chi bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (đọc từ phải sang trái như câu đối truyền thống): Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – Tiếng ta còn, nước ta còn

Trong nhà bia dựng tấm bia đá đen, ốp ảnh cụ Phạm Quỳnh mặc y phục dân tộc, áo the khăn xếp  và khắc mấy hàng chữ trắng khiêm nhường thâu tóm toàn bộ một sự nghiệp vĩnh hằng:

Nhà văn hóa PHẠM QUỲNH (1893-1945);

Chủ bút báo Nam Phong hiệu Thượng Chi.

V.T.K.

Tháng Mười Một 28, 2014

“Lăng Quỳnh”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:45 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 12 năm 2014.

“LĂNG QUỲNH”

Phóng sự ảnh của Phạm Hồng Tuyến

Nguyễn Anh Tuấn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Phạm Hồng Tuyến phóng viên Đài Truyền Hình Việt Nam là con gái thứ hai của nhạc sĩ Phạm Tuyên, tức cháu nội nhà văn hóa Phạm Quỳnh.

Ngày 22/11/2014 vừa qua, vợ chồng chị cùng đại gia đình về Hải Dương dự lễ khánh thành khu tưởng niệm Phạm Quỳnh. Cùng đi có giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện Trưởng viện Sử học Việt Nam, đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, Nhà giáo Ưu tú Tiến sĩ Vũ Thế Khôi.

Tối 24/11/2014, chị Phạm Hồng Tuyến gởi cho chúng tôi phóng sự ảnh này kèm lời giới thiệu sơ bộ như sau:

“Em gửi anh ảnh khu tưởng niệm cụ Phạm Quỳnh tại làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Giờ ở làng gọi đây là Lăng Quỳnh. Toàn bộ khu lăng do anh Tôn Thất Đại (Kiến trúc sư, Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Viện trưởng Viện nghiên cứu định cư là cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh – PT chú) thiết kế, phần thiết kế bia mộ và 2 câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, Tiếng ta còn, nước ta còn là do họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn, chồng Tuyến thực hiện. Toàn bộ tiến hành giám sát thi công, lo mọi việc là do chị Phạm Thị Thanh Tuyền (con cả nhạc sĩ Phạm Tuyên – PT chú) đảm nhận.

Toan canh khu tuong niemBia tuong niem 2Pham Tuyen Ton Dai Chinh quyen xaDai gia dinh lam leDai dien chinh quyen thap huongChup hinh luu niem voi chuyen quyen dia phuong lang quynhDai gia dinh chup hinh luu niem Lang QuynhLang Quynh_ Pham Tuyen Ton DaiLang Quynh_Pham Tuyen Vu Van NangLang Quynh_Nguyen Van Khoan Vu The Khoi Ton Dai Pham Thi Thanh Tuyen

Theo Kiến Trúc sư Tôn Thất Đại và họa sĩ Nguyễn Anh Tuấn cho biết thì trong khu lăng còn dựng một cuốn thư với thủ bút và chữ ký của Phạm Quỳnh. Trên cuốn thư có mấy dòng Phạm Quỳnh viết sáng 23/8/1945, trong bài văn cuối đời ông viết còn dở dang Cô Kiều với tôi. Mấy dòng đó là “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia”. Cuốn thư này sẽ được dựng trong tháng 12/2014.

Viết về Thầy tôi

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:22 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 12 năm 2014.

VIẾT VỀ THẦY TÔI

Phạm Thị Thức

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học giả Phạm Quỳnh có 11 con gái, 3 người mất từ lúc chưa đầy tuổi tôi (thôi nôi). Có 5 người từng viết về ông là bà Phạm Thị Giá, con gái trưởng, Phạm Thị Thức con gái thứ hai và các bà Phạm Thị Hảo, Phạm Thị Ngoạn, Phạm Thị Hoàn.

Bài Viết về thầy tôi của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội năm 1992, mà ông Trần Gia Phụng đã đôn lên thành Hồi ký của bà Phạm Thị Thức viết tại Paris năm 1992 gây nên một sự hiểu lầm lớn trong dư luận, nhất là ở nước ngoài, chủ yếu là Canada, Mỹ và Pháp. Bài này, bà Phạm Thị Thức viết theo yêu cầu của các em gái ở Pháp, nhân dịp kỉ niệm 100 năm sinh Phạm Quỳnh (1892-1992), nhưng chưa công bố trên báo chí.

Bài này chúng tôi đã đưa lên Blog PhamTon 3/12/2009 nay phải đăng lại. Chỉ vì người Mỹ Sơn Tùng đã lặp lại sai lầm của ông Trần Gia Phụng trong bài viết ghi ngày 4/9/2011 nhan đề Sau 66 năm lịch sử và công lý nào cho vụ án Phạm Quỳnh? (tạp chí Thế Giới Mới). Chúng tôi đã có bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?, mới đưa lên Blog PhamTon ngày 21/10/2011 mà đến ngày 05/12/2011 đã có tới 36.344 lượt người truy cập! Đủ thấy sự đăng lại bài của bà Phạm Thị Thức là cần thiết đối với các bạn quan tâm.

Những tưởng chuyện đến thế là cùng, không còn gì phải lên tiếng nữa…

Nhưng, ngày thứ ba, 18/11 năm nay, chúng tôi lại được nhiều anh em và con cháu gửi cho “bài mới” về Phạm Quỳnh đăng trên Diễn đàn thế kỷ từ Hoa Kỳ. Tưởng gì, hóa ra “bổn cũ soạn lại”, nhưng mang một cái tít mới thật giật gân, tha hồ “câu viu”. Chắc chắn nhiều người trong nước đã thu được và đọc bài nay, vì nó nhan đề rất thách thức Tại sao Cộng Sản giết Phạm Quỳnh? Tác giả tất nhiên vẫn là nhà sử học nổi tiếng Trần Gia Phụng, viết tại Toronto, Canada.

Trong bài, một trong những cứ liệu “quan trọng, đáng tin cậy” vẫn là Hồi ký của bà Phạm Thị Thức viết tại Paris ngày 28/10/1992

“Sau khi Phạm Quỳnh bị giết (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú), hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp HCM. Sau đây là lời kể của bà Thức: “…Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!…Sau đó, chị tôi [tên Giá] và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh]. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú), … Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú), , nhân kỷ niệm 100 năm sinh Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình do bà Phạm Thị Hoàn thông tin.) Những điều nầy cho thấy rõ tính ngụy biện của HCM.   Lúc Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945, HCM đã về Hà Nội lập chính phủ (2-9-1945).   Nếu HCM cho rằng giết Phạm Quỳnh là sai sót của địa phương, HCM giải thích thế nào về chủ trương của đảng CS bôi lọ lâu dài Phạm Quỳnh sau khi Phạm Quỳnh từ trần? Tác giả Bernard Fall, trong quyển Les deux Viet-Nam, Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102 đã viết: “Người ta biết rằng Hồ là một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại.”

Vì thế, chúng tôi buộc phải đăng lại cả bài Viết về Thầy tôi đã đăng năm 2009 của bà Phạm Thị Thức và cũng buộc lòng phải đăng lại cả bài Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế? dù đã đăng nhiều lần trong mấy năm qua.

—o0o—

Thầy tôi, nói đến hai chữ ấy, tự nhiên hai dòng nước mắt của tôi chảy dài xuống má, ruột tôi đau quặn như đứt từng khúc! Nỗi hận này suốt đời tôi không sao có thể quên được…!!

Tôi hồi tưởng lại trong ký ức, những mẩu chuyện nhỏ về Thầy tôi…

Năm tôi 13 tuổi, tối nào tôi cũng lên ngồi bàn làm việc để viết bài cho Thầy tôi, vì Thầy tôi cho rằng chữ tôi đẹp và rõ ràng. Thầy tôi cầm quyển sách vừa dịch vừa đọc như đọc chính tả cho tôi viết. Tôi ngây thơ hỏi: Thầy phải dịch vào giấy nháp rồi để con viết chứ. Thầy thôi chỉ cười. Tôi còn nhớ là viết những học thuyết của Hippocrate gì gì đó mà tôi chẳng hiểu chi cả. Có hôm khuya quá, thấy tôi có vẻ buồn ngủ Thầy tôi bảo: “Con cố lên, chỉ còn vài trang nữa là xong thôi.”, và gọi người nhà mua cho tôi một bát chí mà phù để bồi dưỡng…

Thu ba Pham Thi Thuc_1Phần đầu bài viết của bà Phạm Thị Thức.

Năm 1928, tôi học École Brieux, cours Supérieur (Trường Brieux lớp nhất – PT chú) và là học sinh giỏi nhất lớp, đồng thời cũng là nhất trường vì ở đó chỉ có đến lớp Supérieur (nhất – PT chú) là hết. Đầu năm 1929, các cô giáo cử tôi lên đọc compliment (lời chúc – PT chú) chúc Tết bà Đốc là bà Autigeon. Các cô bảo: Em về nhà nhờ Thầy em viết giúp cho mấy câu. Tôi lo quá, nghĩ Thầy tôi bận nhiều công việc như thế, chắc có viết không. Nhưng khi tôi về nói, Thầy tôi vui lòng ngay và bảo: Con đừng lo. Thầy sẽ viết cho vài câu, nhưng con phải học thuộc lòng và đọc cho hay vào. Thế rồi tối nào Thầy tôi cũng bắt học cho rõ thuộc và đọc cho nghe, dặn nhấn mạnh khi nào nên nhìn vào giấy, thỉnh thoảng phải ngẩng đầu lên nhìn xuống dưới chỗ mọi người ngồi. Bài viết tôi học thuộc kỹ quá, cho đến nay quá 64 năm tôi vẫn còn nhớ mãi, những câu sau đây:

…C’est en obéissant à une tradition chère à tous les pays que nous venons aujourd’hui vous apporter le sPham Quynh va Voincère témoignage de nos jeunes coeurs. L’année 1928 vient à peine de s’écouler, emportant dans sa fuite une année de notre existance que déjà la foule s’empresse de fêter sa jeune soeur, en qui, elle met toute sa confiance et son espoir. Que cette année qui vient marque pour vous et votre chère famille, une ère de prospérité et de joie. Qu’elle soit pour vous douce et bénie. Avec cette confiance facile de notre jeunesse pour cette année qui s’annonce de bon augure, nous formulons des voeux les plus sincères pour qu’elle soit pour vous bonne et heureuse, remplie de bonheur et exempte de tout souci… (Tạm dịch là: Nay, theo tục lệ thân thiết với mọi xứ, hôm nay, chúng con xin chuyển đến Bà tấm lòng thành của những trái tim non trẻ. Năm 1928 vừa qua đi, mang theo một năm trong cuộc sống chúng ta, mà nhân dân đã hối hả mở hội đón năm mới, năm họ đặt tất cả niềm tin và hy vọng. Mong sao năm nay sẽ đánh dấu một kỷ nguyên thịnh vượng và vui vẻ với Bà và gia đình yêu quí của Bà. Mong sao năm mới an lành và đầy ân huệ với Bà. Với lòng tin cậy giản dị của tuổi trẻ chúng con vào năm mới này, năm báo trước điềm lành, chúng con xin chúc những lời chân thành, mong sao năm mới tốt lành và hạnh phúc với Bà, tràn đầy niềm vui và tiêu tan hết mọi ưu phiền …. – PT chú) còn dài nữa, v.v… Bài đọc từ hơn nửa thế kỷ không bao giờ nhớ lại, nay bỗng có dịp nhắc lại, nên có thể nhiều chữ sai và nhiều lỗi chính tả!

Tôi đọc trôi chẩy quá đến nỗi sau đó bà Đốc ôm lấy tôi hôn và bảo “Con đọc hay quá”. Các cô giáo thì tíu tít vui mừng vì học trò của mình được bà Đốc khen…

Năm 1930 tôi đậu Certificat (Tiểu học – PT chú) và thi vào trường École normale des institutrices (Trường nữ sư phạm – PT chú). Thi concours (Tuyển – PT chú) 150 người lấy 30, trong đó chỉ lấy có 3 người vào Normale (Sư phạm – PT chú), còn 27 vào cours complémentaire (Lớp bổ túc – PT chú). Tôi được đỗ thứ 2, như vậy là trong 3 người trên cùng được bourse (Học bổng PT chú) mỗi tháng 9 đồng. Tôi mừng quá về khoe ríu rít ở nhà. Thầy tôi bảo: “Thầy không muốn cho con nhận học bổng, sau này đỗ ra trường làm cô giáo, người ta bổ đi đâu cũng phải đi. Nhà mình, con đi học chỉ cần có kiến thức, không cần đi làm ăn lương gì cả. Con không nên nhận và để cho người đỗ thứ 4 lên thay con”. Tôi buồn quá, khóc với Me tôi. Thầy tôi thấy tôi buồn và có vẻ tiếc cái món bourse, một hôm Thầy tôi gọi vào buồng giấy và cho tôi một chồng 90 đồng bạc hoa xòe và bảo tôi: “Đây Thầy “đền” cho con 10 tháng học bổng. Con lấy muốn mua gì thì mua và yên tâm mà học hành”. Nhận được số tiền đó tôi mừng quá, tôi đi vội đến phố Hàng Khay sắm sửa bao nhiêu thứ mình vẫn thích: dentelle (Đăng ten – PT chú) viền áo, vòng đeo tay, dây chuyền đeo cổ, nhẫn, v.v và quà cho các anh các chị và các em…

Gia Dinh Sinh Nhat 2 cu

Thầy tôi có bà bạn là nữ sĩ Jeanne Duclos Salesses. Bà vẫn thường đến chơi với gia đình và làm nhiều bài thơ tặng Me tôi và em bé của tôi là em Yến. Được tin bà qua đời, sau đó em tôi cũng mất, Thầy tôi có viết một bài nói về Bà, trong đó có mấy câu tôi còn nhớ: “Son souvenir est attaché à un petit être qui m’est cher, à ma petite hirondelle chérie, qui, un mois après son départ, s’est envolée dans les airs, òu elle aurait du la retrouver…”(Tạm dịch là: Kỉ niệm về Bà gắn với một sinh linh nhỏ bé thân thiết với tôi, với chim yến nhỏ yêu quí của tôi, một tháng sau khi Bà ra đi, đã bay lên trời, nơi có lẽ cháu sẽ được gặp lại bà.- PT chú)

Năm 1935, chồng tôi sang Pháp thi doctorat en médecine (Bác sĩ y khoa – PT chú) 3 năm, tôi vào Huế với Thầy Me tôi và sinh cháu Tứ ở Huế. Năm 1937 có một sự kiện làm cho tôi xúc động và nhớ mãi. Hồi đó Me tôi có mang em Phạm Tuân được độ 6 tháng thì Me tôi mắc bệnh hen rất nặng, suốt ngày tôi ngồi vuốt ngực và xoa bóp cho Me tôi, nhiều lúc thấy lên cơn hen Me tôi khó thở tưởng như nếu kéo dài có thể chết. Thầy tôi đi làm về là vào ngay buồng thăm hỏi, vuốt ve và nói chuyện động viên và an ủi sẽ khỏi, v.v…Một hôm tôi thấy Thầy tôi ngồi với hai ông docteur (Bác sĩ – PT chú), nói chuyện gì mà tôi thấy Thầy tôi nét mặt buồn rầu tôi chưa từng thấy. Tôi đoán là có chuyện gì hệ trọng lắm. Sau đó, thấy Thầy tôi vào nói với Me tôi là các ông docteur hội chẩn và khuyên nên lấy cái thai ra thì mới khỏi nguy hiểm cho người mẹ. Me tôi khóc, bảo: “Đau đớn mấy tôi cũng cố chịu được, không khi nào tôi chấp nhận cái việc đó; vì tôi nằm mơ thấy rõ ràng có một thằng bé rất thông minh xinh đẹp chạy theo xe tôi và nói “Me, cho con về với me!””. Sau đó nhờ phúc ấm tổ tiên, Me tôi qua khỏi và sinh được đứa con thứ 15 của Thầy Me tôi. Thầy Me tôi thương và quý em lắm, cứ gọi là “chú Miềng”; năm nay em đã 55 tuổi, có 5 con rồi mà gia đình vẫn quen gọi là chú Miềng.

Thầy tôi có 16 người con mà lúc nào cũng chú ý săn sóc thương yêu như nhau, chưa hề bao giờ mắng mỏ con cái. Thầy tôi rất thông minh, uyên bác, tuy không phải là docteur nhưng có một “Larouse médicale” (Từ điển Larouse y khoa – PT chú) nhiều tập. Mỗi khi con cái ốm đau, Thầy tôi đều đem ra sưu tầm tra cứu và theo đơn trong sách chữa bệnh, hiếm lắm mới phải mời đến docteur.

Tháng tám năm 1945, Thầy tôi ra đi!! Than ôi cả Thầy Me tôi và các con đều không có thể ngờ rằng Thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng như có thể chết đi sống lại!! Sau đó, chị tôi và tôi nhờ một anh bạn là ông Vũ Đình Huỳnh ngày ấy làm garde corps (người hộ vệ – PT chú) cho Cụ Hồ, giới thiệu đến thăm Cụ và hỏi chuyện. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về…Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội vã có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” Và tôi còn nghe một bà bạn là nữ sĩ Hằng Phương đến dâng Cụ ít cam và một bài thơ, nhân nói đến Thầy tôi cụ Hồ bảo:“Thật là đáng tiếc, dẫu sao cũng là một nhà văn học!”

Trời ơi, oan uổng cho Thầy tôi biết bao!!! Nỗi oan này khắc sâu trong lòng chúng tôi, nỗi hận này đến kiếp nào cho khuây!…

Thầy ơi, chúng con thật là bất lực, xin cúi đầu nhận tội với Thầy.

Phạm Thị Thức

28/10/1992

Thu ba Pham Thi Thuc_2Bản sao chụp phần cuối bài của bà Phạm Thị Thức viết tại Hà Nội ngày 28/10/1992.

 ***

Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?

Phạm Tôn

(Đến ngày 26/11/2014 bài này đã được 62.755 lượt người truy cập, đứng đầu bảng xếp hạng bài viết được nhiều người đọc nhất trên Blog PhamTon)

—o0o—

Nhân dân ta thường khinh bỉ gọi những kẻ chuyên theo sát người khác với ác ý là “Bám dai như đỉa đói”. Quả tình, đỉa đói bám dai người, vật không phải để “chơi”, mà là để hút máu cho đã cơn khát máu tươi mới chịu buông tha. Câu ví đó thật đúng với việc người Mỹ gốc Việt tên là Sơn Tùng, từ mươi năm nay luôn bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên, cập nhật từng hành động, lời nói của ông, không phải để “tìm hiểu” sự thật, cũng chẳng phải để “nghiên cứu”, mà chỉ để tìm xem có chỗ nào có thể “xía vô, xáng cho ông một Pham Tuyen_cong dan uu tuđòn”.

Bài viết mới nhất phát trên tạp chí Thế Giới Mới (Sau 66 Năm Lịch Sử và Công Lý Nào Cho Vụ Án Phạm Quỳnh?) ghi ngày viết là 4/9/2011, cũng khởi đầu từ một sự kiện liên quan đến nhạc sĩ Phạm Tuyên. Người Mỹ Sơn Tùng viết ngay từ đầu bài là “Nhân dịp từ chối” “tự ý làm đơn xin cứu xét được Giải thưởng Hồ Chí Minh” năm 2011 về âm nhạc (rồi lại làm đơn), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con trai thứ chín của cố học giả Phạm Quỳnh, qua một bài phỏng vấn được phổ biến trên diễn đàn điện tử ngày 30 tháng 8 vừa qua dưới tựa đề “Cây cúc đắng trổ hoa vàng”, đã nói khá nhiều về con đường đi theo “cách mạng” và phục vụ Đảng Cộng Sản Việt Nam của ông từ năm 15 tuổi (…)”

Sơn Tùng sống ở Mỹ viết là nhạc sĩ Phạm Tuyên “từ chối “tự ý làm đơn xin cứu xét được Giải thưởng Hồ Chí Minh” về âm nhạc (rồi lại làm đơn)” là có ý miệt thị. Nhưng, trong bài trả lời phỏng vấn trên báo điện tử vnexpress.net ngày 11/10/2011, chính nhạc sĩ đã nói: “Người ta bảo tôi cung cấp tư liệu cho họ thì tôi cung cấp, chứ nói làm đơn xin là không bao giờ tôi chấp nhận. Tôi cho rằng báo chí bức xúc nhân trường hợp của tôi bởi họ cũng nhìn thấy bất cập từ cơ chế xin-cho bao cấp còn tồn tại đến ngày nay. Chúng ta phải cùng phấn đấu làm sao để cơ chế xin-cho chấm dứt sau đợt xét duyệt này. Giải thưởng không phải là cuộc thi mà là sự thẩm định của đời sống.” Như thế là rõ, Sơn Tùng ở Mỹ đã “ra đòn” không trúng!

