Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 17, 2014

Hà Nội mừng 60 năm giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

HÀ NỘI MỪNG 60 NĂM GIẢI PHÓNG

*

*   *

BẢN SẮC HÀ NỘI

Kiều Hương

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/10/2014)

60 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội từ một thành phố nhỏ, nghèo nàn, trở thành đô thị hiện đại. Không gian đô thị Thủ đô được mở rộng với đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, kết nối với các tỉnh, thành phố chung quanh tạo nên vùng Thủ đô rộng lớn, với hạ tầng đồng bộ, hiện đại, xứng tầm đô thị quy mô lớn trong khu vực Đông – Nam Á. Đây là tiền đề vững chắc để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, đồng thời không ngừng lan tỏa, tạo động lực để phát triển vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.

Một Hà Nội năng động, hiện đại

Theo các tài liệu lịch sử, kể từ năm 1010 (khi Vua Lý Thái Tổ quyết định định đô tại Thăng Long) cho đến năm 1788 (trước khi Vua Quang Trung dời đô về Phú Xuân), địa giới hành chính của Thăng Long – kinh đô của nước Đại Việt, được giới hạn trong phạm vi vòng thành ngoài cùng gọi là La Thành cCua ngo phia Tayhu vi khoảng 6 km. Bao quanh kinh đô là các con sông, với sông Hồng (đoạn chảy qua Thăng Long gọi là Nhị Hà) ở phía đông, sông Tô Lịch ở phía bắc và phía tây, sông Kim Ngưu ở phía nam, như được miêu tả trong câu ca dao quen thuộc: “Nhị Hà quanh bắc sang đông/ Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”. Đến ngày thoát khỏi ách chiếm đóng của thực dân (tháng 10-1954), Hà Nội, khi đó là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có diện tích 152,2km 2 , với 36 tuyến phố nội thành, bốn huyện ngoại thành, dân số 437 nghìn người.

Sau bốn lần điều chỉnh địa giới hành chính vào các năm 1961, 1978, 1991 và 2008, Hà Nội không còn là thành phố “trong sông” như ý nghĩa của tên gọi ban đầu, mà được mở rộng, bao quát cả hai bờ sông Hồng, biến dòng sông mẹ thành dải lụa hồng chảy qua trung tâm thành phố, kết nối sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê phía đông bắc, sông Đuống phía đông, sông Đà, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ, sông Tô Lịch phía tây, tạo không gian rộng lớn, trải dài từ Ba Vì hùng vĩ gắn với truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh, Sóc Sơn với đền Sóc – nơi Thánh Gióng bay về trời, đến Mỹ Đức với danh thắng Hương Tích… Sau cuộc kiến tạo lớn nhất trong lịch sử này, Hà Nội có diện tích 3.328 km 2 , dân số hơn bảy triệu người, tăng gấp 22 lần về diện tích, gấp 12 lần về dân số so với thời điểm 60 năm trước.

Không gian khu vực nội thành Hà Nội không chỉ là những khu phố cổ, khu phố kiểu Pháp như trước, mà diện tích được mở rộng hơn trước gấp 17 lần. Khu vực Từ Liêm, Gia Lâm, Hà Đông… trước đây là vùng ngoại thành hoang vu, nay là khu vực đô thị mới, đẹp đẽ và nhộn nhịp, nơi tọa lạc Trung tâm hội nghị quốc gia, sân vận động quốc gia Mỹ Đình, trụ sở của nhiều cơ quan trung ương, công viên phần mềm, các khu dân cư Mỹ Đình, Mễ Trì, The Mannor, Việt Hưng, Dương Xá, Vinhomes Riverside…, mang phong cách kiến trúc hiện đại. Không gian đô thị của Thủ đô được tổ chức theo chùm đô thị, gồm khu vực đô thị trung tâm là khu vực nội thành hiện nay và năm đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, Phú Xuyên, Xuân Mai, Sóc Sơn, nằm cách trung tâm 30 km về các hướng, không chỉ giảm tải cho đô thị lõi, mà còn tạo động lực để phát triển kinh tế – xã hội.

Cùng với sự mở rộng về không gian là hệ thống giao thông khá đồng bộ, hiện đại. Trong khu vực nội thành, các tuyến đường vành đai 1, vành đai 2, vành đai 2,5, vành đai 3, vành đai 3 trên cao đã và đang hoàn thành, đưa vào sử dụng, với hệ thống hầm chui, cầu vượt, tạo điều kiện giao thương, phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, thuận lợi. Khái niệm “cửa ô” đối với Hà Nội hôm nay được hiểu với nghĩa rộng hơn, bởi kết nối từ đô thị trung tâm đến các đô thị vệ tinh là hệ thống đường vành đai kết hợp trục hướng tâm, có liên kết với mạng lưới giao thông liên vùng và quốc gia. Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32 được đầu tư hiện đại, rút ngắn khoảng cách từ trung tâm thành phố đến các đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, tạo điều kiện cho Khu Công nghệ cao Hòa Lạc thu hút các dự án lớn về công nghệ – đào tạo, khai thác tiềm năng du lịch, văn hóa của Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, các khu du lịch dưới chân núi Ba Vì… Cầu Thanh Trì, cầu Thăng Long kết nối đường cao tốc bắc Thăng Long – Nội Bài, quốc lộ 5, quốc lộ 18, quốc lộ 3… rút ngắn hành trình từ Hải Phòng, Quảng Ninh đến cửa ngõ hàng không, lên biên giới phía bắc. Đường 5 kéo dài mới được thông xe sẽ kết nối cầu Nhật Tân, cao tốc Nhật Tân – Nội Bài, quốc lộ 2 (Hà Nội – Lào Cai)… không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội vùng đô thị phía bắc sông Hồng của Hà Nội, mà còn giúp việc vận chuyển, giao thương giữa các trọng điểm kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thuận lợi, hành lang kinh tế xuyên Á (Côn Minh – Hà Nội – Quảng Ninh) thuận tiện, dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Hà Nội đang bắt nhịp với các đô thị lớn trên thế giới bằng hệ thống vận tải hành khách công cộng hiện đại. Năm 2015, tuyến xe buýt nhanh Yên Nghĩa – Kim Mã và tuyến tàu điện trên cao đầu tiên Cát Linh – Hà Đông sẽ đi vào hoạt động, kết nối các loại hình vận tải hiện có tạo nên mạng lưới giao thông công cộng nhanh, thuận tiện, an toàn và hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, tháo gỡ những “nút thắt” trong giao thông đô thị hiện nay.

Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, nguyên Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội nhận xét: “Hà Nội đang đổi thay từng ngày. Nếu ai đi xa chưa có dịp về lại Thủ đô trong 10 năm trở lại đây sẽ không khỏi ngỡ ngàng, thậm chí không thể nhận ra một Hà Nội năng động, hiện đại như bây giờ…”.

Hài hòa giữa bảo tồn và phát triển

Hà Nội phát triển nhanh, hiện đại hơn, to đẹp hơn trước, nhưng không vì thế mà làm phai nhạt những giá trị bản sắc. Với bề dày lịch sử hơn 1.000 năm tuổi, với gần 5.200 di tích, trong đó hơn 1.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 1.270 làng nghề truyền thống, nhiều cụm di tích thắng cảnh, công tác bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa Thăng Long – Hà Nội được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm gìn giữ truyền thống, bản sắc văn hóa, để Hà Nội có sức hút không chỉ với khu vực Đông – Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương, mà còn cả với thế giới.

Trong khu vực nội đô lịch sử (giới hạn từ phía nam sông Hồng đến đường vành đai 2), thành phố hạn chế phát triển công trình cao tầng, giảm mật độ xây dựng và mật độ cư trú, bảo tồn đặc trưng, cấu trúc đô thị cũ và bảo vệ phát huy các giá trị cảnh quan các công trình kiến trúc có giá trị văn hóa – lịch sử – tôn giáo, kiến trúc đặc trưng các thời kỳ. Các di tích lịch sử – văn hóa, các thành cổ, làng cổ, di tích cách mạng, tôn giáo tín ngưỡng, nhất là các tiểu khu trong khu vực nội đô lịch sử bao gồm: Trung tâm chính trị Ba Đình, khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Gươm và phụ cận, khu vực hồ Tây và phụ cận, được khoanh vùng bảo vệ và có quy chế kiểm soát chặt chẽ các hoạt động bảo tồn, hoạt động xây dựng và hoạt động tham quan khác. Thành phố quy hoạch và xây dựng các khu đô thị mới ngoài vành đai 2. Người dân khu phố cổ được “giãn dân” bằng cách di chuyển tới khu đô thị mới Việt Hưng (quận Long Biên). Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, trường đại học lớn được di dời khỏi nội đô, được bố trí tại các đô thị vệ tinh hoặc các khu công nghiệp lớn, giảm áp lực về hạ tầng, môi trường trong khu vực trung tâm, đồng thời tạo động lực đô thị vệ tinh phát triển.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua năm tháng chiến tranh, Hà Nội vẫn giữ vẻ đẹp riêng của mình. Tiến sĩ Ca-thơ-rin Mu-lơ Ma-rin, Trưởng văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam, từng ca ngợi: “Hà Nội là nơi quy tụ nhiều di sản nhất Việt Nam, trong đó có nhiều di sản thế giới quý giá và có sức hút lớn”. Những di sản đó đã trở thành thế mạnh của Thủ đô để phát triển du lịch. Đại diện nhiều doanh nghiệp lữ hành lớn cho biết, Hà Nội là điểm đến không thể thiếu trong chương trình du lịch của hầu hết khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Du khách thường có nhận xét, họ thích đến Hà Nội, bởi ở đây, họ cảm nhận được sự thanh bình, giản dị, nhịp sống chậm hơn so với những thành phố khác trong khu vực…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, việc giải quyết xung đột giữa yêu cầu bảo tồn và nhu cầu phát triển của xã hội không phải là đơn giản, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự gia tăng dân số quá lớn, dẫn đến sự quá tải trên toàn hệ thống hạ tầng, nguồn lực đầu tư xây dựng khó khăn, năng lực quy hoạch, xây dựng, quản lý, vận hành còn hạn chế… Những “bài toán” cụ thể luôn xuất hiện trong sự vận động của xã hội như câu chuyện về bảo tồn làng cổ Đường Lâm, đề án di dời, giãn dân phố cổ, tổ chức tuyến phố đi bộ chung quanh hồ Hoàn Kiếm, giao thông tĩnh trong khu vực nội đô… đòi hỏi thành phố phải có các giải pháp linh hoạt, song vẫn bảo đảm những nguyên tắc nhất quán để giải quyết hài hòa hai vấn đề bảo tồn và phát triển, để Thủ đô phát triển bền vững, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hiến của thành phố nghìn năm tuổi.

K.H.

—o0o—

NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Gia Minh

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 10/10/2014)

Đã 60 năm sau ngày giải phóng, Hà Nội từ một thành phố nhỏ bé, lạc hậu về mọi mặt đã trở thành một đô thị lớn, ngày càng khang trang, hiện đại. Quá trình “thay da đổi thịt”, vươn tầm và khẳng định vị thế đó đã được tái hiện lại một cách sống động, chân thực trong Triển lãm Thành tựu kinh tế – văn hóa – xã hội của Thủ đô 60 năm xây dựng và phát triển.

Chỉ sau ba ngày mở cửa, triển lãm đã thu hút gần mười nghìn lượt người đến tham quan. Trong đó, có hơn 500 khách đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều đoàn khách của các cơ quan, đoàn thể và các tỉnh bạn… Hầu hết người xem đều đánh giá triển lãm được tổ chức trang trọng, ấn tượng, nhiều tư liệu có giá trị, xứng tầm là một sự kiện chính trị quan trọng chào mừng Kỷ niệm 60 năm Ngày giải phóng Thủ đô. Bác Trần Thanh Hòa, ở Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy) dẫn hai cháu nhỏ đến triển lãm chia sẻ: “rất nhiều những hình ảnh, hiện vật thú vị ở triển lãm đã giữ chân ba bà cháu ở triển lãm cả một buổi sáng. Bắt gặp những đồ vật, hình ảnh một thời quen thuộc, những câu chuyện về Hà Nội những năm 80, 90 của thế kỷ 20 chợt ùa về, bác kể cho hai cháu nhỏ nghe mãi mà không hết”.

Khu trung bay trung tam cua trien lamToàn bộ triển lãm được thiết kế theo không gian mở với sự kết nối và liên thông liên tục, thống nhất giữa các khu. Đặc biệt, khu trung tâm được thiết kế theo các vòng tròn đồng tâm, giống lối kiến trúc lòng chảo, giúp người xem có thể quan sát dễ dàng. Ở giữa là biểu tượng cột rồng thời Lý, tượng trưng cho Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến. Chung quanh là các hình ảnh, hiện vật thể hiện những giá trị tinh hoa của Hà Nội qua các giai đoạn phát triển; các sản phẩm tiêu biểu, đặc sắc của Hà Nội… Từ tấm lụa tơ tằm, chiếc đèn kết từ mây tre cho đến những thiết bị máy móc hiện đại mà người Hà Nội làm ra được chọn lọc, trưng bày trang trọng. Ngoài ra, triển lãm còn có năm khu trưng bày theo từng lĩnh vực với sự tham gia của hơn 20 sở, ban, ngành, đoàn thể và các tỉnh lân cận. Thường xuyên có các cán bộ thuyết minh của bảo tàng và các sở, ngành túc trực để giới thiệu, hướng dẫn cho khách tham quan.

Tại khu trưng bày thành tựu kinh tế có nhiều số liệu biểu thị, hình ảnh, hiện vật, sản phẩm, mô hình tiêu biểu thể hiện quá trình xây dựng, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế trong các hoạt động công nghiệp, thương mại, đầu tư, tài chính ngân hàng, xây dựng, giao thông, đô thị… của Thủ đô. Khu trưng bày thành tựu văn hóa – xã hội thì tái hiện các thành tựu văn hóa, thể thao, du lịch, y tế, giáo dục, lao động xã hội, thông tin truyền thông, đối ngoại, xây dựng chính quyền của Thủ đô qua chặng đường lịch sử 60 năm. Đến với khu trưng bày thành tựu an ninh – quốc phòng, người xem như được sống lại không khí hào hùng của những chiến công oanh liệt mà quân, dân Thủ đô đã chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong xây dựng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, còn có khu trưng bày thành tựu công tác MTTQ và các đoàn thể và khu trưng bày thành tựu của một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam… Sự góp mặt của các tỉnh lân cận đã thể hiện sự liên kết giữa Thủ đô với các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; trong chương trình “Hà Nội với cả nước, cả nước với Hà Nội”.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đánh giá, triển lãm không chỉ khái quát, giới thiệu và quảng bá những thành tựu nổi bật của Thủ đô qua một chặng đường phát triển, mà còn thể hiện tình cảm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô với các thế hệ đi trước. Qua đó, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị quý báu của mảnh đất Thăng Long – Hà Nội, tạo động lực để nỗ lực, phấn đấu xây dựng Thủ đô giàu đẹp.

—o0o—

HÀ NỘI, THÀNH PHỐ DU LỊCH HẤP DẪN HÀNG ĐẦU CHÂU Á

Khánh Vy

(Bài đăng Trang Hà Nội của báo Nhân Dân số ra ngày 30/9/2014)

Trong nhiều năm qua, Hà Nội liên tục được độc giả các tạp chí du lịch uy tín trên thế giới bình chọn là một trong sáu thành phố du lịch hấp dẫn hàng đầu châu Á, một trong mười điểm du lịch đang nổi lên trên thế giới, đứng thứ hai trong số mười thành phố có chất lượng dịch vụ khách sạn tốt nhất thế giới… Thành phố đang từng bước khẳng định vị thế là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực.

Đa dạng các hình thức quảng bá

Trong những năm gần đây, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch Thủ đô luôn quan tâm công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, để hình ảnh du lịch Hà NDu lich Ha Noiội đến gần hơn với du khách trong và ngoài nước. Mặc dù nguồn kinh phí dành cho công tác này chưa lớn, song ngành du lịch tận dụng cao nhất mọi phương thức quảng bá đến các thị trường du lịch trong và ngoài nước nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch đến Thủ đô. Nhiều buổi xúc tiến giới thiệu tiềm năng du lịch độc lập và kết hợp, nhiều chương trình hội chợ du lịch, liên hoan du lịch, nhiều kỳ họp quốc tế về du lịch… được ngành du lịch thành phố tổ chức hoặc tham gia.

Trong hai năm 2013 – 2014, ngành du lịch thành phố tổ chức, tham gia nhiều hoạt động như: Năm Du lịch quốc gia vùng đồng bằng sông Hồng, Năm Du lịch Tây Nguyên – Đà Lạt 2014, Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam – Hà Nội, Liên hoan du lịch làng nghề Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, phối hợp huyện Mỹ Đức tổ chức Lễ hội du lịch chùa Hương và sắp tới là Liên hoan du lịch làng nghề Hà Nội… Thông qua các hoạt động đó đã giới thiệu được tiềm năng du lịch tự nhiên, văn hóa lịch sử, nhân văn, làng nghề, ẩm thực…, những tua, tuyến du lịch, các dự án kêu gọi đầu tư du lịch… Không ít những thỏa thuận hợp tác giữa ngành du lịch thành phố với các địa phương trong cả nước, giữa các doanh nghiệp du lịch với nhau, giữa thị trường du lịch trong nước và nước ngoài được ký kết tại các kỳ liên hoan, hội chợ.

Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Mai Tiến Dũng, ngoài thị trường trong nước, ngành du lịch Hà Nội đặc biệt quan tâm việc quảng bá hình ảnh Thủ đô đến các thị trường trọng điểm trên thế giới. Các kỳ họp tại Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á, Mạng lưới các thành phố lớn châu Á thế kỷ 21 đều được thành phố tham gia thường xuyên. Ngành du lịch Hà Nội cũng quan tâm quảng bá tại những thị trường trọng điểm như Pháp, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước Đông Âu và ASEAN… Ngành du lịch còn tổ chức các đoàn khảo sát của doanh nghiệp lữ hành nước ngoài, các đoàn báo chí đến khảo sát du lịch Hà Nội và vùng phụ cận. Hà Nội cũng quảng bá trên các website du lịch uy tín của thế giới như Trip Advisor, Smart Travel Asia, quảng bá trên một số kênh truyền hình Nga…

Chính vì vậy, số lượng khách quốc tế đến Hà Nội ngày càng tăng. Năm 2013, có 2,5 triệu lượt người, chiếm khoảng 30% số lượng khách quốc tế đến Việt Nam.

Không ngừng nâng cao chất lượng các tua du lịch

Phó trưởng Ban Khách quốc tế và nội địa – Câu lạc bộ Lữ hành Hanoi UNESCO Hà Nội, Phó Giám đốc Công ty Asialand Travel Từ Thị Mỹ Hạnh khẳng định: “Hiện Hà Nội là điểm đến không thể thiếu trong chương trình du lịch của hầu hết khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Du khách thường có nhận xét, tham quan ở Hà Nội cảm nhận được sự thanh bình, giản dị, nhịp sống chậm hơn so với những thành phố khác và họ thích đến Hà Nội hơn”. Chính vì vậy, cùng với tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch, Hà Nội cũng quan tâm nâng cao chất lượng du lịch gồm chất lượng sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, chất lượng dịch vụ du lịch nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến Hà Nội. Trong đó, việc khai thác tiềm năng xây dựng những sản phẩm du lịch mới, nâng cấp các điểm đến truyền thống được ưu tiên hàng đầu. Bởi đó là điều kiện cần để làm cơ sở thu hút khách đến tham quan Thủ đô. Hiện, thành phố đang quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Vì – Suối Hai thành Khu du lịch quốc gia, quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông và các loại hình phương tiện vận chuyển khách phục vụ phát triển du lịch Thủ đô đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Ngành du lịch đang xây dựng đề án phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng, phục vụ phát triển du lịch bền vững tại huyện Gia Lâm và Sóc Sơn, đề án phát triển du lịch cộng đồng khu vực Ba Vì, đề án nâng cấp điểm đến, khai thác phát triển du lịch làng cổ Đông Ngạc tại quận Bắc Từ Liêm, khai thác các chương trình nghệ thuật truyền thống phục vụ phát triển du lịch… Dưới góc độ người làm lữ hành, bà Từ Thị Mỹ Hạnh đánh giá: Hà Nội luôn có sự đa dạng hóa sản phẩm, liên tục đổi mới sản phẩm du lịch, giá tham quan ổn định là những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp giữ giá tua, thu hút khách nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

Ngành du lịch Hà Nội cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh, kiểm tra nhằm chấn chỉnh tình trạng lộn xộn trong hoạt động du lịch nếu có xảy ra. Ngoài ra, ngành tăng cường liên kết với các địa phương trong cả nước nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh du lịch của mỗi địa phương, tăng cường trao đổi khách hai chiều, đầu tư du lịch… Thời gian gần đây, Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch Hà Nội thực hiện hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Hải Phòng… Năm 2014, Hà Nội phấn đấu đón 14 triệu lượt khách du lịch trong nước, ba triệu khách du lịch quốc tế. Lãnh đạo Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch Hà Nội khẳng định: Nếu triển khai tốt các nhiệm vụ trên, chắc chắn ngành du lịch sẽ khai thác tối ưu các tiềm năng, thế mạnh của mình, phát triển hiệu quả và bền vững, từng bước đưa Hà Nội trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn trên thế giới và trong khu vực.

K.V.

—o0o—

NƠI TÀI HOA HỘI TỤ

Chí Dũng

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 5/10/2014)

Trong mạch chảy nghìn năm của Thăng Long – Hà Nội, có biết bao con người làm rạng danh văn hiến Thăng Long, biết bao nghệ nhân góp phần tạo nên các phường thợ được mệnh danh là “khéo tay nghề, đất lề Kẻ Chợ”… Mảnh đất “rồng chầu, hổ phục” không chỉ là nơi tài hoa mọi miền tụ về, mà còn là nơi những tài năng ấy đơm kết thành tinh hoa. Cái mạch chảy ấy vẫn luôn bất biến, để Thủ đô hôm nay, nối tiếp niềm tự hào tinh hoa Tràng An…36 phố nghề ở khu phố cổ Hà Nội chỉ là con số phiếm chỉ.

Nếu thống kê những phố nghề truyền thống, phải đến cả trăm. Nghề nào cũng có những nét đặc biệt. Giản dị như con dấu gỗ, giá chỉ bằng hai bát phở, có thể gặp ở bất cứ góc phố nào cũng chứa đựng bao nét tài hoa. Cầm trong tay con dao khắc, người thợ bỗng hoá thành nghệ sĩ, thoáng chốc, một bức tranh hiện lên trên mẩu gỗ mỗi chiều chỉ chừng 2 cm. Nhưng nếu đặt con dấu gỗ cạnh những đồ chạm bạc, thì vẫn thua rất xa về độ tinh xảo… Dẫu vậy, nếu được chọn một nghề xứng đáng được gọi là “tinh hoa của tinh hoa” trong khu phố cổ, tôi chọn nghề khắc chữ trên những quả chuông đồng…

Ông Nguyễn Đăng Hiển ở phố Hàng Vải tự nhận mình là một người thợ đồng. Còn với tôi, từ “nghệ nhân” với ông có lẽ vẫn còn khiêm tốn. Khi ông cầm cây dùi đục bên quả chuông, người ta ngỡ như một thư gia đang phóng ra những nét bút đầy khí lực. Tay búa, tay đục, tiếng lách cách khi nhặt khi mauNghe nhan chuong dong… Những nét chữ Nho hiện dần lên trên quả chuông mầu xám cùng với nhịp búa. Đây là nét “tà điểm” (nét chấm nghiêng) mềm mại, đây là “sổ” (nét thẳng đứng) dứt khoát, khỏe khoắn… Cây dùi đục trong tay ông khi tàng, khi lộ với phong thái thư gia. Buổi làm việc kết thúc, cũng là lúc những bài kệ, bài minh hiện lên lấp lánh trên quả chuông.

Chạm đồng khó. Chạm chữ Nho trên đồng là đỉnh cao, đòi hỏi phải tinh thông nghề chạm, lẫn tinh thông Hán học. Ông Hiển sinh năm 1946 trong một gia đình làm đồ đồng ở làng Quảng Bố (huyện Lương Tài, Bắc Ninh). Cụ thân sinh ra ông sớm đưa gia đình lên Hà Nội lập nghiệp. Gia đình vốn có truyền thống Nho học nên cậu bé Hiển học Tam tự kinh, Tam thiên tự từ nhỏ. Ngày cầm dùi đục học nghề đồng, tối luyện bút lông. Khi sành cổ học, cũng là lúc thạo nghề chạm đồng. Một lần, có người nhờ ông khắc những chữ Nho lên quả chuông đồng. Ngày ấy, để khắc chữ lên quả chuông đồng, người ta đặt một tờ giấy viết chữ lên thân chuông, rồi cầm dụng cụ gõ lên theo những nét chữ lên tờ giấy. Chữ viết sẽ hằn lên trên mặt đồng. Sành Nho học, ông Hiển thấy “tức cười”. Làm thế chẳng khác nào viết thư pháp… bằng bút bi, còn đâu hồn cốt, tâm thế của người cầm bút? Ông nhớ trên những quả chuông cổ, trên bề mặt đồng, mà nét chữ được chạm như chữ viết của bậc đại bút. Nguyễn Đăng Hiển nảy ra ý định chạm chữ trên đồng. Nghệ thuật chạm chữ trên đồng thất truyền. Ông mày mò tự học. Bề mặt đồ đồng cứng. Để tạo chiều sâu cho nét chữ, mỗi nhát đục, là một lần thân chuông được khoét sâu vào. Không thể gõ quá nhẹ. Quá mạnh tay thì nét đục lạc khỏi khuôn khổ. Chữ Nho lại có những yêu cầu chặt chẽ lối viết, cùng một nét, nhưng phải bảo đảm “đầu nặng, đuôi nhẹ”. Có những nét như nét chỉ được phép chạm mong manh không bằng đầu tăm mà lại vẫn phải phân biệt được với nét chữ tương tự. Viết chữ trên giấy, nếu chẳng may viết sai có thể thay tờ giấy khác, chạm chữ trên đồng thì không. “Thánh Quát” xưa treo tóc lên đầu rèn chữ, thì với “thiết bút” (bút sắt, tức cây dùi đục) Nguyễn Đăng Hiển cũng còng lưng luyện chữ trên đồng… Những người nặng lòng văn hóa cổ mau chóng nhận ra bậc “kỳ bút” Nguyễn Đăng Hiển từ những tác phẩm đầu tiên. Cứ muốn khắc chữ trên chuông là người ta tìm đến ông Hiển. Khắc chữ theo lối “viết bút bi” thi thoảng vẫn có người làm. Riêng chạm kiểu “tách tỉa” như ông Hiển chỉ có một. Từng nét chữ có độ khúc xạ ánh sáng, có chiều sâu rất đẹp. Chưa ai không kinh ngạc trước tay chạm của ông Hiển.

30 năm làm nghề, chạm gần 5.000 quả chuông đồng, ông Nguyễn Đăng Hiển chưa tìm được học trò chân truyền. Người biết nghề đồng tìm đến ông học, thấy chữ Nho khó quá, bỏ cuộc. Lớp thư pháp ông dạy có hàng trăm học sinh giỏi Hán tự, nhưng sờ đến cây dùi đục lại phát sợ. Chưa ai dám theo nghề. Có lẽ gọi ông là “thư pháp gia trên đồng” mới phù hợp.

Phố nghề là đặc sản của Hà Nội. Phố nghề, đứng ở vị trí trang trọng trong bề dày văn hóa ngàn năm. Nhưng nếu hỏi phố nghề nào được tạo nên bởi chính những con người sinh ra ở mảnh đất này? Sẽ là câu hỏi khó trả lời. Tôi từng rất ngưỡng mộ những người được xem là người Hà Nội gốc. Nhưng khi hiểu về lịch sử các con phố, tôi bắt đầu thấy băn khoăn… Lập nên phố Hàng Đào xưa là người dân làng Đan Loan (Bình Giang, Hải Dương) và một số làng có nghề nhuộm ở Bắc Ninh. Phố Hàng Mành vốn “của” người làng Giới Tế (Yên Phong, Bắc Ninh). Thợ bạc Châu Khê (Hải Dương) là những người góp phần lập ra phố Hàng Bạc… Có thể kể rất nhiều thí dụ. Bộ mặt văn hóa Thăng Long do bàn tay của những con người ở khắp mọi miền Nau phochung đúc lên. Nhưng cũng không khó để nhận ra, những con người tứ xứ ấy đã “khác”, khi về với Thăng Long – Hà Nội. Điều gì đã xảy ra khi người ta tụ về đất này? Liệu những nghệ nhân như ông Nguyễn Đăng Hiển và bao nhiêu người thợ khác có trở nên tài khéo đến tuyệt kỹ nếu họ cứ ở những làng quê xa xôi thay vì đến với kinh đô – Thủ đô?

Nói đến văn hóa Hà Nội, không thể không nói đến ẩm thực. Nói đến ẩm thực, đầu tiên phải là món phở. Nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng, chủ của chuỗi bốn, năm quán phở thương hiệu “phở Ngọc Vượng” bảo rằng: “Cho đến giờ, không có tài liệu xác thực nào khẳng định phở có nguồn gốc từ Nam Định hay Hà Nội. Nhưng có điều chắc chắn rằng, phần lớn chủ những hiệu phở của Hà Nội suốt những năm qua là người gốc Nam Định”. Thông tin này có thể làm những người yêu “Hà Nội gốc” chạnh lòng. Song quả không sai. Nam Định có cả làng nghề phở – làng Vân Cù, ở huyện Nam Trực. Người làng Vân Cù lập nghiệp ở Hà Nội từ thời Pháp thuộc đến giờ. Ngay đến quán phở 48 phố Hàng Đồng, quán phở Chất (phố Khâm Thiên) – những quán được coi là “rất Hà Nội”, chủ quán cũng là người gốc thành Nam thì đủ biết phở Nam Định có ảnh hưởng đến ẩm thực Thủ đô thế nào. Có một điều thú vị là nhiều chuyên gia ẩm thực nhận định: Bát phở của những người gốc Nam Định nấu ở Hà Nội thanh tao hơn phở thành Nam. Không ít người còn cho rằng, phở Hà Nội còn ngon hơn! Đem điều này hỏi Vũ Ngọc Vượng – một “người trong cuộc”, anh là người làng Vân Cù nấu phở ở Hà Nội – anh bảo rằng, trên “nền” cái công thức chung, khi đi đến đâu, người làng Vân Cù đều có những thay đổi cho phù hợp với khẩu vị địa phương. Người Hà Nội sành ăn, phong vị người Hà Nội tinh tế, người nấu phở phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu là lẽ tất nhiên. Câu trả lời của nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng dành riêng cho phở. Nhưng, cũng có thể coi đây là lời lý giải về văn hóa Hà Nội nói chung. Là đất “sơn chầu, thủy tụ” nên Thăng Long – Hà Nội có sức hút người tài khéo các vùng. Khi đến đây, sự thanh nhã, tinh tế trong các nếp ứng xử, trong hưởng thụ văn hóa của người Hà Nội đã góp phần làm những tài năng ấy được thăng hoa.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu không thừa nhận khái niệm “người Hà Nội gốc”. Hà Nội “tụ nhân, tụ thủy”. Suốt nghìn năm, có bao nhiêu anh tài tứ phương đã đến và làm rạng danh văn hiến Thăng Long. Từ năm 2010, TP Hà Nội trao tặng danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú”. Mỗi năm chỉ có mười người. Những con người được vinh danh thời gian qua đều đem đến sự nể phục ở những góc độ khác nhau. Và nếu tìm hiểu tiểu sử những con người ấy, càng hiểu thêm bốn chữ “tụ nhân, tụ thủy”. Những con người ưu tú nhất của Thủ đô hôm nay, người đến từ miền trung, xứ Nghệ, người đến từ vùng văn hóa xứ Đông, người đến từ xứ Nam… Hẳn rất nhiều người ngạc nhiên khi biết cố nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, nhà Hà Nội học, một người “rất Hà Nội” lại sinh ra ở Hưng Yên. Một công dân Thủ đô ưu tú khác, người được xem là người “giữ nếp văn hóa Tràng An” với hơn 30 đầu sách về Hà Nội – nhà nghiên cứu Giang Quân thì đến từ huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Tôi từng “căn vặn” bác Giang Quân về văn hóa Hà Nội, khi gần đây xã hội xuất hiện những biểu hiện tiêu cực trong văn hóa ứng xử, khi làn sóng nhập cư ngày càng nhiều, có chiều hướng lấn át những người Hà Nội lâu năm. Nhà nghiên cứu thừa nhận những mặt tiêu cực là có thật. Song ông tin tưởng vào sự trường tồn của cái đẹp: “Những người mới đến vẫn quen nếp sống ở các vùng, chưa phù hợp với đời sống đô thị. Nhưng dần dần, họ sẽ phải thích nghi, phải học theo cái hay, cái đẹp của người Hà Nội. Khi chúng ta kết hợp với những chính sách phù hợp, những nét văn hóa không phù hợp với Thủ đô sẽ bị đào thải bởi thời gian”.

Hà Nội hôm nay khác xa so với thành phố nhỏ bé hồi mới được giải phóng. Hà Nội rộng hơn, vươn cao hơn, và cũng có nhiều thành phần dân cư hơn. Tôi nhớ câu chuyện của nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng. Thuở nhỏ anh sống ở quê. Lớn lên, anh chọn Hà Nội lập nghiệp. Năm 2006, khi còn rất trẻ, anh được trao giải nhất trong cuộc thi nấu phở tại khách sạn Sofitel Metropole – một giải thưởng danh giá khi có sự góp mặt của nhiều “bàn tay vàng” ẩm thực đất Hà thành. Hiện sở hữu chuỗi quán phở ở Hà Nội, anh ấp ủ một ngày nào đó, sẽ mở rộng ra đến các nước trên thế giới. Bởi phở Hà Nội không thua kém bất cứ món ăn quốc tế nào. Anh sinh năm 1977, nay người ta hay gọi là thế hệ 7x – hiện thân của một thế hệ trẻ dám nghĩ, dám làm. Hy vọng lắm, một ngày kia, Vũ Ngọc Vượng làm rạng danh cho phở Hà Nội trên trường quốc tế. Và cũng hy vọng lắm, sẽ tiếp tục có thêm những thế hệ 8x, 9x tiếp tục gắn bó, xây dựng Thủ đô thêm giàu đẹp. Nghĩ đến dòng chảy của văn hóa Thăng Long – Hà Nội, những con người đã và đang góp phần xây dựng Thủ đô, tôi bỗng nhớ lời thơ của Nguyễn Phan Quế Mai: “Tôi không được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội/Hà Nội tự sinh ra và tự lớn trong tôi”…

C.D.

—o0o—

ĐỌNG LẠI TRONG MẮT AI

Ghi chép của Nhã Khanh

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 26/5/2014)

Người từ miền nam ra, Việt kiều từ mãi tận Ca-na-đa, Mỹ, Ô-xtrây-li-a về, du khách nước ngoài lần đầu đặt chân đến Hà Nội, đi đâu thì đi, nhưng không thể không tìm đến quán phở gia truyền giữa phố cổ.

Ai chưa một lần chồn chân, mỏi gối đứng xếp hàng cả tiếng đồng hồ, mướt mải mồ hôi, hay co ro trong mưa phùn gió rét, để được bưng bát phở nghi ngút khói, ngào ngạt mùi vị chỉ nơi này mới có, thì coi như chỉ mới ghé qua Hà Nội, chứ chưa thật sự nếm hương vị đặc trưng, cô đọng tinh túy ẩm thực của mảnh đất này. Có những người thưởng thức xong bát phở là vội vã ra sân bay. Họ mang theo ấn tượng xứ sở này với đậm đà mùi vị phở, hương thơm cà-phê đen đặc khó nhạt phai trong ký ức…

Lẫn trong dòng người xếp hàng kiên nhẫn dưới lòng đường, có du khách đã quay trở lại lần thứ hai.

Không hẳn chỉ vì yêu, vì nhớ phở, nhưng từ hơn mười lăm năm nay, sau lần rời xa Hà Nội, nay quay trở lại, chỉ mới đến đầu phố, anh đã nhận ngay ra mùi vị phở vẫn giữ nguyên, chẳng hề thay đổi sau chừng ấy năm. Y như vẫn nhận ra người thân quen dù bao năm xa cách. Rón rén bưng bát phở đầy ụ, sang quán cà-phê kề bên, ngồi ké cùng bàn với tôi, anh nở nụ cười mãn nguyện, ngây thơ như trẻ con. Trông anh dùng đũa khéo léo, cho thêm vài lát ớt tươi, đủ biết là người chẳng còn lạ lẫm với Hà Nội. Nhiều thứ thay đổi quá, không thể nhận ra, nhà cửa, phố xá và cả con người, anh nhận xét.

Cuộc sống là vậy, như một dòng sông.

Nếu sông không chảy nữa thì đó là dòng sông chết. Một thành phố cũng có khác gì một con người, phải lớn lên, phổng phao, trưởng thành. Nhưng đổi thay đến đâu thì vẫn phải giữ lại những nét, dấu ấn không thể phai nhạt, lẫn với ai khác, nơi nào khác. Thay đổi đến mức không làm sao nhận nổi đường nét, tính cách, ngay cả “hơi thở”, mùi vị ngày trước, tức là tự đánh mất mình. Bát phở đã vơi một nửa, người khách nước ngoài xa lạ bỗng chốc hóa thân quen. Lần đầu đặt chân đến Hà Nội từ hơn chục năm trước, anh vẫn nhớ mùi vị đậm đà món phở đặc sản cổ truyền. Giờ quay lại, giá có đắt hơn trước, nhưng nước vẫn trong, vẫn ngọt tự nhiên. Không nhẽ, anh nói, thời gian trôi đi mà cái cốt chất ấy chẳng hề tan loãng, nhạt đi ít nhiều?

Lặng im lắng nghe một ông khách Tây, vừa thưởng thức bát phở gia truyền vừa triết lý về sự đổi mới của Hà Nội, tôi thầm thán phục sự tinh tế, sâu sắc của ông. Mới gặp nhau một lần, có thể là duy nhất, cớ gì phải đưa đẩy cho vừa lòng nhau. Ngồi ở góc tối khuất trong quán cà-phê này dễ chừng hơn hai chục năm, ngẫu nhiên gặp và quen những gương mặt lạ lẫm, rồi quên. Chưa bao giờ có ai, nhìn vào đáy bát phở phố cổ, rồi cô đọng suy ngẫm về những chuyển biến bề nổi của một thành phố có chiều dày lịch sử như Hà Nội. Hỏi anh, ngoài phở, còn có thứ gì khác ấn tượng khó quên nên mới lặn lội, quay trở lại? Nheo đôi mắt xanh trong veo nhìn ra ngoài đường, vừa chợt thấy một người phụ nữ dắt xe đạp chở đầy hoa tươi, vành nón lá nghiêng che vạt nắng thu hanh hao, anh đáp, với tôi, đó là hình ảnh đẹp nhất, chứ không phải những ngôi nhà cửa kính kín bưng, chồng chất ba bốn tầng. Tôi đã lang thang ở Hà Nội khi lần đầu đặt chân tới, rồi bị mê hoặc, khó dứt ra nổi. Trước khi tới, tôi đã lục tìm trong thư viện những cuốn sách viết về lịch sử khu phố Pháp cũ do kiến trúc sư Hebrar thiết kế, dựa theo tầm nhìn của cựu Thống chế thuộc địa, người muốn biến Hà Nội thành một Pa-ri thu nhỏ, một “thành phố nhà vườn”. Lần trước và lần này trở lại, có thể đếm được những biệt thự vẫn như còn nguyên vẹn. Tuyệt vời nhất là được thong thả dạo bước dưới những hàng cây sóng đôi, rậm rạp, xanh rì. Chậm bước đi dưới tán cây râm mát che rợp vỉa hè, rắc đầy những hạt nắng thu vàng, tôi cứ cảm thấy như vẫn nhận ra dấu chân của mình từ lần trước. Vẫn những viên đá lát mòn dấu chân bao người, vẫn những chiếc lá vàng lặng lẽ rụng rơi. Cầm tách cà-phê đen không đường, không sữa bốc khói nóng hổi, mà tôi mời, người khách từ phương trời xa lắc chợt trầm ngâm.

Anh chậm rãi, tôi đã lang thang tới nhiều thành phố lớn, cuối cùng nhận ra Hà Nội là thành phố xanh nhất, yên tĩnh nhất. Khi bước đi trên những phố xá đông đúc, qua những biệt thự kiểu Pháp, rồi ghé vào những ngôi chùa yên tĩnh, tôi hiểu cái cốt chất của con người dường như vẫn đậm đặc như hương vị cà-phê phin này. Những món ăn nhanh như Kentucky, KFC, uống nhanh như Lipton, Dihmat hay cà-phê Starbuck, khó chen chân, lấn sân nếp sống, lối thưởng thức chậm rãi, từ tốn của người dân gốc Hà Nội. Tôi cười, anh có những cảm nhận và cảm thông chẳng khác gì người đã sống ở đây nhiều năm. Có lẽ, vì yêu thành phố này đến mức mê mẩn, nên anh không thấy tiếc nuối những mất mát, mà chỉ những người sinh ra, lớn lên, hít thở không khí, thấm đẫm nắng mưa, gió rét thì mới nhận thấy từng ngày, tháng năm. Tôi nhìn anh giọng điềm tĩnh, có những cái mất trông thấy. Mất một làng hoa, mất cả một dinh đào nổi tiếng mấy trăm năm hay hai rặng ổi la đà mép nước hồ Tây. Gần đây, người ta đang rục rịch chặt hàng cổ thụ ven hồ Thủ Lệ cho dự án tàu điện metro đầu tiên. Còn nhiều hàng cây, tuổi đời hơn gấp mấy tuổi người bị chặt bỏ không thương xót cho những trung tâm thương mại, siêu thị chói gắt nắng hắt ra từ nhôm kính. Theo năm tháng, những khoảng trống mất mát cứ loang rộng trong lòng lớp người như tôi, ngày thêm trống rỗng, khó mà lấp đầy. Khó thế, nhưng còn dễ so với những thứ đã mất chẳng nhìn thấy, chỉ cảm thấy, mất hẳn và đang mất dần. Một thoáng im lặng giữa hai chúng tôi. Ngoài đường, xao xác chút heo may lúc giao mùa. Lãng đãng dăm chiếc lá vàng rụng chơi vơi ngay trước hè phố. Mùa hè chưa qua, mùa thu thì chưa đến.

Một ngày trải qua đủ bốn tiết trời.

Người đàn ông châu Âu chợt trở nên hào hứng giãi bày, không phải ngẫu nhiên, vô tình tôi trở lại nơi này vào đúng lúc giao mùa, để gặp lại cái cảm giác đổi thay. Giao mùa cũng gần giống như giao thời, làn sóng đô thị hóa đang từ từ nhấn chìm những kiến trúc xưa cũ. Nhà trong phố cổ mang nét đẹp “vị kỷ”, mỗi nhà mỗi kiểu dáng, mà cả dãy phố mặt tiền lô nhô, thiếu hẳn cái bản sắc riêng biệt, chỉ cần lướt mắt là du khách như tôi nhận ra ngay.

Vậy điều gì níu chân anh quay lại, tôi ngắt lời có phần đường đột. Thoáng chút đắn đo, suy ngẫm, anh nói sau khi uống cạn tách cà-phê, cảm giác hỗn độn có phần xô bồ của Hà Nội là có thực. Nhưng tôi vẫn bị quyến rũ bởi những thứ lắng đọng chìm sâu dưới cái ồn ào, huyên náo, bụi bặm. Tôi đã ngồi cả tiếng đồng hồ bên ven hồ công viên, ngắm tụi trẻ nô đùa, những người già nhảy trong tiếng nhạc dìu dặt. Thời gian dường như chậm lại, ngưng tụ với những người ngồi bất động buông câu sát mép nước lặng sóng, với những ông già trầm ngâm bên bàn cờ. Dù là ngoài phố xá xe máy, ô-tô chen chúc, lấn lướt, người ta vẫn thản nhiên ăn uống trên vỉa hè, đốt vàng mã nghi ngút. Dù là nhịp sống gấp gáp, vội vã cuốn theo dòng chảy thời gian, nhưng tôi vẫn thầm tin rằng, những gì lắng đọng lại thì sẽ còn mãi. Nếu không, tôi và không ít khách du lịch, chẳng có cơ hội trở lại. Không thể quên câu nói của anh, một người lạ hóa nên quen, tôi bắt chặt tay anh bảo: “Những gì lắng đọng lại thì còn mãi”. Có lẽ chỉ người đứng từ xa, đứng ngoài mới có đôi mắt, góc nhìn chuẩn như vậy chăng? Những gì đọng lại trong mắt, sẽ còn mãi, như những tấm ảnh đen trắng khó phai mờ.