Tuy nói là “bài mới”, nhưng thật ra vẫn là “bổn cũ soạn lại” mà chúng tôi đã nhiều lần vạch rõ; thủ đoạn đơn giản như sau: Khi nào muốn bôi nhọ Tổ quốc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng ta mà chưa tìm ra được cớ gì mới thì họ lại đem nhạc sĩ Phạm Tuyên ra, rồi nhân thóa mạ nhạc sĩ là đứa con bất hiếu , rồi cẩu tử, rồi tặc tử, lại nói về cái chết oan ức của học giả Phạm Quỳnh, thân phụ ông, với niềm tin chắc chắn là nấp sau tấm bia tưởng nhớ Học Giả Phạm Quỳnh dựng trong lòng nhân dân mà bắn phá Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì nhất định là trúng! Và chúng tôi nói “bổn cũ soạn lại” cũng không sai. Lần này, cũng như cách đây mấy năm trong bài Sau 62 năm, mở lại vụ án Phạm Quỳnh (2007), Sơn Tùng người Mỹ lại bám gót sử gia Trần Gia Phụng tiếp tục nói về việc hai bà con gái của Phạm Quỳnh đã lên gặp Hồ Chủ tịch sau ngày “cha bị giết”. Lấy lý do bịa đặt đó để kết tội khi Hồ Chủ tịch nói “Hồi ấy tôi chưa về”, là “chối tội”! Sự thật là Trần Gia Phụng đã xuyên tạc bức thư bà Phạm Thị Thức con gái thứ hai của Phạm Quỳnh từ Hà Nội viết cho các em ở Pháp mà ông đôn lên là “Hồi ký viết tại Paris năm 1992”-mặc dù bà chưa bao giờ đến nước Pháp. Bức thư này chỉ rõ là bà Thức và chị là Phạm Thị Giá đã gặp Hồ Chủ tịch ngay sau khi có tin cha bị bắt (tức ngày 23/8/1945). Ngày 25/8, xẩm tối, Hồ Chủ tịch mới về tới Hà Nội. Đúng là “hồi ấy” Hồ Chủ tịch “chưa về” Hà Nội! Có lẽ vì muốn “bổ sung” cho thầy một chút, hoặc giả do đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh vì nhạc sĩ Phạm Tuyên, cho nên trong phần sau, người Mỹ Sơn Tùng còn viết thêm: “Khi cha bị xử tử, Phạm Tuyên mới 15 tuổi (…) ông theo hai bà chị tới gặp Hồ Chí Minh tại Hà Nội để hỏi về cái chết oan khiên của cha mình”. Khi cha bị bắt, Phạm Tuyên còn tham gia mít tinh ở sân vận động Huế, mãi sau mới cùng mẹ ra Hà Nội ở với chị. Chuyện bịa đặt thêm này càng làm cho không ai còn tin nổi “tư liệu” của hai thầy trò Phụng – Tùng. Riêng nhạc sĩ Phạm Tuyên, chắc ngạc nhiên hơn ai hết vì “vinh dự” này. Hóa ra ông đã “được gặp và nói chuyện với Hồ Chí Minh ngay từ thuở thiếu thời” đang khi mình còn ở Huế, mà đến nay, ngoài 80 tuổi rồi, ông mới được biết! Nhờ người Mỹ Sơn Tùng vậy…

Người Mỹ Sơn Tùng còn căm giận việc nhạc sĩ Phạm Tuyên đã “trung với nước, hiếu với dân”, đem hết sức mình đấu tranh để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nHoang Hy Nguyenước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như phụ thân hằng mơ ước và đã phấn đấu suốt đời mình để mong có ngày được trông thấy. Nên còn viết: “Không mấy ai có can đảm đứng thẳng lưng để dõng dạc nói ra Sự Thật, tự phỉ nhổ vào “sự nghiệp lừa dối người khác và lừa dối chính mình” như Nhạc sĩ Tô Hải đã làm”. Một lời khích, hơn là một lời khuyên! Nhưng chắc chắn là nhạc sĩ của nhân dân Phạm Tuyên không thể nào thực hiện nổi. Không phải vì “không có can đảm đứng thẳng lưng”. Mà ông không thể “tự phỉ nhổ vào “sự nghiệp lừa dối người khác và lừa dối chính mình” chỉ vì suốt đời ông không hề làm những việc nhơ bẩn như vậy! Ông bao giờ cũng sống trung thực, một lòng trung với nước, hiếu với dân, toàn tâm toàn lực phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân… Học gấp rút trong ba tháng để thi lấy bằng trung học kháng chiến xong là Phạm Tuyên xin ngay vào học đại học pháp lý, để mong sau này góp phần chiêu tuyết cho cha! Nhưng rồi, giặc Pháp đánh lên tận chiến khu, đành phải cùng các bạn “xếp bút nghiên” đầu quân vào trường sĩ quan lục quân. Vì bấy giờ, cứu nước mới là nhiệm vụ cao nhất phải làm để thực sự trung với nước hiếu với dân, giữ vững hai chữ Trung Hiếu mà phụ thân suốt đời lấy làm phương châm sống. Vì sao phải tự phỉ nhổ vào quá khứ cao đẹp và trong sạch của cả đời mình?!

Cuối bài, người Mỹ Sơn Tùng còn tung ra một đòn độc: Đưa ông Phạm Tuân, em trai nhạc sĩ ra để đối lập với nhạc sĩ! Thật ra người Mỹ Sơn Tùng đã lầm to: Hai anh em nhạc sĩ rất thương yêu nhau, nhiều lần vượt vạn dặm thăm nom nhau, vì đều là những người con có hiếu của học giả Phạm Quỳnh. Có điều, mỗi người báo hiếu cha theo cách của mình, cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được trong hoàn cảnh của mình, phù hợp với sức mình. Họ như hai cầu thủ ăn ý trong một đội bóng. Người này chuyền bóng cho người kia làm bàn. Ông Phạm Tuân là con trai út yêu quí của học giả. Biết vợ ông có bệnh, nên bác sĩ đã bảo nếu sinh Phạm Tuân có thể người mẹ sẽ chết, nhưng do bà quyết tâm nên ông bà đã đồng lòng sinh con mà không theo lời khuyên nên bỏ con cứu lấy mẹ. Chính ông Phạm Tuân là nhân chứng sống rất quan trọng, nhất là trong những ngày cuối đời học giả Phạm Quỳnh. Từ nhỏ, sau nhiều bữa cơm tối, bé Tuân đã cùng phụ thân đi xe hơi đến thăm ông già Bến Ngự Phan Bội Châu. Chính ông cũng chứng kiến việc cha bị bắt trưa ngày 23/8/1945 và cuối cùng ông là người năm 20 tuổi đã cùng chị ruột là bà dược sĩ Phạm Thị Hảo đi cải táng và đưa di hài cha từ nơi bị vùi tạm về chùa Vạn Phước (Huế) mai táng, xây mộ. Ông đã viết bài trên báo ở Mỹ kể rõ chuyện cải táng ngày. Ông còn cùng vợ hiền và các chị sưu tầm và cho xuất bản quyển sách Giải oan lập một đàn tràng dày tới 458 trang, để làm tư liệu cho các nhà nghiên cứu sau này tìm hiểu nhiều chiều về thân phụ. Và ông cùng vợ đã đóng góp đáng kể về nội dung và cả về kinh phí để giúp viện Việt Học (Hoa Kỳ) ra được bộ đĩa DVD Rom ghi lại toàn bộ 210 số tạp chí Nam Phong kèm toàn bộ luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong của chị ông là bà Phạm Thị Ngoạn, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Và cả số báo Xuân Nam Phong năm 1918 (Mậu Ngọ), báo Xuân đầu tiên của nước ta. Vợ chồng ông hiện còn lưu giữ và bảo quản tốt hai bản thảo quý cuối đời của học giả Phạm Quỳnh là tập Hoa Đường tùy bút- Kiến văn, Cảm tưởng và bản Phạm Quỳnh chép tay 51 bài thơ Đỗ Phủ và phần dịch nghĩa của ông, cùng toàn bộ Tạp chí Nam Phong do bà Ngoạn để lại.

Mặc dù bệnh nặng từ nhiều năm, nhưng ông Phạm Tuân vẫn cố gắng tham dự các hoạt động về thân phụ và khi cần, đều phát biểu ý kiến, dù có khi phải đi khá xa. Không thể tin là người Mỹ Sơn Tùng không biết những chuyện này.

Viết đến đây, chúng tôi chợt hiểu rõ: Vì sao không thù không oán, không gặp nhau bao giờ mà người Mỹ Sơn Tùng lại quá “quan tâm” đến nhạc sĩ Phạm Tuyên như vậy. Cứ có dịp, có cớ là lại lôi ông ra mà thóa mạ… Thì ra người Mỹ gốc Việt Sơn Tùng chuyên sống bằng nghề viết lách, mà có lẽ “lách” nhiều hơn viết. Còn nghề chính thật ra là nghề chống cộng, cụ thể là chống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Phải viết để còn có cái mà ăn, có hơi sức mà … chống nhân dân, chống tổ quốc chứ!

Vì thế, chúng tôi lại muốn đổi nhan đề bài này thành Tại sao người Mỹ Sơn Tùng lại quyết truy sát nhạc sĩ Phạm Tuyên đến cùng?

Ngày 15/10/2011

P.T.

Blog PhamTon ghi thêm

Tháng 10/2014 vợ chồng ông Phạm Tuân đã về thăm gia đình. Sau mấy ngày nghỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh thăm các em bà Hoàng Hỷ Nguyên, hai vợ chồng đã ra Hà Nội, gặp gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình các cháu, rôi cùng nhạc sĩ Phạm Tuyên về Hải Dương, quê cha, viếng mộ ông nội Phạm Hữu Điển thân phụ của Phạm Quỳnh.

Ông Tuân cho biết đây có lẽ là chuyến về quê hương cuối cùng vì tuổi đã cao lại đau yếu luôn vì bệnh đái tháo đường từ nhiều năm.

Cùng bạn đọc tuần 1 tháng 12 năm 2014

Filed under: Liên hệ — phamquynh @ 5:00 sáng

Cung ban doc (tuan 1 thang 12 nam 2014)

1 Gia đình 34 nhà giáo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 11 năm 2014.

CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

1 GIA ĐÌNH 34 NHÀ GIÁO

Thanh Nhơn – Ngọc Tài

(Bài trên trang 12 báo Tuổi Trẻ thứ năm 20/11/2014)

“Lúc tôi đăng ký thi ngành sư phạm, ông bà, cha mẹ, cô chú bác đều dặn dò: nghề giáo là nghề thanh bần, tiện tặn mới đủ sống. Vậy nhưng không hiểu sao con cháu cứ lần lượt thi vào ngành sư phạm” – Nguyễn Thị Ngọc Trâm, tân cử nhân khoa sư phạm mầm non, tâm sự.

Trâm là giáo viên thứ 34 của đại gia đình ba đời làm giáo viên mà khởi đầu là thầy Nguyễn Thanh Tám (93 tuổi, xã Nhị Quý, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Khởi nghiệp giữa làn bom đạn

Căn nhà theo lối kiến trúc cổ xưa nằm lọt thỏm phía trong chợ Nhị Quý là nơi hun đúc tình yêu trẻ, yêu nghề của thầy Tám và những người con. Mặc dù mới xuất viện sau đợt điều trị viêm phổi nhưng thầy Tám đã có thể đi lại nhanh nhẹn, thần trí vẫn còn rất minh mẫn.

Đặc biệt thầy có thể kể vanh vách chuyện xưa, chuyện nay và cả những tâm tư của một người từng gắn bó với ngôi trường làng ngót nghét 30 năm.

“Hồi đó, quanh vùng này mấy xã mới có một trường tiểu học nên người dân gửi con ra học đông lắm. Mà tụi học trò hồi xưa đi học lem luốc chứ không như bây giờ” – thầy Tám lấy giọng, nói rõ từng từ.

Thầy Tám sinh năm 1925, sau khi tốt nghiệp Trường trung học Pháp – Việt ở Sài Gòn, thầy cùng vợ là cô Cao Thị Giác được phân công về mở Trường tiểu học cộng đồng Nhị Quý.

Thầy cùng cô bắt tay ngay vào dựng trường, mở lớp. Từng tấm lá, cây cột, cái kèo của trường đều do chính tay thầy cô cùng người dân xa gần gom góp. Trường học mới mở nên thiếu thốn đủ thứ nhưng điều mà thầy Tám sợ nhất là những trận càn, bom đạn bay vùn vụt trên đầu.

“Những ngày chiến tranh ác liệt, giáo viên không chỉ đảm nhiệm vai trò người thầy mà còn làm người gác cửa sinh tử. Nghe ngóng tiếng pháo, tiếng bom để ra hiệu các em nằm rạp xuống bàn học. Tiếng súng đạn xa dần, thầy là người ngoi lên trước hết rồi điểm danh từng em. Em nào chậm lên tiếng là tim thầy đập muốn văng ra ngoài” – thầy Tám bồi hồi nhớ lại.

Chữ duyên, chữ nghiệp

Nở nụ cười móm mém, thầy Tám vẫn khẳng định chưa bao giờ bắt ép con cháu trong gia đình phải theo nghề của mình, có chăng chỉ là những lời răn dạy các con phải sống sao cho trọn với cái nghề mà bản thân đã lựa chọn.

Chỉ vậy nhưng kỳ lạ thay, lần lượt 10/11 người con thầy Tám đều vào sư phạm rồi trở thành giáo viên.

Sau khi ra trường, hầu hết các con thầy Tám được giao trọng trách như cha mẹ ngày xưa về tận vùng sâu vùng xa của huyện để khai khẩn, mở trường.

Cô Nguyễn Thị Thu Thủy – người con thứ 10 của thầy Tám, đang là giáo viên Trường THCS Mỹ Long – kể: “Năm cô ra trường, xã Mỹ Long còn rừng rú lắm. Chỉ mấy cây số mà tới mười mấy cây cầu khỉ. Đường nhỏ mà rắn rết thì nhiều. Cô cùng ba thầy cô khác hẹn nhau đi dạy cùng để rủi gặp chuyện bất trắc còn có người cứu giúp. Sau này các thầy cô thấy cực quá bỏ nghề chỉ còn mình cô đi”.

Trong tâm trí cô Thủy vẫn còn nhớ như in ngôi trường đầu tiên cô giảng dạy. Gọi là trường nhưng thực chất chỉ là những căn nhà mái lá lụp xụp, không bàn ghế lẫn bảng đen.

“Học trò mỗi em mang theo một khúc gỗ làm ghế, lấy chân làm bàn. Tập vở cũng đâu trắng tinh như bây giờ. Mà thương lắm, cực khổ vậy chứ tụi nhỏ ngoan, hiền và học giỏi. Thấy vậy mình không nỡ bỏ tụi nó” – cô Thủy bùi ngùi nhớ lại.

Một lần cô dạy về muộn, đang đi cầu khỉ thì bị trượt chân té xuống kênh. May mà khi đó có người dân đi giăng câu cứu kịp. Giữa lúc sinh tử cô Thủy bỗng dưng muốn bỏ nghề.

“Nằm nhà một tuần trị thương mình lại thấy nhớ trường, nhớ lớp. Thầy hiệu trưởng tìm đến nhà cô để động viên và hứa với gia đình cô sẽ đưa rước cô mỗi bận. Nhờ vậy cô mới gắn bó với nghề tới nay. Còn thầy hiệu trưởng thời đó là cha của con cô bây giờ” – nói dứt câu, cô Thủy trìu mến nhìn thầy Phiên.

Năm 2015 cô Thủy sẽ về hưu. Cận kề ngày được an hưởng tuổi già nhưng cô Thủy vẫn thấy trong lòng luyến tiếc: “Mỗi lần nghe đồng nghiệp nhắc chuyện về hưu tôi lại tránh mặt…”.

34 nguoi lam giaoTre già măng mọc

Cận kề ngày 20-11, Ngọc Trâm – cháu nội của thầy Tám, người nối nghiệp thứ 34 trong đại gia đình này – dù chưa chính thức bước lên bục giảng nhưng lòng cũng hân hoan. Trong lúc chờ nhiệm sở Trâm vẫn thường cập nhật những thay đổi trong cách đánh giá đối với học sinh tiểu học, đồng thời nhờ mẹ truyền thụ thêm kinh nghiệm giảng dạy.

“Đối với nhiều bạn chung lớp thì chuyện chọn ngành học phụ thuộc rất nhiều yếu tố như sở thích, cơ hội việc làm rồi lời khuyên của cha mẹ, nhưng với riêng bản thân tôi thì trước sau như một, nung nấu ước mơ cháy bỏng được trở thành giáo viên mà thôi” – Trâm tâm sự về lý do chọn nghề giáo mà không phải một nghề nào khác.

Không những Trâm mà từng thành viên trong đại gia đình nhà giáo đều có rất nhiều cảm xúc trước ngày kỷ niệm của ngành và cũng là ngày trọng đại của gia đình.

“Chập tối 20-11 mỗi năm, con cháu mới quây quần với ba má rồi ôn lại truyền thống của gia đình” – thầy Nguyễn Thanh Tân, con của thầy Tám, cho biết.

Những lúc như thế ông Tám thường mang những món quà kỷ niệm mà những học trò của ông gửi tặng. Dù đã rời xa bục giảng gần 40 năm nhưng cứ đến những ngày lễ tết, ông Tám hay nhận những món quà kỷ niệm từ phương xa.

“Điều mà cha thầy muốn nhắc con cháu không phải là những vật phẩm đắt tiền mà là tình cảm của trò dành cho người thầy của mình. Chừng ấy năm mà học trò vẫn còn nhớ đến mình là một điều không sao quý bằng” – thầy Tân chia sẻ.

T.N – T.T

Mỗi lần có đứa quyết định thi sư phạm thầy đều gọi lại căn dặn thành quả lớn nhất của người làm thầy làm cô là dạy cho học trò mình nên người, không phiền hà phụ huynh. Bước chân vào nghề giáo không khó, nhưng khi rời bục giảng người dân vẫn kính trọng gọi mình một tiếng thầy thì thật sự không dễ”

Thầy Nguyễn Thanh Tám

Thầy Lâm Hữu Minh (học trò thầy Tám, nguyên hiệu trưởng Trường THCS Nhị Quý, thị xã Cai Lậy, Tiền Giang):

Tiếp thêm lửa nghề

Hằng năm cứ mỗi dịp 20-11, tôi lại mời thầy Tám về trường để phát biểu trước toàn thể giáo viên và học sinh.

Thông qua những câu chuyện giản dị thầy kể, chúng tôi như được tiếp thêm lửa nghề cũng như học cách quản lý làm sao để thầy và trò gắn kết thành một khối.

Thầy Tám thường dạy nếu làm bác sĩ tồi thì chỉ giết chết một mạng người, nhưng làm thầy giáo tồi sẽ làm hư hỏng cả một thế hệ học trò”.

T.N.-N.T.

—o0o—

TRÊN BẢNG KHÔNG CÓ CHỮ NÀO

Hoàng Hương

(Bài trên trang 19 báo Tuổi Trẻ ngày 19/11/2014)

Một buổi sáng giữa tháng 11-2014, chúng tôi xin phép ban giám hiệu Trường THPT Giồng Ông Tố, TP.HCM vào dự giờ tiết văn của cô Diệp. Thật bất ngờ: mới đầu giờ học mà một học sinh (chứ không phải cô giáo) đang say sưa nói về… tác giả Nguyễn Tuân.

Trên bục giảng, ngoài một học sinh đang đứng thuyết trình, còn có một học sinh khác đang ngồi trước máy tính để chiếu cho các bạn xem những hình ảnh, tư liệu về bài học.

Phía dưới, các học sinh ngồi theo hình chữ U, riêng cô giáo ngồi phía cuối lớp. Trên bảng tuyệt đối không ghi chữ nào.

Cô giáo là khách mời

“Bài thuyết trình về tác giả Nguyễn Tuân của mình đến đây là hết, các bạn có hỏi gì không?”. Hai cánh tay đưa lên: “Các bạn hãy cho biết những bút danh của Nguyễn Tuân?”. “Đó là Thanh Thủy, Nhất Lang, Thanh Hà…”. “Tác giả Nguyễn Tuân bị bắt vô tù bao nhiêu lần?”. “Theo mình nhớ là hai lần… Còn ai hỏi gì nữa không?… Nếu không còn ý kiến gì thì nhóm mình sẽ chuyển sang nội dung khác”.

Lúc này cô giáo mới lên tiếng: “Nhóm thuyết trình phải cho các bạn suy nghĩ và đặt câu hỏi chứ. Nào, tất cả mọi người! Còn em nào hỏi gì nữa không?”. Im lặng!

“Nếu các em không còn câu hỏi nào thì cô sẽ đặt câu hỏi cho nhóm thuyết trình và cho cả lớp. Nếu được giới thiệu một lời khái quát dùng cho Nguyễn Tuân thì các em sẽ dùng câu nào?”.

Một cánh tay rụt rè đưa lên: “Thưa cô, em sẽ chọn câu: Nguyễn Tuân là người suốt đời đi tìm cái đẹp”. “Tại sao em lại chọn câu này?”. “Là vì nó thể hiện rất rõ ở tác phẩm Chữ người tử tù mà trước đây em đã học. Ở đây, nhà văn đã truyền đi thông điệp: Cái đẹp vượt lên mọi cảnh ngộ để chiến thắng”…

Cứ thế tiết học về tác phẩm Người lái đò sông Đà của lớp 12 A-D, Trường THPT Giồng Ông Tố trôi đi một cách nhẹ nhàng và thú vị. Xen lẫn những đoạn thuyết trình là những câu hỏi đầy bất ngờ và kịch tính của người dự khán (là các bạn cùng lớp) khiến cả nhóm thuyết trình ngớ người ra (vì không chuẩn bị trước).

Có lúc cả nhóm không biết trả lời thế nào, đành xin cô giáo “Sẽ trả lời vào cuối tiết học”. Không ngờ cô yêu cầu: “Các em phải trả lời ngay chứ”, nhóm đành giao hẹn trước khi trả lời: “Nghĩ sao nói vậy nha các bạn”. Thế mới có những trận cười sảng khoái của cả cô và trò.

Thế nên tiết học mới trôi qua một cách nhanh chóng vì các học sinh thật sự làm chủ tiết học ấy, tự đưa ra những nhận định ban đầu về tác giả, tác phẩm rồi trả lời những thắc mắc, băn khoăn của các bạn đưa ra.

Cô giáo đóng vai một vị khách mời uyên bác, sẵn sàng cứu nguy cho nhóm thuyết trình khi họ “bí”, đưa ra những câu hỏi đúng lúc để cả lớp phải tìm hiểu kỹ hơn về bài học; kịp thời bổ sung câu trả lời cho nhóm thuyết trình để học sinh của mình cảm nhận đầy đủ những cái hay, cái đẹp của tác phẩm…

Tren bang khong co chu nao“Thích cô nên thích học văn cô dạy”

Đó là lời đúc kết của nhiều học sinh lớp 12A-D khi chúng tôi hỏi về phương pháp dạy văn của cô Diệp.

“Hồi học THCS, mình rất ghét môn văn. Tất cả học sinh cứ phải học, phải làm theo một cái khuôn với trình tự nhất định một cách khô khan và khó hiểu. Nếu làm khác đi chắc chắn phải chịu điểm thấp. Đến khi học cô Diệp, mình thấy môn văn thật hấp dẫn và gần gũi. Học văn với cô rất vui vẻ. Cô cho tụi mình được thoải mái trình bày theo cách nhìn của bản thân, cô tôn trọng suy nghĩ cá nhân của học sinh, không bắt tụi mình phải học thuộc lòng những câu hỏi giáo khoa mà phải là đọc – hiểu” – học sinh Trâm Anh cho biết.

Trong khi đó, học sinh Hồng Phúc lại chia sẻ: “Mình sẽ không thi đại học môn văn nên không đầu tư nhiều cho văn. Nhưng mình thích học văn với cô Diệp. Cô nói giọng miền Trung nhưng nghe ngọt ngào và truyền cảm. Những lúc cô đọc thơ thì… tuyệt vời. Trong giờ dạy, cô còn đưa ra nhiều dẫn chứng gắn liền với cuộc sống khiến mình cảm thấy môn văn hữu ích”. “Cô còn rất xìtin nữa nha. Từ điệu bộ cho đến lời nói đều rất gần gũi với học sinh” – học sinh Ý Kiệt chen vào.

“Không yêu thương văn sẽ làm hỏng văn”

Đó gần như là “kim chỉ nam” trong dạy học của cô Nguyễn Thị Ngọc Diệp: “Vì yêu thương nên tôi muốn học sinh của mình cũng yêu thương văn. Muốn các em thích học văn thì trước hết phải làm cho giờ văn thoải mái, không gò ép”.

Cô tâm sự: “Cách đây khoảng 5-6 năm, mình nói sẽ cho học sinh bốc thăm để làm việc nhóm. Mỗi nhóm có nhiệm vụ soạn một bài thuyết trình về tác giả – tác phẩm trong chương trình học, đến tiết đó các em sẽ nói cho cả lớp nghe. Không ngờ học sinh hào hứng nhận lời. Thật sự, lúc đầu mình cũng hơi lo ngại, bởi cứ nghĩ học trò vùng ven, các em sẽ không đủ đam mê, không có phương tiện (máy tính nối mạng) để tìm tư liệu, soạn bài”.

Nhưng kết quả đạt được thật không ngờ: “Một khối có ba lớp thì ba bài thuyết trình với ý tứ, lời văn… hoàn toàn khác nhau cho thấy các em không hề sao chép của nhau mà tự tìm tòi, soạn bài” – cô Diệp kể và kết luận: “Kinh nghiệm rút ra là phải tin vào học sinh của mình. Hồi đầu, tôi không an tâm, khi học sinh soạn bài xong phải cho tôi xem trước, sửa lỗi rồi mới thuyết trình. Bây giờ, tôi đã tự tin cho các em được tự do trình bày ý kiến của mình, nếu có sai sót tôi sẽ sửa ngay trước lớp”.

Cũng vì tin học sinh mà cách đây nhiều năm, cô Diệp đề xuất với ban giám hiệu Trường Giồng Ông Tố thành lập đội tuyển văn do cô phụ trách. Mặc dù hồi ấy học sinh Giồng Ông Tố không có khái niệm “đi thi học sinh giỏi” (nói gì đến việc đoạt giải), mặc dù hồi ấy nhiều ý kiến lo ngại rằng “học trò vùng ven thì làm sao “địch” lại với học sinh nội thành”.

Thế nhưng ngay năm đầu tiên “ra quân”, học sinh Giồng Ông Tố đã đoạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi Olympic 30-4.

Giải năm ấy không cao nhưng nó mang lại một niềm tin cho cả giáo viên và học sinh trong trường, rằng không phải vùng ven thì không có học sinh giỏi. Bây giờ, năm nào Giồng Ông Tố cũng có học sinh giỏi văn và cả những môn khác nữa. Thậm chí năm học 2013-2014, trường còn có giải nhất học sinh giỏi văn cấp TP. Kết quả này bắt nguồn từ sự tiên phong, dám nghĩ – dám làm của cô Nguyễn Thị Ngọc Diệp, tổ trưởng tổ văn Trường THPT Giồng Ông Tố, TP.HCM.

H.H.

Có trường nổi tiếng mời về dạy nhưng cô vẫn ở lại

Trong quá trình dạy học, cô Diệp luôn tìm tòi, đi đầu trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Cái hay của cô là những đổi mới ấy phù hợp với đối tượng học sinh vùng ven chứ không phải dành cho học sinh trường chuyên.

Trước đây từng có một số trường THPT nổi tiếng của TP mời cô Diệp về dạy nhưng vì những tình cảm của đồng nghiệp, của học sinh mà cô quyết định ở lại trường. Những sáng kiến của cô đến nay đã lan tỏa, được tất cả giáo viên của tổ văn học tập và thực hiện.

Nhiều năm nay, năm nào Giồng Ông Tố cũng có học sinh giỏi văn cấp TP. Đây là thành quả nỗ lực không ngừng của cô Diệp. Bởi ai cũng biết đầu vào Trường Giồng Ông Tố không cao.

Việc phát hiện, truyền lửa đam mê văn chương (vì học sinh bây giờ đa số chỉ thích toán, lý, hóa) và bồi dưỡng các em trở thành học sinh giỏi là cả một quá trình vất vả mà một giáo viên giỏi nhưng nếu thiếu nhiệt huyết sẽ không thể làm được.

Năm 2014, cô đã được Sở GD-ĐT TP.HCM trao giải thưởng Võ Trường Toản (giải thưởng cao quý dành cho các nhà giáo giỏi do báo Sài Gòn Giải Phóng phối hợp với Sở GD-ĐT TP.HCM thực hiện).

Ông HÀ HỮU THẠCH

(Hiệu trưởng Trường THPT Giồng Ông Tố, TP.HCM)

—o0o—

TPHCM TUYÊN DƯƠNG 186 NHÀ GIÁO TRẺ TIÊU BIỂU

(Tin đăng trên www.tuoitre.vn ngày 18/11/2014)

Lễ vinh danh 186 nhà giáo trẻ tiêu biểu cấp thành phố năm 2014 vừa được Thành đoàn TP.HCM tổ chức chiều nay 18-11, tại Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM.

 Đây là những gương mặt được bình chọn từ 550 hồ sơ do các trường học gửi về trong lần thứ 7 tổ chức giải thưởng này. Trong đó có chín anh chị được nhận giải thưởng này lần thứ năm liên tiếp, ba anh chị nhận bốn năm và 16 anh chị lần thứ ba liên tiếp được vinh danh.

Những người tham dự bày tỏ sự thán phục với những thành quả nghiên cứu của tiến sĩ trẻ Lý Hùng Anh (ĐH Bách khoa, ĐHQG TP.HCM). Lý Hùng Anh hoàn thành chương trình học và lấy bằng tiến sĩ tại Nhật Bản chuyên ngành kỹ thuật hàng không bằng suất học bổng toàn phần của chương trình JICA (Nhật) ở tuổi 29.

Cùng với hàng chục bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế, tiến sĩ Lý Hùng Anh còn là chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu khoa học các cấp. Mới nhất, anh đã giới thiệu một trường hợp đến Nhật làm nghiên cứu sinh tiến sĩ và hai trường hợp khác học thạc sĩ tại Indonesia bằng các suất học bổng toàn phần.

vinh danh nha giao treCó nhiều lý do để mỗi nhà giáo trẻ gắn bó với nghề, xây dựng cho mình tình yêu nghề nghiệp. Chính điều ấy đã giúp họ luôn tìm tòi sáng tạo để chọn cho mình phương pháp tốt nhất trong giảng dạy. Thạc sĩ Nguyễn Thị Khánh Ly (Trung tâm giáo dục thường xuyên Q.Phú Nhuận) đã chọn cách đưa những vấn đề thời sự về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước vào những tiết dạy lịch sử của mình. Chính cách làm ấy giúp học sinh thấy yêu thích chứ không ngán với môn lịch sử như hiện trạng chung.

Vinh danh giao vien treTrò chuyện tại buổi lễ, cô giáo mầm non Nguyễn Thị Phương Nam (Trường mầm non Họa Mi 2, Q.5) kể đã từng có ý định bỏ nghề vì những áp lực gặp phải từ những ngày đầu đi dạy. Nhưng chính tấm lòng yêu trẻ đã giúp chị vững vàng, vượt qua những cản trở để đến hôm nay chị tự tin rằng mình đã chọn đúng nghề. Cô Phương Nam cũng là giáo viên mầm non duy nhất lần thứ tư liên tiếp được nhận giải thưởng “Nhà giáo trẻ tiêu biểu” cấp thành phố.

Thầy Lê Việt Tiến (Trường tiểu học Hồng Hà, Q.Bình Thạnh) nói cuộc sống không chỉ có niềm tin mà còn cần một tình yêu, lòng yêu nghề để góp sức vào sự phát triển của giáo dục, kéo gần khoảng cách phát triển giữa VN với các nước. “Những nhà giáo trẻ sẽ là đội quân tiên phong trên con đường kéo gần khoảng cách ấy, trong mỗi người luôn có một tình yêu để mong những thay đổi tốt đẹp hơn” – anh Tiến khẳng định.

Trong sáng nay, các nhà giáo trẻ đã tham gia hành trình đồng hành với “học sinh 3 tích cực” tại Trường THPT Marie Curie, “học sinh 3 rèn luyện” tại Trường Trung cấp kinh tế – kỹ thuật Nguyễn Hữu Cảnh và “sinh viên 5 tốt” tại ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM).

Tại Trường CĐ Sư phạm trung ương TP.HCM, nhiều nhà giáo trẻ và sinh viên cùng tham gia tọa đàm “Thắp lửa lòng yêu nghề”. Tại đây, các bạn cùng chia sẻ câu chuyện về việc nuôi dưỡng niềm đam mê để quyết tâm gắn bó với nghề giáo dẫu còn nhiều gian nan vất vả va những câu chuyện chưa hay trong quá trình làm nghề.

Ủy viên Trung ương Đảng – phó bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thị Thu Hà trân trọng chúc mừng các nhà giáo trẻ và mong các anh chị tiếp tục nỗ lực vượt khó, gắn bó với công việc để góp sức vào sự nghiệp trồng người của thành phố.

Bà Hà nói thầy cô không chỉ là người dạy học mà còn phải là người truyền cảm hứng và giúp học sinh biết sống có hoài bão, có ích cho gia đình và xã hội, trở thành công dân ưu tú của đất nước.

Q.LINH

Phạm Quỳnh, một sĩ phu Hà Nội

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 4:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 11 năm 2014.

 PHẠM QUỲNH, MỘT SĨ PHU HÀ NỘI

Phạm Tôn

Năm 1908 Phạm Quỳnh đã đỗ thủ khoa năm đầu tiên của trường Trung học Bảo Hộ. Nhân dân thường quen gọi là “Thủ khoa Tây trường Bưởi”.

Pham Quynh_1922 tai PhapCũng năm 1908 ấy, trường Đông Kinh Nghĩa Thục của cụ Cử Can ở phố Hàng Đào bị Pháp đóng cửa. Chàng học sinh con nhà nghèo đến mấy đời Phạm Quỳnh đã cùng các bạn tham gia đấu tranh phản đối nhà đương cục. Bị Pháp bắt, nhưng rồi được thả vì chưa đến tuổi thành niên.

“Thủ khoa Tây” được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học lớn, đủ mọi mặt toàn xứ Đông Pháp. Năm ấy, “công chức” Phạm Quỳnh mới mười lăm tuổi. Vốn ham hiểu biết, lại được làm việc dưới sự chỉ bảo của các “đại sư” người Pháp uyên thâm nhiều lĩnh vực, và được ở bên, ở ngay trong kho sách lớn có một không hai trong nước ta, Phạm Quỳnh thả sức học tập, đọc miệt mài, hết tra cứu, đến so sánh, lại ghi chép… đến quên cả giờ về nhà. Tại đây Phạm Quỳnh quen biết Nguyễn Văn Tố, sau này cũng là một học giả nổi tiếng, từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đầu tiên của cụ Hồ.

Những năm làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (1908-1917) cũng chính là những năm học tập miệt mài, khổ công tự học và thành tâm, khiêm tốn học hỏi các bạn đồng nghiệp Pháp Việt đã đưa Phạm Quỳnh từ một thanh niên hiếu học trở thành một nhà nghiên cứu có kiến thứPham Quynh chu but Nam Phongc vững chắc, khá toàn diện về nhiều ngành khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên nữa. Đặc biệt, từ một học sinh chỉ viết được có hai chữ nho tên mình, suýt bị trượt kỳ thi tốt nghiệp trường Trung học Bảo hộ vì bài dịch Hán văn ra Pháp văn đáng lẽ bị điểm liệt, may mà được các giám khảo nương tay cho nửa điểm mới đỗ “Thủ khoa Tây”, sau chín năm trời đã trở thành một nhà Hán học uyên thâm, có thể đọc, dịch và viết văn bằng chữ Nho thành thạo. Chủ yếu là do công tự học kiên trì và có phương pháp đúng.

Do có vốn liếng vững chắc về khoa học xã hội, năm 1913, Phạm Quỳnh đã trở thành một cây bút quen thuộc, được tín nhiệm trên Đông Dương tạp chí của người bạn cùng học trường Thông Ngôn năm nào Nguyễn Văn Vĩnh. Từ đó Phạm Quỳnh nổi tiếng với nhiều bài nghiên cứu sắc sảo, chững chạc, già dặn hơn tuổi đời hai mươi của mình rất nhiều.

Những bài báo đó “lọt mắt xanh” của Louis Marty, giám đốc Vụ Chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương và cả bản thân Toàn quyền Albert Sarraut nữa. Hai con cáo già thực dân này đã quyết định dùng Phạm Quỳnh làm cầu nối giữa Pháp và Việt Nam, giữa lớp trí thức cũ Hán học và lớp trí thức mới Tây học.

Năm 1917 tạp chí Nam Phong ra đời với chủ bút phần quốc ngữ là Phạm Quỳnh, mới hai mươi bốn tuổi.

Chẳng bao lâu, tạp chí Nam Phong đã trở thành tờ báo có uy tín nhất và lớn nhất thời bấy giờ. Báo quy tụ được cả những nhà cựu học uyên thâm lẫn những người tuổi trẻ tài cao. Phạm Quỳnh dùng Nam Phong tạp chí làm cơ quan để “tài bồi” cho văn quốc ngữ trở thành tiếng nói, chữ viết chuyển tải được những sự phát triển mới trong đời sống xã hội, đủ các ngành khoa học.

Vì ông tin rằng, có tiếng mới có nước, tiếng còn thì nước không mất được.

Năm 1922, với danh nghĩa Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập, Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Marseilles. Ông tranh thủ diễn thuyết ở nhiều nơi để người Pháp hiểu thêm và do đó tôn trọng nước và người Việt Nam mình. Ông còn nhờ các bạn bè người Pháp quen biết từ hồi họ còn ở Việt Nam mà tìm ra đường đến diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp. Bài nói của ông thuyết phục đến nỗi các viện sĩ có mặt nhất loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng, một hiện tượng chưa từng xảy ra ở nơi tụ hội tinh hoa của cả nước Pháp, gây chấn động lớn khắp thủ đô Paris. Ông nói dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng, ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ, đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai. Nếu muốn cũng chỉ có thể đóng quyển sách ấy lại theo lối mới cho hợp thời trang, chứ không thể viết một thứ chữ khác lên những trang đã đầy chữ rồi. Ông kiên quyết bảo vệ bản sắc Việt Nam.

Những ngày ở Paris, ông đã gặp và trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc ít nhất ba lần; một lần còn được Nguyễn Ái Quốc “đích thân tổ chức bữa cơm Bắc thết khách Bắc” tại nhà luật sư Phan Văn Trường.

Ngày 8/9/1924, Phạm Quỳnh là người đầu tiên đứng ra tổ chức kỷ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du. Trước hơn 2000 người tham dự, câu nói bất hủ của ông đã được đồng thanh tán thưởng

Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Tiếng ta còn nước ta còn.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị đưa ra xét xử ở Tòa Đề hinh Hà Nội, nơi kết án tàn bạo nhất. Phạm Quỳnh không ngần ngại viết bài trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương Cộng Hòa) lớn tiếng bênh vực nhà chí sĩ “chỉ có một tội là tội yêu nước” như tất cả mọi người Pháp yêu nước chống quân ngoại xâm xưa nay. Ông cốt nói rõ với những người Pháp còn có lương tri ở Đông Dương và càng muốn nói thẳng với người Pháp ở ngay chính nước Pháp. Phạm Quỳnh đã góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân hồi ấy đòi khoan hồng cho Phan Bội Châu. Thế rồi, từ một án tử hình, tám án chung thân, hạ dần xuống mức chỉ còn bị quản chế ở Bến Ngự xứ Huế. Mười lăm năm cuối đời Phan Bộ Châu, nhà báo Phạm Quỳnh, rồi Thượng thư Phạm Quỳnh lúc nào cũng bênh vực, tận tụy chăm sóc ông về tinh thần và cả vật chất nữa. Cho đến năm 1940 Thượng thư Phạm Quỳnh vẫn không ít lần đến tận nhà thăm và giúp đỡ nhà chí sĩ cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.

Năm 1926, Thống sứ Bắc Kỳ René Robin có “nhã ý” trợ cấp cho tạp chí Nam Phong. Nhân cơ hội này, Phạm Quỳnh xin trợ cấp cả cho Nguyễn Văn Vĩnh mà ông trình bày trong thư gửi Robin là đã và đang làm nhiều việc mà còn gặp nhiều khó khăn hơn ông.

Ngày 4/12/1931, Phạm Quỳnh đã đưa ra trước Hội đồng cấp cao Đông Dương về Kinh tế-Tài chính đòi bãi bỏ chính sách độc quyền sản xuất rượu gạo ở Bắc Kỳ. Cuộc vận động này đã thành công, mở ra một thị trường rượu ở Bắc Kỳ, có cạnh tranh ở mức độ nhất định, khai thông phong trào cải cách ở Đông Dương và những nỗ lực bãi bỏ độc quyền cả ở các mặt kinh tế lẫn chính trị.

Năm 1932, Phạm Quỳnh vào Huế làm Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục kiêm Tổng lý Đại thần Ngự Tiền Văn Phòng. Thì ngay cuối năm sau, ông viết thư cho Louis Marty đề nghị khoan hồng cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi bị kết án đày ra Côn Đảo hoặc nước ngoài vì tội “âm mưu cộng sản” ở Kiến An. Có lẽ xưa nay không có ai vừa nhậm chức lại đi làm một việc như thế, không hề nghĩ gì đến “cái ghế mình ngồi còn chưa ấm chỗ”.

Năm 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thảm trên đường đi tìm vàng tại Lào thì Phạm Quỳnh đang là Tổng lý Đại Thần Ngự Tiền Văn Phòng và Thượng thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục. Vậy mà ông lại làm bài thơ Khóc Nguyễn Văn Vĩnh; Trong đó, bốn câu cuối rất lạ:

Sống lại như tôi là sống nhục.

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ.

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

 Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp rồi dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim. Phạm Quỳnh rút khỏi chính trường, về nhà sống ẩn dật, chuyên tâm trở lại với nghề viết mà ông hằng yêu quí. Trong những ngày biến động này, ông em vợ thấy anh rể cứ bình chân như vại thì sốt ruột quá mới khuyên anh “nên tránh đi, sang Lào chẳng hạn vì xem ra vua Lào quí anh lắm.” Thì Phạm Quỳnh thản nhiên trả lời là “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước để đem tài trí ra giúp nước”. Rồi lại cặm cụi đọc sách, viết văn.

Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongNhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945.

Tp Hồ Chí Minh, 30/08/2014

P.T.

Tôn Thất Thân, cháu ngoại học giả Phạm Quỳnh mới là người thầy đầu tiên của nhiều tài năng toán học nước ta

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu , tuần 3 tháng 11 năm 2014.

TÔN THẤT THÂN, CHÁU NGOẠI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

MỚI LÀ NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

CỦA NHIỀU TÀI NĂNG TOÁN HỌC NƯỚC TA

Thu Phương

Lời dẫn của Phạm Tôn: Gần đây, một tờ báo có số phát hành rất lớn ở nước ta đã đăng loạt bài về giáo sư Ngô Bảo Châu, cử cả phóng viên sang tận Ấn Độ, gặp giáo sư Ngô Bảo Châu nhiều lần, vậy mà vẫn không viết gì về người thầy đầu tiên đã khơi dậy lòng say mê toán trong giáo sư. Dưới đây là toàn văn bài của Thu Phương nhan đề Người thầy đầu tiên của những học sinh giỏi toán, đăng trên trang 6 mục Kinh tế – Xã hội báo Công An Nhân Dân cuối tuần, số 136 (1866) – Chủ nhật ngày 5/9/2010, với nhan đề và chú thích của chúng tôi.

*

*   *

Cách đây 5 năm, khi tôi viết bài về PGS.TSKH Vũ Đình Hòa (người mà năm 1974 đã cũng với Hoàng Lê Minh, Đặng Hoàng Trung, Nguyễn Quốc Thắng rinh những chiếc huy chương Toán quốc tế đầu tiên cho Việt Nam) thì có một chi tiết khá đặc biệt: PGS.TSKH Vũ Đình Hoà đã nhắc đến một người thầy với một tình cảm xúc động lạ kỳ. Đó là thầy Tôn Thân (tên đầy đủ là Tôn Thất Thân –PT chú), giáo viên dạy chuyên Toán của Trường THCS Trưng Vương. Nhắc đến thầy, PGS.TSKH Vũ Đình Hòa liên tục phải gỡ đôi kính dày hơn 10 điốp của mình để lau nước mắt. Thời gian trôi đi, tôi vẫn chưa gặp được thầy Tôn Thân thì thật bất ngờ, trong cuộc trò chuyện mới đây của tôi với Giáo sư Ngô Bảo Châu (người vừa được trao giải thưởng Fields), thầy Tôn Thân lại xuất hiện. Thầy cũng chính là thầy giáo dạy chuyên Toán cấp hai của Ngô Bảo Châu, cũng là một trong những thầy giáo đã ảnh hưởng lớn đến con đường khoa học sau này của Giáo sư. Điều đó một lần nữa lại thôi thúc tôi tìm gặp thầy Tôn Thân.

*

*  *

Học trò của thầy Tôn Thân, ngoài Giáo sư Ngô Bảo Châu, PGS. TSKH Vũ Đình Hòa còn có rất nhiều người thành đạt. Đó là Lê Thị Hồng Vân, nữ tiến sĩ trẻ nhất Việt Nam hiện đang là giảng viên trường ĐH của CH Séc, thường xuyên được mời thỉnh giảng ở Pháp, Đức. Nguyễn Đình Công, trước đây là Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam. Vũ Hà Văn, con trai của nhà thơ Vũ Quần Phương hiện là Giáo sư tại Mỹ, một trong những nhà toán học hàng đầu về chuyên ngành tổ hợp. Hoàng Nam Tiến, một trong những giám đốc đầy năng lực của FPT…

*

*  *

Thầy Tôn Thân đón tôi với một nụ cười thật hiền hậu. Thầy đẩy xe giúp tôi lên bậc thềm nhà cao ngút, ân cần như tôi là học trò cũ của thầy vậy. Tôi hỏi thầy có phải là cháu ngoại của học giả Phạm Quỳnh, chủ bút của tờ Nam Phong không, thì giọng thầy náo nức: “Đúng rồi, Phạm Quỳnh là ông ngoại của thầy, tiếc là ông mất khi thầy còn quá nhỏ (mới hai tuổi – PT chú). Nhưng thầy chịu ảnh hưởng lớn bởi cốt cách và tri thức của ông qua lời kể của mẹ. Ông mồ côi sớm, sức khỏe lúc nào cũng yếu ớt, nhưng trong ông lại tiềm tàng một ý chí tự học vươn lên mãnh liệt. Ông yêu nghề dạy học vô cùng, tất cả mọi công danh, thành đạt, tiếng tăm của ông đều do nỗ lực tự học của ông mà nên. Sang Pháp, ông đã diễn thuyết bằng tiếng Pháp, hoàn toàn do ông tự học tiếng Pháp ở trường Viễn Đông Bác Cổ (Thật ra là ông từng học Trường Thông Ngôn, rồi Trường Bưởi, toàn do các thầy người Pháp chính gốc dạy bằng tiếng Pháp; sau tốt nghiệp thủ khoa mới vào làm ở Trường Viễn Đông Bác Cổ – PT chú). Sau này, ông còn dịch thơ Đỗ Phủ, chữ Hán cũng là do ông tự học, càng cho thấy một năng lực bền bỉ, kiên trì, vượt mọi khó khăn, biết quý trọng tri thức của ông. Tất cả những phẩm hạnh của ông như một mạch nước ngầm bền bỉ thấm vào thầy”. Thầy Tôn Thân bảo với tôi rằng, truyền thống gia đình và cả yếu tố bẩm sinh di truyền là vô cùng quan trọng. Bố thầy là GS Tôn Thất Bình, Hiệu trưởng Trường Thăng Long xưa, nơi mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Đặng Thai Mai từng dạy học (mẹ thầy là Phạm Thị Giá trưởng nữ của Phạm Quỳnh – PT chú). Theo thầy Tôn Thân, những yếu tố làm nên thành công của Giáo sư Ngô Bảo Châu, ngoài môi trường khoa học lành mạnh mà anh được may mắn thừa hưởng từ bố mẹ, và sau này là trường ĐH Sư phạm cao cấp của Pháp; ngoài năng lực, sự nỗ lực vượt bậc của anh trong suốt 15 năm dành cho “Bổ đề cơ bản”, thì còn có yếu tố di truyền từ truyền thống gia đình.