—o0o—

GIỮ GÌN BẢN SẮC KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HÀ NỘI

Hải Chi

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân ra ngày 23/9/2014)

 Từ sau ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954) đến nay, hạ tầng đô thị của Hà Nội đã phát triển không ngừng. Cùng với sự gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, các công trình văn hóa, công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại được cải tạo và xây mới theo quy hoạch.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thành phố phải đối mặt với nhiều thách thức, bất cập, cần phải nỗ lực vượt qua.

Không ai có thể phủ nhận một thực tế, sau 60 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt Thủ đô Hà Nội to đẹp hơn, khang trang, hiện đại hơn rất nhiều. Hà Nội đã trở thành một đô thị lớn của khu vực. Trong tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, thành phố luôn chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị các công trình kiến trúc tiêu biểu tập trung tại bảy tiểu khu trong khu vực nội đô lịch sử bao gồm: Trung tâm chính trị Ba Đình, khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Gươm và phụ cận, khu vực hồ Tây và phụ cận và khu vực hạn chế phát triển. Vì thế, trải qua bao thăng trầm, qua các cuộc kháng chiến, Hà Nội vẫn giữ vẻ đẹp riêng của mình.

PGS,TS Phạm Hùng Cường, Hiệu phó Trường đại học Xây dựng Hà Nội từng ca ngợi: “Hà Nội có rất nhiều không gian trữ tình, sâu lắng. Không gian khu phố cổ vừa cổ kính, vừa sống động, khu phố kiểu Pháp yên tĩnh rợp bóng cây, Hồ Gươm nước xanh biếc, lãng mạn những buổi sương sớm, hồ Tây xanh ngát với những đầm sen, sông Hồng nước đỏ phù sa…”.

Cùng với việc bảo tồn các công trình kiến trúc tiêu biểu, trong 60 năm qua, nhất là từ năm 1986 đến nay, tốc độ xây dựng, mở rộng các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình kiến trúc trên địa bàn thành phố diễn ra nhanh chóng. Các công trình giao thông đầu mối như sân bay quốc tế Nội Bài, các cây cầu lớn bắc qua sông Hồng, sông Đuống như cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Nhật Tân, Đông Trù, hệ thống đường vành đai của thành phố như đường vành đai 1,2,3, các tuyến đường cao tốc: Đại lộ Thăng Long, Bắc Thăng Long-Nội Bài, Pháp Vân-Cầu Gioe… được xây dựng và đưa vào sử dụng.

Hàng loạt các khu đô thị mới ra đời trên những khu đất trước kia là sình lầy, ruộng trũng như Trung Hòa-Nhân Chính, Linh Đàm, Mỹ Đình, Định Công, The Mannor…

Nhiều công viên, vườn hoa mới được xây dựng đẹp, hệ thống cấp, thoát nước, xử lý môi trường từng bước được triển khai xây dựng theo quy hoạch…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Hà Nội gặp phải nhiều bất cập trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự gia tăng dân số quá lớn, dẫn đến sự quá tải trên toàn hệ thống hạ tầng, nguồn lực đầu tư xây dựng khó khăn, năng lực quy hoạch, xây dựng, quản lý, vận hành còn hạn chế, những mâu thuẫn nảy sinh giữa bảo tồn và phát triển, giữa yêu cầu phát triển kinh tế và kỷ cương trật tự đô thị…

Phó Giám đốc Sở Quy hoạch- Kiến trúc Hà Nội, kiến trúc sư Bùi Xuân Tùng, thừa nhận thực tế hiện nay còn nhiều khu vực, tuyến phố ở Hà Nội nhếch nhác, vẫn còn tình trạng nhà siêu mỏng, siêu méo…

PGS, TS Phạm Hùng Cường cũng phản ánh, Hà Nội đẹp nhưng cái đẹp dường như chỉ giới hạn và giữ được bản sắc trong phạm vi nhỏ, gói gọn trong khu phố cổ, khu phố kiểu Pháp, chung quanh hồ Tây…

Ra ngoài vành đai 2, các công trình còn thiếu bản sắc.

Vậy cần thực hiện những giải pháp nào để giải quyết những mâu thuẫn nêu trên? Kiến trúc sư Bùi Xuân Tùng nêu ba nguyên tắc kiểm soát kiến trúc. Đó là bảo đảm đô thị phát triển bền vững giữa bảo tồn chỉnh trang khu vực nội đô lịch sử với việc xây dựng các khu đô thị mới, giữa khu vực đô thị và nông thôn; gìn giữ và phát huy các giá trị tiêu biểu của các khu vực hình thái đặc thù của Thủ đô; hoàn thiện đồng bộ quy hoạch các cấp; xây dựng hoàn chỉnh các quy chuẩn, quy định, quy chế quản lý quy hoạch – kiến trúc các khu vực quan trọng, tuyến đường chính, làm công cụ cho công tác quản lý, kiểm soát phát triển.

Về hình thái không gian, phải kiểm soát, khớp nối không gian chung của nhiều địa bàn, cũng như định hướng các khu vực trọng tâm trọng điểm để tạo dựng các tuyến, khu vực công trình. Mỗi khu vực được quy định cụ thể về không gian, quy mô tầng cao, kiến trúc công trình, để kiểm soát không gian, kiến trúc công trình tại mọi địa bàn trên thành phố. Đối với các khu vực đặc thù, cần kiểm soát, quản lý công trình cao tầng khu vực nội đô lịch sử gồm bốn quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, khu phố cổ, khu phố cũ… nhằm gìn giữ các khu vực không gian kiến trúc đặc thù, truyền thống.

Để quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan hai bên tuyến đường, các nút giao thông, tạo bộ mặt kiến trúc công trình hai bên đường đẹp, văn minh, hiện đại, cần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa kiến trúc trên toàn tuyến đường với việc mở tuyến đường mới, xử lý triệt để các trường hợp nhà “siêu mỏng, siêu méo” kết hợp với chỉnh trang đô thị. Thành phố sẽ tập trung ưu tiên lập quy hoạch, thiết kế đô thị để tập trung nguồn lực đầu tư hoàn chỉnh các khu vực quan trọng, các tuyến đường chính như khu tây hồ Tây, đường vành đai số 2, 3… kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái bằng cách giữ gìn không gian, cải tạo các công viên, hồ nước…

Thực hiện Chương trình 06-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý quy hoạch giai đoạn 2011-2015″, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, từ năm 2011 đến nay, thành phố đã phối hợp với các bộ, ngành trung ương, các cơ quan, đơn vị và nhân dân tổ chức xây dựng triển khai các đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch vùng huyện; các quy hoạch chuyên ngành; các đồ án quy hoạch chi tiết, các tuyến đường chính đô thị, các khu vực đặc thù và chức năng đô thị quan trọng. Thành phố cũng hoàn chỉnh các quy chế, quy định quản lý quy hoạch – kiến trúc, quy hoạch xây dựng tại khu vực nông thôn theo định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô…, từng bước đưa Hà Nội thành một đô thị phát triển theo hướng đa hệ, bản sắc, văn minh và hiện đại.

H.C.

—o0o—

CÔNG DÂN GIÀ ƯU TÚ CỦA THỦ ĐÔ

Vũ Đồng

(Bài đăng trang 14 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 12/10/2014)

Lớp học đặc biệt này đã có 17 năm nay. Cô giáo là bà Hồ Hương Nam, 82 tuổi, trú ở P.Yên Phụ, Q.Tây Hồ (Hà Nội).

Học sinh của bà là những đứa trẻ khuyết tật, hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, tự kỷ, câm điếc.

Sau hơn 30 năm giảng dạy tại Trường tiểu học Hoàng Hoa Thám (Q.Ba Đình, Hà Nội), năm 1989 bà Nam nghỉ hưu. Năm 1993 bà xin làm công tác dân số gia đình trong khu phố. Bà nói: “Mỗi lần đi như thế, tôi thấy nhiều cháu khuyết tật cứ lủi thủi, quanh quẩn ở góc nhà. Nhìn xót lắm”. Ý định tập hợp những em này để mở lớp học của bà Nam bắt đầu từ đây.

Thành công đầu tiên là gia đình của hai em Nguyễn Thùy Trang (bị thiểu năng trí tuệ) và Nguyễn Kim Thoa (hội chứng Down) nhiều lần từ chối cuối cùng đã đồng ý cho con theCong dan gia uu tuo lớp học của bà. Sau một tháng bố mẹ của Trang, Thoa bất ngờ khi thấy các em biết lễ phép chào hỏi, viết được một số chữ cái ngay ngắn, tròn trịa. Cứ thế, tin đồn lan ra, lớp học ngày một đông hơn, từ hai em rồi sáu em, tám em…

Từ phòng học mượn của khu dân cư số 6 ở P.Yên Phụ, nhiều người lại thấy mấy bà cháu lếch thếch qua nhà trẻ trong phường. Năm 2002 cô trò được Trường THCS An Dương (P.Yên Phụ) dành một phòng học khang trang. “Thật tốt khi lớp học lại được ở trong ngôi trường này. Đây cũng là môi trường phù hợp để các em hòa nhập với cộng đồng, thế giới bên ngoài” – bà Nam nói.

Để duy trì lớp học, bà Nam gom góp từ 2,3 triệu đồng tiền lương hưu cộng với 1 triệu đồng tiền người con trai chu cấp mỗi tháng để lo từng cây bút, cuốn sách, cuốn vở đến những món quà vặt như bánh kẹo, hoa trái khích lệ các em.

Bà nói: “Dạy các em thật khó. Khó vì các em chưa thể tập trung, đứa thì ngủ, đứa thì chạy lung tung, đứa ngồi trong lớp cứ ngổ ngáo, đứa thì hét lên…”. Bà Nam chia các em thành các nhóm nhỏ để kèm cặp. Các em bị hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, tự kỷ một nhóm.

Nhóm của các em bị liệt, rồi nhóm của những em câm điếc. Ngày nào bà cũng ân cần đến cầm tay từng em uốn nắn từng con chữ. Nhận thức của các em rất chậm nên cách dạy của bà luôn đa dạng kiểu “tùy cơ ứng biến” và phải luôn có hình minh họa. Điều này đã khiến các em dần tiếp thu được bài.

Lớp học giờ đây đã tiến bộ rõ rệt. Các em từ chỗ không biết đọc, viết thì giờ hầu hết viết chữ rất đẹp, biết làm các phép tính trình độ lớp 2 đến lớp 5. Những em trước đây cứ ngơ ngẩn, không có ý thức thì giờ đã biết lễ phép chào hỏi.

Ông Đặng Quang Phụng (phụ huynh em Đặng Viết Thắng, học trò của cô Nam) kể: “Gia đình tôi buồn lắm khi con sinh ra đã không được bình thường. Khi được một số người giới thiệu đến lớp học của bà Nam, một thời gian tôi thấy cháu khác hẳn. Biết lễ phép chào hỏi rồi viết đọc được, tôi mừng chảy cả nước mắt. Từ đó tôi luôn kiên trì chở cháu đến lớp và thỉnh thoảng ngồi học luôn cùng cháu. Bà Nam đã thay đổi cả cuộc sống gia đình tôi”.

Nhiều lần các phụ huynh có ý định quyên góp để hỗ trợ cho lớp học nhưng bà Nam kiên quyết không nhận mà chỉ nói: “Các anh, các chị cố gắng duy trì chở các cháu đến lớp mỗi ngày là tốt lắm rồi”. Bà Nam rất bất ngờ khi biết mình là một trong mười “Công dân thủ đô ưu tú” vừa được UBND TP Hà Nội tuyên dương. Bà nói: “Phần thưởng 10 triệu đồng này tôi dành hết cho lớp. Các em sẽ có thêm những dụng cụ học tập mới”.

V.Đ.

—o0o—

NGHĨA CỬ CAO ĐẸP

            Xuân Bách

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 12/9/2014)

Những ngày gần đây, câu chuyện về 16 thanh niên, sinh viên nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân không ngại nguy hiểm, trong đêm tối vẫn tìm đường xuống vực sâu cứu các nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông tại Sa Pa (Lào Cai), đã trở thành chủ đề nóng trên các diễn đàn mạng xã hội. Ðó là một nghĩa cử cao đẹp, rất đáng biểu dương của các bạn trẻ.

Vào dịp nghỉ lễ 2-9, 16 thanh niên, sinh viên trong nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân lên kế hoạch đi chơi, ngắm cảnh tại Hoàng Su Phì (Hà Giang). Tối 29-8, cả nhóm xuất phát bằng xe máy đi theo cung đường: Hà Nội – Hoàng Su Phì – Xín Mần – Lào Cai – Sa Pa – Ô Quy Hồ – Mù Cang Chải rồi trở về Hà Nội. Khoảng gần 19 giờ ngày 1-9, khi cả nhóm đang leo dốc Tòng Sành trên quốc lộ 4D từ TP Lào Cai lên Sa Pa thì bất ngờ chứng kiến chiếc xe khách giường nằm phía trước văng khỏi đường, lao xuống vực. Những âm thanh rợn người dội lại trong đêm tối. Phần lớn các thành viên trong nhóm đều bị sốc vì chưa từng gặp cảnh tai nạn kinh hoàng, thảm khốc như thế bao giờ. Sau khi lấy lại bình tĩnh, các bạn trẻ đã kịp thời thông báo tới các đơn vị chức năng để ứng cứu người bị nạn, đồng thời dùng đèn pin, điện thoại soi đường, mò mẫm trườn xuống vực sâu gần 200 m để cấp cứu, di chuyển các nạn nhân khỏi hiện trường.

Lê Thị Diệu, sinh năm 1992, sinh viên Học viện Ngân hàng, một thành viên nữ của nhóm kể lại, khi tận mắt chứng kiến sự Nghia cu cao depviệc, em đã bật khóc vì sợ hãi. Nhưng gạt những giọt nước mắt, cô gái dũng cảm cùng mọi người trong đoàn, tìm kiếm nạn nhân, làm nhiệm vụ sơ cấp cứu những người còn sống sót. Ðêm hôm trước Diệu bị ốm và phải uống thuốc hạ sốt, không đủ sức nâng đỡ người bị thương, Diệu nhờ các bạn hỗ trợ. Sau khi giúp các nạn nhân, cô mệt lử, được các bạn đưa vào trạm y tế để truyền nước vì bị tụt đường huyết. Bạn Nguyễn Thị Quỳnh Trang, phóng viên báo điện tử Vnexpress khi gặp những thi thể đầu tiên, chân tay bủn rủn vì sợ hãi, nhưng cố gắng sơ cứu các nạn nhân bị thương. Thiếu bông, băng, Trang và các bạn đã dùng dao rạch gối tựa, ghế ra để lấy bông cầm máu cho các nạn nhân. Sau đó, sử dụng các giường nằm trên xe ô-tô làm băng cáng, đưa các nạn nhân lên phía trên. Các bạn còn có sáng kiến xin người dân địa phương các đoạn dây thừng để kéo cáng lên phía trên thuận tiện. Một số thanh niên trong nhóm còn dùng cờ-lê cắm chắc vào các vách núi, để di chuyển được dễ hơn… Trực tiếp tận mắt chứng kiến vụ tai nạn thảm khốc và là những người đầu tiên lần tìm xuống vực sâu cứu người, Ngô Ðăng Giáp, sinh viên năm thứ ba Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết: “Lúc đó, chúng tôi chỉ kịp nghĩ, nếu chậm trễ thì hàng chục người sẽ không có cơ hội sống sót, vì thế mọi người đều cố gắng hết sức để nhanh chóng sơ cứu các nạn nhân”. Trong đêm tối thăm thẳm, Giáp đã cùng các bạn sử dụng đèn pin, điện thoại di động để soi đường, bám theo từng mỏm đá, vách núi xuống vực để tìm kiếm người bị nạn, tiến hành sơ cứu và cố gắng đưa họ lên khỏi vực sâu.

Ghi nhận những nghĩa cử cao đẹp của các bạn trẻ, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Trung ương Ðoàn, Thành Ðoàn Hà Nội đã tặng bằng khen cho 16 thanh niên, sinh viên trong nhóm vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong việc tham gia cứu nạn. Không chỉ đánh giá hành động cao cả và dũng cảm này xuất phát từ tấm lòng, tinh thần cứu người trong hoạn nạn, tại lễ trao thưởng, Bộ trưởng Giao thông vận tải Ðinh La Thăng đề nghị các thành viên của nhóm trong hành trình khám phá, trải nghiệm cần học hỏi thêm kinh nghiệm, mở mang kiến thức để sau này trở thành nhóm nòng cốt tuyên truyền an toàn giao thông tới mọi người.

X.B.

 

Đố kỵ cái trừu tượng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:21 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

ĐỐ KỴ CÁI TRỪU TƯỢNG

Võ Phiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhan đề bài viết đã … khá khó hiểu, tên của tác giả lại càng làm bạn đọc trong nước cảm thấy xa lạ, mặc dù không xa lạ với bạn đọc nước ngoài, nhất là ở Hoa Kỳ.

Điều cần nói ở đây là lý do chúng tôi đưa bài nay lên Blog PhamTon, một blog cá nhân chỉ chuyên về Phạm Quỳnh… Đó là vì bài viết này được Võ Phiến thuyết trình tại một hội thảo trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức tại California nước Mỹ tháng 5 năm 1999. Sau đó, bài được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 số 122, tháng sáu năm 1999 từ trang 22 đến trang 26.

Văn nghiệp Võ Phiến vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Tiêu cực đáng bỏ đi là phần chính trị (…). Nay đến lúc, nhân danh bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam, đưa tác phẩm của Võ Phiến trở về, sau khi lọc bỏ nội dung chính trị. Nhà nước Việt Nam đã sáng suốt khi quyết định cho tái bản sách của Võ Phiến trong nước. Đáng tiếc, một số người đang lợi dụng tình hình quốc tế mà âm mưu tái phổ biến cả những nội dung chính trị sai lầm.” (Trích phần cuối bài Trường hợp Võ Phiến của Thu Tứ trên báo Nhân Dân số ra ngày 10/10/2014)

Đọc bài này còn để bạn đọc “thưởng thức” “cái khuynh hướng phân tích tâm lý nhân vật “chẻ sợi tóc làm tư”. Thật ra không chỉ khi viết truyện mà cả trong đời sống ông cũng thế, cũng thích chẻ cái mình nhìn ra cho thật nhỏ. Và ông đặc biệt ưa chú mục vào những cái xấu, bất thường (tuy bản thân không hề xấu hoặc bất thường.” như tác giả Thu Tứ đã nhận xét trong bài trên.

—o0o—

Đi tới cuối thế kỷ, phản ứng tự nhiên là ngoái đầu nhìn loáng một cái về đầu thế kỷ. Đối với ai kia, có thể là bất giác nhìn chơi. Đối với chúng ta — đám viết lách — cái nhìn ấy có ý nghĩa khác hơn một chút. Bởi vì thời kỳ văn học hiện đại của Việt Nam, thời kỳ có mình trong đó, chính bắt đầu từ đầu thế kỷ XX này.

Đem cái khả năng của một cá nhân lỗi lạc, Trương Vĩnh Ký gây được mầm manh nha của nền văn học mới, rồi ông nằm xuống vào cuối thế kỷ trước (năm 1898). Tiếp theo ông là những hoạt động qui mô rầm rộ của hai ông Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, mỗi vị qui tụ một nhóm văn nhân học giả cừ khôi. Trong vòng hăm lăm năm — một phần tư thế kỷ — họ làm xong nhiệm vụ của thế hệ tiền phong trong giai đoạn giao thời. Thời ấy là thời nho học suy tàn tây học mới nẩy. Mỗi nhóm Đông Dương Nam Phong gồm đủ hai thành phần tân cựu học. Kẻ tinh thông Hán học gấp rút tổng kết nhằm bàn giao cái vốn liếng tinh thần của tiền nhân để lại cho lớp sau đang thiếu Hán ngữ; người giỏi Pháp văn tới tấp dịch thuật, giới thiệu văn chương tư tưởng Âu Tây bấy giờ hãy còn xa lạ đối với quốc dân. Công việc ấy gọi là “Truyền bá Đông Tây học thuật”. Việc truyền bá cần một công cụ: vậy phải trau luyện Việt ngữ cho thành một phương tiện xứng tầm.

Xem lại Việt ngữ, thấy lắm điều rắc rối. Thuở Trương Vĩnh Ký là thuở phổ biến chữ quốc ngữ, tức thứ chữ dùng mẫu tự la-tinh mà phiên âm tiếng Việt; sang thời Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh mới tiến lên trau dồi cái “văn quốc ngữ” (theo cách nói của ông Phạm).

Việt ngữ có dùng được vào văn học không? Thuở ấy lắm kẻ phân vân. Có ý kiến cho rằng: Việt ngữ kém lắm, so với văn Tàu văn Tây thì “trẻ lên ba đã khôn sao bằng người đầu bạc”. Cánh hăm hở sốt ruột nhất đề nghị nên gác tiếng Việt ra ngoài, trong phạm vi học thuật hãy lấy phăng cái tiếng Pháp ra xài ngay cho tiện . Nguyễn Văn Vĩnh, trong bài tựa bản dịch truyện Gil Blas de Santillane kể rằng thoạt đầu, thuở ông bắt tay vào việc, trong nước ta chưa mấy ai tin nổi có thể dùng tiếng Việt để dịch tiểu thuyết Tây. Vậy mà ông xắn tay xông vào, rốt cuộc làm nên sự nghiệp đồ sộ; Vũ Ngọc Phan cho rằng ông là quán quân dịch thuật Pháp văn một thời.

Nhưng chính Nguyễn Văn Vĩnh, chính ông quán quân ấy, con người mê say cực đoan từng xác quyết học quốc ngữ “là một sự bất đắc bất nhiên, là việc sống chết của nước Nam ta”, chính người ấy cũng phải cho rằng tiếng Việt có chỗ yếu lớn, khiến lắm lúc không thể đem nó ra xài được. Phải chờ trau luyện nó đã. Trong khi chờ đợi, ông Nguyễn dùng tạm tiếng Tây! Một bài báo của ông đăng trên tờ L’Annam Nouveau hồi 1935, nguyên cái nhan đề đã nêu rõ lý do: “Le francais, langue de discussion”. Ông kể rằng một đồng nghiệp, đến phỏng vấn về vấn đề trau luyện Việt ngữ, đã trách ông không chịu trao đổi ý kiến bằng Việt ngữ mà lại chọn nói tiếng Pháp. Theo ông, trong khi tranh luận, tiếng Việt thiếu tính cách trong sáng và chính xác. Trước đó năm năm, trong cuộc bút chiến với Phạm Quỳnh về vấn đề chế độ (lập hiến hay trực trị), hai ông cũng đều dùng tiếng Pháp (riêng Phạm Quỳnh có đăng trên Nam Phong bản Việt ngữ.)

Như thế, ông Nguyễn ông Phạm thuở ấy cùng gặp nhau ở một nhận định về nhược điểm của Việt ngữ: không phải thứ tiếng để cãi cọ. Nhưng cái ấy chưa hay ho bằng chuyện cả hai vị lại cùng gặp nhau nữa, ở nhận định về ưu điểm của Việt ngữ: Hai vị nhất trí về thành công rực rỡ của Truyện Kiều, tin tưởng ở Truyện Kiều, ca ngợi Truyện Kiều. Nguyễn Văn Vĩnh đem Truyện Kiều dịch ra Pháp văn, Phạm Quỳnh tung hô Truyện Kiều quá lời đến nỗi Ngô Đức Kế nổi đóa.

Một cái tiếng thoạt không mấy ai ngờ có thể dịch nổi truyện Tây, vậy mà đem ra dịch thì dịch phăng phăng nào thơ nào truyện nào kịch, thứ nào thứ nấy thiên hạ khen hay nức nở, kết quả sáng chói, đem viết truyện thì từng viết nên truyện hay đến nỗi “thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu xa và được rộng rãi như thế chưa?”, đến nỗi thành ra “là một kỳ công có một trong cõi văn thế giới” (lời ông Phạm). Thế rồi cũng một cái tiếng ấy mà đem ra cãi cọ với nhau tí chút lại không được, lại kẹt cứng. Thế có mâu thuẫn không? có quái lạ không?

Chỗ ấy Nguyễn Văn Vĩnh đã trải qua, nhưng không thấy thắc mắc gì. Phạm Quỳnh, ông có nghĩ ngợi về điều này. Theo ông, văn có hai thứ văn: văn nghệ thuật và văn luận thuyết. Về văn nghệ thuật thì Việt Nam đã đạt tới chỗ tuyệt vời; nhưng “về lối văn thuyết lý thì hầu như không từng thấy bao giờ.”

Quả là trong các tác phẩm bằng chữ Nôm được để lại, không hề có thứ ấy. Nguyễn Văn Vĩnh dùng chữ “tranh luận”, ý có hẹp. Cái yếu của ta không nhất thiết chỉ ở chuyện tranh luận; mà là cái yếu chung chung về biện luận, thuyết lý, biện giải, thuyết minh, lý luận… Không cần chờ tranh cãi nhau mới bày ra cái yếu; cứ diễn đạt cái suy tưởng là thấy yếu ngay.

Tại sao ta yếu món ấy? Phạm Quỳnh cũng có lời giải đáp: Vì tiếng ta giàu về phần “hình nhi hạ”, mà nghèo về phần “hình nhi thượng”. Nói thế nghe có lạ tai. Ông Phạm giải thích: Muốn dùng chữ triết học mà nói thì tiếng Nam ta có tính cách cụ thể (concret) hơn là trừu tượng (abstrait). Tiếng cụ thể diễn tả những cái do giác quan cảm nhận, tả trạng thái của sự vật “thì hay vô cùng tưởng không tiếng nước nào bằng”. Vậy, tiếng ta vừa quán quân (về văn nghệ thuật), vừa bất lực (về văn luận thuyết) là do ở chỗ quá thiên về cái cụ thể.

Tính cụ thể thắng tính trừu tượng trong Việt ngữ, ông Phạm phát biểu thẳng, không viện dẫn một tác giả nào, một bậc tiền bối nào. Ông là người đầu tiên nhận ra chỗ ấy chăng? Nếu đầu tiên thì chỉ là đầu trong số các văn nhân ta thôi, chứ người nước ngoài đã từng có kẻ thấy từ trước. Chẳng hạn giáo sĩ F. X. Marette. Trong một tập Biên niên truyền giáo (Annales de la propagation de la foi) in ở Paris năm 1833, ông này đã cho rằng “Việt ngữ phong phú về tiếng để diễn tả những cái thông thường và có thể cảm nhận được, nhưng nghèo về loại tiếng dùng vào các kỹ thuật cơ khí và các ngành mỹ thuật; Việt ngữ tuyệt đối không có tiếng để diễn đạt các ý tưởng trừu tượng.”1

Kể ra người ngoài có sáng hơn ta cũng không nên lấy làm lạ. Ta quen thuộc tiếng ta từ bé, ta không để ý; còn như kẻ đến từ xa, từ một truyền thống văn hóa khác hẳn, kẻ quen vận dụng tiếng nói vào vô vàn vấn đề trừu tượng, lại đang rao giảng tôn giáo, hàng ngày chuyên nói những chuyện tâm linh mờ mịt, chợt đụng đầu vào thứ tiếng “tuyệt đối” không có một từ trừu tượng nào, kẻ nọ phải sững sờ chứ. (Tuyệt đối ? ông giáo sĩ nọ có quá đáng không? Dù sao, con người có xác có hồn. Chữ xác là tiếng thuần Việt, chỉ thị một khối cụ thể; đến chữ hồn ông giáo sĩ gặp khốn khổ ngay. Hồn là tiếng Tàu. Ta không có tiếng gọi tên cái hồn, ta không mảy may để ý đến, không lúc nào thấy cần phải nói đến cái món trừu tượng ấy. Sao mà dân tộc ta đố kỵ trừu tượng đến thế!)

Kẻ sững sờ đã nêu ra sự lạ trước Phạm Quỳnh trăm năm; nhưng chỉ có thế rồi thôi. Phạm Quỳnh không thôi. Từ cái trừu tượng, ông liên hệ sang khả năng biện luận của dân tộc. Thấy ta kém biện luận, ông bắt tay vào việc chữa cái nhược điểm của tiếng Việt. Ông hô hào “đoàn luyện quốc văn”, “bồi bổ quốc văn”. Bồi bổ vào cho nó thật nhiều tiếng trừu tượng, biến nó thành một phương tiện tốt, đắc lực, thích hợp hơn cho loại văn luận thuyết.

Trong vòng mười năm đầu của Nam Phong, ông Phạm tính ra đã “phát hành kể có hàng ngàn tiếng mới”, ông đã dùng chúng vào các việc biên tập, dịch thuật, việc truyền bá Đông Tây học thuật.2

Phạm Quỳnh bắt được mối liên quan giữa loại văn biện luận và từ ngữ trừu tượng, nhưng khi bàn về vấn đề quốc học không thấy ông đề cập đến mối liên quan này.

Ta chưa từng có quốc học, Phạm Quỳnh và Phan Khôi hồi đó (1931) đều bảo thế. Ông Phan tìm hiểu kỹ càng thành tích trước tác của tiền nhân, cố xem có gì đáng gọi là quốc học chăng, ông kết thúc: “Tìm mãi không ra cho tới ngày nay tôi mới trịnh trọng và quả quyết mà nói rằng không có.” Ông Phạm tán đồng: “Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ theo học nước Tàu chỉ mới là người học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng, không những thế lại cũng không lọt ra ngoài vòng giáo khoa mà bước lên tới cõi học thuật nữa. Như vậy thì làm sao có học thuật được?”

Quốc học, hai vị đều hiểu là “gồm những phong trào về tư tưởng về học thuật trong một nước”. Vậy văn học thì ta có, quốc học thì không; nghệ thuật thì có, học thuật thì không.

Tại sao vậy? Phan Khôi, ta không thấy ông thắc mắc về điều này. Phạm Quỳnh vẫn kỹ càng, chu tất. Ông giải thích: đó là vì hoàn cảnh. Có hoàn cảnh địa lý, có hoàn cảnh lịch sử, có hoàn cảnh chính trị, thảy đều bất lợi cho sự phát triển của học thuật, tư tưởng, ở ta.

Tôi thầm chờ đợi thêm một lý do không được ông đưa ra: lý do bẩm chất. Chẳng hạn: Trời sinh ra dân ta vốn không thoải mái đối với những gì là tư tưởng, là lý luận, những gì trừu trượng. Bẩm chất ấy đã bộc hiện ra ở cái tiếng ta nói, làm gì nó lại chẳng bộc hiện ở những điều ta viết? Ông Phạm đã nhận ra rằng ta không giỏi biện luận vì tiếng ta nghèo trừu tượng, sao ông không nhận luôn rằng ta thiếu học thuật cũng có phần vì lẽ ấy? Có gì khiến ông ngại ngùng chăng?

Nói “trời sinh”, chẳng qua là buột miệng nói cách dễ dãi, nói theo cái ngôn ngữ thông dụng hàng ngày. Bẩm chất với hoàn cảnh xét ra cũng không trái nhau, còn có thể có liên hệ. Muôn loài sinh ra có giống giỏi bay, có giống chuyên lội, có loài mọc sừng, có loài dài cổ, có giống thở bằng phổi, có giống thở bằng mang v.v…: xét hiện tại thì là trời sinh ra thế, là bẩm sinh cả. Nhưng truy ngược tới tận nguồn thì có thể là do hoàn cảnh, dám lắm. Thuở ban sơ đâu có bao nhiêu loài. Từ một số ít, sinh vật phát triển ra nhiều. Tùy hoàn cảnh sinh sống khác nhau mà trong quá trình tiến hóa mỗi loài biến ra một vẻ, rồi truyền tử lưu tôn muôn vạn kiếp, hóa ra đặc tính bẩm sinh. Nói gần thì lươn ngắn chạch dài, thờn bơn méo miệng với trai lệch mồm là bẩm sinh; nhưng nói xa thì có thể qui cho những hoàn cảnh khác nhau. Xu hướng đố kỵ cái trừu tượng ở ta có lẽ không bỗng dưng mà có. Xem gần nó như tuồng một xu hướng bẩm sinh; nhưng nghĩ xa, không chừng nó đã phát sinh do một “hoàn cảnh” nào đó, trong thời đại hồng hoang. Thời nào? bao xa? Ai mà biết! Rồi đây hoàn cảnh đổi khác, xu hướng tinh thần nọ sẽ mất đi chăng? bao giờ mất? Ai mà biết được!

Họa chăng người ta chỉ đoán rằng hoàn cảnh phát sinh phải xa lắm, từ trước khi ta có tiếng nói. Bởi vì khó thể tưởng tượng nổi xưa kia ta vốn sử dụng thứ ngôn ngữ có nhiều từ trừu tượng; rồi dần dà loại từ ấy rụng dần, biến mất dần, rốt cuộc “tuyệt đối” không còn tiếng nào nữa. Ông Phạm nói đến hoàn cảnh, ông không có ý nói xa đến thế. Ông chỉ muốn chỉ thị cái hoàn cảnh ta sống gần khối dân Tàu lớn, đông và mạnh, cái hoàn cảnh khiến ta phải lo việc tự tồn đến nỗi quên việc suy tư. Hoàn cảnh ông nói đó là gần đây, mới vài ngàn năm, e không đến nỗi xóa tiếng của ta. Trái lại, sự tiếp xúc với nguời Tàu chính đã làm giàu thêm tiếng ta, nhất là tiếng trừu tượng. Trong bộ Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức có 13.276 chữ, trong đó 3.443 vốn gốc tiếng Tàu; chắc chúng nó đã bắt đầu chạy vào tiếng Việt từ thuở Bắc thuộc ấy.

Ta du nhập tiếng trừu tượng tích cực như vậy hết nghìn năm này đến nghìn năm khác, mà mãi vẫn chưa từng dựng nên quốc học, mà thành tích học thuật chưa có gì cả, khiến cho đầu thế kỷ này kẻ sĩ có ý thức phải ráo riết “truyền bá Đông Tây học thuật”.

Cùng lúc ấy, thế hệ Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Vĩnh lại khẩn trương bồi bổ, và các thế hệ tiếp cũng lại tiếp tục bồi bổ quốc văn, du nhập thêm nghìn nọ nghìn kia tiếng trừu tượng mới nữa. Thế bây giờ — cuối thế kỷ — chúng ta đang đến đâu, về mặt học thuật? Chúng ta đã có chủ thuyết triết học riêng, có chủ thuyết kinh tế mới mẻ, đã mở ra những trường phái chính trị đặc biệt sáng giá chăng? Các bậc trí thức, học giả, của chúng ta đang hối hả “truyền bá học thuật Việt ra khắp Đông Tây” gấp gấp chăng?

Chuyện ấy chưa hề xảy ra. Chỉ thấy hoạt động ráo riết ở ta vẫn là truyền bá Đông Tây tư tưởng. Vẫn là truyền vào, chưa phải truyền ra. Cuối thế kỷ cái truyền vào cũng ráo riết không kém hồi đầu thế kỷ.

Chừng ấy cứu chữa chưa đạt kết quả; có lẽ lúc này chúng ta nên góp thêm một vài suy ngẫm.

Chẳng hạn về mối liên hệ giữa tiếng trừu tượng với khả năng biện luận suy tưởng. Đó là loại liên hệ thế nào? Bảo rằng vì thiếu tiếng trừu tượng mà kém về biện luận, hay bảo rằng vì ít suy luận nên không cần đến, không đặt ra tiếng trừu tượng, do đó loại tiếng này hóa nghèo. Như thế là cho rằng hai bên có liên hệ nhân quả: cái này sinh ra cái kia, hoặc ngược lại. Liên hệ như cha với con. Sửa cái nhân thì cái quả sẽ đổi khác.

Mặt khác, lại có thể hiểu: thiếu tiếng trừu tượng và kém về suy luận là hai hiện tượng cùng biểu lộ một xu hướng tinh thần. Tiếng nói là phương tiện diễn đạt ý tình; phương tiện tốt thì diễn đạt tốt. Nhưng mặt khác tiếng nói tự nó cũng là biểu hiện của một xu hướng tinh thần của dân tộc, cũng là phản ảnh của một sở trường bẩm sinh tiềm ẩn, tự bản thân nó cũng ẩn ngụ những ý tình thầm kín của dân tộc, không sao? Là phương tiện, nó không phải thứ phương tiện như cây cuốc, lưỡi cày, như cái búa, lưỡi dao v.v… Hai sự kiện cùng phát sinh từ một xu hướng gốc, chứ không phải sự kiện này sinh ra sự kiện kia. Giữa đôi bên không phải là thứ liên hệ cha với con, mà là thứ liên hệ anh em song sinh. Cả hai cùng cội rễ, phát sinh từ một hoàn cảnh xa xôi. Hai sự kiện là hai chứng minh bổ túc cho nhau.

Về mối tương quan giữa hai hiện tượng này, dân tộc Ấn đã tự hiến làm một dẫn chứng lý thú. Ấn ngữ cực nhiều tiếng trừu tượng và người Ấn cực giỏi tài biện luận. Ai cũng biết các dân tộc La-mã, Hi-lạp và Đức là những dân tộc cừ khôi từng cung cấp cho nhân loại những nhà triết học lừng lẫy; Keyserling, một triết gia Đức, bảo rằng số từ ngữ triết trong tiếng sanscrit của Ấn-độ nhiều hơn tổng số từ ngữ triết của ba thứ tiếng La-tinh, Hi-lạp và Đức cộng chung lại. Còn người Ấn thì nhất khoái tranh luận. Trong khi ở các xứ khác lắm người ham thích xem đá cá, đá gà, xem chọi trâu, xem cọp voi đấu nhau, xem cả người với người đánh đấm nhau, đấu gươm đấu kiếm tranh giết nhau, thì ở Ấn từ vua quan đến dân chúng đều khoái xem đấu võ mồm. Hễ có cuộc tranh biện giữa các vị cao tăng thì người đông nghìn nghịt chen nhau nghe. Kẻ thắng có thể được nhà vua trọng thưởng đến cả nghìn con bò cùng với vàng bạc, được dân chúng đón rước cực kỳ trọng thể. (Đường Tam Tạng từ Trung Quốc sang Ấn-độ cũng tham dự những cuộc biện đấu lớn như thế.)

Hiểu theo cái ý hai hiện tượng nọ có tương quan song sinh thì việc du nhập, tăng bổ từ trừu tượng vào Việt ngữ sẽ không có hiệu lực phát triển tức thì khả năng suy tưởng, xây dựng nhanh chóng nền quốc học. Tăng bổ từ mới là cung cấp thêm phương tiện, trong khi cái thiếu không phải chỉ là phương tiện. Dù sao, có thêm vốn từ trừu tượng cũng làm chúng ta quen thêm, gần thêm các hoạt động nghiên cứu, suy tưởng. “Hoàn cảnh” sinh hoạt học thuật ấy, dần dần cải biến khuynh hướng “bẩm sinh” đố kỵ trừu tượng của ta. Và một ngày kia, ta sẽ vùng lên. Biết đâu?

Nói thế là nói điều quá xa xôi. Có phải Phạm Quỳnh đã ngại ngùng, và ngại ngùng chính vì chỗ xa xôi ấy? Giữa lúc thế hệ tiền phong đang tưng bừng, hồ hởi, sao nỡ gieo điều ngờ vực, nêu trở lực khó khắc phục?

Thực ra, không cứ là thế hệ tiền phong, thế hệ nào cũng ghét trở lực. Quốc học đã muộn mất bốn nghìn năm văn hiến, đến lúc này mà không dựng gấp sao được? Lên đỉnh cao trí tuệ phải vọt lên cấp kỳ. Chần chờ, sốt ruột lắm.

Một chút so sánh với người thiên hạ càng làm cho ta sốt ruột thêm. Ở Pháp cũng từng có thời lệ thuộc vào tiếng La-tinh (như ta xưa kia lệ thuộc vào chữ Tàu), rồi cũng từng nổi lên chủ trương thoát ly khỏi tiếng La-tinh mà xây dựng nền văn chương học thuật Pháp, vào thế kỷ XV. Không đầy một trăm năm, đã có những thành công cả về hai thứ văn nghệ thuật và văn luận thuyết. Bên này có Du Bellay, Ronsard, thì bên kia cũng có những Calvin (1509-1564), Montaigne (1532- 1592). Chẳng bao lâu xuất hiện Descartes (1596- 1650), Pascal (1623-1662).

Điều ấy có liên quan chăng đến bản chất của ngôn ngữ Pháp? Nói về cái phương tiện diễn đạt tư tưởng của tiếng Pháp, Montaigne — một vị trong thế hệ tiền phong — bảo: “Tôi thấy ngôn ngữ của chúng ta đã đủ phong phú.” (suffisamment abondant). Có phải bản chất ngôn ngữ ấy là một thuận lợi cho sự phát triển học thuật của Pháp? Còn ở ta… thật là sốt ruột.

Dù sao, nên tìm một lý lẽ để hạ hỏa, trong khi chờ đợi một nền quốc học rực rỡ.

Bấy lâu ta kém sút, không kém sút cả. Chỉ kém một bên thôi. Thiếu kém bên ấy, quốc gia vẫn bền vững, dân tộc vẫn tồn tại và phát triển, vẫn sống mạnh sống hùng, thắng sự xâm lăng của nhiều nước lớn và mạnh, thắng và nuốt tươi đôi ba nước nhỏ hay yếu, dân tộc vẫn hưởng một nếp sống có lễ nghĩa, có thuần phong mỹ tục, có nét văn hóa riêng, v.v… Ước mong, đòi hỏi phải hơn thế: vâng, thì cứ ước cứ đòi. Nhưng cũng nên biết rằng khắp thế giới xưa nay, cái số các dân tộc xây dựng được những hệ thống triết lý nguy nga có bao nhiêu đâu. Từ những trung tâm lớn như Trung Hoa, Ấn-độ, Hy-lạp… ánh sáng tư tưởng tỏa dần ra, rồi nhân loại được hưởng cả, lo gì. Vả lại, các công trình tư tưởng lớn lao rồi về sau không hề ngăn cản nổi sự suy sụp thảm hại ở một số quốc gia thuộc những khu vực văn minh lừng lẫy một thời. Vậy quốc học, có lẽ ta cũng không nên kỳ vọng quá đáng vào nó.

Người có hai phía: phía cảm thụ, phía suy tư; văn có hai thứ: thứ nghệ thuật, thứ luận thuyết. Ta xuất sắc về một phía thứ nhất. Không chừng đó lại là phía hay ho đa. Có được các giác quan mẫn nhuệ, có cảm xúc tinh vi, ta tha hồ hưởng thụ, sống một đời phong phú, đậm đà. Phía thứ nhất mà kém, không thể trông cậy vào ai được; ta không thể mượn chiếc lưỡi tinh tế của kẻ khác để thưởng thức chén trà ngon, tô phở ngon, ta không thể nghe nhạc hay bằng đôi tai sành sõi của kẻ khác, không thể xem tranh ngoạn cảnh bằng mắt kẻ khác, yêu đương rào rạt bằng con tim kẻ khác. Một dân tộc có thiên khiếu về cái cụ thể, một dân tộc sở hữu những giác quan tinh nhạy không phải là được Trời cưng sao?

Còn suy tưởng cao xa? Hãy giả vờ nêu thử một câu hỏi liều lĩnh: món ấy có thật là cần kíp không? Cao xa như lời Chúa, lời Phật, như bao nhiêu lời các đức Khổng Tử, Mạnh Tử, Aristote, Socrate, v.v… trước sau đều lần lượt tìm đến tai ta. Người Tàu người Tây nghe được mấy lời, ta cũng được phép nghe đủ mấy lời. Không một triết gia nào, không thánh hiền nào giấu giếm lời hay ý đẹp cả. Trái lại, mọi sản phẩm cao siêu nhất, quí báu nhất đều mong được truyền bá rộng rãi. Chỉ lo ta không cố gắng tiếp nhận, đừng ngại người không quảng bá. Rồi phát minh điện tử, bí mật vũ trụ, thiên hạ khám phá ra đến đâu, ta tha hồ biết theo đến đấy.

Thành quả của trí tuệ, ta hưởng chung với người; cảm nhận các giác quan thì của ai nấy hưởng kỹ.