Nhắc đến những học trò của mình, thầy Tôn Thân và người bạn đời của mình là cô giáo Vũ Thị Trang, giáo viên Trường Tiểu học Trưng Vương đã nghỉ hưu đều xôn xao, lòng dâng lên những cảm xúc êm dịu, ngọt ngào nhất. Thầy Tôn Thân vốn là một giáo viên dạy Văn của Trường THCS Trưng Vương (Thật ra là dạy văn ở một trường cấp II huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội; sau chuyển sang dạy toán cho đội học sinh của huyện kịp dự kỳ thi học sinh giỏi toán toàn thành phố; từ đó, dạy chuyên toán – PT chú), nhưng những năm 1970, trường lại thiếu giáo viên dạy chuyên Toán. Vậy là thầy chuyển sang dạy chuyên Toán, đầy thử thách và mạo hiểm, nhưng có lẽ đó cũng là cái duyên của thầy với Toán học. Thế rồi, lớp chuyên Toán đầu tiên được thành lập, cả thành phố chỉ tuyển được 30 em sau kỳ thi tuyển đầy khắc nghiệt. Hồi đó, kiến thức về toán học của thầy có lẽ chưa đủ nhiều, nhưng bù lại, thầy yêu học trò của mình vô cùng, thầy dành cho học trò tất cả những tình cảm trong trẻo nhất. Thầy đã dạy họ bằng một tình yêu trẻ nhỏ, thắp lên trong những cô cậu học trò non nớt những khát vọng đầu đời. Còn tôi thì nghĩ rằng, tình yêu đó của thầy quá lớn đã khiến thầy có lúc như mê muội, như bị mê dụ, thôi miên thầy lao vào chân trời của Toán học. Trong hồi ký của PGS.TSKH Vũ Đình Hòa, anh viết về thầy Tôn Thân của mình với những lời tha thiết: “Rơi rụng ít nhiều trong cuộc đời, nhưng vẫn còn những người trong số chúng tôi làm khoa học và chắc chắn sẽ chỉ làm khoa học chứ không làm gì khác. Vâng, thầy đã truyền cho chúng tôi một lý tưởng về cuộc sống và con người. Kỷ niệm thơ ấu của chúng tôi có một giai đoạn sáng chói là thời gian học thầy. Có lẽ thầy là người thứ hai sau bố mẹ luôn lo lắng thật sự cho chúng tôi” (Chúng tôi nhấn mạnh –PT chú). Làm sao anh có thể quên được thầy Tôn Thân với dáng vẻ gầy gò thư sinh, cọc cạch đạp xe đến nhà những học sinh yếu kèm toán cho các em vào mỗi buổi chiều. Làm sao họ có thể nguôi nhớ về những cuốn sách nhàu nhĩ quý hiếm mà thầy cất công sưu tầm, tìm kiếm để mang đến cho học trò. Rồi hình ảnh thầy đứng co ro, chờ học sinh xem đá bóng ở ngoài sân vận động dưới sương đêm giá buốt, để chở học sinh về nhà mình ngủ. Hình ảnh thầy và trò miệt mài tìm những lời giải toán đẹp nhất quanh chiếc bàn làm việc cũ kỹ của thầy, đến khi tìm ra lời giải, thì tiếng chuông xe điện đã leng keng báo hiệu ngày mới. Thầy đã dành cho học sinh của mình những quyển sách quý nhất trên giá sách của mình. Chính trái tim nóng ấm, dịu dàng một tình yêu học trò luôn thường trực trong thầy đã là một chất men làm thăng hoa, khiến thầy không ngừng có những sáng tạo, sáng kiến mới mẻ, độc đáo trong dạy toán và trong phương pháp sư phạm.

Thầy Tôn Thân xúc động nhớ lại: “Những năm đầu tôi phải tự học tiếng Nga, tiếng Pháp để đọc sách toán của họ, hồi đó ngoài quyển sách giáo khoa, chúng tôi chỉ có một vài quyển sách tham khảo. Sách vở hiếm hoi, học trò thì quá thông minh khiến tôi lúc nào cũng trong tình trạng căng thẳng. Nhưng tôi quyết tâm không để cháy giáo án, không thể để hết vốn, tất cả vì học trò. Ngày nào tôi cũng tìm tòi tư liệu về toán, sưu tầm các bài toán mới với những lời giải khác nhau để mang đến cho các em. Mà lạ lắm, hồi đó học sinh chuyên toán học toán say mê lạ lùng. Có những tiết học thầy trò quá say sưa, trống báo hết giờ lúc nào cũng không hay. Tôi tâm niệm, dạy toán là vừa dạy khoa học, nhưng cũng là dạy nghệ thuật, làm sao để khơi gợi các em tình yêu toán học và một khát vọng chiến thắng”. Thầy tâm sự, thầy không bao giờ áp đặt cách dạy của mình vào những bộ óc non nớt nhưng khao khát sáng tạo. Giờ luyện tập, thầy len giữa thế giới sáng tạo của học trò, cùng hồi hộp, cùng vui buồn với các em qua những trang nháp trắng tinh đến khi chằng chịt con số, hình vẽ. Thầy còn tìm đọc loại sách “Kim Đồng” để hiểu thêm sự vật qua đôi mắt trẻ thơ sẽ ra sao. Đêm đêm, bên những bài toán hóc búa, thầy luôn trăn trở, khi giải bài này, các em sẽ theo con đường nào? Thầy đã “sống lại đời học trò”, để hiểu cách nghĩ kiểu học trò, chọn đúng điểm tựa nâng các em lên tầm cao hơn. Thầy để cho các em tự bầu đội tuyển, học trò tự tôn vinh nhau sẽ không có yếu tố nhiễu chen vào. Để bù đắp tình trạng thiếu sách học trầm trọng, thầy Tôn Thân đã sáng tạo ra “Hồ sơ bài tập”, ở đó thầy ghi đề bài, xuất xứ đề bài và các cách giải khác nhau, có ý hay của học sinh kém và cả thiếu sót của học sinh giỏi (có bài tập thầy sưu tầm được 15 cách giải). Thầy còn phát động phong trào viết báo tường bằng toán học, ai có lời giải hay, nghĩ được đề bài hay, thì viết vào tờ báo tường đó để tất cả cùng chiêm ngưỡng. Thầy cũng là tác giả của “bài tập câm” (nôm na là thầy đưa ra ký hiệu để học trò dựa vào đó nghĩ ra các loại đề bài khác nhau, khơi gợi tư duy của học trò). Năm nào Tết đến, quà thầy mừng tuổi cho học trò là những gói quà nhỏ xinh xắn, bên trong có bánh kẹo và một bài tập toán, em nào giỏi thầy tặng đề toán khó, em nào yếu, thầy dành cho đề nhẹ hơn…

Năm 1980, ngành Giáo dục đã tổ chức hội nghị tổng kết sáng kiến kinh nghiệm trong giảng dạy, dạy học lần thứ nhất (đến nay vẫn chưa có lần thứ hai). Thầy Tôn Thân đã “trình diễn” cách dạy một bài toán hình học về tam giác. Thầy không đi theo cách thông thường là dựa vào giả thiết để chứng minh, mà bắc một “cây cầu phụ” từ giả thiết để chứng minh. Kết thúc giờ trình diễn, thầy Vụ trưởng Vụ cấp III lúc bấy giờ đã reo lên: “Trời ơi, lâu lắm rồi tôi mới được dự một kiểu dạy học như thời Pháp ngày xưa”. Cả hội trường rộ lên tiếng vỗ tay không ngớt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng xúc động, đến bên ôm lấy thầy Tôn Thân (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú). Tại hội nghị này, thầy đã được trao giải A. Kể lại cho tôi nghe câu chuyện này, thầy Tôn Thân cho hay thầy rất tâm đắc với câu nói: “Đừng bắt người ta uống, hãy làm cho người ta khát”. Dạy học cũng vậy, đừng áp đặt học trò, luôn khơi dậy lòng khao khát chiếm lĩnh những đỉnh cao toán học trong học trò, càng không nên nhồi nhét học trò.

Ngô Bảo Châu là học sinh khóa chuyên Toán cuối cùng của thầy Tôn Thân, vì sau đó thầy chuyển sang làm cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Năm 1995, thầy bảo vệ luận án Tiến sỹ. Năm 2002, thầy được phong chức danh Phó Giáo sư và năm 2006, thầy được nhận danh hiệu cao quý: Nhà giáo Nhân dân. Hiện nay, thầy vẫn là chuyên viên cao cấp của Viện Khoa học giáo dục, vẫn viết sách và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Thầy là tác giả của 50 đầu sách về phương pháp dạy học tiên tiến, phương pháp làm toán hiện đại. Nhưng lòng thầy nhiều trăn trở về hệ thống trường chuyên lớp chọn hiện nay, quá nhiều, tràn lan và biến tướng nên việc chọn học sinh giỏi không thể nào chính xác được. Có nhiều người còn sai lầm khi đặt ra mục tiêu của lớp chuyên là để luyện thi đại học, cho rằng, học chuyên như một món đồ trang sức, dạy nhồi nhét kiểu gà nòi. Thầy rất buồn khi hiện nay, chỉ còn hệ thống chuyên cấp III, trong khi những năng khiếu toán học và những môn khoa học cơ bản, cần được phát hiện, nuôi dưỡng từ cấp hai, nếu không nó dễ thui chột. Nhưng cấp II hiện nay hệ thống chuyên đã bị dẹp bỏ.

Câu chuyện của thầy và những học trò chuyên toán năm xưa đã khiến tôi cồn cào nhớ về thầy cô của mình. Ai cũng có một vùng kỷ niệm tuyệt đẹp, thánh thiện đó. Thầy Tôn Thân ở một nghĩa nào đó có lẽ cũng giống như hình ảnh thầy giáo già Đuysen trong truyện ngắn Người thầy đầu tiên của nhà văn Aimatov. Đuysen khi đọc còn đánh vần một cách chật vật, trong tay không có lấy một quyển sách giáo khoa nhưng đã mở trường, mở ra một chân trời mới cho biết bao đứa trẻ nghèo, đã thắp lên ước mơ vươn đến đỉnh chóp cao siêu của khoa học trong cô bé Antưnai, sau này là viện sĩ triết học…

Trong nhiều lá thư học trò gửi cho thầy Tôn Thân từ những đất nước xa xôi, nhiều người đã viết, khi họ bước lên bậc thềm vinh quang, lòng họ đều rưng rưng nhớ đến thầy Tôn Thân. Bởi lẽ, họ có thành đạt, hào quang bao nhiêu đi chăng nữa thì những ánh hào quang đó có lẽ cũng đều bắt đầu từ những “bài học đầu tiên” của thầy Tôn Thân (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú).

T.P.

—o0o—

PGS. TSKH Vũ Đình Hòa:

Đến khi học thầy Thân tôi mới bắt đầu thực sự thích toán

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới đây là phần chúng tôi trích trong bài phỏng vấn PGS. TSKH Vũ Đình Hòa do Thu Hiền thực hiện nhan đề Về hiện tượng Ngô Bảo Châu nhận giải Fields: Khoa học là một cuộc chạy cự ly dài, đăng trên trang 26 tạp chí Hồn Việt số 39 (tháng 9/2010). Nhan đề là của chúng tôi.

*

*   *

Phóng viên Hồn Việt đã có cuộc trò chuyện với PGS.TSKH Vũ Đình Hòa – Chủ Nhiệm khoa CNTT, trường ĐH Sư phạm Hà Nội, người thầy dạy toán của anh (Ngô Bảo Châu – PT chú) cũng như của nhiều thế hệ học sinh Việt Nam tham dự Olympic Toán quốc tế….

- P/V: Thưa thầy, cho đến thời điểm này giáo sư Ngô Bảo Châu có phải là người học trò xuất sắc nhất của thầy?

- PGS.TSKH VŨ ĐÌNH HÒA: Tôi đã nhiều năm liền dẫn đội tuyển Toán học Việt Nam đi tham dự cuộc thi Olympic Toán Quốc tế. Có nhiều em học sinh rất giỏi, rất thông minh (như em Vũ Ngọc Minh, cũng 2 lần đoạt HCV Olympic Toán quốc tế) nhưng chưa có học trò nào tạo cho tôi niềm tin tuyệt đối như Ngô Bảo Châu.

(…)

- Nhiều người cho rằng thành công của Ngô Bảo Châu phần lớn là do anh may mắn có “gien” tốt?

- Có thể nói, Ngô Bảo Châu là một người gặp thời. Cậu ấy có rất nhiều thuận lợi. Cậu ấy được sinh ra trong một gia đình mà bố và mẹ đều là những nhà khoa học (thuộc hàng đỉnh), có tư chất rất tốt, lại là con một nên được quan tâm đầu tư phát triển. Cậu ấy được học thầy tốt là thầy Tôn Thân (một thầy giáo học văn nhưng dạy toán rất hay. Khi bắt đầu vào chuyên toán, tôi cũng được học rất nhiều thầy nhưng đến khi học thầy Thân tôi mới bắt đầu thực sự thích toán) (Chúng tôi nhấn mạnh – PT chú). Khi sang Pháp, Châu tiếp tục gặp được những thầy giáo và những người “bạn đồng hành” tốt… cùng với niềm đam mê toán học và sự nỗ lực để có được thành công như ngày hôm nay.

T.H.

Giáo sư Phạm Khuê- Người thầy hoàn hảo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 11 năm 2014.

GIÁO SƯ PHẠM KHUÊ

NGƯỜI THẦY HOÀN HẢO

GS TS Nguyễn Khánh Trạch

Lời dẫn của Phạm Tôn: GS Phạm Khuê (1925-2003) là người con thứ tám trong số 16 người con của học giả Phạm Quỳnh. Khi nổ ra cuộc Cách Mạng Tháng Tám thì Phạm Khuê đang là sinh viên trường đại học y khoa, sống cùng gia đình chị cả Phạm Thị Giá (1913-2000) tại nhà số 5 Phố Hàng Da, Hà Nội.

Được tin cha bị bắt ngày 23/8/1945, Phạm Khuê đã viết bức thư kêu oan gửi Hồ Chủ tịch để hai chị lớn đem lên Bắc Bộ phủ khi được Hồ Chủ tịch tiếp trưa ngày 31/8.

Vừa kéo đàn phong cầm phụ giúp gia đình chị tại rạp chiếu bóng Olympia ở gần nhà, Phạm Khuê vừa tiếp tục học. Kháng chiến toàn quốc, Phạm Khuê cùng gia đình chị và các chị, em, cháu tản cư về làng Tràng Cát, thuộc Ba La Bông Đỏ, Thường Tín Hà Đông. Sau đó, đưa gia đình về làng Vạn Lộc, Xuân Trường Nam Định. Rồi tiếp tục tìm trường đã chuyển đến địa điểm mới và tiếp tục học. Từ đấy, Phạm Khuê tham gia kháng chiến, cứu chữa cho thương binh, gia nhập quân y, đến năm 1954, về lại Hà Nội thăm chị cả, thì đã ở cấp đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, phụ trách một viện quân y ở Thanh Hóa. Vợ, cũng là đồng đội. Và ông đã được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ.

Sau khi chuyển về công tác tại trường đại học y Hà Nội và bệnh viện Bạch Mai, Phạm Khuê làm chủ nhiệm bộ môn Nội, rồi từ những năm đầu thập kỷ 1980, ông đề xuất thành lập khoa bệnh riêng cho người cao tuổi, tiền thân của Viện Lão khoa quốc gia Việt Nam và làm viện trưởng đầu tiên của viện, cũng làm chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Phạm Khuê là người con đầu tiên vô Huế, tìm và viếng mộ Thượng Chi – Phạm Quỳnh.

Ông được phong Nhà giáo Nhân dân và đã trúng cử đại biểu quốc hội khóa X của tỉnh Hải Dương – quê cha với số phiếu cao nhất đơn vị bầu cử số I, đạt tỷ lệ 86,11% trong 332.921 cử tri đã tham gia bỏ phiếu. Phạm Khuê là Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam  từ năm 1958.

Bài chúng tôi dăng sau đây đã đăng trên các trang 6 và 7 báo Sức khỏe và Đời sống số 528, tháng 2.2009.

—o0o—

Trong toàn bộ cuộc đời gần 50 năm làm nghề y của tôi, có 2 người mà tôi rất kính trọng và có ảnh hưởng rất nhiều đối với tôi từ kiến thức chuyên môn, nhân cách, tác phong đến phương pháp tư duy, đối nhân xử thế…Đó là GS. Đặng Văn Chung và GS. Phạm Khuê. Tôi mãi mãi nhớ tới họ.

BẬC THẦY VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ PHONG CÁCH GIẢNG DẠY

Trong sự nghiệp đào tạo của Nhà giáo nhân dân, GS.Phạm Khuê, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Nội của Trường Đại học Y Hà Nội, có thể nói về số lượng là không thể tính xuể, không biết bao nhiêu sinh viên, bao nhiêu tiến sĩ, bao nhiêu thạc sĩ, bác sĩ (BS) nội trú, bao nhiêu BS chuyên khoa I, chuyên khoa II… Nhiều người trong số họ, nay đã trở thành Giáo sư, Phó giáo sư lãnh trách nhiệm chủ chốt trong ngành Y. Những người đó dù ở cương vị nào, học trò cũ đã lâu hay mới đều nhắc đến giáo sư với tấm lòng ngưỡng mộ, đều coi giáo sư là một người thầy hoàn hảo, hoàn hảo về nhân cách, về phương pháp sư phạm, về phong cách giảng dạy… Thầy thường nói với tôi: giảng dạy là một công việc nhọc nhằn, nghiêm túc, không thể dễ dãi qua loa được. Cho nên mỗi khi giảng một bài lý thuyết hay một bài giảng lâm sàng, thầy đều chuẩn bị rất kỹ có khi cả tuần hoặc cả tháng. Điều quan trọng là phải có cái mới dù ít dù nhiều, nếu không thì mình chỉ là chiếc máy quay đĩa, quay đi quay lại không hơn không kém. Muốn vậy cần phải đọc, đọc thật nhiều, rồi ghi chép lại, chụp hình. Việc đó ở ta vào thời của thầy là hết sức khó khăn, có khi còn phải chụp hình màu nữa, lại càng khó khăn hơn, mặc dù vậy, thầy vẫn phải chuẩn bị đầy đủ ở mức tối đa để bài giảng được sinh động hấp dẫn.

Có lần tôi được cử cùng thầy chấm thi tốt nghiệp BS cho sinh viên về môn Nội khoa. Khi kết thúc buổi chấm, tôi và thầy ngồi lại ít phút trò chuyện vui. Trong lúc trò chuyện, thầy hỏi tôi: nếu là bộ đội, anh thích làm pháo binh hay công binh. “Pháo binh tất nhiên là oai hơn công binh rồi”, tôi trả lời. Ấy vậy mà hôm nay tôi thấy thầy là một người lính công binh, chứ không có chút mùi thuốc súng nào của lính pháo binh. Thầy giải thích thêm: nhiệm vụ lính công binh là mở đường cho xe qua, đối với sinh viên cũng vậy, ta phải mở đường cho họ có lối thoát, nếu ta lại là anh lính pháo binh chắn mọi đường thì sinh viên nào thoát nổi, riêng tiếng nổ cũng đã làm cho họ hoảng hốt rồi. Trong giảng dạy cho sinh viên, không những thầy tận tình, mẫu mực thị phạm mà còn là người giảng rất thực tế, không cao xa viển vông. Trong hỏi thi và kiểm tra cũng vậy, thầy chỉ hỏi những gì mà các em đã được dạy và được học, không đòi hỏi kiến thức cao xa mà ít gặp trong thực tế, không đòi hỏi sinh viên phải bằng mình. Thầy còn là một nhà sư phạm mẫu mực, các bài giảng của thầy đều dễ hiểu, dễ áp dụng, chỗ nào cần nhấn mạnh phải nhấn mạnh. Thầy thường nói với tôi: giảng bài cũng giống như chơi đàn vậy, có lúc lên bổng xuống trầm, lại có cả điệp khúc nữa, tất nhiên là không thể hát trên bục giảng được. Không nên giảng đều đều, đó là điều tối kị.

Trong nhà thầy tài sản quý giá nhất, nhiều nhất cũng là những tủ gỗ đầy ních sách báo, chung quanh tường phòng ông làm việc toàn sách là sách, chất từ mặt sàn lên đến đụng trần nhà. Thầy thường tâm sự với tôi, đọc sách là một nhu cầu, một thói quen hằng ngày không thể thiếu được, còn quan trọng hơn cả ăn, ngủ. Thầy nói thêm, tất nhiên mình già rồi, thời oanh liệt đã trôi qua, bây giờ chỉ là thời “liệt” nên không còn thú vui nào khác nữa. Một ngày không đọc thì không chịu được, mỗi ngày phải thu nhận được một cái gì đó mới đối với mình. Đọc đã trở thành niềm say mê, là tình yêu, là nỗi nhớ, là hạnh phúc của mình. Hình phạt nặng nhất với mình là không được đọc sách.

Theo thầy, đầu tiên là phải đọc để biết người ta làm gì, làm đến đâu. Sau đó mới nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc điều trị. Những kiến thức khi còn đi học trong nhà trường rất ít ỏi, chỉ là một ốc đảo nhỏ để từ đó ta nhảy vào biển cả mênh mông của kiến thức nhân loại. Không thể hình dung được một người không đọc hoặc ít đọc sách báo mà lại có thể làm tốt giảng dạy, nghiên cứu khoa học và điều trị bệnh nhân được, người đó nhất định sẽ tụt hậu như người xuống dốc không phanh. Đọc chính là chìa khóa, là cái phanh ngăn người ta tụt dốc và thúc đẩy người ta tiếp tục đi lên.

TRÁI TIM NHÂN HẬU VÀ ĐẦY CHẤT NGHỆ SĨ

Trong mấy chục năm làm việc với GS. Phạm Khuê, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ ân cần, chân thành. Tôi nhận thấy ở thầy một con người khiêm tốn, điềm đạm, hóm hỉnh và dí dỏm, thận trọng, mẫu mực thị phạm trong tất cả các mặt như: cư xử, giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng như công việc cứu chữa bệnh nhân. Tôi chưa bao giờ thấy thầy tỏ ra kiêu căng, hách dịch, coi thường người khác. Thầy thường nói với tôi: mình muốn người ta tôn trọng mình, thì mình phải tôn trọng người ta, hãy đến với mọi người bằng cả tấm lòng và trái tim mình, rồi thầy lại hóm hỉnh nói thêm vào: “Tôi nói đến trái tim không phải vì tôi là chuyên gia tim mạch đâu nhé, hơn nữa trái tim tôi nó cũng bé nhỏ thôi, không to bằng những người khác được”. Thầy rất ghét thói ba hoa, huênh hoang, khoe khoang, khoác lác, thổi phồng thành tích để được khen thưởng, mình làm việc đâu có phải để được khen.

Khối kiến thức khổng lồ từ sách vở kết hợp với bề dày kinh nghiệm trong thực tế của mình, thầy đã cho ra đời gần 70 công trình nghiên cứu khoa học, trong đó 2/3 là những đề tài về người cao tuổi, trên 20 đầu sách về bệnh học người cao tuổi. Trong nghiên cứu khoa học, thầy là người hết sức nghiêm túc và khách quan, hầu hết những công trình nghiên cứu khoa học và những cuốn sách của thầy đều nhằm phục vụ cho việc chăm sóc, nâng cao và bảo vệ sức khỏe người cao tuổi. Không biết bao nhiêu người bệnh đã được thầy chữa chạy với tất cả lương tâm và trách nhiệm, cũng như sự thông cảm chia sẻ. Thầy thường nói, điều trị cho người cao tuổi khó hơn cho những lứa tuổi khác, cần phải thông cảm thấu hiểu nỗi đau của họ.

Có một lần bộ môn Nội tổ chức liên hoan, đến phần văn nghệ thầy xung phong đầu tiên với chiếc phong cầm đeo trước ngực, không cần ai giới thiệu, thầy nói: “Ca sĩ “Thúy Khuê” xin cống hiến một bài, xin mọi người cố gắng lắng nghe”. Mọi người cười rộ lên về cái tên Thúy Khuê, buổi liên hoan trở nên hết sức vui nhộn. GS. Phạm Khuê không những là một thầy giáo mẫu mực thị phạm, một thầy thuốc nhân từ, tận tụy mà còn là một nghệ sĩ chơi đàn phong cầm rất hay, mọi người rất khâm phục, Cái tính cách hóm hỉnh dí dỏm của ông đã xóa đi sự ngăn cách giữa người thủ trưởng và nhân viên, giữa thầy với trò. Thầy luôn sống chan hòa với mọi người nên ai cũng quý mến. Tôi không hề nghe thấy một ai phàn nàn về cách đối nhân xử thế của thầy.

GS. Phạm Khuê là người đầu tiên đề xuất thành lập một khoa bệnh riêng cho người cao tuổi ở bệnh viện Bạch Mai ngay từ những năm đầu của thập kỷ 80, mà sau này là Viện Lão khoa quốc gia Việt Nam ngày càng vững mạnh và phát triển, niềm tin của những người cao tuổi

N.K.T.

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết – Con dâu học giả Phạm Quỳnh, là người đặt nền móng xây dựng khoa Giáo dục Mầm non

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:38 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu tuần 3 tháng 11 năm 2014.

PGS.TS NGUYỄN ÁNH TUYẾT – Con dâu học giả Phạm Quỳnh,

là người đặt nền móng xây dựng khoa học Giáo dục Mầm non

Linh Thi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là toàn văn bài của Linh Thi, đăng trên Bản tin Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 32 (5,6,7/2009) trên các trang từ 40 đến 43, vốn có nhan đề là PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết người đặt nền móng xây dựng khoa Giáo dục Mầm non. Nhan đề bài này là của chúng tôi

*

*  *

Cuộc đời mỗi con người đều có một chút duyên – tôi nghĩ vậy – nhờ đó mà được gặp người này, người khác, để rồi tự coi đó là điều may mắn. Nhưng rồi, vì sự nghiệt ngã của thời gian, với qui luật sinh lão bệnh tử, mới ngày nào người đó còn ngồi trò chuyện, nay đã phiêu du trong sự mênh mông im lặng của ý thức, miên man bất tận như một giấc ngủ say. Người ấy mới ngày nào còn ngồi trò chuyện nay đã chia xa vĩnh viễn, người nơi trần thế, người chốn tuyền đài. Mỗi người mất đi là cả một tài sản vô giá không còn nữa. Người ta thường nuối tiếc những điều đã mất. Quả đúng như vậy. Với tôi, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết là một trong những trường hợp đó.

Khi tìm hiểu về giáo dục truyền thống trong các gia đình Việt Nam xưa, đặc biệt là các nhà Nho, các gia đình quan lại, tôi chú ý tới một bài viết của bà Phan Thị Bội Hoàn trên tạp chí Ngày Nay, ký ức về nữ sinh Đồng Khánh một thời. Bài viết điểm mặt các nữ sinh con quan ngày đó mà nay đều thành danh sáng nghiệp. Trong số đó có bà Nguyễn Thị Phương Thảo. Tôi đặc biệt thích thú với chi tiết viết về bà Nguyễn Thị Phương Thảo, con gái cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, khi đó làm Phủ doãn Thừa Thiên – đứng đầu Kinh đô Huế, mà hàng ngày đi học vẫn mặc váy nâu, chân đi guốc mộc đến trường, giữ nguyên gia giáo, nếp nhà. Khi tiếp kiến bà Nguyễn Thị Phương Thảo, nguyên Ủy viên Ban Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bà đã kể lại “ nếp nhà” và chỉ dẫn cho tôi đọc một số tài liệu viết về giáo dục truyền thống trong gia đình của Đạm Phương nữ sử, của PGS. TS Nguyễn Ánh Tuyết. Bà Phương Thảo tâm sự rằng, bà đọc rất nhiều các sách giáo trình đại học hiện nay, nhưng chỉ riêng cuốn giáo trình của cô Nguyễn Ánh Tuyết Giáo dục mầm nonnhững vấn đề lý luận và thực tiễn ( Nxb Đại học Sư phạm – 2006) là bà thấy tác giả dành hẳn phần III một chương dài Gia đình và trẻ thơ viết về giáo dục truyền thống và vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ thơ. Bà khuyên tôi nên đọc cuốn sách này.

Cùng thời gian đó, tôi quan tâm đến vấn đề bạo lực trẻ em trong gia đình. Tôi đã tiếp xúc với một số vị giáo sư đầu ngành về khoa học xã hội để tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp. Nhưng câu trả lời của họ vẫn chưa khiến tôi vừa lòng. Nói một cách khác, nó vẫn chưa trúng vào điểm “tử huyệt”. Chỉ tới khi gặp PGS. TS Nguyễn Ánh Tuyết tôi mới thực sự tìm được câu trả lời thuyết phục nhất. Và qua hai buổi trò chuyện, tôi biết thêm một chút về cuộc sống gia đình cũng như hành trình khoa học của bà. Riêng về gia đình, bà là con dâu của học giả Phạm Quỳnh – một nhân vật lịch sử khá phức tạp – và là vợ của nhạc sĩ Phạm Tuyên – người ghi dấu ấn trong nền âm nhạc Cách mạng Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936 tại xã Đồng Hới, nhưng quê gốc của bà ở xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình cách mạng. Cha mẹ bà người trước người sau đều thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng. Bà được gửi về quê sống với bà ngoại và dì. Sau đó bà được mẹ đón gửi vào ăn học ở trại Thiếu sinh quân Quảng Trị đóng trên đất Hà Tĩnh, rồi đi học trường Phan Đình Phùng. Đang học dở dang thì có người đến đón lên Nghệ An để “sang Trung Quốc học theo tiêu chuẩn con em cách mạng”.

Sau năm 1954, Nguyễn Ánh Tuyết về nước, bà học khoa Toán trường ĐHSP Hà Nội và tốt nghiệp năm 1963. Vừa tốt nghiệp xong, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội Phạm Huy Thông đã đồng ý theo đề nghị của ban lãnh đạo Tổ Tâm lý – Giáo dục học (lúc đó chưa thành lập khoa Tâm lý Giáo dục) là nhà giáo Nguyễn Hữa Tảo (tổ trưởng) và nhà giáo Nguyễn Lân (tổ phó) mở các lớp Tâm lý – Giáo dục học (thường gọi là lớp chuyên nghiệp) cho những sinh viên đã tốt nghiệp các khóa không chuyên về Tâm lý – Giáo dục như khoa Toán, khoa Văn…. trong thời gian học tập là 2 năm để tạo nguồn bổ sung cán bộ giảng dạy cho tổ. Bà Nguyễn Ánh Tuyết tiếp tục theo học chương trình và năm 1965 khoa Tâm lý – Giáo dục học được thành lập, cùng với Nguyễn Thị Đoan, Lê Khanh, Phạm Ngọc Quỳnh vừa tốt nghiệp, Nguyễn Ánh Tuyết là một trong 30 cán bộ giảng viên của khoa. Lòng yêu nghề, yêu thương sinh viên, đồng thời là sự vươn lên trong nghiên cứu khoa học, năm 1979, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ (lúc đó gọi là phó tiến sĩ) trong nước sau biết bao suy nghĩ, tìm tòi, điều tra nghiên cứu tâm lý tuổi thơ đối với Văn học.

Những năm 1980, Đảng và Nhà nước ta coi việc thực hiện chiến lược con người, chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ XXI phải được bắt đầu từ trẻ lọt lòng.

Trong khi cuộc cải cách giáo dục đang tiến hành một cách cấp bách, sôi nổi và toàn diện, với tầm nhìn chiến lược, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thị Bình đã để nhiều tâm huyết chăm lo cho khu vực đào tạo cô giáo mẫu giáo có trình độ sư phạm. Cụ thể là, bà rất quyết tâm trong việc thành lập Khoa Mẫu giáo (nay là Khoa Giáo dục Mầm non) đặt tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược con người đối với trẻ em ngay từ thưở lọt lòng – chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 0 đến 6 tuổi theo khoa học.

Đây là một khoa mới, từ trước tới nay chưa hề có trong các trường đại học sư phạm nước ta, do đó, cần phải chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: nhân sự, mục tiêu đào tạo, chương trình, giáo trình…Là một khoa đào tạo hoàn toàn mới, lần đầu tiên được thành lập ở nước ta, nên chưa có một hình mẫu nào có sẵn, nhưng lại phải thực hiện những nhiệm vụ thật nặng nề: Đào tạo một đội ngũ cán bộ có trình độ đại học về khoa học giáo dục mầm non cho ngành Mầm non trong cả nước mà trước mắt là đào tạo giáo viên cho các trường Trung học Sư phạm Mẫu giáo; góp phần xây dựng nền khoa học Giáo dục Mầm non (khoa học nuôi dạy trẻ trước tuổi đến trường phổ thông) ở nước ta.

Việc làm đầu tiên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội là lập ra một ban để chuyên tâm lo cho việc này, đó là Ban Trù bị thành lập Khoa Mẫu giáo do TS Nguyễn Ánh Tuyết là Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý học Nhân cách, Khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội lúc bấy giờ làm trưởng ban.

Có thể coi đây là thời kỳ trứng nước của Khoa Giáo dục Mầm non. Nhân sự lúc đó chỉ có 4 người: PTS Nguyễn Ánh Tuyết cùng với hai cán bộ của khoa Tâm lý – Giáo dục là Đặng Trí Dũng , Trịnh Dân và một chuyên viên của Cục Đào tạo – Bồi dưỡng của Bộ Giáo dục là Lê Thị Ninh. Đến năm 1983, có thêm một số sinh viên mới tốt nghiệp bằng đỏ về giáo dục tiền học đường từ Liên Xô.

Với “hai bàn tay trắng” mà phải gây dựng nên cơ nghiệp của một khoa mới ở một trường đại học sư phạm là một công việc cực kỳ khó khăn với biết bao công việc mới mẻ

Để có hướng đi đúng đắn, Ban Trù bị thành lập khoa Mẫu giáo đã tổ chức các cuộc hội thảo khoa học bàn về việc thành lập khoa Mẫu giáo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội với nhiều vấn đề trọng yếu như mục tiêu, chương trình đào tạo, các bước đi. …Năm 1983, một hội thảo với sự có mặt của nhiều nhà khoa học quan tâm đến trẻ em như: GS Tạ Quang Bửu, GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn, nhà văn hóa – tâm lý học Nguyễn Khắc Viện. GS.TS Hà Thế Ngữ, PGS.TS Phạm Hoàng Gia, GS.TS Lê Quang Long , GS Nguyễn Đình Chú , GS. TS Đặng Vũ Hoạt… được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội để định hướng cho việc thành lập khoa Mẫu giáo.

Đến tháng 9 năm 1985, chương trình đào tạo của khoa Mẫu giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội được Hội đồng nghiệm thu của Bộ giáo dục do  PGS Đỗ Bình Trị – Cục trưởng Cục Đào tạo – Bồi dưỡng làm Chủ tịch, đánh giá xuất sắc. Chương trình đào tạo của Khoa Mẫu, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được chính thức thực hiện ngay từ khóa đào tạo đầu tiên (1985) và trở thành một tài liệu tham khảo quý giá cho việc xây dựng chương trình đào tạo của các trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo trên toàn quốc.

Khi mọi công tác chuẩn bị về chuyên môn đã được triển khai tốt, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã chỉ thị cho ông Hà Sĩ Hồ – Cục trưởng Cục Đào tạo – Bồi dưỡng giáo viên, chọn cử chủ nhiệm khoa Mẫu giáo. Ông Hà Sĩ Hồ đã nhiều lần trao đổi với bà Nguyễn Ánh Tuyết, nhưng bà đã từ chối vì muốn ổn định công tác lâu dài tại khoa Tâm lý – Giáo dục. Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình thấy vậy đã trực tiếp tới nhà riêng bà Nguyễn Ánh Tuyết ở khu tập thể (Trung Tự hay Khương Thượng, tôi không nhớ rõ, chứ không phải khu tập thể N2 – Vạn Bảo hiện nay), thuyết phục. Cảm động trước sự quan tâm của bộ trưởng đối với sự nghiệp giáo dục mầm non và sự quan tâm đối với cá nhân mình, bà Ánh Tuyết đã nhận lời về xây dựng khoa Mẫu giáo.

Sau năm năm thai nghén công phu, vất vả, khoa Mẫu giáo của trường Đại học Sư phạm I Hà Nội đã khai giảng vào ngày 22/11/1985, do PTS Nguyễn Ánh Tuyết làm chủ nhiệm khoa. Năm học 1985 – 1986, đã mở ra một thời kỳ mới mang dấu ấn lịch sử đối với sự nghiệp đào tạo giáo viên mầm non có trình độ đại học mẫu giáo đầu tiên ở nước ta.

Phương châm đào tạo của khoa Giáo dục Mầm non là: cơ bản, Việt Nam, hiện đại, gắn lý thuyết với thực hành, “lấy trẻ làm trung tâm”. Khoa đã cố gắng giúp các nhà khoa học “hóa thân” vào trẻ em, từ đó mà tìm ra những “chất dinh dưỡng” cần thiết cho sự phát triển của trẻ thơ.

Ở khóa đầu tiên, người thực hiện chương trình đào tạo là những cán bộ của khoa Giáo dục Mầm non, họ còn quá trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề, nhưng lại có chỗ dựa thật vững chắc, đó là các giáo sư, các nhà khoa học của các khoa “đàn anh” trong trường.

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết trong bài viết Một mầm non trên cây đại thụ nhớ lại:

“Ngay trong bước đi chập chững ban đầu của mình, khoa Giáo dục Mầm non đã may mắn được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều giáo sư và nhiều nhà khoa học như: GS Tạ Quang Bửu, GS Nguyễn Cảnh Toàn, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, GS Lê Quang Long, GS Trần Kiên, GS Hoàng Xuân Sính, GS Nguyễn Bá Kim, GS Đỗ Hữu Châu, GS Nguyễn Đình Chú, GS Đặng Thanh Lê…. Và nhiều cán bộ giảng dạy lâu năm của trường đã giúp đỡ ý kiến trong chương trình và trực tiếp giảng dạy cho sinh viên. Đối với các giáo sư, các nhà khoa học, thì đây không phải là việc dễ dàng, không phải chỉ là sự thu gọn và đơn giản hóa các bộ môn khoa học đã dạy ở các khoa mà là một sự chọn lọc, tinh luyện, nhào nặn để trở thành những khoa học cho sự phát triển của trẻ em, khác nào sự tinh chế thức ăn, để trở thành sữa mẹ vậy. Trẻ em rất cần tiếp xúc với nền văn hóa của dân tộc và nhân loại nhưng đó là những văn hóa đã được tinh chế cho phù hợp với sức tiếp thu của tuổi ấu thơ. Muốn làm được việc đó, khoa Giáo dục Mầm non không phải chỉ biết khai thác tri thức sâu rộng của các nhà khoa học như khai thác mỏ quý mà còn phải tự nâng mình lên để có thể sử dụng vốn quý đó phù hợp với yêu cầu của mình. Hơn thế nữa, khoa Giáo dục Mầm non đã phải làm một việc phạm thượng, tức là “Mầm non hóa các nhà khoa học.”

Do lòng yêu thương con trẻ và trách nhiệm cao đối với việc đào tạo thế hệ mầm non cho đất nước, các vị đã sẵn lòng đến với khoa Giáo dục Mầm non, chẳng khác gì trong hoàn cảnh một gia đình nghèo, các anh chị lớn phải ăn ngô, ăn khoai trong khi đó lại nhường cho em nhỏ trong nhà được ăn gạo, thịt, cá.

Mầm non đã ra đời tuy lúc đầu còn yếu ớt nhưng nó được mọc trên một thân cây đại thụ nên ngày càng tỏ ra sung sức, khỏe khoắn, đủ sức để trở thành một cành vững chắc trên cây đại thụ Đại học Sư phạm Hà Nội”.

Năm 1992, khoa Mẫu giáo đổi tên thành khoa Giáo dục Mầm non và bắt đầu đào tạo cử nhân khoa học hệ chính quy. Chương trình đào tạo chuyển thành bốn năm, dần hòa nhập với chương trình đào tạo của các khoa khác trong trường Đai học Sư phạm Hà Nội.

Đào tạo cán bộ cho ngành học Giáo dục Mầm non có trình độ cao (thạc sĩ và tiến sĩ) là sự quan tâm đặc biệt của Khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong suốt quá trình xây dựng và phát triển.

Việc đầu tiên cần đặt ra là phải xây dựng chương trình và chuẩn bị đội ngũ cán bộ đào tạo sau đại học. Bắt tay chuẩn bị đào tạo (1994), khoa Giáo dục Mầm non mới có ba giảng viên có học vị cao (PGS.PTS Nguyễn Ánh Tuyết, PTS Ngô Công Hoàn, PTS Đào Thanh Âm), số còn lại đang đồng loạt làm nghiên cứu sinh. Để có được đội ngũ cán bộ đào tạo sau đại học, khoa Giáo dục Mầm non đã tập hợp các nhà khoa học chuyên ngành có học hàm, học vị trong và ngoài trường Đại học Sư phạm Hà Nội là: PTS Ngô Công Hoàn, PTS Đào Thanh Âm, PGS. PTS Nguyễn Ánh Tuyết, GS.PTS Trần Bá Hoành, GS. TS Nguyễn Bá Kim, PGS Trần Trọng Thủy, PGS.PTS Nguyễn Quang Uẩn, PGS.PTS Nguyễn Thạc, PTS Ngô Hiệu, PTS Trần Thị Trọng , PTS Lê Thị Ánh Tuyết… để xin trường và Bộ Giáo dục – Đào tạo cho mở mã ngành đào tạo sau đại học. Các nhà khoa học tham gia làm chương trình và đào tạo.

Với những thành tích to lớn đạt được cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo cả nước, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập khoa Giáo dục Mầm non, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho tập thể khoa Giáo dục Mầm non.

Trở lại với đời riêng của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết. Sang Trung Quốc, Nguyễn Ánh Tuyết sống và học tập ở Khu học xá Trung ương Nam Ninh. Tại đây, “một cô bé lang thang từ vùng chiến sự Quảng Bình ra Hà Tĩnh, Nghệ An( Khu Tư) rồi được sang học tập tại Khu học xá Trung ương đã gặp gỡ, yêu thương anh đại đội trưởng trường Thiếu sinh quân Việt Nam (năm 1951 trường Thiếu sinh quân Việt Nam dời sang Quế Lâm để có điều kiện ăn học tốt hơn, và trở thành trường Thiếu nhi Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục). Đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên sau này. Năm 1957, bà trở thành hậu phương vững chắc của ông. Họ sống hạnh phúc bên nhau: người này là điểm tựa cho người kia vươn lên trong sự nghiệp và cuộc sống vốn không ít sóng gió. Ông bà có hai con gái, hai con rể, ba cháu ngoại. Năm 2008, khi tôi được gặp, bà vừa hướng dẫn nghiên cứu sinh, vừa viết sách (do GS.VS Phạm Minh Hạc chủ biên) và đang gấp rút thực hiện hoàn thành bản thảo hồi ký. Cuối năm 2008, bản hồi ký hoàn thành chẵn 200 trang giấy A4 mang tên: Chúng tôi đã sống như thế.

Hai ngày được trò chuyện cùng bà, tôi được phép sử dụng máy ghi âm. Nhờ vậy tôi đã giữ lại được giọng nói của bà. Bây giờ, khi đang ngồi viết bài này, tôi mở máy ghi âm ra nghe lại giọng nói ấy. Tôi thấy khó có thể tin nổi bà đã từ giã cuộc đời này, dù đó là sự thật. Bà ra đi giữa lúc tôi đang tập trung cho kỳ thi tốt nghiệp đại học, chỉ đến khi xem trang 8 báo Nhân Dân ngày 12/5/2009. Mục Tin buồn, có tên bà, tôi lặng đi…(Bà mất ngày 11/5/2009 – PT chú).

L.T.

Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 11 năm 2014.

 Tại cuộc toạ đàm về Phạm Quỳnh ở Huế (30/8/2012)

Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

 Nhà văn Tô Nhuận Vỹ

Lời dẫn của Phạm Hữu Thanh Tùng: Phạm Quỳnh – một góc nhìnlà công trình nghiên cứu, biên khảo nghiêm túc của Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một người con ưu tú của xứ Huế, đang sống và làm việc ở Hà Nội. Tác phẩm được nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép và ấn hành quý 3/2011. Cuốn sách khá dày dặn, gần 300 trang khổ 13×19, tư liệu phong phú, chân thực và khách quan, được đông đảo độc giả đón nhận, dư luận đánh giá cao. Đúng một năm sau, quý 3/2012, tác giả tiếp tục cho mắt tập 2, dày hơn 300 trang, cũng do nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép.