Vậy lớp tiền phong đầu thế kỷ chủ trương truyền bá Đông Tây học thuật là chí phải. Rồi khi nhận thấy lớp tiền phong cuối thế kỷ vẫn mải miết tiếp tục truyền bá Tây phương học thuật cũng không đến nỗi phải lo lắng hoảng hốt.

4 – 1999

V.P.

————————

1 La langue annamite abonde en expressions pour les choses usuelles et sensibles, mais elle est pauvre pour ce qui regarde les procédés des arts mécaniques et les beaux arts; elle est absolument dépourvue d’expressions pour les idées abstraites.

2 Nam Phong số 119, kỷ niệm đệ thập chu niên.

 

Trường hợp Võ Phiến

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

TRƯỜNG HỢP VÕ PHIẾN

Thu Tứ

(Bài đăng trong mục Bình Luận – Phê Phán trang 8 báo Nhân Dân các ngày 7 và 10/10/2014)

—o0o—

Võ Phiến hoặc Tràng Thiên là bút danh của Ðoàn Thế Nhơn (1925) – nhà văn ở miền nam trước năm 1975, hiện định cư ở Mỹ. Văn nghiệp của Võ Phiến khá phức tạp mà nổi lên là xu hướng “chống cộng” cho nên được chính quyền Sài Gòn trước đây và một số người ca ngợi (!). Vừa qua, vì “được biết một tổ chức phi chính quyền trong nước đang có kế hoạch tích cực phổ biến những tác phẩm Võ Phiến chứa nội dung chính trị sai lầm”, nên từ Mỹ, tác giả Thu Tứ (bút danh của Ðoàn Thế Phúc – một người con của Võ Phiến) đã viết bài Trường hợp Võ Phiến nhằm phản bác kế hoạch nêu trên.

Dù viết về quan điểm chính trị – xã hội trong tác phẩm của cha mình, nhưng tác giả Thu Tứ đã có cách tiếp cận khách quan, để đưa ra một số lý giải, kết luận. Ðược sự đồng ý của tác giả, trong hai số báo ra ngày 7-10 và 10-10, Báo Nhân Dân trích đăng bài viết để bạn đọc tham khảo, qua đó nhận diện một người viết văn với nội dung chính trị sai lầm trong văn nghiệp của mình, đã đi ngược lại sự nghiệp chân chính của dân tộc như thế nào (Có thể đọc các tác phẩm của tác giả Thu Tứ tại website cá nhân gocnhin.net)…

Chẳng ai muốn chỉ ra cái sai của người đẻ ra mình! Chúng tôi làm việc này vì vừa được biết một tổ chức phi chính quyền trong nước đang có kế hoạch tích cực phổ biến những tác phẩm của nhà văn Võ Phiến chứa nội dung chính trị sai lầm. E rằng việc làm của họ có thể khiến một số người đọc hoang mang, ảnh hưởng tới đoàn kết dân tộc, chúng tôi quyết định tự mình phản bác nội dung này. Chúng tôi cảm thấy có một chút trách nhiệm về việc làm nêu trên của tổ chức phi chính quyền kia. Số là, trong hai năm qua, NXB Thời đại và Công ty Nhã Nam ở Hà Nội có in lại hai tác phẩm của nhà văn Võ Phiến là Quê hương tôi và Tạp văn. Cả hai tác phẩm này đều do chúng tôi chọn lựa và biên tập, theo sự ủy quyền từ lâu của thân phụ. Chúng tôi cố gắng chọn những tác phẩm giá trị nhất, không chứa hoặc chứa rất ít nội dung chính trị. Nếu có nội dung chính trị, khi biên tập chúng tôi loại bỏ hết. Mục đích của việc chọn và bỏ như thế là đưa những thành tựu văn học đỉnh điểm của văn nghiệp Võ Phiến đến với người đọc mà không gây hại cho nước. Chúng tôi đã tưởng mình thế là chu đáo với nhà, với nước! Hóa ra, việc hai tác phẩm Quê hương tôi và Tạp văn được người đọc trong nước đón nhận khá tốt lại chính là cái nền rất tiện lợi cho tổ chức kia toan đặt lên đấy thứ nội dung hoàn toàn bất ổn trong tác phẩm của Võ Phiến! Chuyện đang xảy ra còn làm chúng tôi sốt ruột về tương lai. Sẽ hết nhóm nọ đến phe kia những lúc nào đó đem vận dụng văn nghiệp Võ Phiến một cách có hại cho đất nước. Phải làm cho thật rõ về cái phần nội dung chính trị sai lầm trong văn nghiệp ấy ngay từ bây giờ.

Chúng tôi còn một lý do nữa khiến việc lên tiếng càng không thể tránh được. Do quan hệ đặc biệt và do ở gần nhà văn Võ Phiến trong không biết bao nhiêu năm, chúng tôi được nghe tận tai những phát biểu của ông về tình hình đất nước mà chắc chắn chưa ai từng nghe. Ngoài ra, do yêu thích văn học, chúng tôi đã đọc rất kỹ tất cả tác phẩm của Võ Phiến. Hơn nữa, chúng tôi còn đọc để soát lại trước khi đưa in phần lớn tác phẩm của Võ Phiến tái bản hoặc xuất bản ở nước ngoài. Kết quả của không biết bao nhiêu lượt nghe những lời phát biểu thoải mái và đọc rất kỹ tác phẩm là: không ai có thể biết lập trường chính trị và cách nhìn lịch sử của nhà văn Võ Phiến rõ bằng chúng tôi. Cái biết ấy trong tình hình lập trường bất ổn và cách nhìn cũng bất ổn đang được một số người tìm cách tái phổ biến, nó trở thành một sức nặng bắt chúng tôi phải bất chấp quan hệ tối thân thiết mà lên tiếng chỉ sai.

Trước khi về thăm quê hương lần đầu năm 1991, chúng tôi đã tuyệt đối tin những nghĩ ngợi của thân phụ mình về chuyện đất nước thời chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Chúng tôi về nước rất nhiều lần, mỗi lần rất lâu, thăm thân rất ít, coi như toàn bộ thời gian ở trong nước dành cho việc đi tham quan, chủ yếu tại miền bắc. Chúng tôi không ở khách sạn sang trọng, không đi “tua”, mà ở những nhà khách rẻ tiền, đi xe khách, xe ôm, xích-lô, có lần mua xe đạp đạp dạo quanh vùng ngoại ô Hà Nội thường xuyên đến nỗi có người ngồi chợ tưởng nhầm là dân buôn! Với lối đi tham quan như vừa nêu, chúng tôi trở nên rất đỗi hoang mang! Chúng tôi thấy người Việt Nam ngoài bắc vui vẻ, bình thản, vừa giữ được phần lớn nền nếp cũ, lại vừa có thêm cái phong cách “cách mạng”, mọi người bình đẳng, cũng rất hay. Bấy giờ miền bắc cũng như cả nước, đang có một số hiện tượng xã hội tiêu cực do kinh tế trì trệ kéo dài, vật chất rất thiếu thốn, nhưng nhìn chung người tuy nghèo mà văn hóa tinh thần rất đáng hãnh diện. Ðâu là cái ảnh hưởng cực xấu của chủ nghĩa cộng sản đối với văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam mà mình đã đọc thấy trong tác phẩm của người đẻ ra mình?! Than ôi, hóa ra chỉ là kết quả của những kinh nghiệm rất giới hạn cả về không gian lẫn thời gian cộng với những câu chuyện kể của một ít bạn bè người miền trung cùng hoàn cảnh, một số đồng nghiệp người bắc di cư, vài cán bộ cộng sản “hồi chánh”, thêm vài tác phẩm “nhân văn giai phẩm”, tất cả được một trí tưởng tượng hết sức phong phú và một tâm lý đặc biệt bi quan suy diễn nên!

Ngoài cái biết trực tiếp như vừa nêu, nhờ thói quen hay đọc sách báo mà chúng tôi biết thêm được vô số chuyện lạ đối với mình. Từ văn hóa, chúng tôi tìm hiểu sang lịch sử, mới biết đến, hay biết rõ nhiều chuyện đất nước rất to, như Tuyên ngôn Ðộc lập, Hà Nội kháng chiến 60 ngày đêm, chiến dịch Biên giới, chiến dịch Ðiện Biên Phủ, mà cho đến lúc ấy hoặc chưa nghe bao giờ hoặc chỉ nghe hết sức loáng thoáng với lời bình phẩm hạ giá kèm theo. Những “voi” sự kiện theo nhau lù lù bước ra từ quá khứ khiến chúng tôi hết sức bỡ ngỡ! Vì đã bị “tuyên truyền” rất kỹ, cũng phải đến hơn 10 năm sau lần về nước đầu tiên, sau khi nghĩ đi nghĩ lại không biết bao nhiêu lần, chúng tôi mới thấy được thật rõ ràng lịch sử dân tộc trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1975 thật ra là như thế nào…

Nhà văn Võ Phiến viết nhiều thể loại. Lập trường chống cộng của ông được đưa ra rải rác khắp nơi trong nhiều loại tác phẩm khác nhau, khi là hẳn một bài tạp luận hay tạp bút, khi là lời nhân vật trong truyện ngắn hay truyện dài, khi là những đoạn trong một tác phẩm phê bình hay nhận định văn học, v.v. Lập trường chống cộng của nhà văn Võ Phiến liên hệ đến ba vấn đề: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chọn lựa ý thức hệ.

Về giải phóng dân tộc, nhà văn Võ Phiến khẳng định không có nhu cầu! Ông cho rằng sớm muộn Pháp cũng trả độc lập cho ta, viện dẫn những chuyện xảy ra trên thế giới. Ðúng là đế quốc Anh đã tự giải tán trong hòa bình. Nhưng Pháp không phải là Anh. Pháp cương quyết tiếp tục giữ thuộc địa và cướp lại những thuộc địa tạm mất trong Thế chiến thứ hai. Song song với hành động tái xâm lược ở Việt Nam, tháng 8-1945 quân đội Pháp thảm sát hàng chục nghìn người dân nổi dậy ở thành phố Xê-ríp, An-giê-ri (Sérif – Algérie), và từ tháng 3-1947 đến tháng 12-1948 đàn áp kháng chiến ở Ma-đa-ga-xca (Madagascar), giết có thể đến hơn 100.000 người! Ngay cả sau khi thua to ở Ðiện Biên Phủ, phải chấp nhận rút khỏi Việt Nam, Pháp vẫn cố giữ Algérie để rất nhiều máu phải đổ nữa rồi mới chịu thôi làm đế quốc… Nhà văn Võ Phiến nhắc đến việc những miền đất ở châu Phi được Pháp trả lại độc lập dễ dàng: thì chính những nơi ấy đã may mắn được hưởng thành quả rực rỡ của kháng chiến Việt Nam và kháng chiến Algérie đấy chứ! Mà thực ra cũng không phải may mắn: ai cũng biết những “nước” Phi châu mới kia chỉ có cái vỏ độc lập chứ ruột thì vẫn nằm trong tay Pháp. Từ ngày “độc lập” năm 1960, các nước ấy đã bị Pháp ngang nhiên can thiệp quân sự hơn 30 lần! Vai trò áp đảo của Pháp trong vùng rõ ràng tới nỗi từ lâu đã sinh ra cái từ Francafrique: Phi nhưng mà “Phi Pháp”! Dân tộc Việt Nam với ít nhất hai mươi mấy thế kỷ văn hiến, dân tộc Việt Nam mà chính toàn quyền Ðông Dương Pôn Ðu-me (Paul Doumer) đã nhận xét là nhất ở Ðông – Nam Á, phải qua đến Nhật mới gặp được trình độ tương đương (dẫn theo Phạm Cao Dương, Lịch sử dân tộc Việt Nam, NXB Truyền thống Việt, California 1987), dân tộc ấy lại ngồi chờ giặc thua to ở nơi khác, ban phát cho một thứ gọi là độc lập hay sao?! Sau Thế chiến thứ hai, không phải đế quốc nào cũng chọn buông thuộc địa. Chính dân tộc Việt Nam Anh hùng đã dẫn đầu những dân tộc bị trị trong việc bắt thực dân Pháp phải buông thuộc địa… Lý luận “không cần kháng chiến” hoàn toàn không có giá trị. Gốc của nó là ở ý muốn bào chữa cho những người không tham gia kháng chiến và cái ý muốn phủ nhận công lao to lớn của Ðảng Cộng sản Việt Nam và ở một tâm lý tự ti về văn hóa dân tộc mà chúng tôi sẽ trình bày sau.

Về thống nhất đất nước, nhà văn Võ Phiến đặt chống cộng lên trên thống nhất đất nước. Sau khi thua ở Ðiện Biên Phủ, đế quốc Pháp phải chấp nhận rời khỏi nước ta. Cuộc kháng chiến lâu dài, anh dũng do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã thành công! Nhưng một số người Việt Nam – những người không tham gia kháng chiến hoặc theo giặc đàn áp kháng chiến (!) – không chịu để toàn dân đi bầu tự chọn chính quyền mà dựa vào thế lực siêu cường Mỹ dựng lên một “nước” trên một nửa nước! Tổ tiên ta bao nhiêu công phu, xương máu, qua bao nhiêu đời mới mở được chừng này đất, để bây giờ đất chia hai sao? Dân tộc Việt Nam mấy nghìn năm trải qua bao lượt thử thách vẫn là một để bây giờ thôi là một sao? Hễ có cơ hội, phải cố hết sức thống nhất đất nước. Cơ hội đã có: từ năm 1960, chính quyền Ngô Ðình Diệm bắt đầu lung lay, khởi đầu do một số đảng phái bất mãn về chính sách, sau đó do đông đảo Phật tử đấu tranh chống thiên vị tôn giáo. Năm 1963, chính quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ. Tiếp theo là đảo chính liên miên. Nhân tình hình thuận lợi, quân kháng chiến miền nam và quân đội miền bắc tiến công mạnh mẽ. Ðâu muốn chết đến người Mỹ, nhưng thấy “tiền đồn Việt Nam Cộng hòa” quá nguy ngập, Mỹ đành gấp rút cho hơn nửa triệu lính đổ bộ. Chính quyền Sài Gòn trở nên tạm ổn định, khoản tiền viện trợ lớn lại gây ra nạn quan chức tham nhũng hết sức trầm trọng. Tổn thất sinh mạng binh lính Mỹ, ảnh hưởng tai hại đến kinh tế Mỹ, sự kiên cường của kháng chiến ở miền nam và quân dân miền bắc, cùng với sự bất lực của chính quyền Sài Gòn, khiến nội bộ Mỹ trở nên chia rẽ trầm trọng, dẫn đến quyết định rút hết quân. Chỉ hai năm sau khi lính Mỹ rút, nước Việt Nam thống nhất. Tổn thất hơn 210.000 lính chết và bị thương, thả xuống gấp 3,5 lần lượng chất nổ đã thả trong Thế chiến thứ hai (!), tiêu tốn gần một nghìn tỷ USD (tính theo giá USD năm 2011), mà siêu cường Mỹ rút cuộc vẫn thất bại trong ý đồ chia hai nước ta… Mỹ thảm bại, chắc chắn có một phần do đã ủng hộ một chính quyền không được lòng dân. Bất chấp cơ hội thống nhất đất nước đã tới, nhà văn Võ Phiến vẫn tiếp tục ủng hộ sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn. Ðó là một lập trường đi ngược lại với lý tưởng dân tộc.

Về chọn lựa ý thức hệ, nhà văn Võ Phiến tuyệt đối bác bỏ chọn lựa chủ nghĩa cộng sản. Chọn lựa một chủ nghĩa, phải trên cơ sở nhu cầu đất nước và phải căn cứ vào kết quả cụ thể.

 Xét nhu cầu, thời Pháp thuộc có nhu cầu hết sức lớn là đánh đuổi giặc Pháp. Ðến cuối thập niên thứ nhất thế kỷ 20, nỗ lực cứu nước của các nhà Nho đã coi như hoàn toàn thất bại. Công cuộc giành lại độc lập đòi hỏi một đường hướng mới. Ðúng lúc ấy bên Tây phương nảy ra một thứ chủ nghĩa nhiệt liệt bênh vực người bị áp bức, với những phương cách rất cụ thể để tổ chức họ thành lực lượng đấu tranh lợi hại. Quốc gia tiên phong ứng dụng chủ nghĩa ấy là Liên Xô, một cường quốc. Ở Việt Nam đang có vô số người bị áp bức, nếu chọn chủ nghĩa cộng sản thì trước mắt có phương tiện để tổ chức họ thành đoàn thể chặt chẽ, thêm về lâu dài có thể có được nguồn ngoại viện cần thiết cho kháng chiến: tại sao lại không? Thời Pháp thuộc còn có nhu cầu khác cũng rất quan trọng là cải cách xã hội để san bằng những chênh lệch quá độ nảy sinh như một kết quả của tình trạng đất nước bị ngoại nhân cai trị lâu ngày. Tuy ở nước ta không có vấn đề giai cấp như một kết quả của cấu trúc xã hội truyền thống, trong thời Pháp thuộc đã xảy ra chênh lệch giàu nghèo quá độ, vì lúc bấy giờ, quan lại điển hình không còn là cha mẹ dân, không lo cho dân nữa, mà vừa ngay ngáy lo phục vụ giặc cho thật kỹ, vừa ngày đêm “tận tụy” bóc lột dân! Dưới quan, bọn hào lý cũng bận bịu “hai lo”: một phục vụ quan, hai bóc lột dân! Và vì trên quan dưới hào đều không vì dân, cho nên các địa chủ cũng tha hồ bóc lột! Chủ nghĩa cộng sản có vẻ là một phương tiện tốt để thực hiện việc cải cách này, tại sao lại không chọn?

Xét kết quả, đối với hai đại sự là giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, chủ nghĩa cộng sản rõ ràng là chọn lựa đúng. Nhờ đông đảo nhân dân đoàn kết chặt chẽ với tinh thần hy sinh cao độ và nhờ có ngoại viện cần thiết, mà cả hai đại sự đã thành công tốt đẹp. Ðối với việc cải cách xã hội, tuy trong một thời gian đã xảy ra sai lầm khiến một số người bị xử oan, nhưng mục đích san bằng bất công đã đạt được. Nhân đây cũng nên nói về ý nghĩa của việc “sửa sai”. Nó chính là một thí dụ về khả năng Việt hóa món nhập ngoại của dân tộc Việt Nam… Tiếc một phần do hoàn cảnh chiến tranh, trong cải cách ruộng đất việc xem xét lại đã không được tiến hành kịp thời. Nhìn chung, ở miền bắc văn hóa dân tộc đã làm mềm hẳn chủ nghĩa cộng sản, với kết quả là một xã hội về cơ bản vừa giữ được những giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa có một cái không khí bình đẳng hơn trước cũng tốt đẹp. Nghĩa là, ít nhất trong khung thời gian liên hệ, việc chọn chủ nghĩa cộng sản không có gì sai…

Trong khi những người cộng sản Việt Nam lập hết công giải phóng dân tộc đến công thống nhất đất nước, cùng lúc dần dần cải cách ý thức hệ cộng sản cho hợp với văn hóa truyền thống và điều kiện xứ sở, thì nhà văn Võ Phiến hững hờ với giải phóng, thờ ơ với thống nhất, đem toàn lực tiến công cái bản gốc của ý thức hệ ấy! Ông bảo chủ nghĩa cộng sản là xấu. Trông vào kết quả trên nhiều mặt, rõ ràng nó chẳng xấu cho đất nước, quê hương một chút nào!

Ngoài lập trường chống cộng, tác phẩm của Võ Phiến còn chứa một cái nhìn về lịch sử dân tộc trong thế kỷ 20. Ở đây có lẽ nên nhắc ngay đến cái khuynh hướng phân tích tâm lý nhân vật “chẻ sợi tóc làm tư”. Thật ra không chỉ khi viết truyện mà cả trong đời sống ông cũng thế, cũng thích chẻ cái mình nhìn ra cho thật nhỏ. Và ông đặc biệt ưa chú mục vào những cái xấu, bất thường (tuy bản thân không hề xấu hoặc bất thường). Mỗi người chỉ có đúng một cách nhìn. Tất nhiên nhà văn Võ Phiến đã nhìn lịch sử dân tộc bằng cách vừa nói. Kết quả là, đọc ông gần như toàn gặp những người dân không biết yêu nước là gì (thỉnh thoảng có gặp thì nhân vật yêu nước hiếm hoi ấy lộ vẻ lạc lõng rõ rệt); không thấy thực dân khai thác tài nguyên bóc lột lao động đâu cả, chỉ thấy cán bộ cộng sản hủ hóa; không thấy giặc Pháp tàn bạo với người Việt Nam đâu cả, chỉ thấy có dân bị đấu tố oan; không thấy đông đảo nhân dân nô nức ủng hộ chiến sĩ, hàng hàng lớp lớp chiến sĩ hăng say đánh giặc ngoại xâm, lập chiến công oai hùng đâu cả, chỉ thấy nhiều người bị làm khổ và nhiều kẻ liều chết ngớ ngẩn! Không có những việc tốt mà nhà nước cộng sản đã làm cho dân nghèo nào hết, chỉ có những xáo trộn xã hội hoàn toàn vô ích!… Dân tộc Việt Nam đâu phải như vậy. Sự thật về cuộc cai trị của thực dân Pháp, về cuộc kháng chiến của Việt Nam, về những việc làm của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đâu phải như vậy. Sở dĩ nhà văn Võ Phiến thấy vậy, bởi ông đã chăm chú nhìn những thành phần thiểu số, những chuyện lẻ tẻ, nhất thời…

Cách nhìn là quan trọng nhất. Nhưng nhìn đâu cũng có đóng góp vào cái thấy của người nhìn. Có thể đặt vấn đề, hay là quê hương nhỏ của nhà văn Võ Phiến là huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Ðịnh nó đã “ngoại lệ” khiến ông đâm ra dễ nghĩ lệch về chuyện đất nước? Quả thật, ở Phù Mỹ thời Pháp thuộc gần như không thấy bóng giặc Pháp mà chênh lệch giàu nghèo cũng không đáng kể. Nhưng ngay ở Phù Mỹ, chắc chắn cũng đã có rất nhiều người yêu nước, chẳng qua nhà văn không chú ý đến họ. Hơn nữa, chỉ nhìn tình hình Phù Mỹ mà thôi khó thấy được đại cục nước Việt Nam, thì thiết tưởng một người lên tiếng về đại cục như nhà văn Võ Phiến có trách nhiệm phải nhìn cho thật rộng, nhìn khắp cả nước, chứ đâu được nhận định về toàn quốc trên cơ sở tình hình ở chỉ địa phương mình! Cuối cùng, về “cách nhìn Võ Phiến”, có lẽ cũng nên nêu lên rằng lẽ tự nhiên nó dẫn tới tâm lý bi quan, là một nét nổi tiếng của văn chương Võ Phiến. Bi quan trong văn thì không sao cả. Nhưng trong cuộc đấu tranh để sinh tồn của cả một dân tộc, thì hết sức tai hại.

… Viết văn chống cộng thì lắm cây bút từ miền bắc di cư vào chịu khó viết. Nhưng tác phẩm của họ thường là lớn lời mà thiếu chi tiết cụ thể, rỗng lý luận. Tác phẩm chống cộng của nhà văn Võ Phiến ngược lại: lời nhỏ kể lể tỉ mỉ, đay nghiến, với lý luận (sai) kèm theo. Chính quyền Sài Gòn để ý và đánh giá cao lối viết ấy. Năm 1960, truyện vừa Mưa đêm cuối năm của nhà văn Võ Phiến được giải thưởng “Văn học toàn quốc”. Như Nhất Linh nhận xét trong Viết và đọc tiểu thuyết, lời văn trong tác phẩm giật giải văn chương ấy hãy còn thô vụng. Nó được chọn rõ ràng vì nội dung chính trị phù hợp với nhu cầu tuyên truyền của những người đang cai trị miền nam.

Sau Mưa đêm cuối năm, được chính quyền Sài Gòn khuyến khích, được “đồng chí” tán thưởng, ông tiếp tục cho ra đời những tác phẩm có nội dung tương tự, viết chống cộng mỗi lúc một thêm “tinh vi”. Thật ra tác phẩm của Võ Phiến trở nên “vi” (tỉ mỉ) hơn nữa, chứ không phải “tinh” (thấy đúng bản chất) hơn chút nào, vì nhìn cục bộ thì không thể thấy toàn thể. Cái tiếng “chống giỏi” của nhà văn nhanh chóng lan rộng trong cái tiểu xã hội phức tạp của những người chống cộng mà có lẽ đại đa số không thật sự chia sẻ nội dung cụ thể của tác phẩm Võ Phiến, chưa nói nhiều người hình như không hề cầm tới sách! Nhà văn Mai Thảo có lần đọc, thấy “nhiều sắc thái địa phương”. Nhà văn Vũ Khắc Khoan cũng thử đọc, rồi phàn nàn về những nhân vật “tù lù mù”. Chi tiết khó “chia”, mà lý luận hẳn họ càng thấy khó “sẻ”, vì vốn dĩ chính bản thân họ có hay lý luận rắc rối gì đâu. Ðại khái, mỗi người chống cộng vì một số lý do riêng, rồi hễ cứ nghe ai “chống giỏi” là rủ nhau hoan hô, không cần biết người kia cụ thể chống thế nào!

Cái lối được trầm trồ mà không được đọc rồi cũng xảy ra cho nhà văn Võ Phiến ở ngoài bắc. Một số người “Nhân văn giai phẩm” nghe tiếng chống cộng của ông, sinh ngay cảm tình, tuy hầu hết những người ấy chắc chắn chưa bao giờ đọc được một chữ văn của Võ Phiến! Thật ra giữa họ và nhà văn Võ Phiến có chỗ khác nhau rất căn bản: họ đều đồng lòng kháng chiến đánh đuổi giặc Pháp, lấy việc ấy làm quan trọng hơn cả, trong khi nhà văn Võ Phiến thì không. Nông nỗi của họ xảy ra là do họ nghĩ giải phóng dân tộc xong rồi, Ðảng không nên lãnh đạo văn hóa nữa, mà nên để “trăm hoa đua nở”. Nhưng việc nước đã xong đâu! Còn phải thống nhất đất nước. Với sự can thiệp của siêu cường Mỹ, công việc sẽ vô cùng khó khăn. Cần phải duy trì ý chí chính trị và tinh thần kỷ luật ở mức cao nhất. Tự do văn hóa sẽ ảnh hưởng xấu đến nỗ lực duy trì này, do đó Ðảng không thể chấp nhận được. Nhìn cách khác, tình hình đất nước bấy giờ chưa thích hợp với một cải cách chủ nghĩa lớn như vậy.

Vào cái khoảng thời gian Liên Xô vừa sụp đổ, cái tiếng chống cộng của nhà văn Võ Phiến còn khiến một số nhà văn Việt Nam ở trong nước tìm cách bắt liên lạc với ông, hẳn vì họ nghĩ Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng sắp sụp đổ! Có người nhân dịp đi công tác qua Mỹ, đã tỏ tình thân ái bằng cách tặng nhà văn Võ Phiến một chiếc đồng hồ đeo tay dùng lâu năm. Người ấy từng tự nói nhờ Ðảng mà tôi mới được thế này. Ấy thế mà khi tưởng Ðảng sắp đổ, ông vội vã đi ôm chầm lấy kẻ thù của Ðảng! Ngán cho “nhân tình thế thái”. Thân phụ chúng tôi có kể rằng, qua trò chuyện, thấy nhà văn kia dường như chưa hề đọc một tác phẩm nào của mình!…

Văn nghiệp Võ Phiến vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Tiêu cực, đáng bỏ đi, là phần chính trị, bởi đó là cái bi kịch của một người Việt Nam sống giữa thời kỳ lịch sử dân tộc cực kỳ khó khăn mà trước không tha thiết với độc lập, sau không tha thiết với thống nhất, khăng khăng đặt chuyện chống chủ nghĩa cộng sản lên trên tất cả… Sai lầm chính trị đã đưa tác phẩm của Võ Phiến ra khỏi lòng dân tộc. Ðất nước đã độc lập, thống nhất lâu rồi. Nay đến lúc, nhân danh bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam, đưa tác phẩm của Võ Phiến trở về, sau khi lọc bỏ nội dung chính trị. Nhà nước Việt Nam đã sáng suốt khi quyết định cho tái bản sách của Võ Phiến trong nước. Ðáng tiếc, một số người đang lợi dụng tình hình quốc tế mà âm mưu tái phổ biến cả những nội dung chính trị sai lầm. Việc tái phổ biến này vừa có thể gây mất đoàn kết, hại cho dân, cho nước, vừa xúc phạm sự thật lịch sử.

T.T.

Tháng Mười 10, 2014

Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:32 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

NGƯỜI HỌA SĨ CỦA ĐIỆN BIÊN NĂM XƯA

Châu La Việt

Sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã từng cầm súng và cầm cọ đi suốt chiều dài và sự khốc liệt của hai cuộc chiến tranh vệ quốc, từng có nhiều tác phẩm xuất sắc về hai cuộc kháng chiến này, nhưng họa sĩ quân đội, đại tá Phạm Thanh Tâm (bút Hoa si Pham Thanh Tamdanh Huỳnh Biếc khi tham gia Quân giải phóng miền Nam) vẫn được đông đảo đồng đội, công chúng yêu hội họa và đồng nghiệp gọi ông là người họa sĩ của Điện Biên năm xưa…

Trước hết, với tư cách nười lính, năm 22 tuổi ông có mặt trong đại đoàn 351 tham gia đánh trận tại Điện Biên Phủ, sống trọn “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt…”. Với tư cách một nghệ sĩ, từ thực tế nóng bỏng của mặt trận, ông đã sáng tác nhiều ký họa ngay trong chiến hào và sau này là người họa sĩ sáng tác được nhiều tác phẩm nhất về đề tài Điện Biên Phủ. Ông đã từng có một triển lãm nghệ thuật riêng về Điện Biên, từng có nhiều tranh đẹp về Điện Biên được lưu giữ trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, trong bộ sưu tập tranh của nhiều người nước ngoài… như các bức tranh: Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ, Cảnh nhà sàn Điện Biên Phủ, Thời gian khổ, Cô gái Thái ở Điện Biên

Tranh của ông (cùng cuốn sách Vẽ dưới lửa đạn) đã được phát hành tại Anh và nhiều nước khác, như nhà báo Buchanan – chủ bút nhật báo WallstreetDiễn đàn dự báo quốc tế ghi nhận: “Câu chuyện đầy say mê này đã làm thay đổi toàn bộ những định nghĩa, những hiểu biết trước kia của chúng ta về cuộc chiến tranh của dân tộc Việt Nam”.

Mùa xuân năm nay, người lính của Điện Biên năm xưa tròn 80 tuổi. Những tưởng ông có thể nghỉ ngơi, thảnh thơi với ấm trà, điếu thuốc… nhưng thật bất ngờ, ông vẫn đang miệt mài sáng tạo nghệ thuật bên một bức tranh sơn dầu khổ lớn về đề tài Điện Biên hào hùng… Vâng, một bức tranh sơn dầu khổ lớn với những người lính trong chiến hào Him Lam đang lắng nghe đồng chí Lê Nam – Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 141 phổ biến Nghị quyết của Bộ Tư lệnh mặt trận trước giờ xuất kích đánh trận mở đầu chiến dịch Điện Biên… Phải ghi nhận, bức tranh thật đẹp, dù người nghệ sĩ sáng tạo đã bước sang tuổi 80 và bàn tay cầm cọ đã run run. Nhưng nó vẫn tỏa ra những sắc màu lung linh, giàu cảm xúc, bởi đây là ký ức thiêng liêng của người lính, là dòng chảy nghệ thuật luôn tuôn trào trong tâm hồn ông hàng chục năm nay, là tinh hoa, là cấu tạo của tâm hồn người chiến sĩ – nghệ sĩ Điện Biên vô cùng oanh liệt.

“Đến bây giờ, đề tài người lính, đề tài Điện Biên Phủ… vẫn tràn đầy trong tôi , thậm chí có những lúc, tôi cảm thấy như mình đang mắc nợ với lịch sử khi được là nhân chứng của những sự kiện quan trọng, nhưng vẫn chưa thể hiện được bao nhiêu bằng các tác phẩm hội họa. Điều đó thôi thúc tôi cố gắng cầm cọ vẽ để tiếp tục sáng tác những tác phẩm kể lại cho mai sau về một thời máu lửa đầy hào hùng của dân tộc” – Họa sĩ, chiến sĩ Điện Biên Phủ Phạm Thanh Tâm tâm sự.

Báo Sài Gòn Giải Phóng 7/5/2012.

C.L.V.

Lịch sử một bức tranh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:29 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

LỊCH SỬ MỘT BỨC TRANH

Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Minh Tiến

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong mùa sớm nắng chiều mưa Sài Gòn, chiều 22/9, giữa hai trận mưa, Họa sĩ , Nhà báo Phạm Thanh Tâm, một người Hà Nội, lại một lần nữa đi xe taxi, chống can inox bốn chân đến thăm một người bạn vong niên mới quen mà đã như thân thiết. Có lẽ vì cùng là người Hà Nội, lại cùng có chung những người thân thiết.

Xuan trong ham phaoSau mấy tuần trà ướp trong một bông sen do người Hà Nội tặng chủ nhà, và trò chuyện thân mật, tin cậy, chân thành về những chặng đường và những con người cả hai đều từng trải qua và quen biết, họa sĩ tặng chủ nhà một tập sách quí, bề thế của Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành nhân kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ nhan đề Trang sử vàng Điện Biên Phủ -Họa sĩ, Nhà báo Phạm Thanh Tâm- in song ngữ Việt Anh, khổ 33×26.5, do Richard di San Marzano thiết kế mỹ thuật.

Trong sách, chúng tôi may mắn thấy có hai điều mình muốn tìm hiểu lâu nay. Đó chính là bài Lịch sử một bức tranh (trang 76) viết về chính bức tranh chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc Xuân trong hầm pháo Điện Biên Phủ. (Tính đến ngày 5/10/2014 đã có 13.013 lượt người trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ truy cập.)

Trong bài có kể rõ trong đội văn công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ năm ấy có cả vợ chồng đích tôn của Phạm Quỳnh là Phạm Vinh và Vũ Thị Lương “cô gái múa lượn” trong tranh, cả hai cùng chạc tuổi với họa sĩ mới 21, 22 tuổi.

Và một bài nữa viết về chính họa sĩ nhan đề Người họa sĩ của Điện Biên năm xưa (trang 90).

60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi 60 năm Giải phóng Hà Nội, Blog PhamTon xin trân trọng giới thiệu với các bạn cả hai bài trên.

—o0o—

Nếu ai có dịp đến tham quan nhà Bảo tàng Quân đội, chắc chắn không thể nào bỏ qua gian phòng trưng bày những bảo vật về chiến dịch Điện Biên lịch sử.

Trong số những bảo vật lưu niệm về tranh và ảnh của gian phòng có một bức tranh của họa sĩ quân đội Phạm Thanh Tâm.

Không gian của bức tranh là một căn hầm pháo 105 ly. Nòng pháo vươn qua lỗ châu mai về phía Điện Biên. Hai càng pháo bám chắc hai bên vách hầm trong tư thế sẵn sàng nhả đạn – nổi lên giữa hai càng pháo là 4 cô gái mặc áo tứ thân đang uyển chuyển duyên dáng trong một điệu múa dân tộc. Chung quanh là những gương mặt các chiến sĩ pháo thủ đang say sưa thưởng thức điệu múa.

Năm 1954, năm thứ 9 của cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp. Đội văn công Sư đoàn vừa ăn tết xong thì nhận được lệnh cấp tốc hành quân đi Điện Biên. Lúc đó chúng tôi đóng quân ở hậu cứ Sư đoàn gần cây số 14 trên đường Tuyên Quang đi Yên Bái. Đội đi Điện Biên gồm: Nguyễn Đức Phong đội trưởng, kiêm chính trị viên và các thành viên: Minh Tiến, Trọng Lanh, Hàn Đức Trọng, Xuân Sách, Phạm Vinh và các cô Vũ Thị Lương, cô Tý, cô Ngọc, cô Minh, tổ nhạc có: Nguyễn Bính (vi-ô-lông, ác-coóc-đê-ông), Ngọc Cương (nhạc sĩ kiêm đàn măng-đô-lin, Vương Cát Định (ghi-ta), Thịnh Đen (chẻo). Múa và nhạc kiêm ca hát và đóng kịch. Đoàn không có ca sĩ nổi danh như chị Kim Ngọc ở văn công Sư đoàn 312. Biết làm sao được, chiến sĩ thì nhiều nghệ sĩ thì hiếm phải tự lo lấy tất cả. Không có thầy, thầy cũng là trò, trò cũng là thầy. Múa xong là hát, hết hát thì sang đóng kịch. Kết thúc vai diễn, lại ngồi đốt những liều thuốc phụ (rơ-le) xin được của Pháo để có ánh sáng biểu diễn.

Đêm đầu tiên chúng tôi vượt bến Âu Lâu – Yên Bái. Ôi một đêm kỳ diệu! Cả đoạn sông Thao thượng nguồn vang lên bản Trang su vang Dien Bien Phutráng ca lịch sử. Quân ta như một con rồng khổng lồ bao gồm các sư đoàn chính quy, các đơn vị bộ đội địa phương, các đội dân công, nhân dân phục vụ thuyền bè. Tất cả đã theo lệnh của Bác Hồ và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiến vào Tây Bắc giải phóng Điện Biên. Dòng sông Thao sục sôi như nổi bão tố. Người qua sông, ngựa qua sông, xe đạp, xe thồ gồng gánh qua sông. Xe pháo rùng rùng chuyển động. Chân đất, chân giày, mũ lá, nón mê, đầu trần, thuyền nhỏ, thuyền to nhấp nhô chen nhau cắt ngang dòng sông lịch sử. Tất cả tiến vào Tây Bắc vượt “Núi vút ngàn trùng xa” trong nhịp bước “Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ” mà vẫn tràn đầy lạc quan để đi đến ngày thắng lợi. Trong đoàn quân vĩ đại ấy có Đội văn công của Sư đoàn Côn, Pháo 351 với đội múa trẻ trung đang độ tuổi 18, đôi mươi.

Ban ngày chúng tôi tập lại các bài ca điệu múa. Khi mặt trời bắt đầu xuống núi, toàn bộ lại lên đường hòa vào dòng thác đại quân và dân công cùng chảy ra tiền tuyến. Chính trong lúc hành quân đêm, nhóm múa chúng tôi có thời gian để sáng tác điệu múa mới (chưa có ai học sáng tác bao giờ). Mỗi đêm hành quân là mỗi đêm có những sáng kiến mới để chuẩn bị cho ban ngày tập luyện. Những ngày gian khổ ấy sao mà thương nhau thế, vượt qua Pha Đin trong mây vờn đỉnh dốc, rét buốt thấu xương, vượt Lũng Lô trong lửa bom rừng cháy “Chân không giày rớm máu, thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Hành quân tới Điện Biên, tổ múa chúng tôi đã sáng tác xong điệu múa tạm đặt tên là Vui sản xuất. Ý nghĩa của điệu múa muốn động viên chiến sĩ yên tâm đánh giặc, vì đã có hậu phương yên vui sản xuất để tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Động tác múa chèo thì học ở cụ Năm Ngũ trước hết, nhạc cũng học truyền khẩu rồi về hát lại để Ngọc Cương ghi lại cho vi-ô-lông của Bính Kính và cho các nhạc cụ khác đệm theo. Biên soạn múa và lời ca thì làm tập thể, cuối cùng mọi người cũng vừa ý. Quần áo múa thì góp lại mỗi người một mảnh dù trắng (của chiến sĩ cho làm kỷ niệm) đem nhuộm xanh đỏ. Thợ may là bốn cô nữ chiến binh. Thế rồi điệu múa đã được diễn cho chiến sĩ xem đêm đầu tiên tại mặt trận Điện Biên như ở phần đầu chuyện kể.

Đội văn công Sư đoàn sau đêm diễn đã chuyển sang phục vụ đơn vị pháo cao xạ ở gần khu vực đồi Độc Lập. Ba ngày sau chúng tôi hành quân trở lại căn hầm pháo cũ để tiếp tục phục vụ đợt 2 của chiến dịch. Thật không ngờ, chúng tôi không bao giờ còn được gặp lại các pháo thủ ở căn hầm số 2 đã bắn những viên đạn pháo đầu tiên vào Him Lam, mở đầu cho chiến thắng Điện Biên. Tất cả 7 chiến sĩ hy sinh. Máu của họ còn vương đầy vách hầm. Nơi biểu diễn điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” đầy những mảnh đạn.

Chúng tôi tìm đến những ngôi mộ còn đỏ màu đất như mới, viếng những người anh hùng và đặt lên nấm mồ một cành hoa sim tím của núi rừng Điện Biên giữa những tiếng khóc nức nở của 4 cô gái văn công Sư đoàn.

Những pháo thủ đang yên giấc ngàn thu và tất cả chúng tôi lúc bấy giờ không ai nghĩ rằng hình ảnh của họ và 4 cô gái văn công Sư đoàn trong điệu múa “Ai xui là xui cây lúa chín” sẽ sống mãi trong bức tranh nổi tiếng của họa sĩ đại tá Phạm Thanh Tâm.

Hà Nội, tháng 5 năm 1998.

NSND Đ.M.T.

Hà Nội Gió Mùa thắng lớn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:23 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

HÀ NỘI GIÓ MÙA THẮNG LỚN

(Tin của Đức Triết trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 6/10/2014)

Vở cải lương Hà Nội gió mùa đoạt giải vở diễn xuất sắc nhất và ba huy chương vàng, ba huy chương bạc cá nhân tại Liên hoan sân khấu thủ đô lần 1 tại Hà Nội.

Cai luong Ha Noi Gio Mua thang lonTại lễ bế mạc Liên hoan sáng 5-10, cùng với Hà Nội gió mùa (Nhà hát Cải lương VN), hai vở Cánh chim trắng trong đêm (Nhà hát Chèo Hà Nội), Những người con Hà Nội (Nhà hát Kịch Hà Nội) được trao thưởng vở diễn xuất sắc nhất.

Bên cạnh đó, ban tổ chức còn trao 19 huy chương vàng, 23 huy chương bạc cho các cá nhân nghệ sĩ.

Sáu vở diễn khác tham gia liên hoan gồm Ðạo học (Nhà hát Kịch VN), Nhà có ba chị em gái (Nhà hát Tuổi Trẻ), Bản danh sách điệp viên (Ðoàn kịch nói Công an nhân dân), Ðường đua trong bóng tối (Nhà hát Cải lương Hà Nội), Ðô đốc Bùi Thị Xuân (Nhà hát Tuồng VN) và Lời nói dối cuối cùng (Nhà hát Chèo VN).

Có thể thấy bên cạnh những vở diễn đậm chất tuyên truyền thì vẫn có một số vở không kém phần gai góc khi xoáy sâu vào những nỗi đau trong lòng Hà Nội như Hà Nội gió mùa, Ðường đua trong bóng tối, Lời nói dối cuối cùng.

PGS.TS Trần Trí Trắc, chủ tịch hội đồng giám khảo, nhận xét:

“Chín vở diễn tham gia liên hoan lần này đã đề cập nhiều vấn đề thời sự của đời sống xã hội… ở những thời điểm xa xưa và hôm nay, chiến tranh và hòa bình, lịch sử và hiện tại, truyền tải những thông điệp có giá trị về nhân sinh, lẽ sống mang tính triết học, tính thời sự và tính nhân văn.

Các nghệ sĩ, đạo diễn… đã có nhiều cố gắng với nhiều mảng miếng sáng tạo để có những khoảnh khắc sân khấu lay động lòng người”.

Cả chín đêm diễn ra liên hoan, các rạp Công Nhân, Hồng Hà, Tuổi Trẻ, Ðại Nam, Kim Mã… đều kín ghế.

Khán giả thủ đô đã thêm một lần được thưởng thức những đêm kịch hay về đề tài Hà Nội. Còn các nghệ sĩ thì được dịp “cháy” hết mình với nghệ thuật vì tình yêu Hà Nội.

Ngay sau Liên hoan sân khấu thủ đô lần thứ nhất, vở cải lương Hà Nội gió mùa nhận nhiều suất diễn mới: suất diễn vào tối 8-10 tại Học viện An ninh nhân dân, Hà Đông, Hà Nội và ba suất diễn các tối 10, 15, 16-10 tại Nhà văn hóa tỉnh Bắc Ninh.

Đ.T.

Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà – Phạm Tôn

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 10 năm 2014.

PHẠM QUỲNH, NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI NHÀ

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2014), chúng tôi xin mời quý bạn đọc câu chuyện về một con người Hà Nội gốc (bốn đời) giữa những người ruột thịt và những người thân thiết như người nhà.

Bài này đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 (56).2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà.

—o0o—

Cụ tổ của Phạm Quỳnh là Cử nhân Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854). Cụ có hai đời vợ và một bà thiếp. Nhưng đến năm bốn mươi tuổi mới sinh được một trai là ông Khiêm Trai Phạm Ngạch. Ba mươi hai tuổi, ông Ngạch đỗ tú tài, có hai con đều chết khi mới mười bảy tuổi. Nên khi ông mất sớm, đã cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự gia sản của cụ Phạm Hội để lại: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 phố Hàng Trống Hà Nội, do học trò xây dựng nên để thờ thầy[1]

Ông nội lại chỉ sinh được một trai là Phạm Hữu Điển (thân phụ Phạm Quỳnh), rồi bị cảm mà chết trẻ ngay khi vừa làm xong bài thi, cho vào ống quyển còn đeo ở cổ, chưa kịp nộp. Sau được xét chấm đỗ tú tài. Phạm Hữu Điển cũng đỗ tú tài, sinh được Phạm Quỳnh mới chín tháng thì vợ ra đi mãi mãi, mẹ phải bế cháu nội sang hàng xóm xin bú chực và mớm cơm cho ăn, rồi sớm khuya chăm sóc tận tình khi cháu bị đậu mùa. Mãn tang vợ ít lâu, ông Điển tục huyền, sinh được một trai nữa, đặt tên là Phạm Bái. Năm Phạm Quỳnh lên chín, thì ông mất; sau đó chú bé Bái cũng chết yểu. Bà vợ kế còn trẻ, đi bước nữa. Phạm Quỳnh thơ dại sống với bà nội và cụ Tú, vợ ông Ngạch, người cho gia đình thừa tự. Và ông đã lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc chu đáo của hai bà cụ nghèo khổ, vắt kiệt sức tàn gìn giữ giọt máu hiếm hoi của cả dòng họ. Côi cút, cô đơn từ nhỏ, Phạm Quỳnh tha thiết quý mến từng người ruột thịt thân yêu của mình. Điều đó ăn sâu vào tiềm thức của ông. Suốt đời ông yêu thương chăm sóc những người thân như luôn e sợ có thể có ngày ông lại mất họ…như đã từng mất mát quá nhiều từ thuở lọt lòng.

Cụ Tú và cụ Cả là bà nội Phạm Quỳnh, sống trong cảnh gieo neo, chật vật, bòn từng quả táo, trái bồ hòn, ít rau cỏ lèo tèo trong vườn sau nhà và buôn bán lặt vặt nuôi cháu khôn lớn[2]. Đến năm mười sáu tuổi, Phạm Quỳnh đi làm, đời sống gia đình mới bớt khó khăn. Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extrême Orient), Phạm Quỳnh đi qua một cửa hiệu bán đồng hồ, bao giờ cũng dừng lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt xinh xắn bày trong tủ kính, thèm thuồng mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi ông nhận thêm việc dạy tiếng Việt tính theo giờ cho một vài người Pháp ở trường, thu nhập có khá hơn, ông mới dành dụm mua cho mình chiếc đồng hồ đúng như thế, ở hiệu ấy, và giữ luôn bên mình như một vật báu suốt nhiều năm ròng, kể cả khi đã trở thành Thượng thư triều đình Huế[3]

Hồi trẻ, say mê văn minh Pháp, nên khi hai bà cụ bảo về quê thăm và sửa sang phần mộ ông cha thì ông từ chối không đi, nói là: “Người đã mất rồi thì nên để cho người ta yên”; cho là: “Người mất rồi thì kỉ niệm để trong lòng là đủ”. Nhưng đến khoảng năm 1915, khi ông chừng hai mươi hai tuổi, bà cụ Tú qua đời, thì ông lại giữ đúng lễ xưa, khiến Hoàng Đạo Thuý, người bà con kém ông bảy tuổi, cũng là người say mê văn minh Pháp phải ngạc nhiên: Đầu đội mũ dứa, tay chống gậy trúc, đưa tiễn cụ đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng ở cánh đồng Bạch Mai, cạnh một bờ rào[4]

Từ nhỏ ở Hàng Trống, cho đến sau này về Hàng Da, rồi vào Huế, Phạm Quỳnh bao giờ cũng giữ nguyên nếp kê bàn học và làm việc dọc trước bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ, có đặt những bài vị ghi danh các vị bằng chữ Hán và sau này, còn đánh số thứ tự để khi giỗ vị nào thì vợ con theo lời ông bảo dễ dàng lấy đúng bài vị vị đó đặt ra trước, tiện chuẩn bị bày biện bàn thờ. Ông rất trọng kị giỗ gia tiên. Khi cỗ bàn đã bày xong thì ông khăn đóng áo dài, trịnh trọng thắp nhang khấn vái, sau mới đến vợ và các con vào lễ. Ông còn kể cho vợ và các con về tiểu sử vị giỗ ngày hôm đó và thường dạy các con: “Phải làm sao cho gia đình mình trong như thuỷ tinh, không chút bụi mờ; giữ gìn đạo đức, nền nếp sao cho khỏi hổ với vong linh các cụ[5]

Với người khuất núi còn như vậy, Phạm Quỳnh càng yêu kính hơn những người trên còn sống. Chính vì thấy cụ Tú quá già, cụ Cả tuy còn khoẻ nhưng tuổi cũng cao mà hai cụ ngày đêm vẫn vất vả vì mình, cho nên đi làm được một năm thì ông lấy vợ là cô Lê Thị Vân, để có người đỡ đần hai cụ. Ông thường cùng vợ về quê ở thôn Nhân Thục làng Thọ Vực tổng Xuân Cầu huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh[6] thăm mẹ vợ, thường gọi là cụ Ký (do ông chồng làm ký lục, bấy giờ đã qua đời), thăm các cô em vợ là Hợp, Mai và cậu út Tốn. Chính những lần về quê vợ này, ông ra đồng xem bà con nông dân làm lụng mà đã ghi được biết bao câu ca dao tục ngữ dân ca hay, tăng thêm đáng kể vốn từ ngữ dân tộc của ông.[7] Hồi đã khá giả ông nói với cậu Tốn là muốn biếu bà mẹ vợ một ngôi nhà, hỏi có muốn lấy nhà ở Hà Nội cho tiện việc học hành làm ăn sau này của các em không, thì cậu Tốn trả lời là anh chị cho thì tùy anh chị thôi. Thế là ông bàn với vợ, bà bảo: “Cứ làm cái nhà to ngay giữa làng, chớ làm ở Hà Nội, dân làng có mấy ai ra Hà Nội đâu mà biết”. Rồi cho dỡ ngôi nhà gỗ còn tốt đi để xây ngôi nhà mới tại làng, đến nay (năm 2000) vẫn còn.[8]

Cô Vân có em gái là Hợp, nhà quen gọi là cô Nhỡ, bởi dưới cô còn một em gái nữa là cô Mai. Chị đi lấy chồng bấy giờ đã là nhà báo nổi danh ở Hà Nội, còn em vẫn ở quê làm ruộng, mò cua, bắt ốc, hái rau,…Có khi nhớ chị, cô đem những thứ ấy sang tận Hà Nội, lên bán ở chợ Hàng Da ngay gần nhà chị để tiện ghé thăm. Bà chị xấu hổ vì thấy em gái ăn mặc lôi thôi lếch thếch, lại còn quang gánh, thúng mủng, nên thấy mặt là thường đuổi về ngay. Nhưng những lần gặp ông thì thật là may. Ông mở cửa, đi thẳng vào nhà như “những nhà nho chân chính”, không thấy em vợ đứng cạnh cửa. Khi cô đánh tiếng chào, thì ông mừng rỡ, vồn vã hỏi thăm buôn bán thế nào, mẹ và các em bên nhà có được mạnh khoẻ không, rồi cuối cùng, bao giờ cũng móc túi lấy tiền dúi cho, bảo là: “Dì cầm tạm, đỡ tiền tàu xe”. Sau đó, mới gọi to báo cho vợ biết là có em gái sang chơi. Trước khi về, cô sang chào ông thì bao giờ ông cũng đưa sang vợ, nói là “Cho dì tiền tàu xe và mua quà cáp cho bà và các em bên nhà”[9]

Sau này, năm 1928, ông có mua lại của ông chủ Mỹ Ký (chuyên làm đồ trang sức bằng vàng giả, nổi tiếng một thời) một trang trại ở ấp Thái Hà, nhưng chỉ để mẹ vợ ở cùng gia đình cậu út Tốn; gia đình ông thỉnh thoảng mới về thăm thôi[10]

Phạm Quỳnh rất yêu vợ nhưng tính tình kín đáo, thường ít để lộ ra ngoài. Năm 1909, mới làm việc có một năm, ông đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương Bác Ngữ (Ecole des Langues Orientales), một dịp may hiếm có, thời ấy người trẻ tuổi nào cũng ao ước. Vậy mà ông đã từ chối. Chỉ vì mới …lấy vợ! Sau này, năm 1922 có dịp sang Pháp thăm trường ấy, ông đã ghi lại trong nhật ký: “Giá nhận đi hồi ấy thì Trường Bác Cổ không đề cử ông Phan (Văn Trường- PT ghi chú), và sự nghiệp mình có lẽ lại xoay ra một phương diện khác.” Nhưng ông không hề tỏ ý tiếc… Cũng trong dịp này, sau khi thăm bảo tàng Trocadero và bảo tàng Guimet ở Paris, ông lại ghi: “Thứ bảy, 27-5: Người Tây bình phẩm đàn bà An Nam có thói nhuộm răng đen thường nói rằng: Trông miệng người đàn bà An Nam tối om như cái hố sâu. Người Tây có lẽ lấy thế làm xấu thật, nhưng ta lại cho thế là đẹp. Cô con gái nào nhuộm răng khéo, đen nhánh như hạt huyền, thì tựa hồ như có duyên thêm lên. Tôi xin thú thật rằng, tôi không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng, dẫu đẹp mười mươi mà xem bộ răng đủ chán ngắt rồi. Vì người đẹp là người thế nào? Là một người hệt với hình ảnh một kẻ “ý trung nhân” của mình. Kẻ “ý trung nhân” của người An Nam ta là một người đàn bà da trắng, tóc dài, hình dáng yểu điệu… mà phải có bộ răng đen nhay nháy (chúng tôi nhấn mạnh – PT) mới được. Nếu răng trắng thời hỏng toẹt, không hệt với người trong mộng nữa.” Ông ghi nhật ký đúng như thế. Mà đây lại là nhật ký để đăng công khai đều đặn trên báo Nam Phong của ông! Vì ông đang nhớ vợ, mà kẻ “ý trung nhân” như ông tả ở trên, thì bất cứ ai đương thời quen biết gia đình ông đều dễ dàng nhận ra ngay đó chính là chân dung của vợ ông, cô gái một làng quan họ xứ Kinh Bắc. Ngày 23-6, ông ghi: “mình mặc jaquette, vào hiệu ảnh chụp cái ảnh gửi về nhà”. Đó là bức ảnh đầu tiên ông mặc âu phục, tóc cũng đã cắt mất cái “búi tó củ hành”. Trước thay đổi lớn đó về hình thức, ông thấy cần “thông báo khẩn” cho vợ biết. Ông gửi ngay ảnh đó về[11] với lời đề tặng đúng kiểu của riêng ông “Gửi hiền thê, ở nhà10

Vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn với nhau nên thương yêu, chiều chuộng, giúp đỡ nhau, suốt đời không hề có xích mích gì. Bà Cả Mọc, tên thật là Hoàng Thị Uyên, một nhân vật nổi tiếng về hoạt động xã hội của Hà Nội đầu thế kỷ thứ 20, là cháu bà thiếp của cụ Phạm Hội, lập hội Tế Sinh. Đây là một hội từ thiện chuyên trông con nhỏ cho những người lao động nghèo đi làm ban ngày và còn mở một trại dưỡng lão ở Phúc Yên giúp các cụ già cô đơn, không nơi nương tựa.[12] Phạm Quỳnh coi bà như bà mình, thường đến thăm hội, trò chuyện cùng bà. Bà Cả Mọc nhận vợ Phạm Quỳnh làm thủ quỹ của hội. Cô Vân vốn không biết chữ, nhưng tinh ý lại nhớ dai. Cô chỉ thu, chi rồi cố nhớ thật kỹ, về nhà thuật lại để chồng ghi chép hộ. Hằng tháng, ông phải viết hàng trăm biên lai, chứng từ và vào sổ sách thay cô. Ông viết bằng bút lông ngỗng, chữ nhỏ mà rất đẹp. Các vị trong hội biết chuyện thường gọi đùa ông là “ông thủ quỹ”[13]

Sau này, tuy bận nhiều công việc, ông vẫn cố dành chút giờ rảnh rỗi đem Nhị Độ Mai, Kiều,… ra đọc cho vợ nghe. Vì bà, tuy không biết chữ nho lẫn chữ quốc ngữ nhưng lại rất sành tiếng Việt, thuộc nằm lòng Truyện Kiều và vô số ca dao tục ngữ dân ca…[14]. Tuy không ham, nhưng ông cũng cố học đánh mạt chược mà ông biết bà thích và chơi khá thạo. Chỉ cốt để cùng bà và gia đình tiêu khiển trong mùa mưa xứ Huế.[15]

Còn có bằng chứng nào “hùng hồn” hơn về tình yêu của ông đối với vợ là họ đã có với nhau đến mười sáu mặt con! Ông bà sống với nhau được ba mươi sáu năm, kể từ người con trai cả sinh năm 1911 đến cô con út sinh năm 1938, trong hai mươi bảy năm ấy, ngoài ba người mất từ khi chưa đầy tuổi tôi, cũng còn lại đến năm trai và tám gái. Tuy đông con như thế nhưng hiếm có người cha nào trên đời này lại yêu thương chăm sóc con cái đến như ông. Những người con của ông, ít tuổi nhất nay cũng đã ngót bảy mươi, người lớn tuổi nhất hiện còn sống đã ngoài chín mươi, nhưng không một ai quên được nhưng kỉ niệm về tình thương yêu và sự chăm sóc ông đã dành cho mình. Đông con như thế mà ông vẫn chú ý đến từng người một, và yêu thương chăm sóc các con như nhau, không hề có sự “trọng nam, khinh nữ” hoặc “con yêu, con ghét” như thói thường vẫn vậy. Ông cũng không bao giờ lấy quyền làm cha để bắt các con phải theo ý mình, mà chỉ cảm hoá bằng tình thương yêu và lẽ phải mà thôi. “Dĩ thân vi giáo” là cách giáo dục của ông. Ông bao giờ cũng thân thiết, gần gũi bầy con đông đúc, nhiều vẻ.

Các con ông gọi cha bằng Thầy, gọi mẹ bằng Me và xưng là Em. Có lẽ là do ông gọi vợ theo kiểu TâyMe (Mère) , còn bà thì gọi ông theo kiểu taThầy nó. Và cả hai đều quý các con, thường gọi nựng khi còn nhỏ là Em, lâu ngày hình thành nếp xưng hô độc đáo của riêng gia đình ông.

Mười sáu tuổi lấy vợ thì mười bảy tuổi ông có con trai đầu lòng, đặt tên là Phạm Giao. Theo lệ cũ: tên con trai suy từ tên cha ra, đã có cây quỳnh tất phải có cành giao. Hai năm sau, vợ ông sinh một bé gái trắng nõn nà như cọng giá, nhà bèn đặt tên là Giá, ông cũng chấp nhận. Hai năm sau nữa, lại một bé gái ra đời, cứ ngày ngủ đêm thức, nhà lại đặt luôn cho tên là Thức, ông lại cũng chấp nhận, cho làm khai sinh như thế. Sự dễ dãi này cũng dễ hiểu, người thời ấy thường không coi trọng việc đặt tên cho con gái, vì sau này lấy chồng thì sẽ lấy tên chồng thôi. Nhà số 1 phố Hàng Trống là nơi chôn nhau cắt rốn của ba anh em. Sau này, khi đã là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong, dọn về ở số 5 phố Hàng Da, các con sinh ra đều được ông chọn đặt tên cẩn thận. Trước chuyến đi Pháp năm 1922, ông có thêm ba con, một trai là Phạm Bích, hai  gái là Hảo và Ngoạn. Mới hai mươi chín tuổi, ông đã sinh đến sáu con.[16] Chỉ đọc những dòng ông viết trong Pháp du hành trình nhật ký đăng trên báo Nam Phong năm ấy, cũng thấy được ông thương yêu các con đến thế nào

Thứ ba, 20-6: Chánh Công ty rượu Đông Pháp mời cơm trưa…Dự tiệc… còn có ông em ruột… bà em dâu và hai đứa cháu gọi ông bà bằng bác. Hai thằng bé ngộ quá, mình chơi đùa với chúng nó lại càng thêm nhớ đến lũ con ở nhà.” Phải, ở nhà ông cũng có hai thằng bé là Giao và Bích mà…

Thứ sáu, 23-6:…vào hiệu ảnh, chụp cái ảnh gửi về nhà”.[17] Ông gửi ảnh ấy về thì bà lại gửi sang cho ông bức ảnh ông mặc áo gấm bế bé gái Ngoạn. Ảnh chụp trước lúc ông đi xa. Ai ngờ, sau đó ông diễn thuyết đến bốn bận, có lần ở cả Viện Hàn Lâm Pháp, khiến các báo Paris xôn xao lên, tranh nhau đăng bài nói của ông, còn xin cả ảnh để đăng kèm cho thêm sức thuyết phục. Bấy giờ, tuy mới chụp ảnh mặc âu phục gửi về nhà, nhưng ông lại không dùng ảnh ấy, mà đưa đăng bức ảnh mặc áo dài khăn đóng, đang bế con gái mới vừa mấy tháng. “” Phạm Thị Ngoạn, sau này là tiến sĩ đại học Sorbonne Paris với luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong) nghiên cứu về sự nghiệp chủ yếu của đời ông, vẫn luôn giữ bên mình bức ảnh đó, coi như báu vật quý nhất đời mình. Bà nắn nót đề sau ảnh dòng chữ: “Tôi đã có mặt trên báo chí Paris từ năm 1922”. Năm 1921 là năm sinh bà Ngoạn

Thứ bảy, 24-6: cơm trưa rồi đi chơi cửa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.” Thế là đang sống giữa Paris phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, lòng ông vẫn hướng về quê nhà; ông vẫn nhớ là sắp đến Tết Trung thu, và càng nhớ các con.

Thứ năm, 29-6: Năm giờ chiều mới ở vườn bách thú ra, trước khi lên xe, mua một mớ cartes postales (bưu ảnh) các giống thú lạ để gửi về cho các trẻ nhỏ ở nhà. Nào là sư tử, nào là hổ báo, nào là hươu nai, nào là vượn khỉ, mỗi cô mỗi cậu được mấy con giống, xem mà tranh nhau ỏm tỏi! Còn cái con nai cao cổ kia, chắc anh chị nào cũng thích, ta phải mua đến nửa tá mới đủ. Nửa tá là đúng, bấy giờ ông có vừa đúng nửa tá…con, hai trai bốn gái, kể cả cô mới sinh mấy tháng trước khi ông đi.

Và rồi, “Thứ hai, 17-7: đi vào vườn Luxembourg. Vào đến giữa vườn, trông cái cảnh mới đẹp sao!…Nhưng đẹp nhất là cái cảnh mặt trời về tây, bóng dương đã xế, mây vàng ngẩn ngơ, thật là Trời tây bảng lảng bóng vàng

Không gì đẹp bằng góc trời đó, mà cũng không gì buồn bằng đám mây đó. Vì trông mây, lại sực nhớ đến nhà: Lòng quê gửi đám mây vàng xa xa. Mến cảnh nhớ nhà, nhớ nhà mà mến cảnh, trong lòng lại càng ngổn ngang thêm nữa. Trời vừa sập tối, lính canh vườn đã nổi trống để giục khách tháo lui. Lủi thủi bước ra, đi thẳng về trọ…mãi canh khuya vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Từ ngày sang đây đến giờ, đến hôm nay, mới thấy buồn là một, thật là: Lạnh lùng thay giấc cô miên”[18]

Ông nhớ nhà, nhớ vợ và các con là phải. Biết bao việc hằng ngày trong gia đình gắn bó với ông. Ở nhà, bữa ăn nào các con trai cũng ngồi bàn ăn cùng thầy, các con gái thì ngồi sập ăn cùng me. Thỉnh thoảng có thì giờ, ông cùng các con đi xem phim, cứ mua bốn năm vé, mấy cha con cùng ngồi xem. Thời ấy, phim câm, thỉnh thoảng có chiếu chữ Pháp trên màn ảnh. Ông đọc rồi giải thích cho mấy anh chị em, cứ truyền khẩu nhau mà nghe. Khi có kịch cải lương hoặc vở chèo nào hay, thì ông mua vé cho vợ đi xem cùng các con.[19]

Sáng sáng, ông dậy sớm, đun nước pha cà phê, không phải để ông uống mà là dành cho các con. Ông mua sẵn từng chai lít dầu cá (thứ thuốc bổ tốt nhất thời ấy) cho lũ trẻ. Mỗi sáng, gọi các con đến xếp hàng, tự tay ông rót từng thìa dầu cá cho vào chén cà phê nhỏ, đưa cho từng đứa uống, rồi bảo lau miệng bằng giấy bản ông để sẵn bên bàn, sau đó ăn xôi, đi học. Trước khi ăn cơm, ông bảo các con rửa tay xà phòng trong chậu đặt gần bàn ăn. Ông lo chăm sóc các con như thể sợ vẩn vơ là có thể lúc nào đó, ông sẽ bị mất một đứa, mà đứa nào ông cũng quí, cũng yêu với tất cả tấm lòng! Vậy mà, ông đã phải gánh chịu tai hoạ đó. Không phải chỉ một lần…

Cô con thứ bảy mất lúc mới được nửa năm, còn cô thứ chín cũng chỉ sống với ông vẻn vẹn có chín tháng. Cả hai đều trắng trẻo, xinh xắn. Ông mời thầy thuốc người Pháp là Piquemal đến tận nhà chạy chữa hằng ngày mà vẫn không sao cứu được. Ông đi bộ theo chân kiệu tang bé nhỏ, đưa các con đến tận mộ. Vậy mà đêm về, có lần đang ngủ ông bỗng hốt hoảng choàng dậy, vội vã chạy sang buồng vợ, tưởng như nghe thấy có tiếng con nhỏ khóc. Ông vốn cận thị, lại không kịp đeo kính, nên lao cả đầu vào cửa kính mới bừng tỉnh, rồi thở dài, lủi thủi về lại giường nằm, trằn trọc cho đến sáng. Con gái đầu của ông, cụ Phạm Thị Giá, đến năm ngoài tám mươi tuổi, vẫn còn nhớ như in trong óc cảnh tượng này.

Năm 1926 ông bà lại sinh một gái. Ông quyết định đặt tên con là Hoàn và nói rằng: “Đây là trời “hoàn” lại, thay cho hai người con gái đã mất”. Bé Hoàn được ông bà yêu chiều đặc biệt. Bữa cơm thì cho ngồi ghế mây cao ở giữa, ông một bên, bà một bên. Ông hỏi: “Em yêu thầy hay me?”. Khi cô bé trả lời: “Em yêu thầyme”, thì bà lại hỏi: “Em yêu me hay thầy?”. Và cô bé đáp: “Em yêu methầy!”. Ông như muốn nhìn thấy qua hình hài bé Hoàn cả hình bóng hai con gái ông rất mực yêu thương nhưng mệnh yểu.

Nhưng định mệnh trớ trêu vẫn bắt ông phải đau khổ vì mất con một lần nữa. Sau bé Hoàn, bà lại sinh cho ông một bé gái, đứa con thứ mười một của ông. Thấy con gái xinh xắn, nhỏ nhoi, ông mới đặt tên cho em là Yến. Bấy giờ có nữ thi sĩ Pháp là bà Jeanne Duclos Salesse mến phục tài ông, thường lại nhà chơi, thấy cháu bé mới sinh, hỏi tên, rồi làm tặng một bài thơ, có câu:

Xin chào Chim Yến Nhỏ, đã khéo chọn hình mẫu từ những nét của mẹ em xinh đẹp, để ngời sáng lên như một viên kim cương, ơi Chim Yến”

Nhưng mới được năm tháng tuổi thì em mắc bệnh hiểm nghèo, chữa chạy chăm sóc thế nào bệnh cũng chẳng hề thuyên giảm, cứ ngày một nặng lên. Bé Yến suy kiệt, héo hon dần ngay trước mắt ông. Nhiều đêm, ông bế con gái nhỏ, yếu ớt như cái giải khoai, để em gục đầu vào vai mà nhẹ nhàng đi quanh bức tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng muốt, cao chừng tám mươi  phân, cổ tượng ông có đeo cho một chuỗi hạt san hô đỏ, trước tượng, đặt một lư trầm thơm ngát. Ông cứ đi như thế suốt đêm, bế con vác vai, miệng khe khẽ ngâm nga những câu thơ cổ, mong ru em ngủ, giấc ngủ mong manh, chập chờn. Nhưng rồi, việc ông lo sợ nhất vẫn cứ đến, Chim Yến Nhỏ lại cũng bỏ ông mà bay đi. Sau khi tác giả bài thơ tặng em về Pháp được một tháng.

Nhiều năm sau, khi được tin bà Salesse mất, ông có làm bài tưởng niệm, trong đó có câu:

Bà Jeanne Duclos không còn nữa! Kỉ niệm về bà gắn bó với một sinh linh nhỏ nhoi thân thiết với tôi, sau khi bà lên đường một tháng, đã bay về Trời; nơi ấy, chắc là bà sẽ gặp lại em

Ông vẫn không sao quên được tổn thất lớn lao mình đã phải chịu đựng năm ấy. Mất một đứa con, là ông đứt một khúc ruột

Giữa hai cô con yểu mệnh, ông được một trai khôi ngô, mừng rỡ đặt tên là Khuê, ngôi sao sáng trong “nhị thập bát tú” (sau này sẽ là Giáo sư nổi tiếng về lão khoa, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam, và từng được bầu làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Dương quê hương ông, với số phiếu cao nhất). Sau Chim Yến Nhỏ, ông lại được thêm một trai nữa. Cậu này thay chỗ bé Hoàn trong bữa ăn gia đình, được ngồi giữa ông bà. Ông đau dạ dày, quanh năm chỉ ăn xôi với ít thịt gà thịt lợn kho. Bữa xôi nào, ông cũng chỉ xắn ăn chung quanh, để lại giữa đĩa một cái “cù lao” nhỏ, dành cho bé Tuyên. Cái cung cách để dành lại cho con một chút thức ăn đó, ông có đã lâu. Cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ: “ Có đêm, tôi ngủ đã lâu, tỉnh dậy, thấy bên bàn giấy thầy đèn vẫn sáng. Tôi thương thầy làm việc quá khuya, mở cửa sang, thì thầy hỏi: “Con ngủ rồi à, sang đây ngồi chép cho thầy.” Tôi ngồi vào bàn viết và thầy ra ngồi ghế xích đu, cầm quyển sách, dịch và đọc thẳng như người ta đọc chính tả cho tôi viết, đến mỏi cả tay. Đêm càng khuya, thầy càng tỉnh táo và giọng đọc vẫn rõ ràng. Sau chừng hai tiếng đồng hồ, tôi vừa mỏi tay, vừa buồn ngủ thì thầy mới như chợt nhận ra, và bảo tôi cắt cam cho thầy xơi…Cam bổ làm sáu, thầy xơi bốn miếng, còn hai miếng, bảo tôi ăn. Thầy còn nói vào mắc áo có cái gi-lê trắng của thầy, trong túi có gì thì thầy cho. Tôi vào lục túi, được mấy hào lấy làm sung sướng lắm, đó là thầy thưởng công cho tôi”.[20]

Sau đó, ông bà còn sinh hai gái nữa, đặt tên là Diễm (tên khai sinh bị ghi nhầm là Giễm, không sửa được!) và Lệ; chỉ bằng vào hai cái tên thôi, cũng đủ biết hai cô xinh đẹp dường nào. Rốt lòng là một trai tên Tuân, một gái út tên Viên, có thể là do khi sinh ra cô tròn trặn, mà cũng có thể ông cho đàn con đông đến như vậy là “viên mãn” rồi.

Bà Phạm Thị Hoàn còn nhớ: “Vào Huế tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh tay trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai, chóng nhớn, vươn vai, chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến thầy tôi “tỏ tình” với các em bé, nên cũng yên chí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy”.[21] Ông vẫn yêu mến, chăm sóc các con hết lòng, dù đó đã là các con thứ mười bốn, mười lăm, và mười sáu của ông.

Ông thường nói với các con là mình không có tuổi thanh niên. Trong thời gian còn làm báo, đôi khi ông cũng có lần cùng bạn bè tới các ca lâu tửu điếm, thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán thời ấy cho phép, người ta hỏi ông có “chấm” một cô đào nào không thì ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy, nên không bị cám dỗ”.[22]

Ông không bao giờ cáu giận, to tiếng với ai cả. Bực mình lắm, cũng chỉ thấy ông tặc lưỡi là cùng. Ông không bao giờ dùng quyền uy hay hình phạt. Con trai cả ông đã kết duyên với con gái ông bạn văn thân thiết nhất của ông, sinh được hai trai, thì lại đem lòng yêu thương và lấy một cô gái Huế “tân thời”, rồi đưa nhau vào tận Sài Gòn sinh sống như dân lao động, khi ông đã là mệnh quan của triều đình. Ngày giỗ kị, các quan mũ áo chỉnh tề đã tề tựu đông đủ, mới thấy cậu cả về nhà, mặc bộ đồ tây vàng, thời ấy chỉ những người phát thư mới mặc, đi thẳng vào giữa hàng các quan đang khúm núm, chìa tay ra suồng sã bắt tay từng người và chào hỏi tự nhiên. Tin đồn: “Cậu cả con cụ Thượng vào Sài Gòn mở tiệm cơm đeo bị cói đi mua thịt bò ở chợ Bến Thành” khiến không ít người dị nghị: “Sao cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú Ba Tàu!” Nhưng ông chẳng có hình thức trừng phạt gì, cũng không trách mắng con trai. Ông vẫn thương và giúp đỡ tận tình cả con trai với cô vợ cả và hai con trai, lẫn cô vợ lẽ và ba đứa con, không hề phân biệt đối xử, coi cũng như các con cháu khác của ông vậy, khiến cho gia đình tám con người ấy vẫn sống hoà hợp lâu dài mà không đi đến hận thù, đổ vỡ. Đương thời, một thạc sĩ y khoa trẻ, tốt nghiệp từ Pháp về Huế, do yêu thương và quyết xin cha cho lấy một cô gái Huế “tân thời” người Hoàng Tộc, nhưng trái ý cha, đã bị bắt nằm sấp trước bàn thờ tổ tiên, trên mông đặt một cái roi mây “để tổ tiên trừng phạt tội bất kính, làm bại hoại gia phong”, ngay trước mặt bà con dòng họ, làm xôn xao xứ Huế một thời.[23]

Ông theo dõi tỉ mỉ và tạo mọi điều kiện cho con cái phát huy thiên hướng của mình, không hề áp đặt, kể cả trong học hành lẫn vui chơi, giải trí. Hồi đi công cán Quảng Trị, ông mua hẳn một ngôi nhà gỗ lớn, rồi cho tháo dỡ về lắp trong khuôn viên biệt thự Hoa Đường của gia đình, giữa vườn cây cỏ hoa lá xanh tươi. Chung quanh nhà, chạy một hàng hiên tráng xi-măng xanh mát rượi. Kế đến là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Có lẽ vì nghĩ đến bầy con cháu đông đảo đang trưởng thành mà ông đã chọn mua ngôi nhà gỗ lớn này. Đúng là một Thiên Đường của lũ trẻ, giữa thiên nhiên thoáng mát. Con trai con gái lớn ông, mỗi người một phòng riêng. Cậu cả thì thích ghi-ta phím lõm, chơi các bản vọng cổ cải lương; cậu hai lại thích ghi-ta cổ điển phương tây; cậu ba ham đàn phong cầm; cậu tư mê cả ghi-ta lẫn phong cầm, sau này sẽ thành nhạc sĩ nổi tiếng của nước ta là Phạm Tuyên, tác giả hơn sáu trăm ca khúc, đặc biệt là bài  Như có Bác trong ngày đại thắng mà hầu như người Việt Nam nào cũng thuộc…Có lần rỗi rãi, ông xuống thăm nhà gỗ, thì gặp Phạm Bích con trai thứ hai của ông đang đệm đàn và hát cùng Hoàng Gia Lịnh bài Việt Nam bất diệt anh này mới sáng tác đưa bạn xem thử. Ông khen hay, bảo cứ hát tiếp đi, rồi đứng yên nghe hai người hát cho đến hết bài, mới đi chỗ khác. Kỉ niệm ấy, đến năm ngoài tám mươi tuổi cụ Lịnh vẫn còn nhớ rõ.[24]

Lần khác, muốn giới thiệu các con với một bạn người Pháp, ông đưa bạn xuống nhà gỗ, tình cờ gặp đúng lúc bọn trẻ đang tổ chức “chiếu phim” với máy chiếu tự làm lấy bằng bìa và phim bằng giấy bóng kính do Phạm Tuyên vẽ. Âm nhạc do Phạm Vinh, đính tôn của ông (sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là nhạc sĩ quân đội, trưởng Đoàn Văn công Trường Sơn) tùy cảnh trong phim mà mở các đoạn nhạc thích hợp có trong những đĩa hát cũ, bằng kèn hát lên dây cót. Các cháu nhỏ, đứa lo “soát vé”, đứa lo “đưa chỗ” cho khách. Ông khách người Pháp được xem buổi chiếu phim ấy vừa thích thú vừa thương lũ trẻ, sau này đã gửi tặng các con ông một máy chiếu phim 8mm hiệu Pathée, thật ngoài mong ước của lũ trẻ. Còn các cô gái thì đan len, thêu thùa hoặc học hát cũng là ở nhà gỗ cả. Các con cháu ông có thói quen hát nhiều bè, chỉ cần một người cất tiếng hát là có người khác phụ hoạ, hát đệm theo luôn, có khi đến ba bốn bè. Về thể thao, các con ông ham bơi lội, quần vợt, săn bắn và câu cá ở ngay con sông nhỏ An Cựu trước cổng nhà. Hầu như ai cũng biết vẽ. Và tất nhiên, ham đọc sách báo, thích thơ văn. Gia đình có cả một thư viện đồ sộ hàng vạn cuốn sách, tủ sách kín tường, cao đến tận trần nhà. Trong nhà cũng ra được một tờ Gia đình tuần báo, có đủ cả “bản báo phóng viên”, “biên tập”,  “hoạ sĩ trình bày”…thuật lại những diễn biến trong đại gia đình tuần qua, giới thiệu các món ăn kỳ lạ, và có phóng sự thuật cả chuyện “có tiếng ai đó khóc trong đêm khuya…” để trêu chọc nhau cho vui. Hội trường nhà gỗ còn là nơi các thầy dạy kèm được ông  mời đến dạy các con cháu nhỏ học buổi chiều và buổi tối. Hầu như ông không phải nhắc nhở con cháu về việc học, tự chúng có lòng ham học, ham hiểu biết rồi.

Vào tuổi xế chiều, Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập vẫn thấy cần chia sẻ một ký ức tuổi thơ với đông đảo cử tọa của Ngày Phạm Quỳnh (năm 1999). Một hôm cậu Tập, học trò lớp nhất tiểu học được bạn cùng bàn là Xương mời đến chơi biệt thự Hoa Đường. Cậu đến thì bị hai lính lệ gác cổng đuổi. Hôm đi học, bèn nói cho Xương biết. Chủ nhật sau, cậu đi câu cá ở sông An Cựu, qua cổng thì hai anh lính hôm trước rượt theo, lễ độ Mời vào chơi với cậu Xương Cụ Thượng muốn gặp cậu. Cậu vào thì Xương giới thiệu với bác mình là cụ Thượng. Giáo sư kể: “Thong dong, hiền từ, tế nhị không nhắc đến chuyện cũ, cụ Phạm thăm hỏi gia đình tôi và dẫn vào thư viện xem sách. Sách, đâu cũng sách là sách… Cụ giảng cho biết thế nào là loại sách quí…”[25]

Con người cô đơn là ông luôn tìm thấy niềm vui, nguồn sống trong bầy con cháu đông đảo, lạc quan, năng động. Ông như thấy có trách nhiệm với cái bộ lạc mà ông đã sinh ra ấy, đến mức ông ngần ngại trước tất cả những quyết định gì có thể gây tổn thất cho bộ lạc của mình, làm “sẩy đàn, tan nghé”, ông e ngại tất cả những gì quyết liệt, mang tính bạo lực. Những việc ông dồn tất cả tâm sức vào làm cũng chỉ là để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân, cho đất nước sau này, mà ông còn chưa biết chắc là sẽ nên làm thế nào để đạt được. Ông chỉ cố gắng làm những gì mà sức mình có thể làm được thôi. Có lẽ vì thế mà ông ít tâm sự cùng vợ con việc mình làm, cứ lặng lẽ âm thầm làm một mình, chẳng dám lôi kéo ai, kể cả những người thân nhất của ông đi vào con đường của mình, mà ông biết là có không ít chông gai, lại khó được chia sẻ. Ông tìm nguồn an ủi, chỗ dựa tinh thần chính từ trong bộ lạc thân yêu của mình, để tiếp tục sống mà làm việc. Có lẽ ông nghĩ: không nên làm cho con cháu sớm phải bận tâm với những việc ngoài tầm suy nghĩ của chúng; cứ để cho chúng sống hồn nhiên được lúc nào hay lúc ấy; bởi cái gì phải đến, tất sẽ đến đúng lúc cần phải đến thôi…Ông vốn là người cho thì thật nhiều, mà nhận thì chẳng bao nhiêu.

Ông cũng không nệ “môn đăng, hộ đối” như lề thói đương thời. Cô con cả ông được một thanh niên nghèo người Huế đem lòng yêu thương. Anh là con một quan huỵên thanh liêm về hưu trước tuổi, tự làm việc nuôi thân ăn học thành tài, lại thay cha nuôi cả gia đình đông đúc, sau này là một trong tám vị sáng lập trường Thăng Long (Ngõ Trạm) nổi tiếng ở Hà Nội. Thấy người có đức có chí, khi con gái thuận tình, thì ông cũng bằng lòng gả cho. Ông trọng ông thông gia là quan huyện thà về hưu ở lứa tuổi bốn mươi còn hơn là theo lệnh Tây đi lùng bắt những “người làm quốc sự”mà mình cho là lương dân. Một lần sinh nhật ông, ông này đến dự, có cho người mang theo một mâm lễ lớn, phủ vải đỏ. Ông đưa hai tay đón nhận, cảm ơn là Đã cho quà nhiều quá! Và sai người nhà mang vào nhà trong, rồi kính cẩn mời ông thông gia vào bàn thượng khách. Ông không cho khách dự – phần lớn là các quan trong triều và giới thượng lưu trí thức- thấy món quà tặng đó: Chỉ là một buồng chuối tiêu cắt ở vườn nhà![26]

Vợ chồng cô con cả sinh con đầu lòng năm 1932, ông vào tận bệnh viện thăm cháu gái và cho biết là năm ấy, ông sẽ vào làm quan trong Huế. Ông vuốt má cháu ngoại đầu tiên mà nói: “Sang năm, vợ chồng cho cháu về Huế thì tiện, có bên nội lại có cả bên ngoại nữa.” Sau đó, cứ mỗi lần gia đình này về Huế, ông lại cho lái xe ra tận ga đón, rồi đưa thẳng cả nhà về bên nội ở  một thời gian, sau mới cho đón về bên ngoại, ở lại lâu hơn.

Các con ông đều lấy người mình yêu thương, không hề có cảnh “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” như đương thời. Ông yêu quý tất cả dâu  rể, âu yếm tất cả các cháu nội ngoại. Khi ở Huế, những dịp con cháu về đông đảo, cả nhà quần tụ trong biệt thự Hoa Đường rộng lớn, bữa ăn phải đánh chuông báo mới biết mà về cùng ăn. Ông ngồi đầu một bàn dài, ăn xôi, vợ con dâu rể và lũ cháu nội ngoại lớn nhỏ tuỳ tiện chọn lấy chỗ nào thích thì ngồi hai bên bàn, ăn uống trò chuyện vui vẻ. Buổi chiều mát thỉnh thoảng có mụ Mệ người làng An Cựu bán chè đậu ván quen, gánh một gánh đầy vào nhà, là con cháu bu lại, mỗi người một bát, ăn cho nhanh còn thêm bát nữa, chỉ loáng cái đã hết cả gánh hàng. Mụ Mệ cười tươi, phô hai hàng lợi cứng, không còn sót một cái răng nào, giữa tiếng xôn xao của lũ trẻ mời mụ ngày mai lại đến. Con cháu mụ Mệ cũng thường vào Hoa Đường chơi với con cháu ông.

Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình hằng ngày như người nhà. Cho nên, sau khi gia biến, ông không còn, nhưng cụ Hạt, cụ bếp Nguyên, u Nấm, u Viết vẫn giúp việc vợ con ông cho đến tuổi già, tận tình và trung tín. Cụ thợ may Liễn (tên thường gọi là ông Hai Lươn, em ông Cả Trạch), thường xuyên thăm nom, giúp đỡ gia đình cô con cả ông những khi có việc. Các con cái cụ như Sâm, Nhung…thường đi lại, gắn bó thân thiết với cháu ngoại Phạm Quỳnh. Các ông Bồng, Huệ, Thìa, Khoá, Hồ, Gà… vẫn gắn bó như xưa. Năm 1954, Hà Nội giải phóng, hội nghị giáo dục toàn miền Bắc họp lần đầu. Con trai Phạm Quỳnh là giáo viên Khu Học xá Trung ương từ Nam Ninh (Trung Quốc) về nước dự. Buổi tối, họp kín, chỉ toàn Đảng viên. Giờ giải lao, thì có một người cùng họp đến gặp, hỏi có phải là con Cụ Phạm không, rồi tự xưng Tôi tên là Thìa, em anh Khoá đây, thân thiết, không chút e ngại.

Trẻ con đông, lại nhiều cháu trai hiếu động, gây ồn ào, đổ vỡ, hư hỏng này nọ. Nhưng, tuyệt nhiên không đứa nào bị ông trách mắng hay có hình phạt nào cả. Có con cháu quây quần là ông vui rồi.

Vốn là nhà nghiên cứu, ông lập hẳn một quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh nặng mấy cân, hay mắc bệnh gì, tính tình ra sao, lớn lên lấy vợ lấy chồng  tên là gì, năm nào sinh con ông ghi đủ cả[27]

Bà Hoàn, hồi nhỏ ở Huế thường giúp ông các việc vặt như: mở máy hát các điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy, những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần Cung Oán…hay đọc sách cho ông nghe và chuyên cắt móng tay cho ông. Năm gần bảy mươi tuổi, bà vẫn còn nhớ: “Mỗi lần như vậy, thầy tôi lại nói đùa: Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn. Riêng câu đó cũng chứng tỏ thầy tôi luôn luôn dung hoà cái xưa và cái nay”.[28]

Ông yêu quý những người thân của mình và cũng được đáp lại bằng tình cảm kính yêu chân thành, tha thiết nhất.

Năm 1945, sau khi từ quan rút về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường lúc mới năm mươi hai tuổi, ông nghiền ngẫm và miệt mài đọc, dốc tâm huyết dịch những bài thơ Đỗ Phủ mình tâm đắc nhất. Được đúng năm mươi mốt bài thì gửi Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người bạn văn chương thân thiết sành thơ và bắt đầu viết Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút trong một cuốn vở học trò, mới được non năm mươi trang giấy.[29] Tháng sáu năm ấy, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân, được cụ Nguyễn Văn Tố, người đồng sự với ông ngày trước ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, giới thiệu đến thăm ông. Sau này, khi viết bài Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, ông An có thuật lại những lời ông nói bấy giờ: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng”…”Hiện thời, tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu, rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học”…” Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này”…”Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào, phong phú hơn xưa…Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.”[30]

Từ lâu, ông đã muốn thoát khỏi quan trường mà không sao thoát được. Năm 1932, nghe tin ông nhận vào Huế làm quan, Hoàng Đạo Thúy đã can ngăn hết lời, nhưng ông vẫn ngây thơ trả lời rằng: “Tôi vào thử một tháng, không làm được gì thì tôi lại ra”.[31] Ông còn nói với nhà báo Nguyễn Vạn An vào tháng 6-1945: “Trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả”.31

Rồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[32] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[33] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường. Rồi ngày 23-8, nghe có lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa huy động nhân dân tham gia mít-tinh tại sân vận động Huế,[34] ông giục con cái chuẩn bị áo quần chỉnh tề, đem cờ nhà may, sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng cùng dân làng An Cựu.