Như một sự chia xẻ, và có cả lòng tri ân với tác giả Nguyễn Văn Khoan, được sự đồng thuận của Thường trực Hội đồng toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, được sự hỗ trợ nhiệt thành của Trung tâm Du lịch Trải nghiệm Huế xưa – Huế nay, Thường trực Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và gia đình tác giả tổ chức ra mắt tác phẩm Phạm Quỳnh – một góc nhìn, tập 2.

Đến dự buổi ra mắt tác phẩm có ông Phạm Minh Thông, đại diện Thường trực Hội đồng họ Phạm Việt Nam. GS-TS Phạm Như Thế, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và các vị trong Thường trực Hội đồng. Các vị đại diện Thường trực Hội đồng Nguyễn Phước tộc, Hội đồng họ Trần, họ Lê, họ Phan, họ Thân, họ Vũ – Võ… Ông Phạm Quốc Dũng, Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ. Bà Phạm Thị Bích Thuỷ, Thường trực Hội đồng Nhân đân tỉnh. Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, sở Thông tin-Truyền thông, sở Văn hoá Thể thao – Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế. Các nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá tiêu biểu của Huế. Ông Nguyễn Phúc Vĩnh Mẫn, đại diện cho tác giả Nguyễn Văn Khoan. Phóng viên  HVTV, TRT, VTV4 và các báo Tiền Phong, Thanh Niên, Đại Đoàn Kết, Văn Hoá. Đặc biệt có sự hiện diện của nhạc sĩ Phạm Tuyên, đại diện gia đình cụ Phạm Quỳnh, nhân vật của tác phẩm.

Do công việc bất khả kháng nên tác giả Nguyễn Văn Khoan và GS Đinh Xuân Lâm không vào được, hai ông đã uỷ nhiệm một người bạn là ông Vĩnh Mẫn đến dự và đọc bài giới thiệu tác phẩm của GS Đinh Xuân Lâm.

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ, người suốt 30 năm qua canh cánh một nỗi lòng với Vùng sâu. Với cụ Phạm Quỳnh, anh Tô Nhuận Vỹ cũng có một niềm sâu thẳm…

—o0o—  

          Đã có quá nhiều bài viết, nhiều dẫn chứng sinh động, cả trong nước và nước ngoài, và ngay ở cuốn sách của tác giả Nguyễn văn Khoan, về sự đóng góp của Phạm Quỳnh cho Văn hóa Việt nam. Tôi chỉ xin đi thẳng vào vấn đề cụ thể.

          1 Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh?

             Khi mà

           + Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều cuộc kỷ niệm về Phạm Quỳnh, đã có nhiều Nhà xuất bản đã in lại nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh sau năm 1975… khẳng định sự đóng góp to lớn của Phạm Quỳnh đối với sự gìn giữ, phát huy nền Quốc ngữ, nền văn học văn hóa dân tộc.

          + Ai cũng biết, băn khoăn còn lại, tựu trung là Phạm Quỳnh đã từng trực tiếp hợp tác với Pháp (Từ Nam Phong cho đến việc tham chính ở cấp cao nhất của chính quyền do Pháp lập nên).

          2 Với điều băn khoăn này, suy nghĩ của tôi là:

          + Lịch sử đất nước ta liên tục bị các thế lực lớn mạnh bên ngoài chế áp, xâm chiếm. Lực lượng tiên tiến nhất, quyết liệt nhất của nhân dân yêu nước là cầm súng chiến đấu, nhưng không phải tất cả nhân dân yêu nước đều ra Liên phòng, lên chiến khu, lên R. Nhiều người phải ở lại vùng địch, buộc phải liên quan tới địch, thậm chí làm cho địch. Nhưng không phải tất cả những người ở lại đó đều không yêu nước, đều theo địch. Bác Hồ còn nói “yêu nước tùy theo sức của mình”. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn là cực khó, không phải ai cũng làm được. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chỉ rõ: không phải chỉ có những người cộng sản mới yêu nước. Sự giỏi giang nhất là người cộng sản đã tập họp được cả những người không ưa Cộng sản mà cũng tập hợp trong mặt trận chống Mỹ, đến cả tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn cũng có hành động có lợi cho Cách mạng. Đó chính là tầm nhìn Hồ Chí Minh trong việc đãi cát tìm nhân tài, trong việc đoàn kết dân tộc, đặc biệt trong việc đối xử với các nhân vật lớn mà cả “địch” và “ta” đều chú ý.

       Với Phạm Quỳnh, Bác Hồ đã thảng thốt khi nghe tin ông bị giết.

      “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được ích lợi gì?” (Sách Phạm Quỳnh, Một góc nhìn, trang 280).Hỏi là đã trả lời, khẳng định: Phạm Quỳnh là một học giả và việc xử như vậy là sai lầm.

        Với tầm nhìn đổi mới ấy, trong những năm qua, mặt bằng dân trí cũng như mặt bằng lãnh đạo đã có những thay đổi lớn trong việc thẩm định nhiều giá trị văn hóa. Chúng ta đã trả lại đúng giá trị cho Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, một số tác giả nhóm Nhân văn giai phẩm, cho Léopold Cadière… Tôi muốn nhắc lại trường hợp L.Cadière. Ông là linh mục được dòng chính thống Paris bổ nhiệm, theo chân đoàn quân thực dân Pháp đi truyền giáo xứ An Nam. Nhưng trên mảnh đất này, tâm hồn con người và đầu óc bác học của ông đã được “khai sáng”. Ông trở thành một nhà bác học lớn về xã hội học, dân tộc học, địa chất học, ngôn ngữ học, sinh vật học… của Việt Nam mà bao chục năm trời vì vấn đề chính trị (không phải là vô lý) mà chúng ta “quên” đi sự đóng góp vĩ đại của ông. Vừa qua, cuộc hội thảo đánh giá sự nghiệp của ông đã được tổ chức long trọng, chu đáo, trong ba ngày liền tại Huế đã chứng minh cho sự đúng đắn của tầm nhìn sáng rỡ này.

         3 Kết luận

         Khái niệm “địch”, “ta”, “bên này” “bên kia” trong nhiều trường hợp phải hết sức cẩn trọng, trong đó yếu tố thời gian lịch sử nếu bỏ qua sẽ “là Acid Sunfuric phá hủy hết mọi giá trị”, như J.P.Sartre đã nói.

        Cách nay hơn 30 năm, tôi có tiểu thuyết Ngoại ô, viết về cuộc sống của một vùng ngoại ô Huế sau giải phóng. Trong cuốn sách này có sự xung đột gay gắt giữa tư tưởng Ai không theo ta là địch với tư tưởng Ai không theo địch là ta. Cuối cùng tư tưởng Ai không theo địch là ta thắng thế.

         Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ, với nhiều lý do chính xác, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng lớn lao cho Văn hóa dân tộc của Ông.

                                                                                     Huế ngày 30/8/2012

T.N.V.

——————————

Theo Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội Nhà Văn – 1997) thì

TÔ NHUẬN VỸ, nhà văn

*Tên khai sinh: Tô Thế Quảng, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1941. Quê gốc: Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Hiện (1997) là Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp đại học Sư phạm ngành văn, sử. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1976).

* Từ năm 1960- 1964, Tô Nhuận Vỹ học và tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tiếp đó, từ 1964 – 1965, dạy văn ở cấp III Hậu Lộc – Thanh Hóa. Ông là phóng viên báo Cờ giải phóng Thừa Thiên – Huế (phụ trách cơ sở nội thành), cán bộ biên tập tạp chí Văn nghệ Trị Thiên – Huế, trong thời gian 10 năm (1965-1975). Từ năm 1976-1985, Nhà văn là Ủy viên thường vụ, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình – Trị-Thiên. Năm 1986-1990, ông giữ chức vụ Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Phó Chủ tịch hội rồi Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình-Trị-Thiên. Từ năm 1991 đến nay, ông là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình-Trị-Thiên, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên-Huế, Ủy viên ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt nam (khóa 4), Ủy viên Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 5). Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế.

* Các tác phẩm đã xuất bản: Người sông Hương (1970); Em bé làng chài (tập truyện ngắn, 1971); Làng thức (tập truyện ngắn, 1973); Dòng sông phẳng lặng (tập 1, tiểu thuyết, 1974, tái bản, 1975); Dòng sông phẳng lặng (tập 2, tiểu thuyết, 1977); Dòng sông phẳng lặng (tập 3, tiểu thuyết, 1981); Ngoại ô (tiểu thuyết, 1982); Phía ấy là chân trời (tiểu thuyết, 1988).

- Nhà văn đã nhận những giải thưởng văn học: Huy chương “Vì thế hệ trẻ” của Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (sau trọn bộ 3 tập Dòng sông phẳng lặng, năm 1983). Giải thưởng loại A của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bình-Trị-Thiên cho tiểu thuyết Ngoại ô. Giải thưởng “Cố Đô” hạng A cho tiểu thuyết Phía ấy là chân trời. Tặng thưởng truyện ngắn hay trong năm 1969 của báo Văn nghệ cho truyện ngắn Chuyến tuần tra đầu tiên. Tặng thưởng truyện ngắn hay nhất trong 100 số báo Văn nghệ giải phóng trao trong năm 1976, cho truyện ngắn Khoảng trời màu xanh.

* Tác giả Tô Nhuận Vỹ tâm sự: “Công hiến của tôi cho đến nay đối với văn học là bình thường. Lẽ ra tôi có thể có sự cống hiến khác hơn cho quê hương tôi và cho văn học, nhưng công việc hành chính, sự vụ đã bẻ vụn thời gian và bẻ vụn tất cả năng lực của tôi ra. Tôi đang tìm cách để thoát khỏi cái “trận đồ bát quái” này.

Những suy nghĩ của tôi về cuộc đời, về văn học? Xin hiểu tôi qua các tác phẩm mà tôi đã viết và sắp ra mắt bạn đọc, tôi không muốn nói những điều “cực kỳ” mà những điều mình đã viết và sẽ viết ra biết đâu lại “tầm thường””.

Tháng Mười Một 23, 2014

Phạm Quỳnh Nặng Lòng với Quốc Phục

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:57 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 11 năm 2014.

PHẠM QUỲNH

NẶNG LÒNG VỚI QUỐC PHỤC

Dã Thảo

“Sau phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược, những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX bước vào thế kỷ XX, thời kỳ Hoc tro chu Taybình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lòng yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam vẫn bùng lên mạnh mẽ dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước với các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế…

(…) Khi Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa, thì bộ mặt xã hội đã biến đổi (…) Rồi trong thực tế, một lớp người mới đã xuất hiện làm thông ngôn, ký lục, bồi bếp hay lái xe cho quan Tây (…) tiếp thu nhanh chóng văn minh phương Tây: nói tiếng Tây, mặc đồ Tây và hớt tóc ngắn. (…) đã xuất hiện bóng dáng của cậu học trò “học chữ Tây” với chiếc bình mực lủng lẳng nơi ngón tay – thay thế cho cái nghiên ngày trước – và cái ô đen cắp trên nách”. (Trích bài Một vài hình ảnh của Hà Nội buổi giao thời đầu thế kỷ XX của Nguyễn Mạnh Hùng, trang 22-24, tạp chí Xưa và Nay, số 418 tháng 12 năm 2012).

Phạm Quỳnh sinh năm 1893, thời đi học trường tiểu học Pháp Việt, khi đi mít tinh đòi cho tiếp tục mở cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục phố Hàng Đào của cụ Cử Can chỉ mới 15 tuổi, nên bị Tây bắt giam một ngày một đêm rồi cũng thả vì còn vị thành niên. Hồi học trường Thông Ngôn ở Bờ Sông, và cả khi vào Trường Bưởi, rồi trở thành thủ khoa đầu tiên của trường Trung học Bảo hộ này, cũng vẫn đánh bộ quốc phục, áo dài khăn đóng. Cả khi là nhân viên trợ lý Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ, đồng sự của Nguyễn Văn Tố, tất nhiên cũng vẫn bộ quốc phục như Nguyễn Văn Tố. Ông chủ bút trẻ tạp chí Nam Phong chẳng những mặc quốc phục mà còn giữ cả búi tó củ hành nhỏ xíu như trong giấy căn cước làm năm 1918, sau khi Nam Phong ra đời một năm. Mãi đến năm 1922, trước khi đi Pháp dự khánh thành Đấu xảo thuộc địa ở Marseille, “Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ.” (Trang 95 Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004). Và tất nhiên là cũng cắt đi cái búi tó củ hành. Sang Pháp, ông mới thường mặc Tây, chỉ vì: “Mình sang đây là để xem người, khônTruong Buoig phải cho người xem mình” (Sách đã dẫn, trang 95), chứ thực lòng ông vẫn thapham quynh_tre thiết với quốc phục, nặng lòng với quốc phục. Điều này thể hiện rõ nhất trong chuyến đi Pháp của ông năm ấy.

Thứ bảy 13 tháng 5 năm 1922 (ở khách sạn Terminus, Lyon), Phạm Quỳnh ghi: “những đồ quần áo trong hòm cũng không dùng đến, vì phần nhiều là quần áo An Nam cả, khi ở nhà đi, tưởng sang bên này cứ giữ quốc phục, sang đến đây mới biết rằng không tiện. Mình sang đây là để xem người, không phải cho người xem mình; như vậy mà cứ thướt tha như anh lễ sinh, đi nghênh ngang ngoài đường phố, thời khác nào như làm một cái vật “đấu xảo” giong đường cho người quý quốc xem, nghĩ nó cũng dơ dáng dạng hình quá! Bởi thế nênPham Quynh - Nguyen Van To từ ngày tới Pháp đến giờ, phải bận Âu phục luôn, trừ những khi dự các hội tiệc thời mặc quốc phục cho trọng thể. Còn nhớ mấy ngày đầu mới ăn mặc Tây, rõ phiền quá. Tôi bắt đầu thử mặc Tây tự Sài Gòn đi, để tiện xuống chơi các bến tàu đỗ. Hôm xuống Tân Gia Ba là ngày mặc Âu phục lần thứ nhất: hôm ấy trời lại nóng nực, mình quen mặc rộng rãi thênh thang, bây giờ bó buộc như thằng hình nhân, lấy làm khổ quá; nào là quần trong, quần ngoài, nào là áo “sổ mi”, nào là “bờ-lơ-ten”(dây đeo quần – DT chú) ; khổ nhất là đeo cái “phô-côn” (cổ cồn, cổ giả – DT chú) cho ngay ngắn, thắt cái “cà-vạt” cho dễ coi. “Cà vạt” có thứ đã thắt sẵn, chỉ việc cài vào mà thôi; có thứ mình phải thắt lấy. Trước khi mua đã phải hỏi ý các ông sành mặc Tây, ông nào cũng bảo rằng thứ thắt sẵn chỉ để cho các ông già dùng, còn người trẻ phải thắt lấy mới là lịch sự. Nhưng khốn quá, mình tập thắt mãi mà nó vẫn cứ nghiêng vẹo, lệch lạc, xô xếch, răn reo, không thấy “lịch sự” một chút nào cả! Cực nhất là lúc tàu đã đến bến rồi, anh em đợi để lên ăn cơm ở cao lâu trên phố, mà mình ở trong buồng cứ loay hoay thắt với buộc mãi không xong, bấy giờ đỏ mặt tía tai lên, muốn quăng cả đi, nghĩ bụng rằng: “Thôi, chẳng Tây thì đừng Tây, mỗi lần thế này khổ quá”. Sau cũng phải nhờ có tay giúp mới buộc xong. Nhưng mà cho hay muôn sự tại thói quen cả, hôm đầu khó nhọc như thế, đến ngày thứ nhì thứ ba đã thấy dễ rồi; cách một tuần lễ thời buộc cái “cà-vạt”, thấy dung dị (dễ dàng – DT chú) như thường, và soi gương coi đã ra vẻ lắm rồi! Khi đến Marseille thời ngPham Quynh 1918hiễm nhiên như ông Tây “đặc”, tưởng hình như mình vẫn mặc Tây đã mấy mươi năm rồi; không những cách ăn mặc mà dáng bộ cũng hệt: tay bỏ túi quần, tay cầm gậy “can”, không còn ngượng ngập gì nữa. Nghĩ bụng giá bấy giờ cứ thế mà hiện hình về giữa phố Hàng Đào Hàng Ngang Hà Nội thời chắc ai cũng phải cho là một cậu “công tử bột” chân chủng! Lại nghĩ rằng nếu văn mình mà chỉ có thế thôi, thời cũng dễ quá: chỉ mất sáu trăm quan là được cái lốt văn minh như hệt, và theo “mốt” tối tân, các “công tử” nước nhà không sao theo kịp: áo thắt ngang lưng, quần nếp thẳng băng, cổ là bóng nhoáng, giầy sơn đen nháy, lại phủ một miếng da trắng ở trên cho khỏi bụi (thế mới hợp “mốt” năm nay)… Nhưng mà mình vẫn biết đã lâu rằng văn minh không phải ở cái lốt ngoài đó. Chẳng qua là đến đâu phải theo tục đó mà thôi. Nhưng mà có một điều nên biết, là người mình có tính mềm mại, uyển chuyển, không bắt chước người thì chớ đã bắt chước thì cũng chẳng kém gì ai, nhất là về cách ăn mặc, có khi người mình ăn mặc Tây lại còn óng ả riêm rúa hơn nhiều người quí quốc…

Vậy bao nhiêu hành lý để cả Marseille và chỉ đem hai cái vali đựng quần áo Tây với mấy bộ quần áo An Nam để phòng khi dùng đến; còn thiếu cái gì, lên Paris sẽ mua.” (Sách đã dẫn trang 94-97). Trong chuyến Pháp du ấy của Phạm Quỳnh, sự kiện nổi bật nhất là việc ông đăng đàn diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm Pháp. Một việc hoàn toàn do ông tự lo với sự giúp đỡ nhiệt tình, không vụ lợi của những người bạn Pháp mới quen mà đã quí trọPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhng ông. Một dịp may hiếm có để cho giới tinh hoa của nước Pháp là nước bảo hộ, “nước mẹ” hiểu rõ nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam và lòng dân ta quyết bảo vệ nền văn hóa và Tổ quốc ông cha để lại. Chính trong dịp trọng đại, nghìn năm có một đó, Phạm Quỳnh đã suy nghĩ nhiều về quốc phục để rồi hành động đúng đắn và còn có thể nói là dũng cảm nữa. Ông ghi: “Thứ bảy 22 tháng 7: “Sáng nay không đi chơi đâu, chỉ bữa ăn đi một lát, rồi về nghỉ ngơi để sửa soạn ra Hội Hàn lâm. Phân vân không biết mặc Tây phục hay mặc quốc phục. Đã có bộ jaquette, nếu mặc Tây thì cũng tùng tiệm được. Nhưng nghĩ lại, gặp những cơ hội như lúc này mà nỡ bỏ quốc phục đeo Tây phục, thì cũng tủi cái áo cái khăn anh đồ quá; thôi thì cứ mặc An Nam (DT nhấn mạnh), chỉ dẫu đi ngoài phố thiên hạ chỉ trỏ nữa cũng chẳng hề gì.” (Sách đã dẫn trang 330)

“Ngày 22/7/1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà trang trọng, ông (Phạm Quỳnh – D.T chú) “cả gan” trình bày trước Ban Luân Lý Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về Một vấn đề dân tộc giáo dục. Lời nói thật khúc chiết, hùng hồn, tha thiết, bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ Pháp phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Một hiện tượng chưa hề có trong lịch sử viện hàn lâm đầy uy tín này. Báo chí Pháp đương thời đã loan tin lạ này trên trang nhất, đăng lại bài diễn văn, kèm theo là bức ảnh ông mặc áo gấm, bế trong lòng cô con út mới sinh cu be ba Ngoanđược mấy tháng.

(…) “Chống lại chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp đang thi hành ở nước ta, ông dõng dạc nói trước những đại biểu của tinh hoa trí tuệ và lương tâm Pháp hiện diện tại Viện Hàn Lâm Pháp những lời sau và đã được họ tán thưởng hoàn toàn:

“- Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia.” Nhà báo Nguyễn Trung đã viết như thế trong bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta (Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9 năm 2006).”

“Ở Hội Hàn lâm ra, về thẳng đường Saint Germain để nói chuyện cho hai cụ biết. Hai cụ lấy làm mừng lắm. Lại nghe nói khi đọc xong cử tọa có vỗ tay, hai cụ lấy làm lạ, nói xưa nay ít khi như thế, lần này thế là các cụ Hàn có ý biệt đãi khách phương xa lắm đó (DT nhấn mạnh). Hai cụ lại nói rằng các ngài Hàm lâm thường không hay đến hội đồng đông bao giờ, ngay như ở ban Văn học phải làm Tự điển mà mỗi lần cũng chỉ mươi lăm vị là cùng”  (Pháp du hành trình nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004, trang 335).

Sự kiện một người dân thuộc địa lên diễn đàn Viện Hàn lâm mà được vỗ tay khiến các báo đổ xô đến xin bài diễn văn và xin cả ảnh để đăng cho nổi bật. Phạm Quỳnh hồi ấy đã diện đồ Tây xịn đi chơi nhiều nơi với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và chụp khá nhiều ảnh, vậy mà khi ấy, ông lại cho họ cái ảnh mặc áo dài bế con, vợ mới gửi sang: Trong ảnh, ông mặc áo gấm bế bé Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1921, người sau này làm luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và trở thành tiến sĩ của trường Sorbonne danh tiếng ở Paris. Tấm lòng Phạm Quỳnh với quốc phục thật sâu đậm. Pham Quynh 1930 - Truong Thang Long

Ở Hà Nội cũng như sau này về Huế, người ta vẫn thấy mỗi khi ông xuất hiện đều trong bộ quốc phục.

Ngày sinh nhật ngũ tuần của ông bà đồng tuổi nhâm thìn thì ông, bà, con trai, con gái, con dâu, con rể, cho đến các cháu mẹ còn bế trên tay, đều mặc quốc phục. Năm 2006 các bạn ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế) có đăng bài của Phạm Tôn nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà kèm ảnh đại gia đình mừng sinh nhật năm 1942 ấy, thì các bạn ở tạp chí vui mừng báo cho chúng tôi biết là cả toà soạn đều vui, vì năm ấy nước ta đăng cai hội nghị APEC, tất cả các nguyên thủ quốc gia đến dự đều mặc quốc phục Việt Nam, từ Tổng thống Pu-tin đến Bush… Chủ tịch Nguyễn Minh Triết của ta thì mặc quốc phục màu vàng. Thật là một cuộc biểu dương vẻ đẹp quốc phục ta. Sinh nhat 50 tuoi hai cu

Mùa hạ năm 1945 đặc biệt oi bức vậy mà Phạm Quỳnh, vẫn ngồi dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ, viết Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Tất nhiên là mặc quốc phục trang trọng theo lệ của riêng ông khi đọc sách hay viết lách.

Chúng ta may mắn có được bức ảnh năm cuối đời, khi ông tha thẩn ở khuôn viên biệt thự Hoa Đường những ngày ấy. Biet thu Hoa Duong

Thiếu tướng Phan Hàm sau này (1993) nhớ lại là trưa hôm 23/8/1945 ấy ông cùng một số bạn sinh viên Trường Thanh niên Tiền tuyến đến đưa giấy “mời Phạm Quỳnh ra Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa làm việc” thì “ông ta thản nhiên đứng dậy, mặc áo (tất nhiên là quốc phục rồi) ra đi”.

Ngày nay, vẫn thấy còn nhiều bàn luận về việc mặc quốc phục , may quốc phục nam giới. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của họa sĩ Thành Chương: “Bàn gì thì bàn, nói gì thì nói, áo dài của phụ nữ và áo dài khăn đóng của nam giới luôn luôn là lễ phục gợi lên hình ảnh người Việt Nam. Đã gọi là quốc phục thì tinh thần cối lõi vẫn là hồn cốt dân tộc”. (DT nhấn mạnh) (báo Tuổi Trẻ ngày 22/12/2012)

Thành phố Hồ Chí Minh 26/12/2012.

D.T.

Phạm Quỳnh – Một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ  sáu, tuần 4 tháng 11 năm 2014

PHẠM QUỲNH – MỘT NHÂN CÁCH

VỀ LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ chín kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 14.142 lượt người truy cập.)

Nguyễn Thúc Chuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Bài này của nhà giáo hưu trí thành phố Huế Nguyễn Thúc Chuyên đã đăng trên tạp chí Huế xưa & nay, số 94 tháng 9, 2009 (các trang 63-69).

—-o0o—-

Năm tôi học bậc tiểu học trường Pháp – Việt, lúc rảnh rỗi thường lấy Nam Phong tạp chí của cha tôi mua để xem (cha tôi là nhà nho). Thấy tôi ham đọc, cha tôi bảo: “Báo này đọc có ích, con lấy mà xem, chẳng khác gì cuốn bách khoa thư”! (Tất nhiên có nhiều nội dung tôi không hiểu). Hồi đó và kể cả khi lên học bậc trung học, tôi chỉ biết Phạm Quỳnh qua báo Nam Phong, cũng như chỉ biết Đào Duy Anh qua cuốn Hán Việt từ điển. Học sinh, sinh viên ngày nay, có lẽ chỉ biết Phạm tiên sinh qua câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

Cuộc đời của cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh, theo tôi nghĩ, thời ông làm chủ bút tạp chí Nam Phong suốt trong 15 năm (hai năm sau người khác làm) là “đắc ý nhất”. Đây là nơi ông gửi gắm lòng tự hào dân tộc, sự tôn trọng, yêu mến nền văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó có nền Quốc văn… Về sau ông ra làm quan cho Nam triều. Thông cảm với Phạm tiên sinh, nhà văn Nguyễn Công Hoan xây dựng nên truyện ngắn Kép Tư Bền, phản ánh cuộc “ép duyên” của thực dân Pháp, dẫn đến sự “tiến thoái lưỡng nan” của ông chủ bút Nam Phong, cũng như Kép Tư Bền phải lên sân khấu làm trò cười cho khán giả, trong lúc ở nhà cha mình đang hấp hối… Cuộc đời làm quan của ông, từ ngự tiền văn phòng đến thượng thư bộ Học rồi bộ Lại, cả thảy hơn 12 năm. Bấy giờ tôi học trung học ở Huế, thỉnh thoảng vẫn thấy ông ngồi trên xe tay kéo sơn đen, gọng đồng, đầu đội khăn xếp, mặc áo dài thâm, đi giày, mang kính trắng, không hề thấy đeo bài ngà, với vẻ hồn nhiên như một thư sinh. Ông là người có thể rất tâm đắc với hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị:… “Thuở ra sân khấu không làm rộn/ Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi”, chăng! Do đó nhiều người cảm thấy hình như ông không chút “mặn mà” gì khi nhận các chức vụ trên. Sau cuộc đảo chính Nhật lật đổ Pháp (9/3/1945), ông về hưu, làm kẻ ẩn sĩ, trong nhà “không có gì là sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có đồ cổ đắt tiền…” (dẫn theo Nhật Hoa Khanh, Xưa và Nay, số 269, tháng 10 năm 2006).

Là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí, ông đã thu hút nhiều cộng tác viên nổi tiếng thời bấy giờ với số lượng kể đến hàng trăm người. Đó là nhờ nhân cách và học vấn của ông. Số cộng tác viên của Nam Phong tạp chí có nhiều vị vào hàng khoa bảng như: Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, phó bảng Hoàng Yến, cử nhân Bùi Kỷ… cùng với các vị đường quan tuần vũ Trần Mỹ, Tế tửu Quốc tử giám Ưng Trình, án sát Nguyễn Đình Chi, đốc học Trần Thất Phán, huấn đạo Nguyễn Kinh Chu…và các học giả, nhà văn, nhà thơ khác như: Phan khôi, Dương Quảng Hàm, Phạm Duy Tốn, nữ sử Đạm Phương, thi sĩ Tương Phố… và có các anh sinh viên Đặng Nguyên Khu (trường Cao đẳng Thương mại), Tôn Quang Phiệt (trường Cao đẳng Sư phạm Đông dương)… Nhiều cộng tác viên không chỉ viết một đôi bài mà viết hàng chục bài. Ông chủ bút Nam Phong rất tôn trọng các tác giả. Đó cũng là nét nhân cách đẹp của Thượng Chi tiên sinh. Ví dụ, khi tác giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết trong mục “Tồn cổ lục” nêu bà Nguyễn Thị Điểm diễn Nôm khúc ngâm “chinh phụ” là em gái tiến sĩ Nguyễn Trác Luân, người huyện Đông Hào, tỉnh Hải Dương…, ông chủ bút Phạm tiên sinh vẫn để nguyên xi sự lầm lẫn trên của tác giả và cho đăng tải lên báo Nam Phong tạp chí với một câu chú thích rất tế nhị: “Sách Đăng Khoa lục cho bài là người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Tang thương ngẫu lục cho bà là người Bắc Giang, bà ấy là họ Đoàn không phải họ Nguyễn, không biết lời nào nói phải?”. Với một bài báo khảo cứu ai là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc đăng trên báo Nam Phong số 24 tháng 6 năm 1919, cách đây gần 90 năm, đã khuấy động nhiều học giả, giáo sư, các nhà nghiên cứu… tốn không biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu cuộc hội thảo khoa học…mà nay vẫn còn tồn nghi. Gần đây (2007) giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tỏ ra nghi ngờ, nên đã viết một bài báo khuyên các thầy cô giáo: … “Khi giảng Chinh phụ ngâm cũng nên chọn một hai đoạn hay của Đoàn Thị Điểm, trước khi chọn các đoạn của Phan Huy Ích để học sinh thấy đúng được thực tế tiến lên của lịch sử văn học” (Văn hóa Nghệ An, số 110).

Đối với một số ít tác giả cố tình làm tổn thương tinh thần tự tôn dân tộc, thì Phạm Quỳnh tiên sinh không chút ngần ngại vạch mặt trên báo. Sự việc được thể hiện qua sự đối đáp của ông với một vị “Tây dương[1]” về một bài báo ông này dịch từ chữ Hán trên báo Nam Phong ra tiếng Pháp, rồi đưa đăng trên tờ báo Avenir du Tonkin (tức Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú) xuất bản tại Hà Nội. Dịch giả đã cố ý dịch sai. Ông đọc bài báo này thấy đụng đến lòng tự trọng và tự tôn dân tộc, ông bèn đi “thương thuyết” với Louis Marty nhờ viết một bài báo bằng tiếng Pháp, dịch lại cho ông “Tây dương” nọ thấy chỗ dịch sai, rồi đăng lên báo Nam Phong số 24 (tháng 6 năm 1919) kèm theo bài viết bằng tiếng Việt của ông chủ bút họ Phạm với tiêu đề Về mấy bài bình phẩm báo Nam Phong. Mấy câu đầu Phạm tiên sinh viết đại ý: Ngài quá khen bỉ nhân cùng bạn đồng sự là Nguyễn chủ bút (tức Nguyễn Bá Trác, phụ trách phần chữ Hán – TG)… “Chúng tôi lấy làm vinh dự và cảm ơn ngài lắm… Ngài cũng biết rằng chúng tôi một lòng yêu thương nước chúng tôi, là một nước cổ mấy ngàn năm đã từng có một cuộc lịch sử cũng lắm phen hiển hách vẻ vang. Chúng tôi yêu thương nước chúng tôi, đó cũng là cái thường tình của người ta, phàm những trí thức ai cũng có bụng ấy… Duy trong bài ngày 20 Juin (Tháng 6 – PT chú) 1919, thượng nhân có dịch một đoạn Hán văn của ông Nguyễn Bá Trác, phải câu cuối cùng dịch sai nghĩa…, có thể khiến cho người không biết xét lầm và nghi cái bụng thành thực của chúng tôi. Bởi vậy, chúng tôi có cậy quan cai trị Marty thảo mấy lời thuyết minh bằng tiếng Pháp, trước là chỉ rõ thượng nhân biết sự sai lầm đó, có thiệt hại cho danh dự của bản báo đối với chính phủ, sau là nhân thể bộc bạch cho những người Pháp hay có tính đa nghi biết cái thái độ của chúng tôi là rất phân minh, rất chính đáng vậy” (PH.Q – Nam Phong tạp chí số 24).

Năm 1922, Phạm Quỳnh tiên sinh có đi mấy tháng sang Paris (Pháp) với tư cách đại diện hội “Khai trí tiến đức” dự cuộc đấu xảo Marseille, lại được toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết ở một số trường học lớn tại Ba Lê; ông đã đăng đàn 4 lần về các đề tài: 1. Về thi ca Việt Nam; 2. Sự tiến hóa chữ quốc ngữ; 3. Sự tiến hóa của dân An Nam; 4.Tình trạng giáo dục ở An Nam. Một năm sau (1923) những bài diễn thuyết trên được tập hợp in thành sách, xuất bản tại Pháp với tiêu đề: À propos des Quelques conférences à Paris de Monsieur Pham Quynh (dịch: Lời bình phẩm về sách: “Mấy bài diễn thuyết ở Paris của Phạm Quỳnh) Sách xuất bản ở Pháp, thì mấy tháng sau đã thấy xuất hiện ở Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia). Một trí thức người Pháp, có bút danh là Sérénus đọc khen hay và rất tán thưởng, bèn viết một bài bình phẩm bằng tiếng Pháp đăng trên báo France – Indochine, một tờ báo có uy tín ở Bắc kỳ thời bấy giờ. Phạm Quỳnh tiên sinh đã xem bài báo này; có người đề nghị ông dịch ra Quốc ngữ để đăng tải ở Nam Phong tạp chí. Ông đã từ chối. Về sau, bạn bè ông là trí thức Tây học cũng đã đọc bài báo này, liền đến gặp ông khen và phân tích giải bày với ông, dần dà ông bị “lung lay”, từ thái độ từ chối, dẫn đến sự do dự, ngập ngừng… cuối cùng ông đã suy nghĩ rằng: “Lời khen của vị quan ấy không phải là khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công chúng cùng lãm” (ghi theo lời chú thích – Nam Phong tạp chí số 75 tháng 9 năm 1923).

Thượng Chi Phạm Quỳnh sinh ra trong một gia đình nhà Nho có nền nếp (cụ thân sinh mất sớm). Với kiến thức uyên bác Đông Tây kim cổ, ông đã thấm nhuần lời dạy của thánh nhân: “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (lời nói viết ra, bốn ngựa đuổi không kịp). Khi làm chủ bút Nam Phong, ngoài một số bài báo do Pháp điều khiển (vì Pháp tài trợ hằng tháng) còn lại phần lớn những bài ông cho đăng trên báo, về mặt khách quan nói chung, đều là những điều bổ ích cho người đọc. Một vị thượng thư trí sự ở Huế (Vĩ Dạ) đã nói với cha tôi rằng: “Ông ấy trẻ nhưng suy nghĩ và tài năng hơn chúng ta”. Với sự giao lưu nền văn hóa Pháp, Phạm tiên sinh được tiếp xúc văn học Pháp từ nhỏ. Tôi chắc rằng ông đã đọc sách Pháp khá nhiều, trong đó có các tác phẩm của nhà văn Alphonse Daudet (1840-1897). Trong một tác phẩm của nhà văn này có truyện ngắn Buổi học cuối cùng (La dernière classe), A. Daudet viết: (dịch) “Khi một nước đã bị hãm vòng nô lệ, mà còn giữ được quốc văn cho hoàn toàn, thì cũng hình như là giữ được cái chìa khóa để mở cửa ngục giam mình vậy” (nguyên văn: … “Quand un peuple tombe esclave, tant qu’il tient bien sa langue, c’est comme s’il tenait la clef de sa prison”Contes du Lundi, page 12. (Những mẩu chuyện ngày thứ hai, trang 12 – PT chú). Theo chú thích của A.Daudet thì ý tưởng này là của Fréderic Mistral[2]). Cùng với ý tưởng trên, ngoài câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn…” của Phạm tiên sinh, thì trong tạp chí Nam Phong số 101 tháng 12 năm 1925, ông còn có viết câu: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn; tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa”. Ngày nay khi khảo cứu về nội dung báo Nam Phong, trừ các mặt tiêu cực do Pháp lợi dụng, nhìn chung, Phạm tiên sinh đã có vai trò góp phần phát triển kho từ vựng chữ quốc ngữ và tiếng nói của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XX. Với sự điều hành của ông chủ bút họ Phạm, kiêm phụ trách phần tiếng Việt, kết quả khách quan đưa lại là chữ quốc ngữ được sử dụng như một phương tiện để biểu đạt các loại vấn đề mà trước đó hàng chục thế kỷ chữ Hán giữ vai trò độc tôn nhưng lại khó hiểu đối với quần chúng.

Ngày 31 tháng 5 năm 1922 (thứ tư), trong bài diễn thuyết về đề tài: “Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt bảo hộ Pháp” tại Trường Thuộc địa (bộ Thuộc đại Pháp) có 300 người dự, Phạm tiên sinh mặc quốc phục khăn đen áo dài làm lễ phục, đã chững chạc và hùng hồn diễn thuyết bằng tiếng Pháp rất trôi chảy, rằng: “Người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi là một quyển sách dày, đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho phù hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ… Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không có quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn, không có tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc đia cũ của Pháp…”[3]

Cũng trên Nam Phong tạp chí, số 107 tháng 7 năm 1926, Phạm tiên sinh viết bài báo với nhan đề Văn hóa và Chính trị, một bài luận thuyết hay, trả lời tác giả Trần Văn Tăng ề bài báo Quá khứ và hiện tại đăng ở báo Nam Phong số 106 (tháng 6-1926). Sau một hồi phân tích mục đích bài báo của tác giả họ Trần là muốn giúp cho công việc “Vãn hồi quốc vận, phù cứu quốc nguy”. Mục đích chánh đáng vô cùng. Phàm kẻ làm văn, kẻ tư tưởng ở nước ta ngày nay, không thể có mục đích khác được… “Tôi cũng xin vì mục đích ấy mà thể cái lòng nhiệt thành của tác giả, muốn xét lại cái vấn đề trên kia về một phương diện thiết thực với thời thế hiện nay là: Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn?… Hai câu đó mới xét tựa hồ như rời nhau, một câu thuộc về hiện tại, một câu thuộc về tương lai; có giải quyết được câu thứ nhất thời mới giải quyết được câu thứ nhì; nhưng xét kỹ hai câu cũng là một, câu trên thuộc về chính trị, câu dưới thuộc về văn hóa, mà chính trị rút lại cũng gồm ở trong phạm vi văn hóa… Sau đây xin bàn rõ về hai phương diện chính trị và văn hóa và chứng giải rằng trong hai phương diện ấy, phương diện văn hóa thật là quan hệ và bao quát hơn, dẫu có lúc tùy từng thời thế, tùy cơ hội, phải chuyên chủ về phương diện chính trị cũng không thể nhãng bỏ phương diện văn hóa, một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thì ngọn mới tốt được… Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị, điều đó cũng hiển nhiên ai cũng biết… Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: Một cách bạo động, một cách ôn hòa…”

Cụ Phạm Quỳnh là một con người say mê trong sự nghiệp “văn chương chữ nghĩa”. Chỉ một tờ bìa của Nam Phong tạp chí mà đã làm tôi ngạc nhiên và mến phục tài ứng xử, đối đáp khéo léo để thắng đoạt mọi sự phản đối của ông quan cai trị Louis Marty. Đó là việc ông chủ bút họ Phạm đã thay đổi biểu trưng (logo) trên bìa 1 của tờ báo. Mấy năm đầu thì logo in hình “con gà trống Gôloa” (Gaulois)[4] đứng toàn thân trong hình vành khăn với 3 từ tiếng Pháp dàn đều quanh vòng: Liberté (Tự do) Égalité (Bình đẳng) Fraternité (Bác ái), đến năm 1920 thì hủy bỏ logo này, thay vào biểu trưng hình bầu dục với hai đường viền xung quanh, ở giữa in hai từ tiếng việt: “Nam Phong” lồng vào nhau. Từ năm 1926 về sau thì logo lại là một con dấu hình chữ nhật có 3 đường viền đậm nhạt khác nhau, in hai chữ Hán “Nam Phong” kiểu chữ triện. Sự thay đổi của ông chủ bút Nam Phong thể hiện rất rõ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc. Năm 1931, nhân dịp Tổng trưởng Thuộc địa Pháp Paul Reynaud qua Đông Dương kinh lý, Phạm tiên sinh đã gửi bức thư ngỏ yêu cầu Chính phủ Pháp “hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ; vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Phải chăng các ý tưởng trên đây là sản phẩm của nhân cách Phạm Quỳnh, ông phát biểu và viết ra đem in trên tờ Nam Phong tạp chí để đến với công chúng bạn đọc.

Thay lời kết:

Gần đây, trong một buổi giới thiệu sách dịch: Phạm Quỳnh, những tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, có đông người đến dự, trong đó có nhiều giáo sư, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các dịch giả, các nhà khoa học…, giáo sư Nguyễn Đình Chú có nói một câu tự đáy lòng rằng: “Phạm Quỳnh đối với riêng tôi là một cuộc sửa sai chính mình, một cuộc nhận thức lại những định kiến…Tôi cảm thấy xấu hổ”. Còn ông Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, nơi phối hợp xuất bản cuốn sách, đã nói: “Tôi quan niệm người trí thức đích thực là người truyền bá được những giá trị khoa học, văn hóa, người có ý thức trách nhiệm với dân tộc… đóng vai trò trung tâm hướng dẫn dư luận xã hội, Phạm Quỳnh chính là người trí thức như thế” (Văn hóa Nghệ An, số 116).

Huế, tháng 8 năm 2009.

N.T.C.

Tài liệu tham khảo:

-          Phạm Quỳnh. Pháp du hành trình nhật ký, Nxb Hội Nhà Văn và Công ty Văn hóa Phương Nam.

-          Nam Phong tạp chí các số: 13, 24, 46, 75, 101, 106, 107, 159…

-          Nguyễn Hoàng Diệu Thúy. Phạm Quỳnh, một nhận thức lại (Văn hóa Nghệ An số 116 tháng 1 năm 2008)

-          Vĩnh Ba. Nhà văn hóa Phạm Quỳnh (Huế Xưa và Nay số 82).


[1] Bút danh: Tây Dương

[2] F. Mistral (1830-1914): “S’il tient sa langue, il tient la clef qui, de ses chaines, le délivre” (tạm dịch: Nếu ai giữ được tiếng nói, tức là nắm được chìa khóa để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ). F.Mistral nhận giải thưởng Nobel năm 1904.

[3] Trong sách Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (ESSAIS 1922-1932) do nhà xuất bản Tri thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, xuất bản năm 2007, ta thấy ông lại nhấn mạnh ý này trong bài diễn văn đọc trước Viện Hàn lâm Pháp ngày 22/7/1922, nhan đề là Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi (PT chú)

[4]Con gà trống Gôloa”: Biểu trưng cho xứ Gaule thời cổ đại về nhà nước của người Gaulois; có thời biểu trưng này được trang trí trên ngọn cờ cách mạng Pháp, sau bị xóa đi thời Đế chế, sau lại xuất hiện (1830) rồi lại bị xóa bởi Napoléon III. Lịch sử Pháp có câu: “Tổ tiên ta là người Gôloa” (Nos ancêtres sont les Gaulois). Thực dân Pháp đã đưa câu này dạy cho học sinh Việt Nam trong các trường Pháp – Việt từ bậc tiểu học.

Tháng Mười Một 17, 2014

Phạm Quỳnh và vấn đề dân tộc giáo dục – Gs Phạm Thị Nhung

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 11 năm 2014.

PHẠM QUỲNH VÀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC GIÁO DỤC

 Gs Phạm Thị Nhung

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bài thuyết trình nhan đề Cô Kiều với Phạm Quỳnh của giáo sư Phạm Thị Nhung đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20/12/1992. Nhan đề là của chúng tôi.

*

*  *

Tất cả những hoạt động hướng về việc đắp xây cơ sở, và vun trồng cho văn quốc ngữ cũng chính là công việc cấp thời để gây lấy khí cụ tuyên truyền giáo dục trong quốc dân như Phạm Quỳnh đã xác định trong phần trả lời bài Cảnh Cáo Các Nhà Học Phiệt của Phan Khôi, đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, số 67, năm 1930. “Tôi vốn là nhà văn, nhà học vấn, cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay – kể trên dưới mười lăm năm trời, thật là dốc một lòng chuyên một dạ – chính là chủ nghiã quốc gia, nhưng chỉ phụng sự về văn hoá, chưa hề chuyển di sang vấn đề chính trị. Tôi thiết nghĩ rằng muốn cho nước nhà được tiến bộ thì phải gây lấy khí cụ để tuyên truyền giáo dục. Cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục là ngôn ngữ văn tự trong nước…”

Và trong lời nói đầu của tờ Nam Phong số ra mắt, Phạm Quỳnh đã nêu ngay vấn đề quốc dân giáo dục như sau: “Bản báo muốn … giúp cho sự học trong nước … Nước lấy dân làm gốc, trong dân nếu được nhiều người có cái thông thường học thức thì cái gốc trong nước tất được bền chặt, cái nền trong nước tất được vững vàng thêm lên “. Muốn thực hiện điều này thì phải cố vận động cho “tiếng Việt có địa vị hẳn hoi trong quốc dân giáo dục”, đồng thời xúc tiến việc “mở mang dân trí.”

Ngày 22-12-1917, nghị định của Toàn quyền Albert Sarraut ấn định thể lệ mới cho việc học, việc thi trên toàn quốc: chữ Pháp được dùng thay thế cho chữ Nho, và tiếng Pháp được dạy ngay từ lớp khai tâm cho trẻ em được tiếp xúc thẳng với Pháp học.