Nhưng rồi, đến trưa ngày 23-8, cùng lúc cuộc mít-tinh lớn diễn ra tại sân vận động, thì có mấy người đi xe hơi đến “đón” ông đi. Cô Hoàn, thường quấn quít bên ông từ nhỏ, vội vàng chạy theo ông, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy thuốc magnésie bismurée cho thầy nhé” (Vì cô vẫn biết mỗi ngày ông phải uống thuốc ấy bốn lần do đau dạ dày). Thì ông quay lại, dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về[35]

Xe chạy, và ông không bao giờ về nữa

Trước cổng  biệt thự Hoa Đường xưa “là chiếc cầu cho các thuyền dọc hay đò ngang ghé đậu nay vẫn như xưa. Người dân quê chân phương không ai bảo ai, đã đồng lòng đặt tên là Bến Cụ Phạm”.[36]

Tháng 10- 2000 – Tháng 4-2006

* Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(56). 2006 với nhan đề Phạm Quỳnh-Người nặng lòng với nhà


[1] Hoàng Đạo Thúy: bản dịch Trích gia phả họ Hoàng Đạo:

-Phụ: Bên Ngoại (Hoàng Đạo Thành soạn, viết)

– Phả ký học trò viết (Tô Ngọc Huê soạn, Ngô Văn Dạng viết)

[2] Hoàng Đạo Thuý: Các việc tiếp theo (viết ngày 16-7-1991, tại Hà Nội)

[3] Phạm Thị Giá:   –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[4] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[5] Phạm Thị Giá:   –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[6] Theo lời kể của ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này, năm 1999

[7] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[8] Theo lời kể của bà Lê Thị Trung, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác, trực tiếp kể cho người viết bài này ngày 19-1-2000

[9] Theo lời kể của cụ Lê Thị Hợp, em vợ Phạm Quỳnh trực tiếp kể cho người viết bài này từ 1960 đến 1975

[10] Phạm Thị Giá:    –      Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-          Thư gửi con trai (25-5-1988)

-          Thư gửi em gái (14-9-1992)

[11] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[12] Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa, NXB Văn Hoá – Thông Tin, Hà Nội, 2000

[13] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[14] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[15] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[16] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[17] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[18] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, NXB Ý Việt, Paris, 1997

[19] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

- Thư gửi em gái (14-9-1992)

[20] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[21] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[22] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[23] Theo lời kể của bác sĩ Ngô Văn Quỹ, trực tiếp kể cho người viết bài này, tại Thành phố Hồ Chi Minh, năm 1999

[24] Theo lời kể của Giáo sư  Sử  học Hoàng Gia Lịnh, sống ở Paris trực tiếp kể cho người viết bài này.

[25] Nguyễn Phước Bửu Tập – Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá số 50, Mỹ

[26] Theo lời kể của bà Tôn Nữ Việt An, cháu ngoại Phạm Quỳnh, trực tiếp kể cho người viết bài này qua điện thoại (tháng 1-2006)

[27] Phạm Thị Giá:  –  Thư gửi con trai (tháng 4-1988)

-    Thư gửi con trai (25-5-1988)

-    Thư gửi em gái (14-9-1992)

[28] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[29] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và Di cảo, NXB An Tiêm, Paris, 1992

[30] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23-3-1952

[31] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[32] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[33] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

[34] Tố Hữu: Nhớ lại một thời, trích hồi kí đăng trên Tạp chí Văn học, số 8 năm 2000, chương V: Khởi nghĩa

[35] Phạm Thị Hoàn: Thầy tôi, viết tại Yerres, bài đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris ngày 19-12-1992. Báo Ái Hữu số 115 tháng 6-1992, Paris

[36] Phan Kính Đức: Từ Hồ Chí Minh đến Phạm Quỳnh, tạp chí  Sóng, Mỹ

Tháng Mười 3, 2014

Đại hội đại biểu toàn quốc mặt trận tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII thành công tốt đẹp và bế mạc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 10 năm 2014.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VIII THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP VÀ BẾ MẠC

(Trích tin trên trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 28/9/2014

Chiều 27-9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014-2019, thành công tốt đẹp và bế mạc.

(…) Các tham luận tập trung vào các nội dung: Không ngừng củng cố, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên trongBe mac dai hoi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; . Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò của người tiêu biểu, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; Đổi mới hoạt động, mở rộng mạng lưới bạn bè quốc tế, nâng cao hoạt động đối ngoại; Xây dựng cộng đồng có tổ chức thống nhất, đoàn kết, phát triển ổn định, hội nhập với nước sở tại, hướng về quê hương, đất nước…

(…)

Các đại biểu đã thông qua Nghị quyết của Đại hội, nêu rõ mục tiêu hành động trong nhiệm kỳ 2014-2019, đó là: MTTQ Việt Nam tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, góp phần phát triển bền vững kinh tế – xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc của nhân dân.

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, Nghị quyết nhấn mạnh nội dung cơ bản năm Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, bao gồm: Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; Phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh; Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế; Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới”, Đại hội kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam ta ở trong nước và nước ngoài tích cực hưởng ứng thực hiện năm Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng Đảng và Nhà nước tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

—o0o—

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG:

MONG MẶT TRẬN PHẢN BIỆN SẮC SẢO, CHÂN TÌNH

(Trích tin của Lê Kiên trên trang 3 báo Tuổi Trẻ thứ bảy 27/9/2014)

Chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc VN lần thứ VIII “đoàn kết và thành công”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài phát biểu tại phiên khai mạc ngày 26-9 rằng ông mong muốn Mặt trận là người phản biện sắc sảo, chân tình để giúp Đảng và chính quyền tự điều chỉnh.

Bên cạnh biểu dương, khẳng định những việc làm được và vai trò to lớn của Mặt trận, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ ra những mặt chưa làm được, còn hạn chế, bất cập. “Phương thức vận động, tập hợp, xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân vẫn chưa theo kịp những yêu cầu mới. Mặt trận chưa thường xuyên và thiếu cơ chế phối hợp với các tổ chức thành viên trong việc nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Các cuộc vận động, phong trào thi đua có nơi còn hình thức, hiệu quả chưa cao. Vai trò đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận còn hạn chế” – Tổng bí thư nói.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị trong nhiệm kỳ tới, Mặt trận cần quan tâm hơn nữa đến tâm tư, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân phát huy khả năng sáng tạo, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung.

Lanh dao chup anh cung dai bieu“Mặt trận cần phát huy dân chủ, thân ái trao đổi, bàn bạc, bảo đảm sự bình đẳng, tôn trọng, thông cảm lẫn nhau; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những quan điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; làm sao để Mặt trận các cấp thật sự là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội, là nơi mọi người đều có thể nói lên tiếng nói, nguyện vọng của mình, đóng góp trí tuệ, công sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” – Tổng bí thư nhấn mạnh.

Tổng bí thư cũng đề nghị: “MTTQ cần tiếp tục vận động nhân dân tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, củng cố hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh; thực hiện tốt hơn nữa chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các tổ chức đảng và cơ quan chính quyền, bao gồm cả việc giám sát các cán bộ, đảng viên, các đại biểu dân cử, các công chức, viên chức cơ quan nhà nước các cấp; tích cực tham gia chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, làm cho tổ chức đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự là của dân và vì dân; chủ động góp ý kiến với đảng và Nhà nước trong việc hoạch định cơ chế, chính sách, làm người phản biện sắc sảo, chân tình, giúp Đảng và chính quyền tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để lãnh đạo, chỉ đạo tốt hơn”. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

L.K.

—o0o—

Giám sát, phản biện xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đặc biệt quan trọng của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong nhiệm kỳ mới

Đinh Song Linh thực hiên

(Trích bài do Đinh Song Linh thực hiện, đăng trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 26/9/2014)

LTS: Trước thềm Ðại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ VIII, đồng chí NGUYỄN THIỆN NHÂN, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam đã dành cho Báo Nhân Dân bài trả lời phỏng vấn về những thành tựu, kết quả hoạt động của MTTQ các cấp nhiệm kỳ qua (2009-2014) và những vấn đề, nội dung công tác trọng tâm của MTTQ Việt Nam trong nhiệm kỳ mới (2014-2019). Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

PV: Thưa Chủ tịch, giám sát và phản biện xã hội là những nhiệm vụ quan trọng của MTTQ Việt Nam đã và đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội và các tầng lớp nhân dân. Ðề nghị Chủ tịch cho biết, để thực hiện có hiệu quả cao công tác giám sát, phản biện xã hội, MTTQ các cấp cần làm gì?

Ðồng chí Nguyễn Thiện Nhân: Nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội được Ðảng ta quy định tại các văn kiện Ðại hội X, XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và gần đây là các Quyết định 217 và 218, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội và Quy định về MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Ðảng và chính quyền; đặc biệt, đã được quy định tại Ðiều 9 Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013. Việc Ðảng và Nhà nước ban hành các quy định về giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam một mặt phù hợp với vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam, một mặt đáp ứng được mong mỏi của MTTQ các cấp và đông đảo nhân dân, nhận được sự quan tâm, đồng tình và đánh giá cao từ dư luận xã hội. Ðây là những cơ sở quan trọng để MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của mình trong thời gian tới.

Nguyen Thien NhanChúng tôi xác định, đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đặc biệt quan trọng của MTTQ Việt Nam trong nhiệm kỳ tới. Chính vì vậy, Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên phải chủ động phối hợp để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Hiến pháp năm 2013 tới các tầng lớp nhân dân, nhất là những nội dung quy định về MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đề xuất Nhà nước cụ thể hóa các nội dung trong Hiến pháp thành các quy định pháp luật; phối hợp tổ chức các diễn đàn nhân dân, hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử, đa dạng hóa các kênh tiếp nhận, tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân với Ðảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam; theo dõi, giám sát việc giải quyết các đề nghị chính đáng của nhân dân.

Mặt trận chủ động phối hợp chính quyền và các tổ chức thành viên trong công tác giám sát và phản biện xã hội. Theo đó, những vấn đề lớn liên quan đến lợi ích của đông đảo các tầng lớp nhân dân sẽ do Mặt trận giữ vai trò chủ trì, hiệp thương với các đoàn thể, tổ chức thành viên để cùng tham gia. Các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị – xã hội thì các tổ chức chính trị – xã hội chủ động công việc giám sát, phản biện. Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội chủ động đề xuất, phối hợp các cấp chính quyền liên quan lựa chọn giám sát các nội dung, lĩnh vực phù hợp, thiết thực với đời sống nhân dân. Có nhiều hình thức huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân tham gia phản biện xã hội. Ðề xuất bổ sung trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi) quy định cụ thể về giám sát, phản biện xã hội.

Tổ chức góp ý và tập hợp ý kiến của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các dự thảo văn kiện và đề xuất sáng kiến xây dựng Ðảng, xây dựng đất nước vào dịp Ðại hội Ðảng lần thứ XII. Ðề xuất sớm ban hành quy định về việc Ðảng vừa là thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận. Tham gia chuẩn bị và tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, vận động nhân dân thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong bầu cử. Tổ chức các diễn đàn và các phương thức phù hợp để phát huy sáng kiến của nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức ở trong và ngoài nước hiến kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vận động nhân dân chủ động, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Phối hợp đề xuất, xây dựng các cơ chế, phương thức phù hợp phản ánh tới cấp ủy Ðảng, chính quyền và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở ngay tại mỗi địa bàn dân cư, cơ quan, đơn vị. Tích cực tham gia đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là ở cấp xã, nơi giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân. Phối hợp và đề nghị chính quyền cùng cấp thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch những vấn đề nhân dân yêu cầu. Phối hợp với Chính phủ hình thành cơ chế đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của chính quyền cơ sở. Tham gia giám sát thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân, tham gia giải quyết và giám sát các cơ quan chính quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Tiếp tục thực hiện tốt vai trò của Mặt trận trong thực hiện sáng kiến pháp luật, tham gia hoạch định chính sách, xây dựng, tuyên truyền phổ biến và thực thi pháp luật. Tập trung triển khai thực hiện có kết quả Ðề án tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2013 – 2016.

Mặt trận các cấp cần tiếp tục phối hợp thực hiện có hiệu quả chương trình tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo Chỉ thị 23/CT-TTg, ngày 27-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ. Ðồng thời, triển khai các chương trình phối hợp đã ký kết và sẽ ký kết giữa Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam với các tổ chức, các bộ, ngành có liên quan về: giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trong các loại hình doanh nghiệp; giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp; giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ sở khám, chữa bệnh và nhà thuốc ngoài công lập; giám sát việc thực hiện Luật Khoa học và công nghệ và Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế…

Giám sát và phản biện xã hội là việc MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội đã làm nhiều năm nay. Song với Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 và các Quyết định 217-QÐ/TW và 218-QÐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị, trách nhiệm và quyền hạn của MTTQ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội đã được pháp luật hóa ở mức cao nhất, cơ chế thực hiện giám sát và phản biện xã hội được cụ thể hóa, đòi hỏi đóng góp của MTTQ Việt Nam phải cao hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy, MTTQ Việt Nam phải tự vươn lên về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam 84 năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo của Ðảng, sự phối hợp, tạo điều kiện của Nhà nước, sự phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng, tham gia của các tầng lớp nhân dân, MTTQ Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình, triển khai có hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Ðảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

PV: Xin cảm ơn đồng chí Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam.

Đ.S.L.

—o0o—

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, TẬN DỤNG THỜI CƠ, VƯỢT QUA THÁCH THỨC

(Trích bài Xã luận đăng trên trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 26/9/2014)

Hôm nay, ngày 26-9, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Ðình, Hà Nội, khai mạc trọng thể Ðại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ VIII. Với tinh thần “Ðoàn kết – Dân chủ – Ðổi mới – Phát triển”, Ðại hội là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta. Ðại hội là tiếng nói chung của toàn thể đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, đoàn kết, đồng lòng, chung sức, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ðại hội diễn ra trong bối cảnh 5 năm qua, công cuộc đổi mới của đất nước tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Toàn Ðảng và toàn dân phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

(…)

Hiến pháp (sửa đổi năm 2013) nêu rõ: MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Ðảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng khẳng định: Tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân.

Ðể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quan trọng nêu trên, MTTQ Việt Nam cần tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động. Tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Tích cực tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền vững mạnh, góp phần phát triển bền vững kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HÐH, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Tiếp tục đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cùng các phong trào thi đua yêu nước khác. Các cấp ủy Ðảng, chính quyền cần chăm lo, phát huy hiệu quả hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân; phát huy vai trò của MTTQ trong mọi mặt của đời sống xã hội, qua đó tăng cường mạnh mẽ đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo đời sống nhân dân, xóa đói, giảm nghèo…

Ðại hội lần thứ VIII MTTQ Việt Nam diễn ra trong thời điểm lịch sử quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những thời cơ thuận lợi đan xen cùng khó khăn, thách thức. Hơn bao giờ hết, MTTQ Việt Nam có sứ mệnh phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết của hơn 90 triệu người Việt Nam ở trong và ngoài nước tạo nên nội lực ngày càng mạnh mẽ và bền vững để phát triển đất nước, cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý giữ vững hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên toàn thế giới.

N.D.

Nguyễn Mạnh Tường-Một chân dung và một hành trình như tôi hiểu

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 2 tháng 10 năm 2014.

 

NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

Một chân dung và một hành trình như tôi hiểu

Giáo sư Phong Lê

( Bài đã được 22.507 lượt người truy cập tính đến ngày 2/10/2014)

—o0o—

Trong tôi, từ lúc là học sinh, Nguyễn Mạnh Tường đã là người nổi tiếng nhất trong những người nổi tiếng, dẫu phải đến tuổi 18, khi thi đỗ vào Khoa Văn Đại học Tổng hợp, năm 1956 mới được học, được đọc và tiếp xúc với ông – trong môn Văn học phương Tây. Quá nổi tiếng, bởi ở tuổi 16 ông đã đỗ Tú tài triết học nên được cấp học bổng sang Pháp học ở Đại học Montpellia. Năm 1928 đỗ Cao đẳng văn chương, năm 1929 đỗ Cử nhân văn chương; cũng năm 1929 đỗ Cử nhân luật. Năm 1931 đỗ Cao đẳng ngôn ngữ văn tự cổ (tức chữ la tinh và Hy Lạp cổ). Năm 1932 bảo vệ xuất sắc Tiến sĩ Luật với đề tài Cá nhân trong xã hội cổ nước Nam – Tổng luận về luật nhà Lê (L’individu dans la vieille cité Annamite – Essai de synthèse sur le Code des Lê). Hai tháng sau bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn chương với đề tài Luận về giá trị diễn kịch và kịch bản của Alfred de Musset (Essai sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset) kèm theo là luận án phụ: Nước Nam trong văn học Pháp của Jules Boissière (L’Annam dans la littérature française – Jules Boissière).

Mang hai bằng Tiến sĩ về nước năm 1932, ở tuổi 23, một tương lai thật rộng mở trước mắt chàng thanh niên Nguyễn Mạnh Tường, khiến chính những người trong giới khoa học Pháp phải kiêng nể, và những ai mang tư tưởng thực dân thì e sợ. Đưa hai bằng ấy về nước vào năm 1932, nếu tính chuyện làm quan thì phải là quan to – bởi ở bản xứ, những đồng nghiệp sau ông, chỉ cần có cái bằng Cử nhân, thì thấp nhất đã đủ cho họ làm tri huyện. Mà Cử nhân thì còn lâu mới đến Tiến sĩ, sau khi vượt được cái ngưỡng Thạc sĩ. Mà là Tiến sĩ ở chính quốc (lúc này tất cả các thầy Pháp ở Đại học Đông Dương đều mới chỉ có bằng Thạc sĩ). Và đúng là thế. Grandjean – Giám đốc công việc chính trị ở Phủ Toàn quyền đã mời ông đến và ướm cho ông hai chức – hoặc Thượng thư ở triều, hoặc Tổng đốc ở một tỉnh nào đó. Nhưng ông đã từ chối, để trở lại Pháp, làm một cuộc du lịch trở về nguồn văn minh phương Tây, qua các nước: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Đức, Áo, Hung, Thuỵ Sĩ, Bỉ, Hà Lan, Anh… Trong 3 năm hành trình, ông đã viết nhiều công trình, trong đó có Nền đá tảng Pháp (Pierres de France), Học tập gì ở các nước Địa trung hải (Apprentissage de la Mediterannée) Cuộc du lịch tình nghĩa (Le voyage et le sentiment)… Trở về nước năm 1936, ông vẫn tiếp tục chí hướng và sở nguyện của mình là làm thầy, ở trường Bưởi, trường Cao đẳng công chính Đông Dương và Đại học Hà Nội; và làm luật sư (có thời gian ông đã mở văn phòng luật sư ở 77 phố Gambetta – nay là Trần Hưng Đạo). Đó là hai nghề lương thiện nhất, trong sạch nhất và hữu ích nhất cho một trí thức yêu nước mà không đi làm cách mạng như ông và nhiều bạn bè cùng chí hướng như ông – hầu hết, nếu không nói là tất cả đã quây quần chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh mà làm nên một dàn trí thức lừng danh trong buổi đầu nền Dân chủ – Cộng hoà.

Trên hơn 10 năm trước 1945, một lưỡng khoa Tiến sĩ được đào tạo bài bản ở chính quốc mà không trở thành “ông Tây Annam”, Nguyễn Mạnh Tường đã có một hành trình lịch sử như thế để đến với Cách mạng tháng Tám cùng một số bạn bè cùng thế hệ, cùng chí hướng như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh, Ngụy Như Kontum…

Một hành trình mới lại mở ra trước ông từ sau 1945 với những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh; với việc tham dự phái đoàn Hội nghị Đà Lạt trong tư cách Uỷ viên – Chủ tịch Uỷ ban văn hoá; với những trách nhiệm được giao trong việc xây dựng nền giáo dục Đại học Việt Nam ngay sau 1945 và tiếp quản Đại học ở Hà Nội sau 1954; trong việc tham dự các Hội nghị quốc tế như Hội nghị hoà bình châu Á và Thái Bình Dương ở Bắc Kinh, Hội nghị hoà bình thế giới ở Vienne, Hội nghị luật gia dân chủ quốc tế ở Bruxelles; tham gia Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; giữ chức Phó Chủ tịch Hội luật gia Việt Nam và Phó Giám đốc Đại học Sư phạm… và giảng dạy văn học phương Tây ở hai trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp… Là một trí thức yêu nước ông đã đi theo Chính phủ cụ Hồ với niềm tự hào về nền độc lập của dân tộc và với khát vọng dân chủ ở một người đã rất am hiểu con đường dân chủ hoá trong lịch sử phương Tây, và do vậy mà rất nhậy cảm với những yêu cầu cơ bản của nhân dân trong một cuộc cách mạng đã giải phóng họ ra khỏi thân phận nô lệ; nhưng trên hành trình đi tới Tự do, Hạnh phúc lại cũng đã diễn ra bao vấp váp, trở ngại, sai lầm như trong Cải cách ruộng đất từ sau 1953, khiến phải Sửa sai; hoặc cách thức quản lý và xây dựng một xã hội mới đặt ra cho một nửa nước sau 1954… Hơn 10 năm kể từ sau 1945, trong tư cách một bậc thầy khả kính, một giáo sư đầu ngành của nền Đại học Việt Nam và trong vai trò một luật sư muốn xây dựng một nền pháp lý dân chủ ở một nước mới tập đi những bước đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng một xã hội do dân, vì dân, Nguyễn Mạnh Tường đã thật sự trung thành với mục tiêu mình theo đuổi và trung thực đến cùng với phẩm cách và lương tri của mình, cho đến cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hà Nội và bài phát biểu tâm huyết của ông trong hội nghị ấy, vào ngày 30-10-1956… Một bài phát biểu nhằm góp ý cho Đảng Lao động Việt Nam về những sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách ruộng đất và về những khó khăn trong tình hình hiện thời dựa trên những nguyện vọng bức xúc của nhân dân… Một bài phát biểu nhằm hưởng ứng ý kiến của Tổng bí thư Trường Chinh kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, trong đó – trước hết là giới trí thức hãy tham gia cùng Đảng trong việc phát hiện, sửa chữa và hàn gắn những thương tổn do chính những ấu trĩ, nóng vội của cách mạng gây nên.

Tôi muốn gọi ngày 30-10-1956 là một ngày “định mệnh”, vì với bài phát biểu đó mà cuộc đời của ông rồi sẽ rẽ sang một bước ngoặt, và số phận trở nên nghiệt ngã với ông, trong suốt chặng đường còn lại – từ cuối 1956 cho đến khi ông qua đời, năm 1997 – ở tuổi 88. Nghĩa là trong suốt 40 năm của đời người, khi đang ở tuổi ngót 50 sung sức và ôm ấp bao dự định nơi trí tuệ một trí thức đã được trang bị khá căn bản cái vốn văn hoá chung của nhân loại, những mong được truyền lại cho các thế hệ trí thức trẻ… Trong hơn 40 năm ấy ông đã phải vật lộn với sự mưu sinh, tức là để sống (có thời gian ông đã phải đi chụp ảnh ở ngoài trời, và nhiều năm dạy tiếng Pháp ở nhà riêng); và với tư cách là người trí thức, ôngcòn phải phấn đấu để thoát ra khỏi sự cô độc, cô đơn, và hơn thế, để có thể rút ra từ trí tuệ và sự thành tâm của mình những gì có ích cho dân tộc mà mình có thể làm, trong hoàn cảnh của một người không còn được tin cậy, bị xã hội xa lánh, nếu không nói là bị một cái án treo, của một kẻ bị “rút phép thông công”. Và ông đã làm được, cũng như một số đồng nghiệp khác có hoàn cảnh giống ông lúc ấy.

Tôi muốn ghi lại chi tiết hơn một hành trình kể từ ngày 30-10-1956, sau bài phát biểu mà tôi muốn gọi là “định mệnh” như trên. Dĩ nhiên, cũng như nhiều đồng nghiệp có tên tuổi lúc ấy, ông đã phải ngừng ngay mọi hoạt động chuyên môn, tức là bị “đình chỉ công tác”; nhưng cũng còn phải chờ đợi một thời gian cho đến tháng 7-1958 thì mới chính thức bị cắt ghế Giáo sư ở Đại học để chính thức chuyển về Bộ Giáo dục. Ở Bộ Giáo dục, ông còn phải tiếp tục chờ đợi gần hai năm, cho đến 1960 mới được chính thức về Văn phòng Bộ công tác trong ba năm; rồi mới chuyển về Nhà xuất bản Giáo dục trong hai năm; và năm năm cuối cùng, ông là cán bộ (hoặc nhân viên) ở Viện nghiên cứu phương pháp và chương trình giảng dạy (nay là Viện khoa học giáo dục) cho đến 12-1970 thì chính thức về hưu. Như vậy là từ 1960 đến 1970 còn trong “biên chế nhà nước” nên ông còn có ít việc để làm, dẫu sự làm việc chỉ là mang tính chất công chức hành chính, chứ không động gì đến chuyên môn của ông. Về hưu từ tuổi 60 ở một người có tri thức thông tuệ và trí óc minh mẫn và có tuổi thọ 88, thì thời gian đó mới thật là dài, thật là cả một thử thách khủng khiếp, khiến có thể bại xuội cả đời mình. Việc hữu ích, trước hết cho ông, có dính chút ít đến chuyên môn – đó là việc ông dạy tiếng Pháp cho những ai được mời sang châu Phi làm chuyên gia, vào một thời cực kỳ khốn khó; nhưng hành được nghề này cũng tuyệt không chút dễ dàng vì những rắc rối, phiền nhiễu trong hệ thống quản lý – hộ khẩu và nghề nghiệp, kể từ cấp phường… Và để tiếp tục chí hướng mình theo đuổi mà không thực hiện được khi làm thầy (chỉ trong hai năm), ông lại ngồi vào bàn viết; và một sự nghiệp viết đã đến với ông trong chẵn 20 năm ông nghỉ hưu – từ 1970 đến 1990. Đó là bốn công trình nghiên cứu và dịch về văn học phương Tây, trong khối kiến thức vừa chuyên sâu vừa quảng bác mà ông là chuyên gia hàng đầu. Bốn quyển sách về một nền văn minh mà nhân loại đã trải để đến với thời hiện đại mà Việt Nam mới chỉ có thể được tiếp xúc với các hậu duệ của nó là chủ nghĩa thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX; và đến đầu thế kỷ XX thì các trí thức Nho học ở ta mới biết tìm đến, để có được các phương sách và phương tiện cứu nước. Đó là văn minh và dân chủ, cả hai gắn bó khăng khít với nhau và đều có khởi nguồn từ phương Tây, nơi được chiếu rọi và toả sáng bởi văn minh Hy – La cổ.

Chính là trong viết mà ông thoát ra được nỗi cô đơn của một trí thức lớn; hơn thế, ông còn tìm được sự thăng bằng và niềm vui cho mình, trong một tư thế an nhiên, tự tại: “Tôi là ngọn cỏ dại. Người ta có thể dẫm bước lên trên, và dập nó xuống, nhưng chỉ cần một giọt sương ban mai, một hạt mưa rơi hoặc một giọt lệ thì ngọn cỏ ấy lại vụt đứng lên mà nở nụ cười đón ánh sáng chói chang”.

Thế nhưng, những bản thảo đã xong và các cấp trên mà ông gửi thư đều có ý động viên và cho phép ấn hành; nhưng không nhà xuất bản nào dám in. Tất cả vẫn cứ phải “đắp chiếu” nằm chờ cho đến giữa thập niên 1990 mới có thể ra mắt; may là vẫn còn kịp trước khi ông qua đời. Đó là:

Lý luận giáo dục châu Âu – từ Erasme đến Rousseau thế kỷ XVI-XVIII. Nxb. Khoa học Xã hội; 1994; 530 trang.

Eschyle và bi kịch cổ đại Hy Lạp; Nxb. Giáo dục; 1996; 479 trang.

Virgile nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mã cổ đại; Nxb. KHXH; 1996; 342 trang.

“Orestia” của Eschyle bộ ba bi kịch cổ Hy Lạp (dịch từ tiếng Hy Lạp). Nxb. Giáo dục; 1996; 184 trang.

Mùa thu 1991, Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp tổ chức kỷ niệm 35 năm thành lập. Chúng tôi – GS. Nguyễn Kim Đính, Trưởng Khoa Ngữ Văn và tôi – Viện trưởng Viện Văn học, đã trân trọng mời ông, cùng một số thầy cũ đến dự. Đón ông ở bậc tam cấp Đại giảng đường 19 Lê Thánh Tông, chúng tôi đã không thể cầm giữ niềm xúc động đến ràn nước mắt khi nghe ông nói: “Đã 33 năm rồi, tôi mới trở lại nơi này”. Nơi này- đó là 19 Lê Thánh Tông chỉ cách nhà riêng của ông ở 34 Tăng Bạt Hổ khoảng năm phút đi bộ.

Tôi được biết trước đó, vào cuối 1989 ông đã có một chuyến trở lại Pháp, sau 60 năm. Chuyến đi do các bạn bè Pháp và Việt tổ chức cho ông – nhân sinh nhật lần thứ 80 – ông đã được đón tiếp rất thân tình và cảm động, ở Paris và Montpellia. Cuối 1989 chính là lúc thế giới Đông Âu đang sôi sục những cuộc chính biến, rồi sẽ dẫn tới sự tan rã của phe xã hội chủ nghĩa. Ông được nhiều nhà báo phỏng vấn; trong đó có một câu: “Việt Nam rồi sẽ ra sao?”. Và đây là câu ông trả lời: “Tôi không làm nghề chiêm tinh học, và cũng không bói bài. Kiên tâm, kiên tâm trong không trung! Mỗi nguyên tử của yên lặng sẽ là cơ may cho một quả chín(Patience, patience/ Patience dans l’azur/ Chaque atome de silence/ Est la chance d’un fruit mûr – Thơ Paul Valéry)

Và sau đó, cuối 1994, Tổng bí thư Đỗ Mười đã đến thăm ông ở nhà riêng.

Viết bài này, tôi chỉ muốn phác vẽ vài nét về chân dung và hành trình của một bậc thầy lớn của tôi và thế hệ chúng tôi – một tên tuổi đứng bên cạnh Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giàu… những người chúng tôi trực tiếp được học, hoặc được đọc, được nghe tên biết tiếng, được ngưỡng mộ; những người vừa khai trí vừa khai tâm cho chúng tôi. Và, không phải cho đến bây giờ mà bất cứ vào lúc nào, trong hành trình hơn nửa thế kỷ là học sinh, sinh viên, là người học việc rồi tham dự vào công việc nghiên cứu, giảng dạy, cùng một ít công việc xã hội, chúng tôi bao giờ cũng được cảm nhận – đó là một hạnh phúc lớn nhất mà thế hệ chúng tôi may mắn có được, như là một bù đắp cho rất nhiều khó khăn, thiếu thốn khác mà chúng tôi phải trải – cái hạnh phúc được đọc, được học, được kính trọng và ngưỡng mộ những bậc thầy sáng giá, mà mỗi người là một tấm gương về tri thức và nhân cách cho mình noi theo. Và tôi nghĩ: Giá tất cả các thế hệ còn ngồi ở ghế nhà trường, và ra đời – ngồi ở ghế tập sự cho công việc, vào bất cứ lúc nào cũng có được những bậc thầy sáng giá như thế thì có lẽ nền giáo dục và công việc đào tạo của chúng ta sẽ tránh được không ít những khó khăn như bây giờ. Có nghĩa là nền giáo dục trước hết cần những bậc thầy…

Cuối cùng tôi muốn nói một nguyện vọng: tìm đâu – ở một cơ quan Nhà nước như Bộ Giáo dục, Đại học Quốc gia, hoặc Hội Luật gia, hoặc một tổ chức tư nhân, một nhà hảo tâm, sự bảo trợ để in trọn bộ những gì Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường đã viết – gồm giáo trình Văn học phương Tây mà ông đã giảng vào những năm 1955-1956; cùng bốn quyển sách đã được in vào giữa 90; và nếu có thể được là việc dịch hai luận án Tiến sĩ, cũng như các công trình bằng tiếng Pháp ông viết ở Paris vào những năm 1930.

Một ấn phẩm khác cũng rất cần thiết – đó là bài phát biểu của ông ở Mặt trận Tổ quốc vào ngày 30-10-1956, mà tôi đã sớm được đọc, rồi đọc đi đọc lại nhiều lần, bởi những suy nghĩ sâu sắc, thấu đáo và có trách nhiệm cao của một trí thức chân chính trước thời cuộc; và bài tự kiểm điểm của ông đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 10-4-1958, cùng với tập hồi ký bằng tiếng Pháp ông đã viết xong ở tuổi 82. Những tài liệu này sẽ giúp ta hiểu không chỉ chân dung ông và một thế hệ như ông, mà là cả cái thời của nó, kéo dài những hơn 30 năm, từ đầu những năm 1950 đến cuối những năm 1980; cái thời phải trải qua nó để hiểu nó, trong tất cả những áp lực mà một số người ưu tú trong giới trí thức của dân tộc, đã phải chấp nhận và chịu đựng dưới những hình thức khác nhau, mà không ai thoát ra được. Hơn 50 năm đã qua rồi; và mọi chuyện xẩy ra đã vào lịch sử, đã thành lịch sử. Các thế hệ trẻ hôm nay đã đủ sức vóc và sự tỉnh táo để đón nó với niềm tin cả dân tộc đã trưởng thành và lịch sử sẽ không lặp lại những con đường cũ.

P.L.

Tháng Chín 26, 2014

Câu chuyện hòa hợp trong Hà Nội Gió Mùa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:38 sáng

                                                                                    Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 10 năm 2014.

CÂU CHUYỆN HÒA HỢP TRONG HÀ NỘI GIÓ MÙA

(Bài đăng báo Tuổi Trẻ ngày 23/9/2014)

Đức Triết

Không có gió mùa thổi suốt mà sao lòng người vẫn tái tê. Không có những chao chát, cục cằn mà sao vẫn chồng chất nỗi đau. Và không một lời cầu xin mà sao vẫn chất chứa sự tha thứ yêu thương. Vở cải lương Hà Nội gió mùa của Nhà hát Ha Noi Gio Mualương Việt Nam đã mang đến những cảm xúc như thế.

Ông Cơ ở phố Gia Long xưa (phố Bà Triệu, Hà Nội ngày nay) lập “phòng nhì”. Từ đó, bi kịch gia đình bắt đầu và đeo đẳng suốt cuộc đời những đứa con của ông khi chúng cùng đi qua cuộc chiến… Những người vợ, người mẹ là Hân và Việt chồng chất nỗi đớn đau “kiếp chồng chung”.

Những người con – như Hiếu, như Phong – sống trong thù hận khi tuổi thơ của họ bị va đập vào nỗi đau của mẹ. Bi kịch cứ thế xoáy tròn, xoáy sâu trên vùng binh lửa với cuộc chiến ở vĩ tuyến 17 và dần lộ ra “mắt bão” – làm thế nào để hòa hợp – không của riêng một gia đình.

Phải nói ngay rằng tuy lần đầu tiên “xuất hiện” trong tư cách một biên kịch, nhà lý luận phê bình Nguyễn Thị Minh Thái đã rất “tham” khi đặt trong kịch bản những nút thắt khó gỡ không chỉ trong cuộc chiến mà cả giữa thời bình. Vì thế, có lẽ Hà Nội gió mùa sẽ rơi vào bi lụy và nhân vật sa vào thù hận và bế tắc – trên cái chất vốn bi ai của cải lương – nếu như đạo diễn không khéo léo “kéo” nhân vật của mình ra khỏi tấn bi kịch ấy bằng cách lý giải sự chuyển biến trong tâm lý nhân vật một cách logic. Và sẽ là lệch lạc, rời rạc nếu như người cầm trò không đủ sức kết nối mạch chảy của câu chuyện trải quá dài về thời gian (trước năm 1954 cho đến thời bao cấp) khi đặt yêu cầu mỗi vai diễn phải diễn cho ra, cho tới sự phức tạp giữa tha thứ và hận thù, yêu thương và ghét bỏ trong con người…

Thế nhưng Hoàng Quỳnh Mai đã hóa giải được những điều đó khi chị biết cách mượn điện ảnh để tái hiện hiện thực, không tắt ánh đèn sân khấu mà vẫn chuyển cảnh để xuyên suốt được thời gian. Đặc biệt, chị đã tìm ra sợi chỉ đỏ của vở là lòng bao dung, nhân ái, chấp nhận hi sinh của phụ nữ Việt, con người Việt để tạo nên những tia sáng lấp lánh. Từ đó, bà Việt, ông Cơ, Phong, Hiếu, Trúc… do các nghệ sĩ Bùi Thị Dung, Trọng Bình, Thanh Tuấn, Mạnh Hùng, Hồng Hà… vào vai có những mảng miếng thể hiện khá ấn tượng. Nhất là cô đào Hồng Hạnh hóa thân vào bà Hân thật ngọt…

Xem câu chữ của mình đang sống động trên sân khấu, tác giả Nguyễn Thị Minh Thái thổ lộ: “Khi vừa đọc xong truyện Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê, tôi muốn nó cần có thêm một đời sống nữa là sân khấu nên liền đặt bút phóng tác theo. Vì tôi thấy Nhiệt đới gió mùa không dừng lại ở truyện ngắn mà là một cuốn tiểu thuyết thu nhỏ, không chỉ có cái nhìn rất sát thực, rất công bằng về chiến tranh mà còn gợi mở bao điều về vấn đề hòa hợp dân tộc, dù rằng câu chuyện chỉ xoay quanh bi kịch của một gia đình trí thức Hà Nội. Và hôm nay, tôi rất hài lòng khi đứa con tinh thần của mình đang được sống trên sân khấu của Nhà hát Cải lương Việt Nam với những nghệ sĩ tài năng, và đặc biệt là dưới bàn tay dàn dựng đầy quyến rũ trên phong cách lãng mạn của Hoàng Quỳnh Mai”.

Hà Nội gió mùa được Nhà hát Cải lương VN biểu diễn trong ba đêm từ 12 đến 14-9 tại rạp Hồng Hà, Hà Nội.

Đ.T.

*

*   *

Vở Hà Nội gió mùa tham gia liên hoan sân khấu thủ đô lần thứ nhất

(Theo tin của Đức Triết trên trang 16 báo Tuổi Trẻ thứ năm 25/9/2014)

Từ ngày 26-9 đến 3-10, tại Hà Nội sẽ diễn ra Liên hoan sân khấu thủ đô lần thứ nhất do Hội Nghệ sĩ sân khấu VN phối hợp với Sở Văn Hóa – Thể Thao & Du Lịch Hà Nội tổ chức.

Cai luong ha noi gio muaÐây là dịp khán giả Hà Nội lại được thưởng thức chín đêm kịch miễn phí của chín đơn vị nghệ thuật tham gia, gồm: Những người con Hà Nội (Nhà hát Kịch Hà Nội), Bản danh sách điệp viên (Ðoàn kịch Công an nhân dân), Ðường đua trong bóng tối (Nhà hát Cải lương Hà Nội), Thanh gươm đô đốc (Nhà hát Tuồng VN), Hà Nội gió mùa (Nhà hát Cải lương VN), Ðạo học (Nhà hát Kịch VN), Nhà có ba chị em gái (Nhà hát Tuổi Trẻ), Cánh chim trắng trong đêm (Nhà hát Chèo Hà Nội) và Lời nói dối cuối cùng (Nhà hát Chèo VN).

Trong số đó, trừ vở tuồng lịch sử Thanh gươm đô đốc, các vở còn lại đều là đề tài hiện đại.

Nghệ sĩ ưu tú Lê Chức – phó chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam – cho biết: “Liên hoan là một trong số các hoạt động nghệ thuật tiêu biểu chào mừng 60 năm giải phóng thủ đô. Giải thưởng của liên hoan chủ yếu dành cho nghệ sĩ, diễn viên và chỉ xét tặng thưởng cho những sáng tạo đột xuất ở từng thành phần sáng tạo”. (…)

 

 

“Phượt” trong phố cổ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 10 năm 2014.

“PHƯỢT” TRONG PHỐ CỔ

Bài và ảnh: Giang Nam

(Bài đăng trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 19/9/2014)

—o0o—

Rất nhiều người luôn cho rằng, khu phố cổ Hà Nội chỉ dành cho… khách du lịch nước ngoài. Điều đó đã làm lỡ rất nhiều cơ hội để tìm hiểu những điều thú vị. Nói như Giáo sư, Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính, Hà Nội không phải là một đô thị di sản mang tính chỉnh thể như Hội An hay Huế, mà là đô thị dung chứa những di sản đô thị. Cần phải “vén” những lớp màn bao phủ mới thấy cái hay, cái đẹp của phố cổ. Không gì thích hợp hơn là “phượt” để cảm nhận điều này.

Bất ngờ từ điều quen thuộc

Đình Kim Ngân nay đã trở thành một “địa chỉ vàng” trong khu phố cổ. Nền các di tích thông thường cao hơn không gian Phuot trong pho cochung quanh khá nhiều, để thể hiện sự tôn kính đối với các đối tượng được thờ cúng. Riêng đình Kim Ngân thì khác, từ phố vào đình, khách tham quan sẽ phải đi xuống một bậc thềm, sân di tích thấp hơn mặt đường phố Hàng Bạc đến non 1 m. Rất nhiều người đã “ngó trước, nhìn sau” không giải thích nổi tại sao khi tu bổ người ta không tôn nền lên, để việc thoát nước dễ dàng. Nhưng đằng sau đó lại là một bí mật. Khi tu bổ đình Kim Ngân mấy năm trước, các nhà khoa học phát hiện ra cốt nền sân đình đời Lê thấp so với mặt phố cả mét. Thay vì tôn lên, với sự tư vấn của các chuyên gia Pháp, đơn vị thi công đã quyết định giữ nguyên cốt cũ, để mọi người có thể hình dung đình Kim Ngân thuở trước. Một chi tiết rất nhỏ, nhưng đã hàm chứa một câu chuyện dài. Đã bao biến thiên ẩn chứa dưới một mét đất dày ấy… Tổng số di tích trong khu phố cổ là một con số đáng kinh ngạc: 121 di tích. Những người Hà Nội sống trong phố cổ thường bảo nhau rằng: Đứng ở một vị trí bất kỳ trong khu phố cổ, sau đó đi về bất kỳ một hướng nào, chỉ trong khoảng 100 m, ta lại gặp một di tích. Hầu hết các di tích trước đây bị lấn chiếm ở các mức độ khác nhau. Chỉ trong thời gian ngắn, đã có hơn mười di tích được giải tỏa dân cư, tu bổ.

Ngõ Tạm Thương thường được biết đến như một địa chỉ của những món quà vặt. Nhưng đi sâu vào trong ngõ, ta bỗng bắt gặp một không gian tĩnh mịch với đình Yên Thái uy nghi. Đến đây, người ta mới biết đây là nơi ở của Thái hậu trước khi nhập cung làm Nguyên Phi. Cũng rất đặc biệt, đình Yên Thái là nơi có ban thờ thái giám duy nhất ở Hà Nội. Giữa lòng phố, nhưng ở đây có đủ cây đa, sân đình và cả… giếng nước cổ. Có giếng cổ ở ngõ Tạm Thương đến giờ vẫn được người dân múc nước về dùng. Đền Bạch Mã có giếng nước tuổi đời hàng mấy trăm năm, hiện người ta đã cho làm cổ giếng bằng đá hình hoa sen rất đẹp. Đình Đông Thành (số 7 phố Hàng Vải) cũng có một giếng cổ tuổi tính bằng trăm. Đình Đông Thành giờ đã là một di tích đẹp, dù trước năm 2013, đình là “nhà” của sáu hộ dân với hơn… 20 người sinh sống. Đây cũng từng là trụ sở làm việc của Đội Quản lý thị trường số 2 Hà Nội. Ngay cả một con phố sầm uất, nhiều nhà hàng, khách sạn, tấp nập khách du lịch như phố Ngõ Huyện cũng có một giếng cổ ở nhà số 20. Những cảm xúc lẫn lộn thường xuất hiện khi bắt gặp những chiếc giếng cổ giữa phố thị ồn ào. Những lớp màu thời gian hiện lên bên thành giếng. Quá khứ và hiện tại đan xen. Nhiều người có dịp hồi tưởng về những ngày xưa cũ. Đó là lý do rất nhiều khách du lịch “phượt” chỉ để ngắm những chiếc giếng thơi, thứ mà ở các vùng quê cũng đang mất dần.

Có một điều kỳ lạ là ở nơi này, những chiếc giếng thơi hoàn toàn không lạc lõng giữa nhịp đời hối hả, giữa sự vận động không ngừng của những đường nét kiến trúc, của đời sống phố thị. Điều này cũng xảy ra với nhiều công trình khác. Nhiều chuyên gia thừa nhận: Phố cổ không phải là một chỉnh thể kiến trúc. Phố cổ là một di sản phức hợp đồ sộ, phố cổ đa dạng về thể loại công trình kiến trúc, hàm chứa nhiều thể loại công trình. Người ta vẫn đi qua nhiều con “phố Hàng”, và chỉ biết nó “cổ cổ, cũ cũ”. Vẫn những con phố ấy, nếu đi chậm lại, tạm bỏ những cao ốc sang một bên và nhìn bằng một “góc nhìn khác”, quá dễ để nhận ra: Bên cạnh một căn nhà ống truyền thống Việt Nam, lại có một căn nhà mang phong cách kiến trúc Trung Hoa. Đi vài bước nữa, lại bắt gặp một căn nhà kiến trúc Đông Dương (pha trộn kiến trúc Pháp – Việt). Chúng nằm cạnh nhau, nhưng không “xung đột” nhau. Hay đúng hơn, nó tạo nên một nhịp điệu vận động của kiến trúc, như dòng chảy của cuộc sống.

Sự hấp dẫn đến từ cuộc sống

Trên thế giới không thiếu khu phố cổ. Thậm chí những khu phố lâu đời hơn cả khu phố cổ Hà Nội. Nhưng sự đa dạng về các loại nghề được dồn nén trong khoảng 80 ha là điều không đâu có được. 80 ha ấy có khoảng 70.000 người sinh sống. Mật độ dân số là một vấn đề nan giải. Song dưới một “góc nhìn khác”, góc nhìn của khám phá, sự dồn nén về dân cư cũng đem lại những điều thú vị khác. Quán chùa Huyền Thiên (đây từng vừa là “quán” vừa là chùa) nằm bên chợ Đồng Xuân là một “ốc đảo xanh”, với diện tích hơn 600 m2, di tích lớn nhất khu phố cổ. Sát tường với quán chùa, có một con ngõ có rất nhiều hàng ăn, từ phở gà, bún ốc, bún cá… san sát nhau. Kê một chiếc ghế để ngồi ăn cũng phải xoay trước, xoay sau lựa mấy lần, nếu không đụng phải hàng quán bên cạnh. Cái ngách bên quán chùa Huyền Thiên chỉ là một trong số vô vàn những “ngõ ẩm thực” ở phố cổ. Ngõ Phất Lộc có bún đậu mắm tôm, chả nướng kẹp que; ngõ chợ Đồng Xuân xứng đáng là một địa chỉ có thể viết thành một cuốn sách giới thiệu về ẩm thực Hà Nội… Đó cũng chỉ là thí dụ nhỏ trong rất nhiều thí dụ về việc chia sẻ những không gian rất hẹp. Ở không gian rất dễ xảy ra xung đột, va chạm như thế, người ta vẫn cùng “cộng sinh”, cùng phát triển một cách khá hài hòa. Theo Giáo sư, Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính bảo rằng, phải có sự thông minh người ta mới cộng sinh thành công trong không gian như thế. Và tất nhiên, một chuyến “phượt” sẽ không đầy đủ nếu thiếu màn ẩm thực. Không ai có thể phủ nhận, những món ăn trong các ngõ nhỏ ở phố cổ Hà Nội “luôn là nhất”.

Gác quan niệm “phố cổ là dành cho khách du lịch nước ngoài” và thử khám phá bằng một con mắt khác, người ta sẽ nhận ra nhiều điều. Phố cổ không có được niềm tự hào là một đô thị chỉnh thể như Hội An. Nhưng khi vén bức màn xô bồ lên, người ta sẽ thấy ở nơi này một vẻ đẹp, một sức sống không đâu có được.

G.N.

—o0o—

TUẦN LỄ “ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC – DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM”

Tái hiện những không gian văn hóa độc đáo

Nguyễn Thu Hiền

(Bài đăng trên trang 5 Văn Hóa – Văn Nghệ – Thể Thao báo Nhân Dân ngày 30/10/2013)

400 nghệ nhân và diễn viên không chuyên cùng các già làng, khách mời, đại diện cho 17 dân tộc của 12 Le hoi tay nguyentỉnh, thành phố của ba miền đất nước sẽ tụ hội trong Tuần lễ “Ðại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam” từ ngày 18 đến 24-11 tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam (Ðồng Mô, Hà Nội).

Sự kiện này còn nhằm quảng bá, giới thiệu về Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, “ngôi nhà” chung của 54 dân tộc anh em, điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế tại Hà Nội. Ðại diện của 17 cộng đồng dân tộc đến từ 12 tỉnh, thành phố: Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai, Ðác Lắc, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang. Cũng nhân dịp này, tiếp tục tiến độ đầu tư của dự án với việc hình thành những cơ sở vật chất, không gian văn hóa làng, thôn, bản của các dân tộc, Ban quản lý Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ tổ chức khánh thành quần thể chùa Khmer Nam Bộ.

Ðể làm nổi bật chủ đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hội nghị toàn quốc khu vực phía bắc “Tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 24/1998/TTg ngày 19-6-1998 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước của làng, thôn, ấp, bản, cụm dân cư” được tổ chức cùng hội thảo “Giải pháp để bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay” với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa, các già làng, trưởng bản, nhân sĩ trí thức, nghệ nhân. Bên cạnh đó là các hoạt động: trại sáng tác Tây Nguyên; giao lưu đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam; triển lãm “Giới thiệu di sản diều truyền thống Việt Nam” và một số làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ và ẩm thực Hà Nội.

Cộng đồng các dân tộc ở các địa phương đã tập trung sức chuẩn bị công phu để tái hiện các nghi lễ, lễ hội của dân tộc mình trong tuần lễ hội tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, nhằm thể hiện tất cả những nét văn hóa tinh túy, độc đáo. Trong đó, tiêu biểu có Lễ Căm mương của dân tộc Lự (Lai Châu); trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên của dân tộc Gia Rai; Lễ mừng nhà mới của dân tộc Tà Ôi (Quảng Trị); Lễ hội nàng Hai của dân tộc Tày (Cao Bằng); Nghi lễ Tết Xíp xí của dân tộc Thái (Sơn La); Nghi thức đón dâu trong ngày cưới của dân tộc Mông (Hà Giang); Lễ hội Ok Om Bok của đồng bào Khmer Nam Bộ… Ðặc biệt năm nay, ban tổ chức còn tổ chức tái hiện Hội Ðua bò Bảy Núi của đồng bào Khmer tại An Giang và không gian văn hóa chợ nổi Nam Bộ. Việc tái hiện các không gian văn hóa độc đáo càng tăng sức hấp dẫn cho ngày hội. Người tham dự lễ hội sẽ được hòa mình trong các phiên chợ vùng cao phía bắc với những đặc sản địa phương rực rỡ sắc mầu thổ cẩm trong tiếng dân ca ngọt ngào và điệu khèn, điệu sáo say đắm lòng người. Không gian văn hóa chợ của cộng đồng các dân tộc lần này càng trở nên độc đáo khi tái hiện hình ảnh chợ nổi Nam Bộ trên hồ Ðồng Mô, đưa mọi người đến một vùng sông nước mênh mang, thuyền bè tấp nập, hoa quả ngập tràn.

Sau chương trình nghệ thuật với nhiều tiết mục đặc trưng, hấp dẫn trong đêm khai mạc, suốt thời gian diễn ra Tuần lễ “Ðại đoàn kết các dân tộc – Di sản Văn hóa Việt Nam” đều có các chương trình giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật ở từng khu làng dân tộc.

N.T.H.

*

*   *

BẢO TỒN “LÀNG HAI VUA”

Hồng Trang

(Bài đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 17/9/2014)

Giữa ngổn ngang những mâu thuẫn khó giải quyết chung quanh vấn đề bảo tồn và phát triển di tích đã tồn đọng ở làng cổ Đường Lâm từ nhiều năm nay, Đề án Lang co Duong lam“Đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Làng cổ xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây” giai đoạn 2014-2020 vừa được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt đã mang đến nhiều tín hiệu đáng mừng cho những người dân đang sinh sống trên mảnh đất “hai vua” này.

Hy vọng của người dân làng cổ

Giới chuyên môn vẫn thường gọi Làng cổ Đường Lâm là “làng di sản” bởi nó không chỉ là sản phẩm hữu cơ của một tiến trình lịch sử liên tục, chứa đựng nhiều di tích và công trình kiến trúc có giá trị, mà còn là quỹ không gian kiến trúc luôn đòi hỏi sự cải tạo và phát triển. Vì thế, không giống như các di tích đình, đền, chùa… mang tính cá thể khác, Làng cổ Đường Lâm với chín làng, 1.500 hộ và hơn 6.000 cư dân đang sinh sống đặt ra vấn đề phải bảo tồn và phát triển một “cơ thể sống”, trong đó đòi hỏi cách ứng xử mềm mại cho từng hạng mục. Tuy nhiên, gần 10 năm nay, kể từ năm 2005, khi Làng cổ Đường Lâm chính thức trở thành ngôi làng đầu tiên được xếp hạng di tích quốc gia, đã xuất hiện nhiều lúng túng trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Bên cạnh các di tích bị hư hỏng, xuống cấp trầm trọng, còn “nở rộ” hàng loạt vụ xây dựng trái phép trong vùng bảo tồn phải dùng tới biện pháp cưỡng chế tháo dỡ. Chính quyền kêu gọi người dân phải biết bảo tồn di sản để phát triển du lịch nhưng kỳ thực, nguồn lợi đến từ kênh này mới chỉ bảo đảm được chi phí hoạt động thường xuyên của bộ máy quản lý thu phí tại Làng cổ và một số đối tượng có nhà cổ mà chưa thể đến với số đông. Đã thế, dân số trong làng ngày một gia tăng, trong khi nhà cửa không được cải tạo, xây dựng hay mở rộng diện tích, kinh phí hỗ trợ, đầu tư từ Nhà nước lại hạn hẹp. Trong hơn tám năm qua, cũng chưa có một kế hoạch giãn cư khả quan nào được thực hiện…

Sống trong di sản, làm chủ di sản nhưng lại không được hưởng lợi từ di sản, vì thế có thời điểm 78 cư dân của gần 60 hộ gia đình đã phải viết đơn xin trả lại danh hiệu. Trong cảnh tù mù khó khăn chồng chất khó khăn ấy, việc ban hành Đề án “Đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Làng cổ xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây” giai đoạn 2014-2020 được coi như “phao cứu sinh” đem đến hy vọng người dân nơi đây sẽ dần hết khổ. Theo Đề án, với những di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và tỉnh, thành phố sẽ bố trí 100% vốn đầu tư. Với những di tích còn lại, thành phố sẽ đầu tư 60% kinh phí xây lắp đối với hạng mục gốc của di tích. 40% còn lại lấy từ ngân sách xã và huy động xã hội hóa. Hiện nay, Đường Lâm có 99 ngôi nhà cổ, đang tôn tạo 10 nhà. Theo kế hoạch, giai đoạn 2014-2016 sẽ tôn tạo 10 ngôi nhà, giai đoạn 2017-2020 là 30 nhà và 49 nhà còn lại sẽ tiếp tục được tôn tạo các năm tiếp theo. Đề án phấn đấu đến năm 2020 sẽ cải tạo được 125 nhà trong tổng số 258 nhà loại ba với ngân sách thiết kế, thi công là 6,2 tỷ đồng, kinh phí tháo dỡ, bồi thường thiệt hại là 37,5 tỷ đồng. Giai đoạn 2014-2016 sẽ cải tạo, sửa chữa 90 ngôi nhà loại bốn… Dự án cấp đất giãn cư và kế hoạch tổ chức giãn dân ở Đường Lâm được chia thành hai giai đoạn: Từ 2014-2015 giãn 150 hộ dân có nhu cầu bức thiết, từ 2016-2020 giãn 470 hộ dân còn lại…

Trưởng ban Quản lý di tích Làng cổ Đường Lâm Phạm Hùng Sơn cho biết: Đề án là một công trình công phu đã được các ngành, phòng, ban của Đường Lâm thực hiện suốt hơn một năm với sự tham mưu của nhiều sở, ngành như: Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường…, trải qua ba lần thẩm định mới được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt. Vì thế, Đề án đã giải quyết được nhiều bất cập, bức xúc bấy lâu mà người dân Đường Lâm phải chịu đựng. Trong đó, những điểm mạnh đáng kể của Đề án là: đưa ra được dự trù quỹ đất và cơ chế giãn dân, mặt bằng do thành phố hỗ trợ. Thành phố cũng hỗ trợ tiền thiết kế nhà mẫu giúp công tác quản lý dễ dàng hơn, đồng thời có phương án huy động vốn cụ thể để đáp ứng việc đầu tư, tôn tạo những di tích đã xuống cấp. Trước mắt, trong năm 2014, thành phố đã bố trí hơn 18 tỷ đồng, trong đó 15 tỷ đồng được dùng để tu bổ ba di tích: đình Cam Thịnh, lăng Ngô Quyền, 12 điếm ở Làng; 3,7 tỷ đồng được dùng làm vốn sự nghiệp cho những đề án xây dựng nhà mẫu.

PGS, TS Đỗ Văn Trụ, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội Di sản văn hóa Việt Nam khẳng định: Đây là Đề án được xây dựng công phu, nghiêm túc, vừa tổng thể, vừa cụ thể, có cơ sở khoa học và thực tiễn, mang tính khả thi. Ông cho rằng việc ban hành Đề án tuy hơi chậm nhưng cần thiết, thể hiện rõ vai trò quản lý nhà nước về di sản văn hóa của chính quyền thành phố cũng như quyết tâm của thành phố trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Làng cổ Đường Lâm. Đề án đã phát huy được nhiều ưu điểm khi bám sát Luật Di sản văn hóa, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa, các quy định có liên quan của Nhà nước; vận dụng cụ thể vào tình hình, đặc điểm của Di tích Làng cổ Đường Lâm. Thực hiện tốt Đề án này không chỉ góp phần quan trọng vào việc giải quyết mối quan hệ giữa bảo vệ, phát huy giá trị di tích với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, ổn định và nâng cao đời sống của cộng đồng cư dân địa phương; động viên, khơi dậy ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ di tích; mà còn là kinh nghiệm quý cho việc bảo tồn và phát huy các di tích làng cổ khác trên địa bàn Thủ đô và cả nước, đang đứng trước sự tác động mạnh mẽ, hằng ngày, hằng giờ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.

Bảo đảm sự kết hợp giá trị văn hóa và kinh tế

Đặc thù của Làng cổ Đường Lâm là đan xen giữa hai loại hình di sản thuộc sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu tư nhân là chủ yếu. Tư nhân lại được chia ra làm nhiều loại với những đối tượng ưu tiên mức độ khác nhau. Vì thế, muốn bảo tồn và phát triển, dù có nhiều kinh phí cũng không thể làm theo kiểu “đồng khởi”. PGS, TS Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam nhấn mạnh, để Đề án triển khai đạt kết quả, không thể thực hiện một cách vội vàng. Chẳng hạn, đối với việc giãn dân, cần xây dựng kế hoạch thật cụ thể, chi tiết và công khai, minh bạch theo từng bước. Bước đầu sẽ giãn những hộ nào, tại sao lại giãn những hộ đó. Những hộ dân còn lại cũng phải hiểu được tại sao những hộ này được ưu tiên giãn trước, hộ của mình khi nào sẽ được giãn và tại sao? Có như vậy, việc giãn dân mới thực hiện được thuận lợi, nhanh chóng và không gặp phải những thắc mắc, tranh chấp… Ở đây, Đề án đã bước đầu thể hiện quyết tâm, nỗ lực của UBND thành phố nhưng cần có cơ chế rõ ràng hơn trong việc khuyến khích, nâng cao ý thức đối với di sản của những chủ sở hữu. Bên cạnh đó, cũng cần cụ thể hóa vai trò giám sát của cộng đồng bởi Đề án là của Nhà nước nhưng liên quan đến sở hữu tư nhân cho nên cộng đồng nhất thiết phải được tham gia vào quá trình thực hiện và giám sát thực hiện Đề án. Cộng đồng ấy là các đoàn thể, đại diện các dòng họ, đại diện các gia đình có di sản, chính họ sẽ là cầu nối truyền tải cơ chế chính sách của cơ quan quản lý nhà nước đến dân và truyền tải nguyện vọng của người dân đến các cơ quan quản lý, đồng thời đưa ra ý kiến tư vấn cho cơ quan quản lý. Ngoài ra, để Làng cổ Đường Lâm không chỉ là di sản đến từ quá khứ mà còn là một bộ phận cần thiết của đời sống xã hội hôm nay thì bên cạnh kế hoạch tôn tạo tu bổ, chính quyền cũng cần có kế hoạch cụ thể liên quan đến phát triển. Vừa tạo ra giá trị văn hóa để bảo tồn, vừa tạo giá trị kinh tế để phát triển thì mới thật sự thu hút được người dân cùng bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di sản.

Theo Giám đốc lữ hành Công ty TransViet Nguyễn Tiến Đạt, Đường Lâm phải có kế hoạch biến mỗi người dân thành nhân lực tại chỗ có công ăn việc làm từ di sản. Bởi bảo tồn di sản kiến trúc là phục vụ lợi ích quốc gia nhưng trước hết phải bảo đảm làm lợi cho cộng đồng cư dân địa phương, có vậy họ mới hành động bảo vệ di sản. PGS, TS Đặng Văn Bài khẳng định: Trong phát triển du lịch ở Làng cổ Đường Lâm, phải tuyên truyền để người dân hiểu du lịch là phải đầu tư và qua một thời gian mới có sản phẩm, mới thu được lợi chứ không đơn thuần chỉ dựa vào tiền bán vé trước mắt. Trong thời gian đầu, phải làm người dân hiểu được đây là bước đầu tư, bảo tồn. Đến giai đoạn phát huy hiệu quả đầu tư, người dân sẽ được hưởng lợi từ những lợi thế của di tích.

Từ những nỗ lực của Nhà nước, sự quyết tâm của chính quyền địa phương và những bài học kinh nghiệm, thời gian tới, Làng cổ Đường Lâm có thể có những bước đi thật chắc chắn để phát huy được các giá trị bền vững.

H.T.

*

*     *

ĐƯA KHÔNG GIAN ĐỜN CA TÀI TỬ

VÀO LỄ HỘI NGUYỄN TRUNG TRỰC

Khoa Nam

(Tin đăng trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 17/9/2014)

Ông Lê Minh Hoàng – giám đốc Sở Văn Hóa – Thể Thao và Du Lịch tỉnh Kiên Giang – vừa cho biết lễ hội Nguyễn Trung Trực năm nay có nhiều nét mới so với mọi năm, nổi bật nhất là sẽ tổ chức không gian đờn ca tài tử phục vụ khách hành hương. Năm nay, lễ giỗ tổ lần thứ 146 anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực sẽ diễn ra từ ngày 19 đến 22/9. Đến thời điểm hiện tại, mọi công tác chuẩn bị đã gần như hoàn tất.

Theo ông Hoàng, việc đưa không gian đờn ca tài tử vào lễ hội Nguyễn Trung Trực nhằm tôn vinh giá trị di sản văn hóa phi vật thể vừa được UNESCO công nhận này. Dự kiến 15 câu lạc bộ đờn ca tài tử của 15 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh sẽ cùng tham gia. Lễ hội cũng sẽ có các hoạt động truyền thống khác như: rước sắc thần, múa lân – sư – rồng, biểu diễn võ cổ truyền, triển lãm ảnh nghệ thuật… Ông Bùi Văn Thành – phó ban bảo vệ di tích đền thờ Nguyễn Trung Trực – cho biết thêm năm nay ban tổ chức sẽ nghiêm cấm toàn bộ hoạt động buôn bán đồ thờ cúng xung quanh khu vực đền. Nhang thơm sẽ đợc ban tổ chức phát miễn phí cho khách hành hương. Dự kiến lễ hội sẽ thu hút khoảng 1 triệu lượt khách trong và ngoài tỉnh.

K.N.

Chuyện 16 con người năm Ất Dậu ấy

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 10 năm 2014.

CHUYỆN 16 CON NGƯỜI NĂM ẤT DẬU ẤY

Lê Minh Khuê

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà văn Lê Minh Khuê sinh ngày 6/12/1949 tại Thanh Hóa. Tham gia chiến tranh chống MLe Minh Khue 2ỹ từ năm 1965 đến 1969. Tư 1969 đến 1975 là phóng viên chiến trường. Từ 1975 đến 2005 là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà Văn.

Các giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho các tập truyện ngắn Một chiều xa thành phố (1987) và Trong làn gió heo may (2001).

Giải thưởng mang tên nhà văn Byeong-ju Lee của Hàn Quốc năm 2008 cho tập truyện ngắn Những ngôi sao, Trái đất, Dòng sông.

Các tác phẩm đã in của nhà văn: Những ngôi sao xa xôi (1973), Cao điểm mùa hạ (1978), Đoạn kết (1982), Một chiều xa thành phố (1986), Tôi đã không quên (1991), Bi kịch nhỏ (1993), Lê Minh Khuê truyện ngắn (1995), Trong làn gió heo may (2000), Màu xanh man trá (2003), Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa (2003), Một mình qua đường (2006), Những ngôi sao, trái đất, dòng sông (bản tiếng Anh, 1996). Ngoài ra, đã được dịch và in các tập truyện ngắn ở Mỹ Đức, Thụy Điển, Italia, Hàn Quốc.Nhung ngoi sao trai dat dong song

Dưới đầu đề do chúng tôi đặt là phần trích từ trang 80 đến 94 trong chương tám, chương áp chót của tác phẩm dày 256 trang mới xuất bản năm 2013 của nhà văn Lê Minh Khuê Nhiệt đới gió mùa (NXB Hội Nhà Văn – Nhã Nam).

Nhân vật Hiếu là một thanh niên Hà Nội, con một công chức lưu dung sống ở phố Bà Triệu, anh là lính trinh sát chiến đấu ở chiến trường miền Nam, sau này thành sĩ quan ngành an ninh.

Ngay khi nhà văn mới cho ra mắt, Nhiệt đới gió mùa đã được đông đảo bạn đọc miền Bắc, nhất là ở thủ đô Hà Nội tìm đọc. Chính hai mẹ con nhà văn ra “phố sách Đinh Lễ” nổi tiếng tìm mua, nhưNhiet doi gio muang cũng không mua được vì sách đã bán hết. Mặc dù số lượng in không phải là nhỏ, tới 1500 cuốn, thời người ta lười đọc.

Sau đó bà nhận được nhiều cuộc gọi hỏi chung một câu “Có phải bà viết về cụ Phạm Quỳnh không”.

Nhà văn phủ nhận thế nào những người hỏi vẫn không tin.

Chính vì lý do đó mà chúng tôi đưa lên Blog PhamTon những trang văn chúng tôi cho có thể là lý do đã gây nên thắc mắc trên.

Chúng tôi biết không ít thông tin về cái chết của học giả Phạm Quỳnh, trong đó có cả lời kể đáng tin cậy của ông Phạm Tuân (sinh năm 1936) là con trai út Phạm Quỳnh hiện định cư ở Hoa Kỳ đã cùng chị là bà Phạm Thị Hảo (sinh năm 1920-2014) năm 1956 đi đến tận nơi vùi nông di hài Phạm Quỳnh cùng cha con Ngô Đình Khôi và đã được những người chứng kiến kể lại rõ ràng về cái chết của Phạm Quỳnh. Cho nên dám khẳng định là nhà văn đã viết về một chuyện hoàn toàn khác, không liên quan gì đến Phạm Quỳnh.

Mong bạn đọc theo dõi và suy ngẫm xem tại sao lại có thắc mắc như trên.

Cac sach Le Minh Khue

*

*       *

Vào một ngày Hiếu với Thu em út đi về phía Nam thành phố ra ngoại ô theo đường số Một tìm đến nhà Mẫn, người làm bảo tàng của tỉnh có quen Hiếu mấy năm trước. Hai anh em được cả nhà phân công đi tìm hài cốt ông Tuần Phủ chét năm Ất Dậu khi cách mạng tháng Tám nổ ra cướp chính quyền ở tỉnh. Bao nhiêu năm không một ai trong nhà dám dò hỏi sự kiện này. Nguyên việc là con cháu viên quan đầu tỉnh cũng có thể rầy rà nên càng ít người biết càng tốt. Nhưng bây giờ đã sang những năm tám mươi đã ngấp nghé thời kỳ người ta nói đến hai từ dân chủ xưa nay bị đóng đinh sắt bị xiềng trong hầm tối cấm kỵ đối với tất cả mọi người. Không ai có khái niệm dân chủ dù cái chữ đó đứng đầu trong tất cả các giấy tờ hành chính. Cái từ đó lẫn lộn trong một mớ từ ngữ hào nhoáng về quyền tự do tối thiểu của con người là một thứ như bánh vẽ nhìn thấy hằng ngày chẳng ai được nếm…

Cả ba người ngồi trên bậc thềm một ngôi nhà ven đường bị bom Mỹ phá thời chiến tranh chưa xây lại. Mẫn nhìn cậu em út của Hiếu nghe Thu nói về mấy từ dân chủ hạnh phúc, nói một cách bức bối nhưng khá thản nhiên cách nói của bọn thanh niên đang bắt đầu ý thức có lẽ mình cũng là một cái gì trong đời này chứ… làm Mẫn bật cười. Mẫn bảo nói năng cẩn thận vào chú em ơi hôm vừa rồi có một gã dở hơi đọc mấy câu thơ dở hơi trong quán nước kia kìa bị mời đi mà hôm nay chưa thấy về đấy! Đừng dính vào rắc rối!.

Mẫn bảo: tôi hỏi rồi có xem giấy tờ lưu trong bộ phận lịch sử của tỉnh. Cụ Tuần Phủ thực ra có liên hệ hoạt động với Việt Minh nhưng người cán bộ Việt Minh khi đó bị bắn chết trong lần công tác về vùng biển. Khi nổ ra sự kiện thì nhộn nhạo lắm không ai nhận cụ là Việt Minh. Công tác đơn tuyến nó khổ như thế mà lúc đó trên thúc xuống là phải đưa toàn bộ người trong phủ sang huyện Tiên Duy gần biển vì ở trên đó có trại hiến binh có nhà giam giữ cách biệt hẳn với bên này. Rồi không hiểu sao mười mấy người bị chết cả. Lúc đó nghe nói mù mịt, việc nhiều lắm giao cho ai việc gì người đó phải tự làm.

Mười mấy người tất cả? Hiếu hỏi trầm ngâm bẻ vụn một nắm vữa khô trong tay. Nghe nói mười sáu người có ba người là đàn bà. Mẫn không dám nhìn vẻ mặt của Hiếu lúc ấy đang tái như miếng sáp. Hiếu bóp vụn nắm vữa khô bàn tay gân guốc của lính chiến có vẻ muốn gây sự có vẻ muốn bùng nổ làm Mẫn phải đứng lên đập đập vào vai Hiếu. Bình tĩnh đi Hiếu chuyện qua lâu rồi mà!

Không. Chả có gì qua được cả. Mình phải tìm cho ra ông cụ còn phải đưa ông về phần mộ của ông không thể để ông bơ vơ thế được. Nói cho mình cách để đi đến đó.

Thế này nhé, ngày hôm ấy theo như tài liệu ghi lại về vụ đó có bốn người tự vệ làng giải mười sáu người ở phủ đi. Cho tất cả lên xe cam nhông của Pháp đến đó thì đã tối mịt… Ngày đó người ta gọi những người đi làm nhiệm vụ ấy là nghĩa dõng. Ba người đã chết rồi nghe nói chết trẻ cả chưa vợ con gì. Còn một ông vẫn sống có vợ với hai thằng con thì hai thằng đều tâm thần cả. Chả hiểu sao lại thế… Anh em cậu cứ theo địa chỉ này tìm ông ấy. Tên là Quyết. Để biết mộ ông cụ.

Hiếu lái chiếc xe mượn của cơ quan dọc đường đất về cái làng trong những năm đầu tám mươi này vẫn nhà tranh vách đất vẫn mặt người thờ ơ do đói khát. Vài chiếc hon đa đưa trong Nam ra chạy phành phạch dọc đường những đứa trẻ nhìn theo thèm thuồng một vài người đàn bà mặc quần hoa sau cái thời đàn bà đen tuốt từ thắt lưng trở xuống. Hai anh em hỏi thăm nhà ông Quyết. Người đàn bà có cái chỗng tre bày vài thứ quả vài chai nước nói chỏng lỏn: lại có cả ông ô tô đến thăm lão Quyết. Rõ chuyện như chuyện nước Tàu. Cái nhà sau cây xoan kia. May mà người ta đưa hai thằng con vào trại tâm thần rồi chứ không chúng nó cứ trần truồng chạy dọc làng. Ông Quyết ốm lâu rồi nằm cả ngày đấy. Uống nước đã!

Cám ơn bà đã chỉ đường. Chúng tôi có việc với ông Quyết! Thu nói một cách bí hiểm làm người đàn bà lắm mồm kia im bặt. Hai anh em tắt máy chiếc ô tô. Trẻ con bắt đầu gọi nhau bu quanh chiếc xe. Một vài người đàn bà lại chỗ bà bán nước. Thì thào. Chỉ trỏ. Thu bảo anh: càng hay anh ạ. Em muốn cho người ta biết em đến đây làm gì! Vớ vẩn! Hiếu cau mặt. Không ai ưa chuyện này đâu.

Căn nhà quá tồi tàn không hiểu mùa đông người ta chịu lạnh thế nào với vài tấm phên nứa che chung quanh. Một chiếc giường kê sát vách một người đàn ông nằm quay mặt vào vách. Hiếu đứng ở sân đánh tiếng rồi gọi to: đây có phải nhà ông Quyết không cho tôi hỏi thăm!

Người đàn ông mặc áo cánh nâu hai cẳng chân khẳng khiu trong chiếc quần đùi rộng quay ra nhìn. Ông ta thảng thốt lấy tay che ánh sáng nhìn cho rõ rồi một cách bất ngờ một cách khủng khiếp trong nỗi ám ảnh đã lâu, chắc thế, ông ta sụp xuống đất quỳ đầu gối xuống rồi lết bằng đầu gối ra chỗ anh em Hiếu. Ông ta úp mặt vào đất hai tay chắp lại rồi cứ thế ông ta lạy. Ông ta lạy như bị lên cơn như bị ốp đồng trán ông bắt đầu tím lại. Hiếu phải ôm vai ông ta lay mãi nhưng mồm miệng ông ta liên hồi: con lạy ông Tuần xin ông tha mạng ngày đó con trẻ dại chưa biết gì, người ta bảo làm thì làm, con xin hồn ông có thiêng thì ông siêu thoát đừng về làm tình làm tội con mãi…

Thu kéo ông Quyết trở lại giường. Bắt ông ta ngồi rồi cái giọng một thằng thanh niên trẻ trung khỏe mạnh kéo ông Quyết khỏi nỗi sợ: chúng tôi là cháu nội ông Tuần đây không phải ông Tuần nhìn cho kỹ đi. Nào. Nhìn đi!

Thu kéo Hiếu đứng cạnh mình. Ông Quyết dụi đôi mắt đỏ mọng của người ốm lâu ngày nhìn hai người thanh niên trẻ rồi ông mếu máo. Tôi thấy hai anh giống hệt ông Tuần. Giống lắm. Nhất là anh lớn này hồi đưa ông sang bên Duy ông trạc tuổi anh. Giống anh chân tơ kẽ tóc thế nên nhìn thấy các anh tôi tưởng ông về. Mấy hôm nay tôi gặp ông suốt chắc ông nhắc là có các anh đến tôi phải tiếp…

Nhà ông không có bát hương à? Tôi muốn thắp nén hương!

Không ạ! Lâu lắm mình có hương khói gì đâu các anh. Cả làng ấy chứ nhưng hai năm nay tôi thấy người ta thắp hương ở chùa. Chùa bây giờ dọn sạch cuốc xẻng cải tiến đi rồi. Làm kho hợp tác mà. Bây giờ cũng dọn kho đi rồi…

Ông Quyết nói liên hồi trông dáng dấp với cách nói năng chắc đã từng làm cán bộ? Vâng tôi làm công an xã mấy năm từ năm năm nhăm đến năm sáu nhăm thì nghỉ.

Chắc ông có thành tích to lắm mới được làm công an xã? Ông Quyết im. Ngoài sân đám đàn bà con nít tò mò bu bám một lúc rồi tản đi vì thấy không có gì lạ. Anh em Hiếu nói ý nguyện gia đình là đi tìm mộ ông nội nhờ ông Quyết giúp cho.

Chiều hôm ấy Hiếu lái xe đưa ông Quyết sang huyện Duy cách đó chỉ có bảy cây số đường liên xã. Ông Quyết im lìm suốt dọc đường trong khi Thu tìm cách làm cho Hiếu tỉnh táo lái xe, Thu nói huyên thuyên mấy chuyện ở cơ quan sang chuyện đàn bà làm Hiếu bật cười ông Quyết cũng cười góp nhưng vẻ lo lắng của ông không thể nào giấu được… Một cái sân bóng đầy cỏ và cây gai xung quanh.  Mấy con bò gặm cỏ trên sân bóng. Bên kia sân bóng còn sót lại duy nhất một cây gạo to lớn loại cây mà dân gian ít khi dám chặt cành chặt gốc. Thần cây đa ma cây gạo! Loại cây cho những linh hồn bơ vơ trú ngụ. Xa một chút nữa có cái nhà hai tầng trông hiu hắt ông Quyết bảo là trường cán bộ ý tế mùa này nghỉ nên vắng chứ ngày thường cũng tấp nập. Đi chút nữa là phố huyện…

Ông Quyết dẫn anh em Hiếu đi hai phần ba sân bóng dừng lại áng chừng khoảng cách với cây gạo rồi ông giậm giậm chân lên lớp cỏ: các cụ ấy nằm đây. Tôi vẫn ra đây thường xuyên nên không lầm được. Ngày ấy tôi ở lại sau đếm bước từ đây ra cây gạo để ghi nhớ. Đây là nền của trại hiến binh, chiếm gần hết sân bóng này mãi khi Pháp chiếm lại lập tề Pháp cho phá cả cái trại đi…

Anh em Hiếu im lìm nghe không hỏi gì. Chính cái sự im lìm làm ông Quyết có nghĩa vụ, ông tự nhủ, phải kể hết, kể cho cháu họ nghe để lòng mình đỡ day dứt. Khi ấy cướp chính quyền được năm sáu ngày gì đó ông Tuần không chạy đi đâu cùng tập hợp mấy người trong phủ chờ được phán quyết. Tỉnh này nhỏ nên ông Tuần đứng đầu dân vẫn quen gọi ông Tuần Phủ, khác với tỉnh lớn trong kia có quan tổng đốc. Tôi nhớ có một ông đeo súng lục mặc quần soóc mũ cát trắng đi xe đạp cùng với hai ông mặc quần áo tây đến phủ tập hợp chúng tôi khi đó nhận nhiệm vụ canh gác bảo chúng tôi ra phố gọi người tài xế vào có việc. Trong sân phủ lúc đó có chiếc xe cam nhông không mui tài xế của phủ ở đây nhưng lại không được lái xe. Tôi nghe người mặc đồ tây nói với người mũ cát: đầy đủ cả. Tuần phủ, án sát, đốc học, giám binh, thừa lại. Có ba người đàn bà là người họ hàng không phải vợ con… Tôi nghe thế mà nhìn những người đứng quanh ông Tuần thấy đều trẻ cả, có hai ông mặc triều phục áo dài khăn đóng còn tất cả mặc đồ tây mấy người đàn bà mặc áo dài trông đều tử tế. Tôi thấy ông Tuần phủ bước lên trước, trông ông lúc đó y hệt anh lớn này, tóc cũng chải sang bên, tai to lắm tướng ông phải thọ mới phải, ông cao lớn như ông Tây. Ông đưa cái tráp cho ông đội mũ cát rồi nói to: trong này có bốn ngàn Đông Dương và con dấu của phủ xin cách mạng tiếp thu…

Ông kia mở cái tráp rồi gọi hai ông mặc đồ tây ra góc sân nói gì đó. Sau đó chúng tôi được lệnh đưa tất cả những người trong phủ sang huyện Duy. Thời đó đường khó đi chứ không có đường lớn như bây giơ, cái xe cứ trầy trật mãi trên đường đê có lúc lại chết máy, tài xế phải cùng tài xế của phủ chữa mãi. đến đây thì trời tối mịt. Lại mưa. Hôm đó tự dưng trời có sấm chớp, tháng Tám mà, chưa hết dông sét nhưng mọi năm dông sét mùa tháng Tám không to. Trong đám nghĩa dõng chúng tôi có anh Tâm được giao nhiệm vụ đội trưởng. Anh Tầm bảo đưa tất cả xuống xe. Ông Tuần có vẻ bình tĩnh bảo anh chị em xuống đi. Cách mạng người ta lo cho mình không có gì phải sợ. Ông Tuần xuống trước đưa tay đỡ mấy người đàn bà. Mấy bà này bắt đầu khóc. Mưa dông đã ngớt nhưng trời tối. Cái đèn bão trong tay anh Tầm thì nhỏ ngọn. Anh Tầm bảo người tài xế đưa xe trở lại phủ cho cách mạng dùng việc khác rồi anh Tầm ném cho chúng tôi mấy cuộn dây vừa lấy trong trại hiến binh: trói người ta lại.

Ông Tuần hỏi to chúng tôi có làm gì mà phải trói thưa Cách mạng. Chúng tôi không biết, lệnh là phải trói. Anh Tầm trả lời.

Tất cả ngoan ngoãn cho chúng tôi trói… Đây này. Chỗ này lúc đó có cái hố rất to nghe nói lính trong trại đang vạt đất để làm cái ao lấy nước nuôi ngựa. Chúng tôi dẫn đám người trong phủ ra đây, đứng cạnh cái hố. Anh Tầm dõng dạc hô tất cả những người làm việc cho Tây đều bị xử bắn. Đây là các phần tử ăn trên ngồi trốc làm hại nhân dân Cách mạng tuyên án tử hình! Mấy người đàn bà gào khóc to bị chúng tôi ném xuống hố trước tiên. Tôi lúc đó như bị mờ mắt như bị nhức đầu cứ như có ai thúc sau lưng tôi đẩy mấy người xuống hố còn ông Tuần sau cùng… Sau cùng hay thứ bao nhiêu… Ông Quyết vỗ tay vào trán… Tôi không còn nhớ nữa. Lâu quá rồi.

Hiếu bình tĩnh nhắc ông cứ kể đi nhưng cố nhớ cho chúng tôi ông nằm ở góc nào!

Tôi không nhớ được. Gần sau cùng sao đó vì người cuối cùng còn bỏ chạy anh Tầm theo túm ông này ném xuống. Ông Tuần nói to: sao lại thế chúng tôi làm gì nào? Các ông bóc lột hà hiếp nhân dân. Anh Tầm nói thế rồi đẩy ông Tuần xuống. Hố lúc đó có nước thành hố cao lắm lại bị trói không ai lên được nhưng cũng có người cố ngoi lên, anh Tầm hạ lệnh: dùng lưỡi lê! Súng của chúng tôi lấy của lính đồn đều có lưỡi lê. Chúng tôi lắp lưỡi lê vào rồi làm theo lời anh Tầm. Cứ dùng lưỡi lê dộng xuống hố. Tôi nghe có tiếng nước bị quẫy tiếng giẫy tiếng đạp nhưng tiếng khóc thê thảm lắm. Có tiếng ai đó hô quân dã man quân giết người Cách mạng giết người… Mãi sau này tôi mới hiểu câu nói của người trong hố. Biển thủ! Ông Tuần đưa cho ông đội mũ cát bốn ngàn Đông Dương. Một món tiền to khủng khiếp thời đó ngân quỹ của cả tỉnh ít đâu. Gặp phải đám người không tốt. Sau này làm công an tôi có đi hỏi dò mấy người về tiếp quản tỉnh lỵ lúc đó nghe nói một người đã vào Nam theo địch đã thành kẻ phản bội còn hai người sau này làm lớn lắm không ai dám hỏi tới họ, nhất là với đám người trong phủ ai dám kêu cho họ nào. Bốn ngàn Đông Dương ba người ấy chia nhau mà giết chừng ấy con người vô tội. Họ bị giết hết vì họ đều thấy ông Tuần đưa cho mấy người kia cái tráp…

Ông chưa kể hết! Thu nhắc. Ông Quyết như ra khỏi cơn mê. Ông ta ngồi bệt xuống đất, trông ông ta như kiệt sức. Một lúc sau ông ta nói một cách từ tốn hơn… Cứ thế chúng tôi dộng lưỡi lê. Rồi anh Tầm vào trại lấ bốn cái xẻng. Chúng tôi xúc đất lấp cái hố. Tiếng đất rơi tôi còn nghe tiếng khóc tiếng ai đó hét lên cứu tôi với mẹ ơi cứu con với. Quân dã man. Quân giết người… Sau đó thì im dần. Anh Tầm hạ lệnh không được đắp cao mà san bằng cái hố. Khi quân Pháp chiếm lại tỉnh lập tề, ở đây thành trại nuôi ngựa. Người ta cho ngựa giày lên đây để đất chắc lại vì trong tỉnh lúc đó rộ lên câu chuyện người của phủ bị chôn sống hài cốt dưới này cả chỉ có điều không biết cụ thể nằm ở đâu. Ngựa giày mấy năm đất chắc lại. Quân Pháp rút lui, hòa bình không ai dám làm nhà ở đây. Huyện cho làm sân bóng.

Sao lúc đó không bắn cho họ chết nhẹ hơn. Thu nhìn ông Quyết như muốn nuốt tươi ông này. Hiếu phải kéo tay Thu cho tĩnh trí lại.

Lúc đó thiếu đạn. Bắn mười sáu người thì nhiêu khê lắm đạn không đủ. Vả lại không muốn tiếng súng làm náo loạn. Ban đêm tiếng súng dễ làm cả vùng hoảng sợ. Anh Tầm bảo anh nhận lệnh như vậy. Anh nhận lệnh từ ông đội mũ cát nói đám này là thân Pháp là phản động phải thủ tiêu ngay để lâu không có ai canh giữ quân Pháp quay lại phản công sẽ phiền hà cho cách mạng. Nhận lệnh thì chúng tôi làm. Thời đó chúng tôi trẻ người non dạ lại hăng máu vịt, nghe nói giết quân phản Cách mạng thì chúng tôi phải thi hành nhiệm vụ… Chỉ có điều… ông Quyết nhìn ra xa về phía thị trấn huyện lúc này đã có xe hon đa đưa trong Nam ra đang vè vè mấy cái trên đường. Mấy con bò gặm cỏ đủng đỉnh đi về cuối sân bóng… Chỉ có điều người ra lệnh thường ít phải nhúng tay. Tay họ sạch hơn nên họ có thể thoát nhiều cái nạn rơi xuống đầu. Những người làm theo lệnh họ mới khổ. Mấy anh em đều định vào bộ đội đánh Pháp nhưng chưa kịp đi thì anh Tầm đi bừa bị con trâu lồng lên kéo cái bừa chạy, anh Tầm đuổi theo con trâu, cái bừa lật ngược lên anh ấy ngã sấp xuống, răng bừa xọc đúng ngực chết tươi ngay trên ruộng. Hai anh kìa thì một anh bị sét đánh chết khi đang ăn cơm. Cả nhà có mấy người ngồi ăn cơm sát đánh chết cả. Anh nữa xuống bãi cào ngao, giỏi bơi lắm thế mà cào ngao xong xuống biển rửa ráy sóng cồn úp lên đầu kéo tuột xuống biển mất tăm. Biển ở đây ít sóng nhưng năm đó gió mùa về mạnh lắm anh này chủ quan bị mất xác…

Còn ông? Thu khiêu khích. Ông đã đâm mấy người dưới hố? Không nhớ à? Thời gian lâu lắm rồi à? Dễ quên thế.