Phạm Quỳnh thấy rõ đường hướng giáo dục có tính cách “đồng hoá” này của thực dân Pháp rất nguy hại cho tiền đồ của dân tộc, nó làm cho dân ta dần dần sẽ bị “tây hoá”, “mất gốc”. Vả muốn dạy khắp quốc dân không có chữ quốc ngữ không xong, mà không có khoa thi quốc ngữ thì lấy chi mà thưởng lệ cho người ta. Do đó ông đã “vận động ở báo tây, vì báo ta vô hiệu, để xin lấy chữ quốc ngữ dạy các trường tiểu học và cho thi tốt nghiệp tiểu học bằng quốc ngữ. Người ta lấy cái tội nghèo của tiếng An-nam mà phản đối”. Phạm Quỳnh nêu vấn đề: “Tiếng An-nam có quả nghèo không? Anh em ta phải phá cho ra cái nghi án thiên cổ đó “(Làm văn, 1923, Thượng Chi Văn Tập, tập III).

Và để đạt được mục đích mở mang dân trí, đưa dân tộc lên đường tiến bộ:

-           Phạm Quỳnh quyết đem những tư tưởng, học thuyết, khoa học văn minh của thái tây truyền bá ra, vì “Người ta ai cũng phải thay đổi, dân tộc nào cũng phải tiến hóa, phép sinh hoạt như thế … Lại sự tiến hoá ấy càng ngày càng khuynh hướng về Âu châu “(Bảo Thủ và Tiến Hoá, Nam Phong, số 156).

-          Nhưng truyền bá bằng phương pháp biên dịch, tại sao vậy? Vì theo họ Phạm
“Phàm những tư tưởng gì mà không nói được ra tiếng ta thì chưa phải là tư tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn … Những tư tưởng trong sách tây, sách tàu phải diễn ra bằng tiếng ta cả, khác nào như qua cái óc ta lọc đi một lần, dễ cho sự tiêu hoá biết là nhường nào.”

-           “Học văn minh học thuật của người chỉ là để “tăng bổ” cho mình chứ không phải để “tiêu nhập” vào người “, do đấy Phạm Quỳnh chủ trương “Sự tiến hoá muốn cho thực có ích lợi tất phải giữ lấy các nền nếp cũ của quốc gia, giữ lấy cái tinh thần cũ của dân tộc, không nên làm cho dân này, nước này đến mất cả cốt cách tinh thần đi, mà phải giúp cho biết tự nhận chân mình, giúp cho tài bồi cái cốt cách của mình, để cho vừa sống được trọn cái đời riêng của mình, vừa tiếp đón được cả các phong trào lớn đời nay.” (Giảng nghĩa việc đồng hóa, Nam Phong, số 163)

Chính vì chủ đích muốn duy trì những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc để ngăn chặn chính sách “giáo dục đồng hoá” của bảo hộ, Phạm Quỳnh đã làm công việc giữ gìn đạo đức trong quốc dân, và bảo tồn những gì mà ông gọi là quốc hồn quốc túy của dân tộc: “Chẳng phải là Nho học đã gây dựng gia đình, xã hội, quốc gia của ta ru? Chắc ngày nay Nho học đã nhiều phần cũ rồi, không hợp thời nữa, nhưng cũ là về phần hình thức mà thôi, còn phần cốt cách tinh thần, còn cái gốc đạo đức của Nho học thì cùng với núi sông mà sống mãi muôn đời.”(Bàn Về Sự Dùng Chữ Nho Trong Văn Quốc Ngữ, Nam Phong, số 20, 1919).

- Gây dựng gia đình cho bền chặt: “Ngày nay tôn giáo mỗi ngày một suy, triết lý không còn gì bằng cứ, nhân tâm không biết lấy đâu làm bờ bến. Nếu không có gì làm quy tắc thì lòng người phất phơ, xã hội nguy hiểm. Đoái đi xét lại duy có gia đình là còn có thể giúp cho xã hội duy trì được. Nếu biết gây dựng cho bền chặt … lấy tình sâu nghĩa nặng mà ràng buộc nhau … thì thời thế nào suy di được, phong trào nào lay chuyển được? “(Bình Luận Tiểu Thuyết Les Roquevillards của Henry Bordeaux, Nam Phong, số 2, 1917).

- Bảo vệ phong tục tập quán cổ truyền: “Khoảng 1929-30, trong xã hội Việt Nam ta đang muốn Âu hoá triệt để, đã nẩy sinh ra một phong trào từ Nam đến Bắc hô hào dùng dương lịch, bỏ hẳn âm lịch và ngày Tết Nguyên Đán. Chống lại phong trào này, Phạm Quỳnh đã viết một bài thật dài, ca tụng Tết có nhiều ý nghĩa thâm thúy, thiêng liêng, Tết là gốc luân lý của gia đình.” (Đặt Vấn Đề Với Ông Nguyễn văn Trung… Ái Linh trong Vụ Án Truyện Kiều)

“… Tết còn là sự thánh hoá, sự ca tụng, tán dương chủ nghĩa gia tộc và sự thờ phượng tổ tiên … Mấy ngày Tết chính là những ngày mà cả đại gia đình đông đủ quây quần tụ họp … những hôm đó trên bàn thờ trang hoàng rực rỡ, những bài vị ghi tên tuổi các vị tổ tiên đã mất đều được mở ra trưng bày, những đèn hương thắp lên nghi ngút … các vị tổ tiên ông bà đều về sống chung với gia đình con cháu …” (Psychologie du Têt, Nam Phong, số 149, 1930, Phạm Thị Ngoạn dịch)

- Bắt chước đạo tu thân xử thế của các bậc hiền nhân quân tử nước nhà, “quốc túy chính là cái cách riêng căng trì, cẩn thủ, sửa mình ở đời … làm sao cho thực hành được cái lý tưởng đạo đức của các bậc thánh hiền trong nước vậy.”(Cụ Nguyễn Bá Học, Thượng Chi Văn Tập, tập V)

- Noi theo tinh thần lý tưởng về sự học của người xưa: “… Học như thế trước là để sửa mình, sau là tề gia, sau nữa là trị nước, may mà nên … thì đem cái học ra mà phò vua giúp nước, chẳng may không làm nên thì thiết tưởng dạy học trò cũng đem được cái học bình sinh vun trồng cho hậu tiến, duy trì được xã hội, gia đình … Ấy cái chí khí của kẻ sĩ nước ta ngày xưa như thế, ai bảo rằng không chính đại quang minh? ” (Thư Cho Bạn, 1919).

Lại nữa, Phạm Quỳnh tuy đã nhiều lần tuyên bố trên báo chí là ông chỉ làm văn hoá, không làm chính trị, thật ra đấy chỉ là một cách nói cho đúng với chính sách và làm yên lòng bảo hộ, vì ngoài vấn đề nâng cao dân trí và bảo tồn những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, Phạm Quỳnh còn luôn luôn hướng ngòi bút của mình vào sự giáo dục quốc dân về tinh thần tự phấn, tự cường, về ý thức trách nhiệm đối với hiện tình đất nước để mưu đường giải phóng cho dân tộc sau này:

Nước mình kém hèn đủ mọi đường, làm người có chí hãy nên nghĩ cách giúp nước trước đã, đó là sự cần cấp … phải gia công gắng sức làm sao để tự phấn, tự cường lên.” (Thanh niên có nên buồn không?, Nam Phong, số 68)

Nhất là thanh niên lại phải biết coi thường danh lợi mà đặt sự học cho một lý tưởng “cứu quốc” cao đẹp: “Tiếp tục cái học thống cũ, và mở đường cho người mình tiến lên cõi văn minh tư tưởng mới, phải chấn loát tinh thần, đề khởi sự nghiệp, phá những thói mê hủ tục, sửa những nết tốt, tính hay, nói tóm lại là phải làm thuốc “bổ não” cho khỏi cái cố tật ủy mị suy đồi, đổi thành tính cương cường mãnh tiến chuộc lại được sự chậm trễ bấy lâu nay mà phấn phát bước lên cho theo kịp người. Bởi thế nên gọi là học cứu quốc, nghĩa là học để cứu nước khỏi yếu hèn mà nên mạnh mẽ ” (Độc Thư Cứu Quốc, 1920, Thượng Chi Văn Tập, tập IV)

Ngay cả những bài biên dịch giới thiệu văn học, tư tưởng của nước ngoài, Phạm Quỳnh cũng lợi dụng lời bình luận để lái về quốc sự mà chiêu hồn nước. Như khi giới thiệu về tư tưởng lập quốc của Renan, một văn hào Pháp, Phạm Quỳnh viết: “Cái lịch sử của ta … xưa kia quật cường bao nhiêu, bây giờ xem ra ủy mị bấy nhiêu, xưa kia vẻ vang bao nhiêu, bây giờ xem ra suy đồi bấy nhiêu … Tâm lý duy có một phương: là bồi bổ cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn kia cho mỗi ngày một mạnh mẽ, mỗi ngày một tỉnh tao lên. Đó là cái nghĩa vụ chung của cả quốc dân … Quốc hồn đã khôi phục thời mọi vấn đề chính trị sớm trưa ắt sẽ giải quyết xong. Cốt nhất là quốc dân phải tỉnh ngộ … dẫu gặp cảnh yếu hèn cũng chớ nên cam tâm yên phận, biết tin ở nước, tin ở mình, phấn phát tự cường, thời trở lực nào mà ngăn được cái sức mạnh tinh thần đó? Lại cốt nhất là phải đồng tâm hiệp lực với nhau cố kết cùng nhau, thời yếu mà cũng trở nên mạnh được …” (Bàn Về Cái Tinh Thần Lập Quốc, Nam Phong, số 164, 1931).

P.T.N.

Cuộc toạ đàm về Phạm Quỳnh tại Huế (30/8/2012) – Một lời chúc tụng “Phạm Hiền Công”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:51 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 1 tháng 11 năm 2012.

Cuộc toạ đàm về Phạm Quỳnh tại Huế (30/8/2012)

MỘT LỜI CHÚC TỤNG “PHẠM HIỀN CÔNG”

 

Phan Thuận An

(Nhà nghiên cứu Huế)

Lời dẫn của Phạm Hữu Thanh Tùng: Phạm Quỳnh – một góc nhìnlà công trình nghiên cứu, biên khảo nghiêm túc của Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một người con ưu tú của xứ Huế, đang sống và làm việc ở Hà Nội. Tác phẩm được nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép và ấn hành quý 3/2011. Cuốn sách khá dày dặn, gần 300 trang khổ 13×19, tư liệu phong phú, chân thực và khách quan, được đông đảo độc giả đón nhận, dư luận đánh giá cao. Đúng một năm sau, quý 3/2012, tác giả tiếp tục cho mắt tập 2, dày hơn 300 trang, cũng do nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép.

Như một sự chia xẻ, và có cả lòng tri ân với tác giả Nguyễn Văn Khoan, được sự đồng thuận của Thường trực Hội đồng toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, được sự hỗ trợ nhiệt thành của Trung tâm Du lịch Trải nghiệm Huế xưa – Huế nay, Thường trực Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và gia đình tác giả tổ chức ra mắt tác phẩm Phạm Quỳnh – một góc nhìn, tập 2.

Đến dự buổi ra mắt tác phẩm có ông Phạm Minh Thông, đại diện Thường trực Hội đồng họ Phạm Việt Nam. GS-TS Phạm Như Thế, Chủ tịch Hội đồng họ Phạm tỉnh Thừa Thiên Huế và các vị trong Thường trực Hội đồng. Các vị đại diện Thường trực Hội đồng Nguyễn Phước tộc, Hội đồng họ Trần, họ Lê, họ Phan, họ Thân, họ Vũ – Võ… Ông Phạm Quốc Dũng, Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ. Bà Phạm Thị Bích Thuỷ, Thường trực Hội đồng Nhân đân tỉnh. Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, sở Thông tin-Truyền thông, sở Văn hoá Thể thao – Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế. Các nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá tiêu biểu của Huế. Ông Nguyễn Phúc Vĩnh Mẫn, đại diện cho tác giả Nguyễn Văn Khoan. Phóng viên  HVTV, TRT, VTV4 và các báo Tiền Phong, Thanh Niên, Đại Đoàn Kết, Văn Hoá. Đặc biệt có sự hiện diện của nhạc sĩ Phạm Tuyên, đại diện gia đình cụ Phạm Quỳnh, nhân vật của tác phẩm.

Do công việc bất khả kháng nên tác giả Nguyễn Văn Khoan và GS Đinh Xuân Lâm không vào được, hai ông đã uỷ nhiệm một người bạn là ông Vĩnh Mẫn đến dự và đọc bài giới thiệu tác phẩm của GS Đinh Xuân Lâm.

Gần đây nhà nghiên cứu Phan Thuận An tìm thấy hai tờ Châu bản triều Nguyễn liên quan đến chủ quyền của Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa. Hai tờ Châu bản này do cụ Phạm Quỳnh làm tờ trình để vua Bảo Đại châu phê. Trong hàng ngàn cổ vật lưu giữ trong Bảo tàng Mỹ thuật cung đình, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã nghiên cứu rất kỹ về bức Trấn phong Thiên tử từ thần.  Để hiểu thêm cụ Phạm Quỳnh, nhà nghiên cứu Phan Thuận An trình bày đôi nét về bức trấn phong này. Blog PhamTon chỉ xin trích những phần chủ yếu.

—o0o—

Vào năm 1941, Phạm Quỳnh đang giữ chức Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục (tức là Bộ Học cũ) tại Kinh đô Huế. Năm ấy, ông tròn 50 tuổi (tính theo tuổi ta). Nhân dịp vui này, một nhóm quan viên ở Bộ mừng ông một bức trấn phong bằng gỗ rất đẹp mà trên hai mặt của nó khắc một bài thơ chữ Hán hết sức độc đáo và có giá trị để chúc tụng ông.

Bài thơ và bức trấn phong tuy đã ra đời cách đây hơn 70 năm rồi và sở hữu chủ cùng gia đình ở bên bờ sông An Cựu đã trải qua bao nỗi thăng trầm đắn cay của lịch sử, nhưng với những giá trị đặc sắc về văn chương và nghệ thuật của nó, kỷ vật này đã được người Huế bảo quản một cách chu đáo và đang được trưng bày một cách trang trọng tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (ở địa chỉ số 3 đường Lê Trực, Thành Nội).

Chúng tôi xin tạm đặt tên cho di vật quí báu này là Bức trấn phong Thiên tử từ thần, vì 4 chữ Thiên tử từ thần là nhan đề của bài thơ và được thể hiện bằng 4 chữ Hán lớn nhất trên đó.

(…)

Các hình ảnh trang trí ở đây, bao gồm cả cây cối và động vật, đều được thể hiện rất sinh động.

Riêng lòng trấn phong thì không trang trí, chỉ dành để trình bày phần văn tự. Ở cả hai mặt, các văn tự đều được chạm chìm và thếp vàng.

Ở mặt trước, các dòng chữ Hán được bố trí như sau:

- Dòng ở giữa là bốn chữ đại tự: (Thiên tử từ thần) được viết theo kiểu chữ lệ. “Thiên tử từ thần” có nghĩa là bề tôi văn chương của vua. Ý nói Phạm Quỳnh là người rất giỏi về văn chương, có công lớn trong việc phò tá vua Bảo Ðại về lĩnh vực này.

- Lạc khoản bên phải đề: 保 大 辛 巳 年 季 夏 (Bảo Ðại Tân tỵ niên quí hạ), nghĩa là bức trấn phong được chế tác vào tháng 6 năm Tân tỵ thời Bảo Ðại, tức là tháng 7-1941.

-Lạc khoản bên trái viết:

國 民 教 育 部 侍 郎 陳 文 理 , 阮 廷 誾 , 佐 理 楊 文 龍  , 阮 文 换 , 阮 科 全 , 並 部 院 屬 員 仝 拜

Phiên âm: Quốc dân Giáo dục Bộ Thị lang Trần Văn Lý, Nguyễn Ðình Ngân, Tá lý Dương Văn Long, Nguyễn Văn Hoán, Nguyễn Khoa Toàn, tịnh Bộ Viện thuộc viên đồng bái.

Dịch nghĩa: Thị lang Bộ Quốc dân Giáo dục Trần Văn Lý, Nguyễn Ðình Ngân, Tá lý Dương Văn Long, Nguyễn Văn Hoán, Nguyễn Khoa Toàn, và các viên chức thuộc Bộ, Viện cùng kính tặng.

Trong guồng máy tổ chức hành chính của triều đình nhà Nguyễn, cái tên Bộ Quốc dân Giáo dục là một danh xưng tương đối mới.

Bộ này được thành lập trong dịp cải cách hành chính của Nam triều vào năm 1933 làm cho “Năm cụ khi không ngã cái ình” mà nhiều sử sách đã ghi chép. Bộ này thay thế vai trò của Bộ Học được thành lập vào năm 1907 dưới thời Thành Thái. Sau 10 năm du học ở Pháp, vua Bảo Ðại đã trở về nước vào năm 1932. Sau đó một năm, nhà vua đã ban hành những cải cách xã hội và hành chánh từ trung ương đến địa phương, trong đó có việc thiết lập Bộ Quốc dân Giáo dục và bổ dụng Phạm Quỳnh làm Thượng thư (nay gọi là Bộ trưởng) của Bộ này. Ông giữ chức vụ vừa nói từ ngày 2-5-1933 đến ngày 12-5-1942 là thời điểm ông được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Lại. (…) Bức trấn phong ra đời trong bối cảnh lịch sử tổ chức hành chính ấy, tức là vào tháng 7-1941 như được ghi ở mặt trước của nó.

   Nhưng, nội dung chính mà phần văn tự muốn chuyển tải thì lại nằm ở mặt sau. Ðây chính là phần hồn của bức trấn phong. Ở lòng mặt sau là một bài thơ Ðường luật thất ngôn bát cú với niêm luật rất hoàn chỉnh. Bài thơ được thể hiện theo lối hành thư. Nét chữ đẹp. Sau mỗi câu, còn ghi thêm tên của một nhân vật họ Phạm trong lịch sử Trung Hoa với cỡ chữ  nhỏ hơn rất nhiều. Với cách ghi như vậy, khi mới nhìn qua, người ta dễ có cảm tưởng mỗi nhân vật họ Phạm ấy là tác giả của một câu thơ. Nhưng, khi đọc và tìm hiểu kỹ, chúng tôi thấy không phải như thế. Tác giả của bài thơ này chính là nhóm quan viên thuộc Bộ Quốc dân Giáo dục nói trên: Trần Văn Lý, Nguyễn Ðình Ngân, Dương Văn Long..v.v.. Nội dung mỗi câu thơ nói lên biệt tài văn chương, học thuật hoặc kinh bang tế thế của một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.

Nguyên văn bài thơ như sau:

文 章 獨 擅 一 家 雄                       范 翬

天 下 詞 壇 有 折 衷                       范  成 大

志 在 先 憂 宜 後 樂                       范 仲 淹

心 能 篤 孝 又 纯 忠                       范 纯 仁

朝 廷 規 制 多 親 草                       范 文 程

庠 序 儀 型 振 晚 風                       范 寧

位 列 中 書 聲 價 重                       范 俊

長 生 遠 煥 范 賢 公                       范 啟

(…)

       Tạm dịch xuôi:

Phạm Huy là một người giỏi nhất về văn chương.

Phạm Thành Ðại là người tinh lọc được các giá trị thơ văn trong thiên hạ.

Phạm Trọng Yêm là người có ý chí lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ.

Phạm Thuần Nhân là người có lòng lo tròn chữ hiếu và giữ vẹn chữ trung.

Phạm Văn Trình là người tự tay thảo ra phần lớn các qui chế của triều đình.

Phạm Ninh là người khuôn mẫu của nền giáo dục, từng chấn chỉnh học phong khi đã bị suy yếu.

Phạm Tuấn là người đã được xếp vào toà trung thư với tiếng tăm vang dội và phẩm giá cao thượng.

Phạm Khải là một kẻ hiền tài đã hưởng được tuổi thọ rất cao và danh tiếng vang xa.

(…)

Chỉ chừng ấy thôi cũng đã tạm đủ cơ sở để có thể đưa ra mấy nhận định sau đây về nội dung bài thơ:

- Cuộc đời của mỗi nhân vật trên đây là phù hợp với nội dung của một câu thơ nằm trước tên mình.

- Họ đều là những người có nhân cách tốt đẹp, phẩm hạnh cao nhã, giỏi về văn chương, hơn người về tài trí, hoặc có xuất chính giúp cho triều đại mà họ sống, hoặc ẩn cư để giữ tròn danh tiết. Hầu hết họ là những văn thần từng đem chất xám của mình ra để giúp vua giúp nước. Cho nên, nhan đề của bài thơ trên bức trấn phong đã được đặt tên là Thiên tử từ thần.

Mặc dù trên cả 2 mặt của bức trấn phong không hề có văn tự nào ghi cụ thể tên họ và chức vụ của người được tặng, nhưng khi tìm hiểu kỹ chữ nghĩa trên đó cũng như bối cảnh lịch sử của niên đại mà nó xuất hiện, chúng ta có thể khẳng định được rằng tập thể tác giả bài thơ đã mượn uy tín của 8 danh sĩ văn thần họ Phạm trong lịch sử Trung Hoa để gián tiếp cầu chúc “Phạm hiền công” sống lâu (trường sinh), đồng thời ca ngợi tài năng và đạo đức của vị đại thần họ Phạm đang đứng đầu Bộ Quốc dân Giáo dục.

Nhìn chung cả hình thức lẫn nội dung, bức trấn phong Thiên tử từ thần là một hiện vật bảo tàng mang giá trị cao về mặt nghệ thuật tạo tác và chứa đựng một bài thơ có giá trị văn học đặc biệt thuộc loại chơi chữ, chơi thơ.

Ngày nay, chúng ta đa có đủ độ lùi của thời gian lịch sử để có thể đánh giá một cách trung thực và khách quan về vị “quan lớn có học vấn uyên bác có thể nói là bậc nhất thời đó” (nhận định của Trần Khuyết Nghi trong sách Phạm Quỳnh một góc nhìn, tập 2, 1912, trang 149). Lời ca tụng vị Thượng thư họ Phạm qua bài thơ trên là của những người đồng liêu, một số văn nhân đương thời. Nếu bình tâm nhìn vào nhân cách khả kính của người được tặng bài thơ thì nội dung của nó không hoàn toàn mang tính chủ quan.

Qua bài thơ đặc biệt ấy, vô hình trung, người xưa đã đánh giá nhân vật họ Phạm này như là một bậc hiền tài của đất nước. Cho dù có những người khác từng dựa vào quan điểm lập trường cứng nhắc để báng bổ ông và vội vàng đẩy ông vào một cái chết oan nghiệt, nhưng, với những công trình học thuật đồ sộ của ông, với nhân cách cao quí của ông, và với sự bắt đầu “điều chỉnh nhận thức” về ông trong mấy chục năm qua, người đời sẽ minh xác về phẩm giá của ông một cách khách quan và công bằng.

P.T.A.

Trang sau »

The Rubric Theme. Blog at WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 28 other followers