Thu, ngồi xuống đi chú. Hiếu kéo tay em. Trời có mắt mà!

Tôi nghĩ trời có mắt thật. Nếu ngày đó từng trải hơn tôi có thể để cho họ chạy thoát. Nhưng lúc đó chúng tôi bị anh Tầm ốp, anh Tầm lại bị người khác ốp chúng tôi không làm thì sẽ chết thay thôi. Vả lại ngày đó cái chữ phản động phản cách mạng nó ghê gớm lắm nó làm cho máu trong ngươi chúng tôi sùng sục giết người chúng tôi tâm niệm là giết bọn xấu bọn phá hoại cách mạng… Tôi có sống yên đâu. từ hôm đó tôi thường bị đau đầu đau đến mờ cả mắt thuốc thang chả khỏi. Tôi lấy vợ được hai thằng con đã mừng nhưng cứ đến mười lăm tuổi hai thằng đều lên cơn như nhau. Chúng nó đánh nhau rồi cởi trần truồng la hét chạy khắp làng. Vợ tôi ốm vì chúng nó rồi không chịu được uống thuốc chuột chạy ra chết ở lều chợ ban đêm… Tôi sống cũng như chết rồi có ra gì đâu. Ông Quyết ôm mặt khóc hu hu. Ngày đó tôi cũng dại quá không biết đánh dấu gì trên người ông Tuần để nếu đào hố lên dễ tìm thấy. Tôi cũng không trói ông Tuần. Anh Tầm trói tôi nhớ ông Tuần còn bảo anh Tầm: mấy người đàn bà kia không có tội gì đâu tha cho họ. Tha thế nào mà tha? Quân phản động hết. Sau này tôi nghĩ mấy bà này cũng nhìn thấy ông Tuần đưa cái tráp cho ông cán bộ. Nhìn thấy việc ấy rồi thì ai để cho sống nữa? Các anh là người duy nhất đến hỏi tôi về ông Tuần chứ người nhà của mười mấy người kia chẳng thấy đâu. Tan tác náo loạn cả có lẽ phần lớn những người dính líu đến người Pháp đều chạy về phía Nam. Nhưng tôi vẫn không hiểu có ai về đây thời Pháp quay lại không? Hồi đó đây là vùng tề tôi không ở nhà tôi đi bộ đội đóng quân trên Việt Bắc. Vào bộ đội bệnh đau đầu hành dữ người ta cho tôi làm việc bên hậu cần không phải cầm súng. Tôi sợ cầm súng trong tay. Tôi sợ lắm. Năm hòa bình tôi làm công an cũng không dám cầm súng tôi toàn đẩy cho anh phó lo mọi việc. Có lần người nhái đổ quân lên bải biển, chúng tôi nắm trước kế hoạch tóm sạch bọn họ rồi trên về chuyển đi chứ chúng tôi không phải bắn. Đời tôi cũng trả gần hết nợ rồi. Hu hu…! Ông Quyết lại khóc to hơn.

*

*   *

Đưa ông Quyết trở lại làng ông ấy Hiếu rút ví cho ông ta mười đồng. Ông này kinh ngạc không thể nói gì. Ông chắp tay lạy hai người cháu ông Tuần rồi lại khóc. Hiếu làm cử chỉ này tự nhiên và không hiểu sao thấy thương hại người đàn ông ốm lay lắt nhà cửa tan nát giờ này trơ trọi trong căn nhà trống huếch. Thu cằn nhằn anh cho ăn mày còn hơn! Hiếu bảo ông ta không gượng được nữa đâu thần Chết chưa bắt vì để ông ta còn ngấm đòn thêm nữa.

Hiếu không đánh xe về Hà Nội ngay mà quay trở lại sân bóng. Hai anh em lặng lẽ đi ngang dọc khoảng đất cỏ xanh phủ đầy mà ông Quyết đã chỉ. Khoảng đất này đi hơn ba mươi bước là đến cây gạo. Để đánh dấu. Dưới này là thân xác ông nội và những người bạn của ông. Chỉ vì bốn ngàn Đông Dương mà họ chết một cách tức tưởi. Đâu có phải vì lý tưởng này kia đâu có phải vì mục đích lớn lao người ta phải bài trừ đối thủ. Chỉ có bốn ngàn Đông Dương mà không ai được xét xử không ai được nói lời cuối cùng. Không ai được bắn một viên đạn vào ngực cho đỡ đau đớn. Lưỡi lê của cách mạng chỉ là để tiết kiệm đạn chỉ là để một vụ được diễn ra êm xuôi không có nhiều tò mò can gián.

Gió chiều ào qua sân bóng. Gió mùa. Vùng nhiệt đới gió mùa mang theo hơi ẩm từ biển vào luôn gây ra cho con người những cơn bức bối khó chịu không biết trút vào đâu người ta hay trút vào nhau. Dải đất hẹp trần trụi chạy dọc biển Đông nhiều khi trên bản đồ thấy mong manh như làn khói gió biển thổi mạnh là có thể cuốn phăng, con người lại không biết sự mong manh đó cứ cố sống cố chết chạy theo hận thù. Thù hận làm đời ta ngắn lại… Hiếu nhìn về phía biển. Biển ở đây bồi, đầy bùn. Những rừng cây tràm cây đước chắn sóng chạy ngút ngàn dọc biển. Qua thị trấn này qua một cái làng mới đến biển nhưng đứng đây vẫn có thể ngửi được mùi mặn của muối mà gió mùa đưa lên. Hai anh em nghe rõ tiếng lao xao trong gió. Như tiếng những linh hồn oan khuất đang nhìn những người trẻ tuổi vừa nghe về cái chết của họ. Họ như được minh oan… Thu đốt nắm hương vừa mua trong thị trấn cắm lên khoảnh đất ông Quyết đã chỉ. Hai anh em vừa bước đi mấy bước bó hương cháy bùng lên lách tách tàn hương bay trong gió. Chắc gió to quá thổi cho hương cháy to. Thu bảo. Nhưng Hiếu lắc đầu: họ thổi đấy. Họ vui mừng vì có người tới thăm. Chúng cháu lạy ông nội và các chú các bác.

Hiếu chắp tay cúi đầu thành kính. Thu làm theo anh. Hiếu bảo khó tìm được ông đấy. Mười sáu người, mà bao nhiêu năm qua rồi. Có lẽ bàn với bố mẹ xin tới huyện đây làm cái bia thờ chung. Thờ tất cả mười sáu người.

Hai anh em ra xe. Trời hơi tối rồi. Hiếu bỗng bảo em. Anh đã chứng kiến nhiều việc. Cả cái việc mà thằng Phong (Em, con vợ lẽ của bố Hiếu, sĩ quan tình báo quân đội Sài Gòn, từng tra tấn Hiếu dã man, móc cả một mắt của Hiếu – PT chú) làm với anh, lúc nào đó anh sẽ kể cho chú nghe. Phong con dì Việt trong Nam hả? Phóng đó. Cái thằng mà bố đang xót xa vì nó. Có lẽ cho nó ra khỏi chỗ đó thôi… anh ghê tởm việc nó làm nhưng cái vụ này, Hiếu chỉ tay về phía bó hương đã cháy hết, vụ này mới thật sự ghê tởm. Nhiều khi anh không nén nổi sự tởm lợm muốn nôn mửa. Anh tưởng chỉ thằng Phong mới gây ra việc đó cho anh nhưng có việc còn hơn thế. Hiếu lầm bầm. Thật ghê tởm!

Anh nói em chả hiểu gì cả cái lối cứ bí  rì rì sốt cả ruột.

Chú biết làm gì biết ít thôi biết cái vụ này cũng đủ già đi hơn chục tuổi rồi đấy vài vụ nữa thì chống gậy.

L.M.K.

 

Tháng Chín 19, 2014

Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân giới thiệu thơ của học trò cũ Phạm Thị Ngoạn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 9 năm 2014.

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN NGUYỄN LÂN GIỚI THIỆU

THƠ CỦA HỌC TRÒ CŨ PHẠM THỊ NGOẠN

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học trò cũ Phạm Thị Ngoạn là con gái của Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Bà sinh năm 1921 tại Hà Nội. Năm 1933 theo cha vào Huế, nơi ông làm việc tại Triều đình Huế từ 1932. Ở đó, bà đã học giáo sư Nguyễn Lân tại Trường Đồng Khánh (thường quen gọi với tên trường Áo Tím, là trường toàn nữ sinh, đồng phục là áo tím, quần trắng).

Từ điển Văn Học (Bộ mới) của Nhà xuất Bản Thế Giới năm 2004 viết về ông trong các trang 1898-1899 trên mục Từ Ngọc như sau:

Nguyen Lan chan dung(Sinh 14.VI.1906-7.VIII.2003). Nhà văn, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội. Tên thật là Nguyễn Lân, quê ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. 1932, tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương. 1932-35, dạy học ở hai trường tư thục Hồng Bàng và Thăng Long. 1935-46, dạy học ở Trường Quốc học, Trường Đồng Khánh và Trường Bách công ở Huế, một trong những người sáng lập Hội truyền bá chữ Quốc ngữ ở Trung Kỳ. Cách mạng tháng Tám thành công là Ủy viên giáo dục tỉnh Thừa Thiên. 1945-46, Giám đốc Nha Học chính Trung Bộ. 1946, dạy Ban chuyên khoa Trường Chu Văn An Hà Nội. 1947-49, Giám đốc giáo dục liên khu X. 1949-51, Giám đốc giáo dục liên khu Việt Bắc. 1951-56, dạy Trường Sư phạm trung cấp, Trường Hoa ngữ, Trường Sư phạm cao cấp Khu học xá trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc). 1956-71, dạy ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ nhiệm Khoa Tâm lý Giáo dục. Được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất (1962), Huân chương Độc lập hạng nhì (1991), được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1988), học hàm Giáo sư đợt I (1980).

Tác phẩm đầu tay: Cậu bé nhà quê (tiểu thuyết, 1925) dựng lại cuộc đời của Kim, một dân thường nghèo khổ, hết bị kẻ xấu vu oan giá họa, khiến bố bị tù, mẹ đau khổ mà chết, lại phải đi ở nơi làng quê, bán áo nơi thành thị, làm phu nơi bến cảng. Nhờ có người tốt bụng cưu mang lại hiếu học, có chí hướng, dũng cảm trị kẻ ác cứu người đẹp nên được hưởng hạnh phúc. Cốt truyện không ly kỳ nhưng diễn tả chân thực cảnh làng quê Việt Nam xưa, phê phán những hủ tục ở nông thôn, thói ăn chơi sa đọa nơi thành thị… Tiểu thuyết đã được Anfrêt Busê (Alfred Bouchet) dịch ra Pháp văn với nhan đề Le Petit compagnard. Tác phẩm thể hiện rõ khát vọng nhân đạo của tác giả trước cuộc đời bất hạnh rủi ro của trẻ em nghèo, được coi như là mở đầu cho đề tài nông thôn, có khuynh hướng hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Khói hương (tiểu thuyết, 1935) lên án lễ giáo phong kiến đè nén tình cảm con người, cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người phụ nữ nết na, xinh đẹp nhưng không có con nói dõi tông đường, bị mẹ chồng hắt hủi. Được chú ý hơn phải kể Ngược dòng (tiểu thuyết, 1936) và Hai ngả (tiểu thuyết, 1938). Châu trong Ngược dòng là một phụ nữ có học bị dì ghẻ ép duyên, không chịu khuất phục, tạo cho mình cuộc sống tự lập, đi ngược dòng dư luận, thương yêu Mịch – một chiến sĩ cách mạng, “một người chỉ mong luyện sức và luyện trí để có thể bênh vực và dìu dắt những kẻ yếu, nghèo, những kẻ bị xã hội hắt hủi, những kẻ bị đè bẹp dưới đồng tiền của phái trưởng giả và phái tư bản”. Hai ngả có kết cấu tiểu thuyết theo lối viết thư (25 bức) ca ngợi nhân vật Thanh, người phụ nữ mới, biết đem tài sản và sức lực cải tạo đời sống người lao động, sách được Hải Triều đề tựa. Tám truyện trong Truyện ngắn Từ Ngọc (1936) như Tiếng vang, Ai khốn nạn, Học nghề văn, Nói và làm, Khẳng khái, Ngoài khơi, Chi chi ngày đầu nọc Hú vía, tập trung vào chủ đè tố cáo kẻ giàu nhưng tham lam, lên án bọn quan lại ăn hối lộ, vô trách nhiệm trước dân. Nhớ nguồn tập hợp 100 bài trong gần suốt cuộc đời cầm bút của Từ Ngọc. Từ Ngọc còn có một số công trình biên khảo đáng kể như Nguyễn Trường Tộ, (NXB. Viễn Đệ, Huế, 1941 và NXB. Mai Lĩnh, Hà Nội, tái bản 1942), ca ngợi con người tiên phong có tư tưởng đổi mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Để tìm hiểu Goóc-ki (NXB Thanh Niên Hà Nội, 1958), giới thiệu tấm gương lao động không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng nhân dân của nhà văn Nga M.Gorki, Khảo trích Truyện Trê Cóc (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1959). Cùng một số nhà khoa học khác, ông còn soạn chung nhiều bộ từ điển: Từ điển chính tả phổ thông (1963), Từ điển tiếng Việt (1967, tái bản 1977 và 1991), Từ điển Pháp-Việt (in tại Pari, 1981, tái bản ở Pari và thành phố Hồ Chí Minh, 1986), Từ điển từ và ngữ Hán Việt (1989), Từ điển Việt – Pháp (cùng Lê Khả Kế, 1989, tái bản 1991). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989, tái bản 1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp – Việt (1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt – Pháp (1994). Trong thời kỳ làm Chủ nhiệm Khoa Tâm lý giáo dục, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, ông đã cùng các bạn đồng nghiệp soạn bộ Giáo trình Giáo dục học (1961), Lịch sử giáo dục học thế giới

Nhìn chung, những năm 30 của thế kỷ XX, Nguyễn Lân là một trong số các nhà văn đi đầu về tiểu thuyết, truyện ngắn ở miền Trung, tuy vậy, với ngôn ngữ cổ kính và cách quan niệm con người chưa thật thoát sáo, những cuốn sách ấy đã không tiến kịp bước phát triển của văn học Việt Nam mấy năm sau khi chúng xuất hiện. Đóng góp của Nguyễn Lân chủ yếu được bạn đọc ghi nhận trong lĩnh vực từ điển và trong lĩnh vực giáo dục.

Trần Gia Linh

Vui mot ngay vui 2 anh

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Nguyễn Lân

Bà Liên Trang Phạm Thị Ngoạn là một Việt Kiều yêu nước về thăm Tổ quốc.

Năm 1951, từ đất Huế bà đã cùng chồng con đi sang Pháp. Ở Paris, để sinh sống, bà đã mở một cửa hàng bán sách lấy tên là “Beaux Arts – Belles Lettres”. Vừa bán hàng, bà vừa tiếp tục học tập. Cuối cùng bà đã thành công trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ Văn Khoa (Đại học Sorbonne Pháp với nhan đề Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong – PT chú). Đến nay bà vẫn tiếp tục nghiên cứu văn học nước nhà.

Trong những năm bà còn là học sinh trường nữ học Đồng Khánh ở Huế, tôi đã có vinh dự dạy Quốc văn cho bà. Thầy trò mấy chục năm xa cách, nhưng bà vẫn nhớ đến tôi.

Năm 1988, biết được địa chỉ của tôi, bà gửi cho tôi một bài thơ, trong đó có câu: “Lòng vẫn bâng khuâng nhớ cố nhân”. Tết Tân Mùi bà lại tặng tôi bốn câu thơ:

Tân Mùi vạn sắc thắm muôn hoa

Kính chúc thầy cô hưởng thái hòa

Hạnh phúc gia đình vui tứ quý,

Thanh nhàn cảnh lão thú tam đa.”

Bà có gửi cho tôi một số bài thơ bát cú Đường Luật, và yêu cầu tôi họa.

Năm nay có dịp về thăm đất nước bà cùng một số bạn học cũ đến chơi với tôi. Nhân dịp này bà có đưa cho tôi một tập thơ lấy tên là Vui một ngày vui… mà bà muốn cho xuất bản để ghi lại dịp đã thỏa được Mơ ước hồi hương. Bà lại có nhã ý mong tôi viết đôi lời giới thiệu.

Đọc tập thơ, tôi rất mừng là dù xa nước mấy chục năm, bà vẫn giữ được phong thái một nhà thơ Việt Nam, với lời thơ rất tao nhã.

Trừ một số bài lục bát và song thất lục bát, bà sính làm thơ bát cú theo thể Đường thi.

Thường thường người ta ngại thơ Đường, vì niêm luật quá chặt chẽ, nhưng ở bà, những bài bát cú Đường Luật không những rất trôi chảy mà lại nhẹ nhàng, tự nhiên…

Đấy là về mặt hình thức, còn về nội dung thì bao trùm lên tất cả là tinh thần nhớ nước thiết tha – Xin nêu lên một số câu làm thí dụ:

Quê nhà cách trở tình sông núi,

Cố quốc xa vời cảnh nước mây…

                                                (Xuân Nhâm Tuất)

Cố quốc mịt mù mong với nhớ,

Tri âm biền biệt tiếc cùng thương…

                                   (Cảm Thu)

Vì nhớ nước, nên nhà thơ đêm ngày mong có dịp về thăm đất nước:

Tình nhà nợ nước hằng vương vấn,

Mộng thắm hồi hương chẳng chuyển thay

     (Mộng hồi hương)

Vui trong ước mộng hồi hương ấy,

Vui giữa giang sơn sướng bội phần.

     (Vui)

Đến năm nay cái mộng về thăm cố quốc đã thành sự thật, nên tại thủ đô bà đã viết Mừng ngày vui đã đến ở cuối tập thơ.

Ngoài tinh thần yêu nước, tập thơ còn chan chứa tình cảm đối với chồng với con cháu, với anh chị em, với bè bạn. Hai bài Kẻ ở người đi Nhớ Hán Thu (Hán Thu là bút danh của chồng bà, ông Nguyễn Tiến Lãng – PT chú) khiến người đọc lại nghĩ đến bài Ai tư vãn của Công chúa Ngọc Hân khóc Nguyễn Huệ.

Bài Ngày vui sum họp và bài Ngày vui gặp gỡ nói lên tình thắm thiết đối với gia đình.

Bài Duyên thơ tình bạn, bài Gửi bạn phương xa, bài Chia tay đều tỏ được tấm lòng tha thiết đối với bạn bè.

Tóm lại tuy tập thơ chỉ có vài chục bài, nhưng tâm hồn của nhà thơ đã được thể hiện một cách phong phú, đậm đà và sâu sắc.

Vậy xin chân thành giới thiệu cùng độc giả.

N.L.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau đây là một số bài trong tập thơ đó được Giáo sư Nguyễn Lân nhắc đến trong Mấy lời giới thiệu.

cu be ba NgoanXUÂN NHÂM TUẤT 1982

Ngoài song cành lá gió lung lay,

Nhâm Tuất đầu năm đã tới đây

Hớn hở hoa đào phô sắc thắm,

Ngạt ngào khóm cúc tỏa hương bay.

Quê nhà cách trở tình sông núi,

Cố quốc xa vời cảnh nước mây.

Tết đến cầu mong xuân vạn phước,

Đáp lòng hoài vọng chốn trời Tây.

                                    Liên Trang

                                   Phạm Thị Ngoạn

DUYÊN THƠ TÌNH BẠN…

Hội ngộ đâu ngờ có bữa nay,

Duyên Thơ tình bạn mặn nồng thay!

Đã bao năm tháng trông mong đấy

Qua vạn trùng dương mới tới đây!

Cũng bởi duyên thơ chờ ý đẹp,

Nặng vì Tình bạn đón men say

Cuộc đời mây nổi tan rồi hợp.

Vui một ngày vui lãi một ngày

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

(Tháng 7 năm 1983)

 CẢM THU

Mấy độ thu về đã lại sang,

Trời thu ảm đạm, lá thu vàng.

Nhuốm máu ủ dột mùa mưa gió

Gieo sắc u sầu cảnh tuyết sương

Cố quốc mịt mù, mong với nhớ,

Tri âm biền biệt tiếc cùng thương.

Biết ai nhắn gửi bầu tâm sự,

San sẻ cùng ta nỗi đoạn trường

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

(Yerres 7/11/1979)

Pham Thi Ngoan_Mong Tuyet

KẺ Ở NGƯỜI ĐI

Chốn dạ dài chàng – yên giấc điệp

Cõi hồng trần để thiếp bơ vơ.

Thương chàng lòng dạ ngẩn ngơ,

Nhớ chàng ngày tháng thẫn thờ khôn nguôi.

—o0o—

Khi hôm sớm dáng người quanh quất,

Lúc đêm trường phảng phất tiếng hơi

Chàng đi, đi chẳng một lời

Để ai trong khoảng đất trời tái tê

                                                                      —o0o—

Giọt lệ sầu khôn bề ngăn cản

Nỗi đoạn trường bể thảm sầu đong

Đời còn chi nữa mà mong

Người đi kẻ ở đau lòng xót thương

—o0o—

Băm sáu năm bạn đường chung sống,

Biết bao phen khổ sướng có nhau.

Biệt ly bỗng chốc vì đâu?

Để ai ngậm thảm nuốt sầu vì ai!

Liên Trang

(Mùa thu 1976)

NHỚ HÁN THU

Anh của Em, dạ dài xa thẳm,

Biết cùng ai gửi gắm tình thương?

Nhớ anh thao thức đêm trường,

Vì đâu lẻ bóng, trên đường phân ly

—o0o—

Anh của Em, những khi họp bạn,

Mượn vần thơ quên tạm nhớ nhung.

Canh khuya chợt tỉnh giấc nồng,

Một mình gối chiếc, tấc lòng quặn đau.

                    —o0o—

Anh của Em, mối sầu dằng dặc

Biết làm sao quên đặng anh ơi

Chim kia lạc bạn chân trời,

Còn nuôi hy vọng lại rồi gặp nhau.

                             —o0o—

Anh của Em, tìm đâu cho thấy,

Cách xa nhau biết mấy từng mây.

Âm Dương đôi ngả đâu đây,

Mà mong đoàn tụ sum vầy, hỡi Anh?

                              —o0o—

Anh của Em thôi đành số kiếp,

Hẹn cùng nhau nối tiếp nhân duyên.

Ba sinh sẻ phỉ mười nguyền,

Uyên ương lại chắp cánh liền cao bay.

Liên Trang

     (1981)

CHIA TAY

(Thân ái tặng Thành Tôn)

Mới đó ai ngờ đã chia phôi

Thôi đành ly biệt bạn yêu ơi!

Bạn ơi! Ly biệt sao buồn thế

Nghĩ éo le thay cái cuộc đời!

Trường Đồng Khánh Huế

1940

 

VUI

(Hưởng Thất Tuần)    

Vui Phật Trời ban hưởng thất tuần,

Vui cùng con cháu lúc nghênh xuân.

Vui nhìn bạch cúc bên hàng giậu,

Vui ngắm hoàng mai trước góc sân.

Vui ánh trăng thanh làn sóng vỗ,

Vui dòng nước biếc áng mây vần

Vui trong ước mộng hồi hương ấy,

Vui giữa giang sơn sướng bội phần.

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Xuân Canh Ngọ 1990

NGÀY VUI SUM HỌP

Hè về gió lọt song hoa,

Bốn trời hội họp một nhà xinh xinh.

Bảy anh em thắm tình huynh đệ.

Bích Hảo Tuân Ngoạn Lệ Hoàn Viên

Chia tay đã bấy nhiêu niên

Dặm ngàn cách trở giờ nên sum vầy.

                                —o0o—

Hồi tưởng lại những ngày gian khó

Buổi loạn ly đây đó xa vời.

Trùng dương sóng gió biển khơi

Mỗi người mỗi ngả mỗi nơi an lành

                                 —o0o—

Không nỡ phụ tấc thành muôn một,

Nhờ song thân đức tốt danh cao.

Nền gia huấn nếp cần lao.

Hương thơm quả ngọt cành Dao cây Quỳnh

                                  —o0o—

Nay được buổi thanh bình hoan hỉ,

Ai dành cho anh chị em mình.

Trời Tây nắng đẹp lung linh,

Ba Lê vui đón gia đình nhà ta.

Một ngày lộng lẫy gấm hoa.

Ngọt bùi chia sử cầm ca tưng bừng.

                                 —o0o—

Nói sao hết nỗi mừng lưu luyến,

Chia cùng tôi nâng chén hẹn nhau.

Hẹn nhau mỗi một năm sau,

Ngày này tháng hạ gặp nhau một lần

Tình thân ngày một thêm thân.

Tình thân ruột thịt mười phân vẹn mười.

Yerres ngày 1/7/1984

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

“TẶNG HAI EM LAN, THỌ” (HỌA BÀI CỦA NGÔ KHÊ)

MỘNG HỒI HƯƠNG

Trời xanh trong vắt mấy tầng mây

Những muốn như chim nhẹ cánh bay

Bay tới Hoa – Đường nơi cổng cũ,

Tìm về tổ ấm chốn mơ say.

Tình nhà nợ nước hằng vương vấn,

Mộng thắm hồi hương chẳng chuyển lay

Tỏ trỗi nhạc ca mừng tổ quốc.

Đường về quê Mẹ chẳng bao ngày…

Liên Trang 1984

GỬI BẠN PHƯƠNG XA

Trời thu êm dịu gió heo may,

Tiếp cánh hoa tiên lại nhớ ngày.

Bạn đến thăm ai chiều đẹp ấy.

Lá vàng lác đác nhẹ nhàng bay…

                             —o0o—

Bên bờ tơ liễu rủ lơ thơ,

Dòng nước sông y-e ( Yerres) chảy lững lờ.

Đón khách hân hoan ngày tái ngộ.

Vui mừng còn tưởng giữa niềm mơ!

                              —o0o—

Chiều tà bóng xế bạn chia tay,

Cây cỏ đìu hiu ngọn gió lay.

Phảng phất hồn quê nơi lữ thứ,

Chân trời lặng lẽ cánh hồng bay…

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

MỪNG NGÀY VUI ĐÃ ĐẾN

Mơ mộng hồi hương đã tới đây,

Bao năm chờ đợi phút giây này!

Giang sơn gấm vóc còn nguyên vẹn

Bạn hữu thân thương chẳng đổi thay.

Mấy độ tha hương nơi đất khách,

Dăm câu tâm sự thỏa lòng ngay.

Hợp tan, tan hợp thân bèo nổi,

Vui một ngày vui, lãi một ngày!

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Tháng 3 năm 1984

(năm Giáp Tuất)

 

Ngoài những bài giáo sư Nhà Giáo Nhân Dân Nguyễn Lân đã nhắc đến trong lời giải thích, xin mời các bạn đọc thêm hai bài họa thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn của Từ Ngọc Nguyễn Lân.

     CẢM TÁC NGÀY XUÂN

       Thu vãn đông tàn lại đến xuân

       Tháng năm lần lữa cựu sang tân.

       Dạ còn lưu luyến thương quê cũ

       Lòng vẫn bâng khuâng nhớ cố nhân.

       Vận nước cầu mong nghìn phúc ấm,

     Tình nhà chúc tụng vạn hồng ân

       Cùng ai mặc khách duyên văn tự,

       Bút rắc tơ vương ghép mấy vần

Liên Trang

Tết Nhâm Thìn 17/2/1988

        MỪNG TUỔI THẤT THẬP

“NHÂN sinh thất thập cổ lai hy”

Bảy chục xuân xanh đã mấy khi!

Ơn Phật thâm sâu, còn sức mạnh

Trường đời hơn thiệt chẳng màng chi

Bạn bè thân thích tình lưu luyến,

Hòe quế an vui cảnh diệu kỳ.

Tuổi thọ hân hoan tâm chẳng bận

Tao đàn xướng họa mấy vần thi.

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Xuân Canh Ngọ 1990

 HỌA BÀI CẢM TÁC NGÀY XUÂN

  NHÂM THÌN CỦA L.T.

    Tiếp nhận tiên hoa dịp đón xuân

    Lời thơ hiền hậu vẻ thanh tân.

    Gợi bao kỷ niệm say Hương Ngự,

    Tỏ mấy tâm tình nặng nghĩa nhân.

    Vẹn nghĩa giang sơn không oán hận,

    Trọn tình sư đệ chẳng vong ân.

    Đông Tây cách trở bao sông núi

    Cảm tạ tình sâu tạm họa vần

Từ Ngọc

Giáo sư Nguyễn Lân

HỌA BÀI MỪNG TUỔI THẤT THẬP CỦA L.T.

Mừng bà tuổi đã “cổ lai hy”

Tám chín mười mươi sẽ có khi!

Một tấm tình quê còn thắm thiết,

Muôn trùng non nước có hề chi

Núi sông cảnh cũ mong chờ dịp

Bè bạn trường xưa ngóng hẹn kỳ.

Nhân đọc bài thơ mừng “Thất thập”

Cũng xin họa lại thể “Đường thi”

                 Từ Ngọc

                                         Nguyễn Lân

“Huyền thoại một gia đình” – Về gia đình giáo sư nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:55 sáng

 Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 9 năm 2014.

 “HUYỀN THOẠI MỘT GIA ĐÌNH”

VỀ GIA ĐÌNH GIÁO SƯ NHÀ GIÁO NHÂN DÂN NGUYỄN LÂN

Hoàng Lan Anh

(Bài đăng trên www.nld.com.vn ngày 4/2/2011)

Hiếm gia đình nào có đến 8 người con đều là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ như gia đình cố giáo sư – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân. Người đi trước dìu dắt người đi sau, họ đã xây đắp nên hình mẫu một đại gia đình hiếu học, tài hoa, chuẩn mực

Dù theo đuổi những chuyên ngành khác nhau nhưng cả 8 người con – 7 trai 1 gái – của cố giáo sư Nguyễn Lân đều chọn nghề làm thầy cao quý, đó là thầy giáo và thầy thuốc.

Công cha

Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Cường tâm sự: “Ba tôi đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và ông rất tự hào về điều đó”. Niềm tự hào ấy đã được người thầy lớn truyền lại cho các con từ những ngày ông đạp xe rong ruổi khắp các tNguyen Lan va Voỉnh trên Việt Bắc chỉ đạo việc phát triển giáo dục trung – tiểu học.

Giáo sư – tiến sĩ – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng nhớ lại: “Hồi đó, ba tôi làm giám đốc giáo dục Liên khu X (gồm 6 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên – nay là Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lào Cai và Hà Giang), sau đó là Liên khu Việt Bắc. Lương hằng tháng của cụ chỉ vài chục cân gạo, quá nửa số đó phải để lại nhà cho vợ nuôi đàn con, phần còn lại mang đi công tác”.

Vất vả vượt qua muôn vàn khó khăn trong khói lửa chiến tranh, ông Nguyễn Lân không chỉ dốc hết tâm lực xây dựng ngành giáo dục nước nhà mà còn để lại cho đời sau nhiều giáo trình, bộ từ điển quý như Ngữ pháp Việt Nam, từ điển Muốn đúng chính tả

Nghị lực và lửa yêu nghề của giáo sư Nguyễn Lân đã truyền lại cho 8 người con, tất cả đều hiếu học. “Trong thời kỳ khó khăn, mỗi tối, anh em chúng tôi phải ngồi học với cây đèn dầu tự tạo bằng hộp kem đánh răng GIBB đã dùng hết. Gian khổ lắm nhưng ai nấy đều tự giác, hăng hái học tập” – giáo sư Nguyễn Lân Dũng nhớ lại.

Có người bảo các con, cháu cụ Nguyễn Lân thông minh, thành đạt là nhờ di truyền nhưng giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho rằng có được điều đó là nhờ sự phấn đấu không ngừng của các thành viên trong gia đình. Ông tâm sự: “Tôi vẫn nhớ như in lời ba tôi dạy, rằng mình là gia đình cán bộ, không có tiền nên các con cố mà học. Ba mẹ chỉ cho các con tri thức, các con cố học mà thành tài”.

 Ơn mẹ

Ít người biết giáo sư Nguyễn Lân (sinh ngày 14-6-1906 ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) vốn là một cậu bé nhà nghèo, được người anh họ nuôi ăn học, song lại có một người vợ hiền, đẹp, là con gái nhà đại điền chủ Nguyễn Hữu Tiệp.

Nét duyên dáng, kiêu sa của bà Nguyễn Thị Tề đã khiến cho thầy giáo trẻ “liều mình” đến tận nhà đại điền chủ xin cưới con gái của ông. Và rồi tư chất thông minh, tử tế của Nguyễn Lân đã chinh phục được đại điền chủ giàu nhất, nhì Hà Nội.

 Phó giáo sư Nguyễn Lân Cường kể lại: “Tôi rất phục mợ (mẹ) tôi. Lấy ba tôi vất vả nhưng một người lá ngọc cành vàng như mợ tôi lại chẳng bao giờ than thở một câu. Hồi hai người mới lấy nhau, mợ tôi chả biết nấu nướng, mọi thứ ba tôi đều phải dạy. Thế nhưng khi ba tôi đi vào Liên khu X, mọi khó khăn, vất vả mợ tôi đều làm lấy, một tay nuôi dạy đàn con thơ.

Hồi kháng chiến, trên đầu là máy bay, dưới là cảnh chạy tản cư, mợ tôi một tay dắt tôi, tay kia dắt em Hùng, còn chị Chỉnh thì gánh em Tráng, cứ thế mà chạy…”. Cac con cua Nguyen LanĐể có tiền nuôi đàn con ăn học, bà Tề đã phải đi mua quần áo cũ của người tản cư mang lên miền ngược bán. Ngày hòa bình lập lại, bà làm đại lý bán đường cho mậu dịch để kiếm từng đồng. “Nhà tôi nghèo, chật, sống ở tập thể chỉ có mười mấy mét vuông thôi nhưng lúc nào cũng vui vẻ, đầm ấm.

Ba mợ tôi thực sự là một tấm gương về nếp sống giản dị, tiết kiệm, không màng công danh phú quý, luôn khoan dung đối với những người xung quanh” – phó giáo sư Nguyễn Lân Cường kể.

Với con cái, giáo sư Nguyễn Lân và bà Nguyễn Thị Tề là những nhà tâm lý tuyệt vời. Hiếm khi ông bà nặng lời với các con, chỉ một lần giáo sư Nguyễn Lân đánh con là khi người con cả Nguyễn Lân Tuất nghịch ngợm cắt cụt tóc của chị giúp việc. Sau này, khi các con đã có gia đình riêng, ông khuyên giải “không nên đánh con, vì đánh hay mạt sát bọn trẻ đều thể hiện sự bất lực của mình. Phải khuyên giải cho chúng thấy được điều hay lẽ phải”.

 Rạng danh

Nhờ đức độ của ông Nguyễn Lân – bà Nguyễn Thị Tề mà đại gia đình lớn của ông bà (với gần 60 người) luôn giữ được nền nếp gia phong, trên kính dưới nhường, anh em yêu quý nhau.

Không chỉ 8 người con ruột mới là những giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ mà nhiều con rể, con dâu cũng là những trí thức có uy tín. Vợ của giáo sư – tiến sĩ – nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất là phó giáo sư – nghệ sĩ công huân Liên bang Nga Svetlana Kurbetova; chồng của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (đã mất vào năm 1992 vì tai nạn giao thông) là giáo sư Bùi Thế Kỳ, sinh thời là chuyên gia đầu ngành về tim mạch ở Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô.

Vợ của giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng là đại tá – phó giáo sư – tiến sĩ – thầy thuốc nhân dân Nguyễn Kim Nữ Hiếu, nguyên phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (bà Hiếu là con của cố giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946 đến năm 1975). Các con dâu nhà Nguyễn Lân phần lớn là giáo viên, bác sĩ…

Truyền thống hiếu học của gia đình còn lan tỏa sang thế hệ thứ ba. Đại tá Bùi Ngọc Quang, người con cả của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh, hiện là Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin – Bộ Quốc phòng; tiến sĩ Nguyễn Lân Hiếu, con trai của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, nay là chuyên gia tim mạch có tên tuổi, giữ chức Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Em gái tiến sĩ Hiếu, chị Nguyễn Kim Nữ Thảo, hiện đang làm luận án tiến sĩ ở Mỹ. Tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng Sơn (con trai của giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng) là một nhà điểu học có triển vọng, đồng thời là Phó Chủ nhiệm Khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngoài ra, còn có tiến sĩ Nguyễn Ngọc Lưu Ly (con gái của phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Trung), tiến sĩ Bùi Ngọc Minh (con trai của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh)…

Tám anh em khoa bảng

. Giáo sư – tiến sĩ khoa học – nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất (người con cả của giáo sư Nguyễn Lân): Người Việt Nam đầu tiên được cựu tổng thống Nga Vladimir Putin phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga năm 2001, hiện đang giảng dạy tại Nhạc viện Novosibirsk, Nga (ông mất năm 2014-PT chú).

 . Bà Tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (người con thứ hai): Nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 . Giáo sư – tiến sĩ – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng (người con thứ ba): Một trong những nhà khoa học đầu ngành vi sinh vật học, chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học; đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII.

 . Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Cường (người con thứ tư): Nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia đầu đàn của bộ môn cổ nhân học; Phó Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, giảng viên Khoa Lịch sử – Đại học Quốc gia Hà Nội.

 . Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng (người con thứ năm): Tổng Thư ký Hội Các ngành sinh học Việt Nam, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 . Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Tráng (người con thứ sáu): Giảng viên Bộ môn Hệ thống điện – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

 . Giáo sư – tiến sĩ – thầy thuốc nhân dân Nguyễn Lân Việt (người con thứ bảy): Viện trưởng Viện Tim mạch, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, nguyên hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội.

 . Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Lân Trung (người con út): Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.

Dai gia dinh Nguyen Lan

H.L.A.

Tháng Chín 12, 2014

Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong (Tg: Dương Quảng Hàm)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 9 năm 2014.

 

ÔNG PHẠM QUỲNH VÀ PHÁI NAM PHONG

Dương Quảng Hàm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Từ điển Văn học – Bộ mới  (NXB Thế Giới, Hà Nội 2004) Trần Hữu Tá viết: “ Dương  Quảng Hàm (14.VII.1898-?.XII.1946). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam. Hiệu là Hải Lượng, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Xuất thân trong một gia đình Nho học. Thuở nhỏ học chữ Nho, sau ra Hà Nội học quốc ngữ; tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương, 1920; giảng dạy ở Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi) 1920-46.

(…) Ông là tác giả của một công trình đáng chú ý: Việt Nam văn học sử yếu (1944). Sách được in và chỉnh lý nhiều lần. Không kể phần mở đầu và tổng kết, Việt Nam văn học sử yếu gồm 46 chương, trong đó có nhiều phần quan trọng: Văn chương bình dân; Ảnh hưởng của nước Tàu; Các chế độ về việc học việc thi; Các thể văn; Ảnh hưởng của nước Pháp; Vấn đề ngôn ngữ văn tự…

(…) Ông dành đến bảy chương để nói tới nền văn học dân tộc đầu thế kỷ XX – giai đoạn hình thành một nền quốc văn mới. Ông giới thiệu nền văn xuôi mới, các thi sĩ hiện đại, các văn gia hiện đại…

(…) Có thể coi đây là cuốn lịch sử văn học Việt Nam phổ thông đầu tiên được biên soạn bằng chữ quốc ngữ. Phương pháp nghiên cứu tuy chưa thật khoa học nhưng vấn đề được đặt ra và giải quyết rành mạch, thỏa đáng. Tư liệu tập hợp khá phong phú và chính xác. Công trình này đã góp phần tích cực vào việc phát hiện và bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc.

Dương Quảng Hàm mất tại Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.”

Báo Sài Gòn Giải Phóng (ngày 7/7/2000) đăng bài Liệt sĩ Dương Quảng Hàm của Đỗ Đậu viết: “Là người thầy mẫu mực, nhà nghiên cứu uyên bác, ông là người đi tiên phong trong lĩnh vực khám phá, xây dựng bộ môn văn học sử Việt Nam. Các tác phẩm Quốc văn trích diễm, Việt văn giáo khoa thư và đặc biệt là công trình Việt Nam văn học sử yếu (hai tập) được tái bản đến 14 lần đã khẳng định tài năng cũng như sự uyên thâm của ông. 50 năm sau, sự “mất tích” của giáo sư mới chính thức được xác minh là hy sinh. Và ngày 5/7/2000, lễ truy điệu và trao bằng Tổ quốc ghi công cho Liệt sĩ Dương Quảng Hàm đã được tổ chức long trọng tại Câu lạc bộ văn hóa phường Hàng Bông (Hà Nội) nơi ông từng sinh sống trước đây.”

Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong là phần chúng tôi trích từ sách Việt Nam văn học sử yếu của ông do Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp xuất bản năm 1993, phần II, chương thứ tư, từ trang 430 đến trang 433.

Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong

Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời kỳ, đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông. Vậy ta cần nói đến tạp chí ấy trước.

Tạp chí Nam PhongNam Phong tạp chí xuất bản tự tháng Juillet (bảy – PT chú) năm 1917, đến tháng Décembre (12 –PT chú) năm 1934 thì đình bản, tất cả được 17 năm và 210 số. Kể trong các tạp chí đã ra đời ở nước ta, tạp chí ấy là tờ xuất bản liên tiếp và lâu hơn cả.

A)    Tình hình quốc văn hồi tạp chí Nam Phong ra đời – Muốn nhận rõ ảnh hưởng của tạp chí Nam Phong, cần phải nhắc qua lại tình hình quốc văn ở nước ta hồi tạp chí ấy ra đời. Lúc ấy, trừ các bản dịch tiểu thuyết Tàu ra tiếng ta, chưa hề có sách quốc văn xuất hiện. Trong nước, chỉ có vài tờ báo chí (Lục tỉnh tân văn ở Nam kỳ), Trung Bắc tân vănĐông Dương tạp chí ở Bắc kỳ) và thiếu hẳn một cơ quan khảo cứu về học thuật tư tưởng để cho người trong nước có thể chỉ xem quốc văn mà mở mang tri thức được.

B)    Mục đích của tạp chí Nam Phong – Tạp chí ấy có hai mục đích chính sau này:

  1. Đem tư tưởng học thuật Âu – Á diễn ra tiếng ta cho những người không biết chữ Pháp hoặc chữ Hán có thể xem mà lĩnh hội được.
  2. Luyện tập quốc văn cho nền văn ấy, có thể thành lập được.

C)    Sự thực hành của bản chương trình ấy – Muốn thực hành bản chương trình ấy, các nhà biên tập tạp chí Nam Phong làm các việc sau này:

  1. Viết các bài khảo cứu về triết học, khoa học, văn chương, lịch sử của Á Đông và của Âu Tây.
  2. Dịch các tác phẩm về triết học, văn học nguyên viết bằng chữ nho hoặc chữ Pháp.
  3. Sưu tập các thơ văn cổ của nước ta (cả chữ nho và tiếng nôm).
  4. In các sách cũ của nước ta (như bộ Lịch triều hiến chương loại chí).

D)    Ảnh hưởng của tạp chí Nam Phong – Tạp chí Nam Phong đã có ảnh hưởng về hai phương diện:

  1. Về đường văn tự, tạp chí ấy đã:

a)      sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ triết học, khoa học mới mượn từ chữ nho;

b)      luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới

  1. Về đường học vấn, tạp chí ấy đã:

a)         phổ thông những điều yếu lược của học thuật Âu Tây.

b)         diễn đạt những điều đại cương trong các học thuyết cũ của Á Đông (Nho học, Phật học, v.v) và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn hóa cũ của nước ta (văn chương, phong tục, lễ nghi).

Tác phẩm của ông Phạm Quỳnh – Ông Phạm Quỳnh vừa làm chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Nam Phong. Tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại.

A)    Loại dịch thuật – Ông có dịch các đoạn văn hoặc các tác phẩm của Âu Tây, có phần thiên về triết học (Phương pháp luận, Discours de la méthode của Descartes, Nam Phong, số 3 trở đi), luân lý (Sách cách ngôn, Manuel của Epictète, Âu Tây tư tưởng, 1929, Đời đạo lý, La vie sage của Paul Carton, Nam Phong, 1929-1932) hơn là tiểu thuyết và kịch bản (Tuồng Lôi xích, Le Cid của Corneille, Nam Phong, số 38-39; Tuồng Hòa Lạc, Horace, của Corneille, Nam Phong, số 73-75)

B)    Loại trứ tác – Trừ các bài luận thuyết, ký sự, đoản thiên đăng trên tạp chí ông có viết mấy tác phẩm ghi chép những điều quan sát, nghị luận trong các cuộc du lịch của ông: Mười ngày ở Huế (Nam Phong, số 10), Một tháng ở Nam Kỳ (Nam Phong, số 17, 19, 20), Pháp du hành trình nhật ký (Nam Phong, 1922-1925).

C)    Loại khảo cứu – Loại này là phần quan trọng nhất trong văn nghiệp của ông. Ông nghiên cứu ở các sách, rồi viết ra những bài chuyên khảo về học thuật Âu Tây như Văn minh luận (Nam Phong, số 42), Khảo về các luân lý học thuyết của Thái Tây (Nam Phong, số 92 trở đi), Khảo về chính trị nước Pháp (Nam Phong, số 31 trở đi), Thế giới tiến bộ sử (Nam Phong, số 51 trở đi), Lịch sử và học thuyết của Rousseau (Nam Phong, số 104), của Montesquieu (Nam Phong, số 108) của Voltaire (Nam Phong, số 114-115); hoặc về học thuật Á Đông như Phật giáo lược khảo (Nam Phong, số 40), Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng (Nam Phong tùng thư, 1928), hoặc về văn học nước ta như Tục ngữ ca dao (Nam Phong, số 46), Văn chương trong lối hát ả đào (Nam Phong, số 69), Hán Việt văn tự (Nam Phong, số 107 trở đi), Việt Nam thi ca (Nam Phong, số 64)

Phần nhiều những tác phẩm kể trên, sau khi đăng trên tạp chí, đều in lại trong bộ Nam Phong tùng thư (Đông Kinh ấn quán Hà nội xuất bản)

Kết luận: – Ông Vĩnh có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu Tây và phát triển những cái hay trong tiếng Nam ra; ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới. Đối với nền văn hóa cũ của nước ta, thì ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục tín ngưỡng của dân chúng, mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ văn chương của tiền nhân.

Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả. Tuy văn nghiệp của mỗi người có tính cách riêng, nhưng hai ông đều có công với việc thành lập quốc văn vậy.

D.Q.H.

*

*    *

Một số bài Dương Quảng Hàm trích văn Phạm Quỳnh vào sách giáo khoa Việt Nam thi văn hợp tuyển

(NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 1993)

  1. 1.      Cách lễ phép của người mình

Người ta ở trong xã hội, trong khi giao tế với nhau, cần phải có lễ phép, dẫu đối với người cao hơn mình, người ngang bằng mình hay người thấp kém mình cũng vậy, kẻ khôn khéo thời tùy nghi mà gia giảm, nhưng bao giờ cũng phải có lễ nhượng mới là người có giáo dục. Nhưng giữ lễ phép không phải là làm đê hạ mình đi mới là tôn trọng kẻ khác, không phải là tự nằm rạp xuống đất hay uốn gẫy mình làm đôi, mới rõ là mình kính trọng người ta. Cách lễ phép như vậy thời một là giả dối, hai là đê hèn, đều đáng khinh bỉ cả, tưởng người được hưởng sự lễ phép ấy nếu biết cũng nên khinh trước mới là phải. Xét trong cách lễ phép của người mình phần nhiều như thế cả. Đối với người dưới thời đã tuyệt nhiên không có chút lễ phép gì, thường lấy sự thô bỉ tàn nhẫn mà đãi kẻ kém mình, đối với người trên thật đê tiện quá chừng. Rụt rè, khúm núm, gãi đầu gãi tai, bẩm bẩm thưa thưa, vâng vâng dạ dạ, coi lời ăn tiếng nói, dáng đứng cách ngồi, tưởng phàm người biết trọng cái phẩm giá con người không ai tự hạ đến thế. Mà thật những người ấy không biết lòng danh dự là cái gì. Lòng danh dự là biết tự trọng mình, trọng cái nhân cách của mình, người ta là người, mình cũng là người, không có lẽ một người đối với một người mà phải tự coi mình như con giun, con dế, dẫu người kia có oai quyền thế lực đến thế nào nữa mặc lòng. Vả lại muốn biểu dương cái lòng tôn trọng với người hơn mình, không phải là tự hạ mình đi mới là kính trọng người; tự hạ mình đi là làm hạ giá cả cái lòng kính trọng của mình, không những thế, tức là khi ( như khinh – PT chú) người ta nữa, vì tự hồ như cho người ta là hẹp lượng lấy những cách khúm núm quỵ lụy của mình làm chân thành vậy

Danh dự luận

(Nam Phong tạp chí, số 25, tháng 7-1919)

  1. 2.      Triết lý của đạo Phật

Trung tâm đạo Phật là thuyết về luân hồi, nghĩa là vạn vật đã vào trong vòng sinh tử thì cứ sống đi chết lại mãi mãi, không bao giờ cùng cũng như cái bánh xe đã quay thời càng quay càng tít, không bao giờ dừng. Theo thuyết ấy thời đã sinh ra tất phải chết đi, đã chết đi tất phải sinh lại, sinh tử, tử sinh, vô cùng vô hạn, hết đời nọ đến đời kia, hết kiếp này đến đời khác, chữ phạn gọi là sâmsára, chữ Tàu dịch là luân hồi. Nhưng những đời đời kiếp kiếp, tử tử sinh sinh ấy là làm nhân quả lẫn cho nhau, không phải là vô bằng, vô cứ; các việc xảy ra ở đời này là sự thưởng hay sự phạt những việc đã xảy ra trong kiếp trước, và là nguyên nhân mầm mống những việc sẽ xảy ra về kiếp sau. Đạo Phật gọi phép báo ứng ấy là nghiệp báo (karma). Nghĩa chữ nghiệp báo là vừa chỉ các việc làm, vừa chỉ cái kết quả việc ấy sau này. Nay đệ nhất đề gọi “khổ đề” là thế nào? – Chính là phép khốc hại nó bắt chúng sinh cứ phải chết đi sống lại mãi, cứ phải qua hết đời nọ sang kiếp kia mà chịu những sự khổ não vô cùng, chính là phép luân hồi vậy. Thành ra khổ (dukha) là một chữ đồng nghĩa với chữ nghiệp (karma) và khổ với nghiệp cũng lại là đồng nghĩa với luân hồi, vì có nghiệp báo nên phải luân hồi, vì có luân hồi nên phải khổ não, ba chữ bổ nghĩa lẫn nhau, giải thích cho nhau, và là ba cái động lực rất mạnh gây ra cái thế gian “hữu tình”, cái cõi đời khốn nạn này…

Cơ mầu đã như thế, thời người trí giả phải mưu tính thế nào? Chắc là phải tìm cách ngăn ngừa sự luân hồi, trở át cái phép khốc hại ấy cho không thi hành được nữa. Nếu có thể tiêu diệt được nghiệp báo thời tiện thị là ngăn cấm được luân hồi, thoát khỏi được vòng sinh tử, cùng tránh được hết những sự khổ não nó đi kèm với cái sống cái chết, và trong một khoảng từ khi sinh ra đến khi chết đi, tiếp tục nhau mà bày ra cái cuộc đời rất sầu thảm này. Đã ngăn cấm được sự luân hồi thời không có sống, không có chết nữa. Không sống, không chết, đạo Phật gọi cảnh ấy là nát bàn (nirvâna), nghĩa là chốn an ổn vô cùng, tịch mịch vô cùng. Nhờ vậy thời đệ tam đề gọi là diệt đề (nirodha) tức là nát bàn; diệt với nát bàn, hai chữ đồng nghĩa, vì nát bàn là cái kết quả trực tiếp của sự liệt diệt: diệt được khổ não, tiện thị là nhập nát bàn vậy.

Phật giáo lược khảo

(Nam Phong tạp chí, số 40, tháng 10-1929)

3.      Đạo hiếu và đạo trung trong luân lý của Khổng giáo

Có thể nói cả cái đời luân lý của dân tộc Việt Nam là hun đúc bằng đạo Khổng, nói thế không phải là nói quá vậy. Những lời huấn dụ, những lời cách ngôn của ông Đại Hiền Triết vừa là Socrate vừa là Lycurgue của xã hội giống da vàng, trong hai ngàn năm đã tiêm nhiễm tâm hồn người Việt Nam và đã sáp nhập vào cái kho trí thức của dân chúng xứ này.

Nay luân lý đạo Khổng không phải là một lý thuyết bằng không mà kết cấu ra, chính là nguồn gốc của sự thực hiển nhiên của lẽ thường người ta, căn cứ ở đạo hiếu và đạo trung, hiếu với trung là gốc của gia đình, của tổ quốc, và gia đình với tổ quốc là hai cái hiện tượng hiển nhiên, ai ai cũng phải công nhận vậy.

Người ta là một giống ở xã hội, Aristote thì nói là một động vật sinh trưởng ở xã hội. Cái thiên tính của người là phải ăn ở trong xã hội những kẻ đồng loại với mình. Cái xã hội thứ nhất sau khi lọt lòng mẹ ra là gia đình, căn cứ ở máu mủ. Xã hội này lại thuộc một xã hội lớn hơn căn cứ ở đất nước, gọi là tổ quốc. Cả “nhân luân” là ở giữa hai cái đầu mối đó: gia đình, tổ quốc. Tưởng rằng cá nhân có một địa vị là tưởng lầm: cá nhân không có gì cả; cá nhân chỉ có địa vị là ở trong phạm vi gia đình, ở trong phạm vi tổ quốc mà thôi.

Phàm xã hội phải có trật tự. Không có gì gọi là bình đẳng cả. Auguste Comte đã nói: “Chính tạo vật đã tổ chức loài người theo lẽ tôn ti sai biệt”. Vậy thời gia đình với quốc gia phải có chủ: gia trưởng là cha, quốc trưởng là vua. Hai bậc đó bản thể không có gì sai biệt, chỉ có sai biệt ở trật tự mà thôi. Bổn phận của mỗi người đối với cha là hiếu, bổn phận của mỗi người đối với vua là trung. Đó là hai mối tình cảm thâm trầm mà sự giáo dục phải khai phát ra trong lòng người, vì đó chính là nền tảng của gia đình, tổ quốc vậy. Không có hiếu thì không có gia đình được, không có trung thì không có tổ quốc được, vì gia đình với tổ quốc không phải hai cái danh từ trừu tượng để nêu lên làm khẩu hiệu mà thôi, chính là hai hiện tượng có sinh hoạt mà nguồn gốc là tự trong thâm tâm người ta vậy.

Cổ nhân ta đã có câu rằng: xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân, nghĩa là ở trong lòng mẹ ra đã có nghĩa vua tôi với cha con rồi.

Nghĩa đó là nghĩa tùy thuộc, nghĩa phục tòng cái trật tự thiên nhiên nó chi phối sự sinh hoạt của đoàn thể. Con người ta mới sinh ra đời bé nhỏ yếu ớt đã có ngay một hoàn cảnh, một cái phạm vi sẵn sàng để đón lấy, che chở cho, bênh vực cho. Lý tự nhiên là đem mình sáp nhập vào phạm vi đó, tùy thuộc vào cuộc sinh hoạt chung của đoàn thể. Không những nghĩa phải như thế, lợi cũng khiến nên như thế. Vì cuộc sinh hoạt chung đó vẫn đã có trước mình từ bao giờ, và sẽ còn có sau mình biết bao lâu nữa. Mình có nương tựa vào đó, có sáp nhập vào đó, thì mới có cơ sinh hoạt tồn tại được, chứ không phải tự phụ đem cái cá tính đơn độc của mình mà ngang nhiên phản đối lại được, cá tính nọ cũng như cá nhân kia là hão huyền không có cả.

Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước

Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam

(Nhà in Đắc Lập, Huế)

4.      Nền luân lý cổ của dân tộc Việt Nam

Thờ gia đình, mến tổ quốc, phụng tổ tiên, tôn cổ điển những tình cảm đó nhờ giáo dục vun trồng, thói quen bồi đắp, văn chương cùng phong tục cổ lệ tán dương, dần dần tạo thành cho người nước Nam một cái thần trí vững vàng ngay thẳng, một cái tâm địa chắc chắn điều hòa, một cái hồn tính thiết thực và kiện toàn, có lẽ không được bay bổng cao xa lắm, nhưng gặp khi quan hệ đến vận mệnh gia đình tổ quốc thì cũng có thể tận tụy hy sinh được. Lòng hiếu thảo trong đạo cha con, lòng tiết nghĩa trong đạo vợ chồng, lòng trung thành với nhà vua là trạng thái đặc biệt của lòng ái quốc người Việt Nam, cổ lai vẫn gây nên những bực anh hùng liệt nữ, hoặc hiển hách, hoặc vô danh, hoặc tên đề chói lọi trong sử sách, hoặc việc chép lưu truyền trong gia phả, hay chỉ còn để lại cái bài vị trong một gian miếu nhỏ nấp dưới bóng tre xanh. Lòng vị nghĩa đó có khi siêu việt đến bậc tuẫn tử một cách oanh liệt.

Nhưng đó là những bậc anh hùng có đóng vai quan trọng trong lịch sử. Ngoài những bậc đó, còn biết bao nhiêu những người nữa, và trong những người đó thiếu chi người đàn bà, âm thầm lẳng lặng mà can đảm quyên sinh để giữ tròn danh tiết. Cho nên có câu thơ:

Khảng khái cần vương dị,

Thung dung tựu nghĩa nan.

Như vậy thời cái luân lý cổ thoát thai ở đạo Khổng mà ra đó một phần căn cứ ở thiên nhiên – là máu mủ và  đất nước – một phần căn cứ ở lịch sử, – là sự kinh lịch của đời trước – rất là hợp lý lắm, không có mâu thuẫn chút nào với đời nay, và rất có thể khôi phục lại để làm cơ sở cho sự sinh hoạt về đạo đức của dân tộc Việt Nam này. Luân lý ấy không phải là một thuyết trừu tượng ở trong sách cổ đâu; những điều giảng dạy của luân lý ấy đã tiêm nhiễm sâu xa cả thượng lưu cùng quần chúng trong nước vậy. Những danh từ dùng để chỉ các quan niệm cốt yếu của luân lý đó, như: tam cương, ngũ thường, quân tử, tiểu nhân, tam tòng, tứ đức, v.v… đã thâu nhập vào tiếng nói của bình dân từ bao giờ đến giờ ai ai cũng hiểu rõ và ai ai cũng thường dùng vậy.

Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước

Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam.

(Nhà in Đắc Lập, Huế)

Tháng Chín 5, 2014

Phạm Quỳnh năm 1945

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 3:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 9 năm 2014.

PHẠM QUỲNH NĂM 1945

Phạm Tôn

Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

            “Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

            “Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

            “Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.

            “Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.

            “Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

            “Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”[1]

            Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.

            Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.”[2] Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.”[3] Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

            Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.”

(…)

            Ông tự nhận “Đã lỡ lầm mà ra làm quan” vì tưởng “cái thân nho quèn” của mình có thể làm được những việc có ích cho dân cho nước mà trước đây chỉ thể hiện được trên giấy trắng mực đen. Ông “khởi động” bằng việc dịch thơ Đỗ Phủ, nhà thơ lớn Trung Quốc mà ông phục tài và yêu mến vì có phần cùng cảnh ngộ. Trong những ngày hè xứ Huế năm 1945 nóng như đổ lửa, ông cặm cụi dịch thô được 51 bài thơ tâm đắc thì ông gửi ngay vào Hà Tiên cho vợ chồng nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, bạn thân và người cộng tác cũ của Nam Phong. Sau đó “có đà rồi” ông bắt đầu đọc thật nhiều, nghĩ càng nhiều hơn để bắt tay vào viết những trang sách cuối đời mình. Bấy giờ, ông chuyên viết tạp văn, kiểu tạp văn của Lỗ Tấn. Thật sâu sắc, độc đáo nhưng lại rất ngắn gọn, súc tích, dễ đọc. Ông đặt tên cho bộ sách mới của mình là Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng. Hoa Đường là tên làng quê ông xưa, những năm cuối này ông thường lấy làm bút danh. Trong bộ sách này, ông muốn dốc hết những gì mình từng thấy, từng nghe trong cuộc đời hơn ba mươi năm chìm nổi và cả những cảm tưởng khi mắt thấy, tai nghe hoặc đọc được, trình bày ra trang giấy để lại cho người đời sau có thêm kinh nghiệm sống. Trên bìa cuốn vở học trò, ông nắn nót ghi tên bộ sách mới, còn cẩn thận ghi thêm chữ số I La Mã; vì đây là cuốn đầu trong bộ sách mới, bộ sách cuối cùng mà ông quyết chắt lọc tinh túy trong cả cuộc đời mình để viết ra, không biết sẽ gồm bao nhiêu cuốn vở như thế này. Phạm Quỳnh còn giống Lỗ Tấn cả ở cách viết. Bản thảo đầu tiên thường cũng là bản thảo cuối cùng, chỉ thêm bớt mấy chữ hoặc chuyển vị trí vài dòng vài chữ mà thôi. Khi đưa đi in mới chép lại cho dễ đọc, khỏi làm khó thợ in. Thế thôi…

Biet thu Hoa DuongRồi những ngày tháng 8-1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau 19-8, cách mạng đã thắng lợi lại Hà Nội nghìn năm văn hiến, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người trong nhà ra ngoài về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo. Mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời mình nhưng cứ loay hoay không biết phải làm bằng cách nào. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hoà các mâu thuẫn vốn không thể dung hoà, mong “giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn”, tức là làm cái việc mà chính ông cũng tự biết là: “lẽ tất nhiên, tôi bị va chạm vào một sự hiểu lầm của người đời. Vì thế, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương” như ông đã viết trong lá thư gửi một người bạn Pháp từ cuối năm 1933, tức chỉ một năm sau khi ông ra làm quan.[4] Ông mừng là nước nhà đã giành được độc lập, ông đã có “một tổ quốc để phụng thờ” như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu cố góp sức cho ngày đó sớm đến.[5] Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và đỏ có sẵn trong nhà, kể cả các màn thờ hay trướng đang treo, cũng hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ để cầm mà tham gia các cuộc tuần hành thị uy của dân chúng đang sôi nổi khắp kinh thành, cả trên các đường phố lẫn các thuyền bè trên sông Hương và con sông An Cựu ngay trước mặt biệt thự Hoa Đường.

Nhưng không ngờ quyển vở bản thảo số I mới viết đến trang số 48 được chừng nửa bài văn tâm huyết nhất đời ông nhan đề Cô Kiều với tôi thì đến giờ nghỉ trưa, ông mở trang vở viết dở, đặt ngang cây bút Waterman lên trên như để chiều sẽ viết tiếp, rồi đi ăn cơm và ra ghế xích đu ngồi nghỉ một lát thì có người đến báo: “Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa mời ông ra làm việc.” Bà vợ nhác thấy người đến “mời” đeo băng cờ đỏ sao vàng ở tay thì thét to lên rồi ngất đi. Nhưng ông vẫn thản nhiên mặc áo dài đen, đầu để trần, tin cậy lên xe hơi đến đón. Cô con gái cưng xin chờ cho một chút để cô lấy thuốc dạ dày cho ông đem theo thì ông cười và dịu dàng bảo con: “Không cần đâu, chiều thầy về”.

Và ông lên xe, đi đến nơi làm việc như được mời.

Hôm ấy là ngày 23/8/1945. Đúng lúc đang diễn ra cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Huế do Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên Ho Chi Minh_1945– Huế tổ chức. Từ sáng sớm, ông đã bảo các con trai lớn (trong đó có Phạm Khuê, Phạm Tuyên) và những người làm trẻ đến tham gia, còn dặn họ “nhớ mang theo cờ đỏ sao vàng”.

Sáng 30/8/1945, Hoàng Hữu Nam thưa với bác: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt”. Bác nói: “Bất tất nhiên.” (Tức: không nhất định phải như thế, có thể có cách khác). Đầu tháng 9/1945, sau khi biết tin Phạm Quỳnh bị sát hại tại Huế, bác lại nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì” và “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với Cụ Phạm ở Pháp! Đó không phải là người xấu!”. Năm 1946, trước ngày khai mạc hội nghị Việt – Pháp tại Fontainebleau (Pháp), Hồ Chủ tịch gặp mặt tất cả phái đoàn ta, trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng. Bác nói với ông này trước mặt Vũ Đình Huỳnh và Đỗ Đình Thiện là: “Lúc này còn Cụ Phạm Quỳnh thì…”; ông Phạm Văn Đồng nói: “Bất tất nhiên, Bác đã nói rồi mà…”

Suốt cuộc đời mình, năm mươi ba tuổi ta, Phạm Quỳnh đã sống như một người Hà Nội chân chính, hậu duệ của những sĩ phu Bắc Hà xưa, lớp người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Tạm dịch là: Giàu sang không thể làm rối lòng, nghèo khó không thể biến đổi tiết tháo, uy vũ không thể khuất phục)”.

P.T.

[1] Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

[2] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

[3] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

[4] Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (bản dịch của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Paris, 1993)

[5] Hoàng Đạo Thuý: Băng ghi âm lời nói với con trai Phạm Quỳnh (ngày 19-4-1991, tại Hà Nội)

Ngay trước ngày quốc khánh đầu tiên, Hồ Chủ tịch đã tiếp hai con gái học giả Phạm Quỳnh

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 9 năm 2014.

TÌM HIỂU PHẠM QUỲNH

KỶ NIỆM 69 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9:

NGAY TRƯỚC NGÀY QUỐC KHÁNH ĐẦU TIÊN,

HỒ CHỦ TỊCH ĐÃ TIẾP HAI CON GÁI HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

Dã Thảo

Trong  những ngày Cách Mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi nổi khắp nước ta, mặc dù bận trăm công nghìn việc “quốc gia đại sự”, vậy mà ngay trước ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời gian vốn rất ít ỏi để tiếp hai bà con gái lớn của Phạm Quỳnh xin gặp Người sau khi biết tin cha bị bắt tại Huế.

Trong tư liệu VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH (viết ngày 8/12/2008, tại Hà Nội) mà nhà văn Sơn Tùng đã có nhã ý ký thác cho nhạc sĩ Phạm Tuyên, có viết:

“Ngày 28/8/1945, Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – ông Nguyễn Lương Bằng, ông Trần Huy Liệu, ông Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Lê Giản- Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh: “Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc xem có ai thay được chú Nam vô Huế gặp Cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời Cụ…” (Chúng tôi nhấn mạnh – DT).

Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch: “Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt (Chúng tôi nhấn mạnh – DT), hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này”. Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng: “Bất tất nhiên”!* (Chúng tôi nhấn mạnh – DT). Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam:

- Hai chị ấy tên là gì?

Ông Hoàng Hữu Nam trình bày:

- Dạ…Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác.

- Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp…

Ông Hoàng Hữu Nam tươi cười kể lại với Bác là chị Giá, chị Thức bày tỏ xin được gặp Cụ Hồ, nhưng chưa dám hứa chắc vào lúc nào…

Sau buổi làm việc này, ông Vũ Đình Huỳnh trao đổi với ông Hoàng Hữu Nam, Hồ Chủ tịch sẽ tiếp “thân nhân Cụ Phạm” vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ.

Ngày 31/8/1945, buổi sáng Hồ Chủ tịch rà xét lần cuối bản thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Ông Nguyễn Hữu Đang, Trưởng ban tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 và bốn người nữa đến báo cáo với Hồ Chủ tịch về công việc chuẩn bị cho ngày lễ…

Đến 10 giờ 30 phút, ông Hoàng Hữu Nam báo với ông Vũ Đình Huỳnh: “Đã mời thân nhân Cụ Phạm đến, đang ở phòng khách…”. Cụ Vũ Đình Huỳnh khi kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự: “Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có đôi lần nhìn thấy ông khăn xếp áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da, qua Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức, phố Hàng Trống, bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn ở trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ, dạy Hán văn; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáp dạy văn, sử, địa, giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn, giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cùng quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên, cái phút giây tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt, chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị thân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói:

- “Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về Cụ nhà ở Huế…”. Hồ Chủ tịch ngừng giây lát, nói tiếp: “Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội (ngày 22/8/1945, Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc đang làm việc tại nhà…Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn: “Chú chuyển sang Bộ Nội vụ”. Bác thân mật hỏi han hai chị em về tình hình gia đình ở trong Huế, ở Hà Nội…Người dặn: “Cụ Phạm là con người của lịch sử. Lịch sử sẽ đánh giá lại sau này. Các con cháu Cụ cứ vững tâm đi theo Cách mạng”. Và “Những việc hai cháu vừa đề đạt, hai cháu sẽ trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá…”.

Đồng chí Bảy (Luật sư Phan Mỹ) Đổng lý văn phòng vào thỉnh thị Chủ tịch… Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức: – “Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn…”

Việc hai người con gái đầu của Phạm Quỳnh xin và được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ sáng ngày 31/8/1945 đã được chính người chị là cụ Phạm Thị Giá sau này thuật lại tỉ mỉ như sau trong bài của nhà báo Phạm Tôn Phạm Quỳnh, Người nặng lòng với nước, đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, cơ quan của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 140, tháng 8/2006, từ trang 99 đến trang 116, và bài Người nặng lòng với nước, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 267, tháng 9/2006, từ trang 15 đến trang 20.

* Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1992) thì Bất tất nhiên có nghĩa là: “Không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được.”

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi,bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn.)[i] Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu 31/8/1945, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh là thư ký riêng theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang).[ii] Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó.”

Điều này chứng tỏ đã là sự thật thì trước sau gì cũng được xác nhận từ các góc nhìn của những nhân chứng rất khác nhau. Thời đầu Cách mạng thật trong sáng. Chính quyền và nhân dân thật gần gũi. Người đứng đầu chính quyền Cách mạng lúc ấy dẫu bận trăm công nghìn việc, vẫn sẵn sàng, chân tình tiếp và lắng nghe tiếng nói của người dân, dù họ “thuộc diện có vấn đề”, không hề né tránh, để những bức xúc của người dân rơi vào “sự im lặng đáng sợ” như sau này.

Bức thư mà hai bà đưa cho Hồ Chủ tịch là do Phạm Khuê, con trai Phạm Quỳnh, hồi ấy còn là sinh viên trường Y Hà Nội, chấp bút viết theo ý của cả ba chị em, sau khi nghe tin cha bị bắt ở Huế. Sau này ông trở thành bác sĩ, đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, giảng viên trường đại học Y Hà Nội, rồi Viện trưởng Viện Lão Khoa Việt Nam, Hội trưởng đầu tiên của Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, được phong Nhà giáo Nhân dân, là đại biểu Quốc hội khóa X ứng cử tại quê cha Hải Dương với số phiếu cao nhất. Bấy giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới 15 tuổi, sống với mẹ và gia đình ở Huế, sau mới ra Hà Nội ở với chị cả Phạm Thị Giá.


[i] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

[ii] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy,báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

D.T.


Tháng Tám 29, 2014

Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc ở nước ta

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:03 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 9 năm 2014.

BẢO TỒN VA PHÁT HUY

VĂN HÓA DÂN TỘC Ở NƯỚC TA

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhân dịp nhắc nhớ tấm lòng của Thượng Chi – Phạm Quỳnh với văn hóa dân tộc, người hằng mong mỏi bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc của Blog PhamTon nhất là những bạn ở nước ngoài mà lòng luôn nhớ thương nước nhà, quê cũ một chùm bài, tin về hiện trạng văn hóa dân tộc ở trong nước qua một số vùng miền

—o0o—

CD QUAN HỌ CỔ -NGHÌN NGÀY CHỜ ĐỢI

Nguyễn Quang Hưng

(Bài đăng trên trang 12, báo Thời Nay số 419 ngày 20/1/2014 )

Mơ ước suốt nhiều năm được gửi vào một ngày ấn phẩm cổ nhạc nên vóc nên hình. Vì thế, dù tuổi người hát có ở cái ngả xế bóng chiều hôm thì ý nghĩa của sự chờ đợi vẫn nguyên vẻ thanh xuân.

Hơn bốn năm trước, gặp lại và mời các nghệ sĩ Tự Lẫm, Minh Phức, Lệ Ngải tham gia một chương trình sân khấu hóa tại Huế, tôi nghe liền anh, liền chị kỳ cựu, vang bóng một thời, nói về ước mơ giản dCD quan ho coị: Có được một ấn phẩm thể hiện các bài quan họ cổ. Để kỷ niệm cuộc đời hát, chơi quan họ từ thuở đầu xanh, đến nay đã cháu bồng cháu bế. Để có một món quà nhỏ giới thiệu với … “chúng bạn”.

“Chúng bạn” ấy là ai? Là bạn bè nghiên cứu, là bằng hữu yêu và chơi cổ nhạc, là các lứa đồng nghiệp, trong đó nhiều nghệ sĩ trung niên và trẻ tuổi, thuộc thế hệ học trò hay hậu bối, cứ theo nhau ra đĩa quan họ “tơi tới”. Rõ là những năm qua, đĩa đơn, đĩa đôi, đĩa tập thể chủ yếu là quan họ cổ có nhạc, rồi một hai đĩa không nhạc cứ tiếp nối nhau ra “lò”, được mua, được nghe rộng rãi. Thấy lớp người sau có nhiều sản phẩm, liền anh liền chị thuộc thế hệ đầu, học tập, biểu diễn quên mình để phát triển đoàn quan họ, nhưng rồi gặp nhiều nỗi thiệt thòi, hẳn cũng nghĩ ngợi. Cũng có khi chạnh lòng!

Vợ chồng nghệ sĩ Tự Lẫm, Minh Phức và nghệ sĩ Lệ Ngải, rời Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh đầu những năm 90 của thế kỷ trước trong khó khăn, thiếu thốn, bám vào công việc cần lao để sống, bám vào tiếng hát quan họ, vào cần nhị, vào dây đàn nguyệt, vào tiếng sênh, tiếng mõ… để nuôi con cái. Ngẫm lại không phải để kể khổ, mà sẽ càng thấy kiêu hãnh vì đi qua nhọc nhằn mà vẫn giữ được tình yêu, thú chơi quan họ, giữ được câu hát nền nã, chân thành và tâm mình sáng sủa, giữ được, nhớ được, hát được hàng trăm bài bản cổ học nghệ nhân các làng quan họ gốc từ năm 1969 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Hình như có những chi tiết độc đáo của quan họ, từ các nghệ nhân đã khuất bóng ấy, mà chỉ có lứa diễn viên trẻ xuống tận nơi học truyền miệng thuở nào là lưu giữ được? Hình như có cả chút ngậm ngùi khi cảm thấy nhiều năm bị… ghẻ lạnh, trong khi đời sống quan họ chung có những chuyện chưa hay, có những cái cần điều chỉnh!

Cho nên giấc mơ về một ấn phẩm quan họ cổ, nhỏ thôi, với số lượng bài khiêm tốn thôi, đã trở nên một thôi thúc. Anh Ba bé Đình Vũ, người làng quan họ gốc Đào Xá, học trò của cặp nghệ sĩ hát rất ăn ý suốt nhiều năm Minh Phức – Lệ Ngải, hiểu được điều ấy và năng nổ nhập cuộc. Việc ghi âm được thực hiện tại phòng thu NXB Âm Nhạc cuối hè 2012. Từ những giúp đỡ nho nhỏ, chút kinh phí, những bức ảnh chụp, thiết kế bìa…, cho đến hôm nay, CD 10 bài quan họ cổ mang tên La rằng đã hoàn thành. Nhóm nghệ sĩ, thầy trò chia thành cặp liền anh Tự Lẫm – Đình Vũ và cặp liền chị Minh Phức – Lệ Ngải, thể hiện các bài ca: Tứ hải giao tình, Duyên phận phải chiều, Phùng quan xuân hội, Chim kêu gióng giả, Thơ thẩn tìm ai, Bóng quế giãi thềm, Xuông hời, Lênh đênh duyên nổi phận bèo, Hương gối đầu ghềnh, Lấy gì làm thú giải phiền. Ấn phẩm thành hình sau hơn một năm từ khi thu âm, nhưng là sau nhiều năm mong mỏi, kịp xong trước thềm xuân hội 2014. Nhiều bằng hữu thân thiết sẽ có đĩa của Tự Lẫm, Minh Phức, Lệ Ngải, Đình Vũ để nghe cùng không khí những ngày Tết Giáp Ngọ tới đây. Gợi ý chọn cái tên La Rằng cho ấn phẩm, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long – Phó Trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Âm Nhạc nói: Không hoàn thành CD trước mùa lễ hội này thì có lỗi với “các cụ”! Đạo diễn âm thanh Phạm Trường Linh của Nhà xuất bản cho biết, sau khi thu âm, việc hoàn chỉnh các bài hát không thiên về lạm dụng kỹ thuật, không bóng bẩy, “lung linh hóa” như biểu diễn sân khấu, mà cố gắng giữ cho được chất mộc mạc, khỏe khoắn trong giọng hát nghệ sĩ và đời sống dân gian. Anh Ba bé Đình Vũ phấn chấn: Em thì không dám nghĩ mấy đến việc phát hành, mà thấy được đĩa trên kệ gian hàng băng đĩa là sung sướng rồi!

Thật ra, nghệ sĩ Vũ Tụ Lẫm thì vẫn có một chút băng khoăn: Quả tình mình cũng chưa thật ưng lắm với những gì thể hiện. Nhưng với điều kiện sức khỏe và những lần ốm thời gian qua, thì cũng khó lòng để cho toàn vẹn! Tâm sự chân thành của liền anh Tự Lẫm khiến tôi thoáng lo, về sự không ủng hộ của thời gian khi sức và tuổi những người hát, người chơi giàu vốn liếng quan họ và tâm huyết ấy đã bắt đầu giảm độ dồi dào. Tôi hay nghĩ về ước mơ từ lâu của thầy mình – nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ, giá như có được một dự án thu âm thật tốt, thật chuẩn tất cả những gì còn lưu giữ. Rồi chia sẻ của nhạc sĩ Quang Long, sau ấn phẩm này, ta có thể nghĩ đến những gì tiếp theo. Gần đến mùa xuân, báo cho Nghệ sĩ ưu tú – giọng chèo hàng đầu Đoàn Thanh Bình về CD quan họ cổ sắp hiện diện, tôi lại nghe “bà” Bình nói một dự định: Có đoàn nghiên cứu, thu âm bên Pháp, muốn sang tìm hiểu về quan họ, anh Minh (nghệ sĩ Đàm Quang Minh – thành viên, cùng với nghệ sĩ ưu tú Thanh Bình trong nhóm ca trù Kim Đức) định sẽ đưa về Bắc Ninh giới thiệu với các ông bà Tự Lẫm, Minh Phức, Lệ Ngải.

Nếu những mơ ước, những dự định, kế hoạch ấy của nghệ sĩ cùng bạn hữu, của cả những ai quan tâm nữa, nối được với nhau để từng chút một, nên công, nên của, thành tư liệu lưu trữ quý giá thì còn gì hơn!

N.Q.H.

*

*   *

HỒI SINH ĐIỆU HÁT TRÔNG QUÂN KINH BẮC

Thái Sơn, Hồng Thắng

(Bài đăng trên trang 1 báo Nhân Dân số ra ngày 9/8/2014)

—o0o—

Ngoài hai di sản văn hóa phi vật thể là dân ca quan họ và ca trù đã được UNESCO công nhận, Bắc Ninh còn có loại hình nghệ thuật độc đáo là hát trống quân. Người dân nơi đây luôn tự hào vì từ xa xưa làng Bùi Xá Hat trong quan(Thuận Thành) đã được vinh dự lên kinh thành Thăng Long hát cho vua nghe.

Nô nức hội trống quân

Thấy khách đến nhà, cụ Phạm Công Ngát rảo bước nhanh ra cổng đón. Ðã qua cái tuổi “thất thập cổ lai hy” từ lâu, song cụ vẫn còn nhanh nhẹn. Biết chúng tôi đến tìm hiểu về hát trống quân của làng, cụ mỉm cười hiền từ, bồi hồi nhớ lại những đêm hội xa xưa với ấn tượng khó phai. Trong tâm thức của cụ, mỗi độ tháng tám âm lịch về, làng Bùi Xá (người dân thường gọi là làng Bùi) lại tất bật chuẩn bị cho ngày hội trống quân. Trước đó cả tháng, dân làng chọn các nam thanh, nữ tú lập thành hai đội luyện tập để biểu diễn trong đêm chính hội, cũng có khi gái làng Bùi đứng ra lập thành một đội đối đáp với trai làng ngoài. Mỗi canh hát có thể kéo dài vài đêm, với hàng trăm người nô nức đến xem.

Chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào về sự ra đời của điệu hát trống quân làng Bùi. Theo các bậc cao niên, trống quân ra đời vào khoảng thế kỷ 18, tồn tại chủ yếu qua hình thức truyền miệng. Ðến những năm 50 của thế kỷ trước và trong những năm tháng chống chiến tranh phá hoại miền bắc của đế quốc Mỹ, loại hình nghệ thuật này tưởng như đã bị mai một. Cụ Ngát hào hứng: Bom đạn chiến tranh làm gián đoạn những khúc nhạc trống quân nhưng không thể hủy diệt được sự trường tồn của nó. Tiếng trống luôn âm vang trong tâm thức dân làng và chờ cơ hội để tái sinh. Năm 1994, một số người luôn đau đáu với lời ca, tiếng nhạc có từ nghìn xưa đã cùng nhau thành lập Câu lạc bộ (CLB) trống quân của làng.

Ông Lê Bá Bạo, một trong những thành viên sáng lập, đồng thời là Chủ nhiệm CLB lúc bấy giờ, cho biết: “Khi mới hình thành, chỉ có vài người góp mặt nhưng chúng tôi luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm mỗi người trong việc gây dựng và thổi bùng ngọn lửa văn nghệ truyền thống của ông cha để lại”. Theo thời gian, số hội viên tăng dần, quy tụ không chỉ các bậc lão niên, mà cả những người trung niên, trẻ tuổi cũng nhiệt tình tham gia. Trống quân làng Bùi chính thức ghi dấu ấn trở lại vào năm 2003, khi Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thuận Thành lập phường trống quân dự hội diễn văn nghệ của tỉnh. Sự ghi nhận, đánh giá cao tiết mục trống quân làng Bùi của hội đồng chấm thi và người xem đã khích lệ niềm tin đối với các nghệ nhân trong làng, thôi thúc họ mở phường hát để thỏa niềm đam mê và lan tỏa loại hình nghệ thuật đặc sắc này đến người dân các vùng lân cận.

Gọi là hát trống quân bởi khi biểu diễn người hát phải gõ vào tang trống giữ nhịp “lưu không” và cũng là để thúc giục đội bên kia phụ họa lại. Nghệ nhân Vũ Thị Kiểm (vợ cụ Ngát), 84 tuổi, gần 70 năm đi hát cho biết: “Nếu suốt canh hát ở Ðức Bác của tỉnh Vĩnh Phúc như kể cho người nghe về một câu chuyện thì trống quân ở Bùi Xá lại giống như một cuộc thi đấu, tiết tấu nhanh, diễn biến thay đổi liên tục, người hát sử dụng điệp từ, nhấn từ tạo sự lôi cuốn cho khán giả. Nếu cuộc tranh tài sau nhiều ngày chưa phân định được thắng thua thì phe hát sẽ chuyển sang lối hát “dở” giọng, là hát những câu được chuyển đổi mang âm hưởng quan họ, chèo…”.

Hat trong quan cau lac bo bui xaSự đặc sắc của trống quân làng Bùi là người hát ứng đối với đối phương bằng câu hát, cùng trăm câu đố tài tình, cho nên phải linh hoạt, nhanh trí. Hát trống quân thường chỉ có một làn điệu, chủ yếu là thể lục bát hoặc lục bát biến thể theo kiểu thập cửu (10/9). Ðặc biệt, người hát trong làng được gọi là liền anh, liền chị và ngầm hiểu trống quân như là “quan họ hai” của vùng đất Kinh Bắc. Khi hát, cần tuân thủ bốn nguyên tắc: chào, mừng, chúc, hỏi; khi kết thúc canh hát có màn giã bạn lưu luyến kẻ ở, người đi. Trong quá trình đối ứng, các bên sẽ linh hoạt mở rộng chủ đề. Hình ảnh về non sông đất nước, tình yêu lao động, yêu thương con người… được phác họa ngay trong câu hát. Chính những lời ca mượt mà, dung dị ấy giúp nhiều đôi trai gái nên duyên chồng vợ. Cụ Ngát và cụ Kiểm thành đôi cũng nhờ duyên hát.

Bảo tồn và phát triển

Thấy được giá trị và sự cần thiết phải bảo vệ loại hình nghệ thuật này, tháng 10-2008, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thuận Thành phối hợp các nghệ nhân làng Bùi mở lớp dạy trống quân cho thanh niên, thiếu niên trong làng. Bà Lê Thị Thư, 65 tuổi, nhớ lại: “Chúng tôi gửi thông báo về từng gia đình kêu gọi mọi người hưởng ứng. Thời gian đầu, nhiều người theo học nhưng về sau số học viên ít dần, trong khi những nghệ nhân lớn tuổi, nhiệt huyết luôn mong muốn truyền lại những điệu hát cho thế hệ trẻ”. Lý giải về điều này, bà Thư giải thích: “Giới trẻ bây giờ có nhiều lựa chọn. Lâu lâu chúng tôi mới tổ chức một đêm hát, không phải lúc nào các cháu cũng có điều kiện ngồi nghe để cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong từng câu ca. Khi biểu diễn trên sân khấu, không gian cảm thụ, tiếp nhận có sự thay đổi đáng kể, lại không tập trung được đông người để có màn đối đáp hấp dẫn như ngày trước nữa, cho nên lớp trẻ không mấy mặn mà”.

CLB trống quân Bùi Xá hiện có 28 thành viên, người trẻ nhất năm nay 33 tuổi. Thời gian trôi đi, những nghệ nhân lớn tuổi am hiểu sâu sắc về trống quân giờ sức khỏe và giọng hát cũng không còn được như trước. Ðiều đáng lo ngại là hát trống quân đang bị “già hóa”, lớp trẻ hầu như không chịu nhập cuộc. Ông Lê Bá Bạo trăn trở: “Chúng tôi muốn thường xuyên có những đêm diễn, khích lệ các cháu, khôi phục sự phát triển của trống quân nhưng kinh phí hoạt động không có, ngay cả việc mua dụng cụ biểu diễn cũng do các thành viên CLB tự nguyện đóng góp”.

Thuở trước, theo lời các vị cao tuổi trong làng, nhà nhà hát trống quân theo kiểu cha truyền con nối. Giờ hình ảnh cả gia đình quây quần tập hát gần như không còn. Không khí háo hức đổ về bãi điếm giữa làng trảy hội trống quân chỉ còn trong ký ức, để lại bao nuối tiếc trên những khuôn mặt hằn dấu thời gian. Ước muốn của những người cao tuổi làng Bùi bây giờ là có dịp được cùng các bạn đồng niên ngân nga câu hát. Ðôi tay các cụ tuy không còn nhanh nhẹn, hoạt bát, nhưng vẫn cố gắng tận dụng, chắp nối từng mảnh bìa giấy để may “áo mới” cho trống.

Ông Bạo vừa làm, vừa ngân nga với tôi đôi câu hát nghe thật tình tứ, vui nhộn: Tháng tám tôi đi chơi xuân/ Ðồn đây mở hội trống quân tôi vào. Khi ông ngơi tay, tôi hỏi hè này có cháu nào theo học hát không, giọng chùng xuống: “Có chứ anh, chúng nó theo được dăm bận, bắt chước nhanh lắm nhưng ngặt nỗi lâu lâu mới có một đám mời hát, thành thử lũ trẻ đâu có nhiều cơ hội để nghe. Hè này, cố gắng lắm CLB mới tổ chức được vài đêm hát được bà con nhiệt liệt tán thưởng. Tiếc rằng, do kinh phí quá eo hẹp, cho nên chúng tôi muốn diễn nhiều buổi cũng không được”.

Ngồi xem các cụ may áo cho trống, em Nguyễn Thị Lan Anh, học sinh lớp ba, Trường tiểu học Ninh Xá hồ hởi khoe: “Hôm trước cháu được mẹ đưa đi nghe hát, hay lắm. Ở xóm cháu bây giờ, trẻ em cũng chia phe để thi hát chú ạ!”. Ðối với thế hệ măng non làng Bùi, hát trống quân vẫn luôn đồng hành trong cuộc sống.

Tháng tám âm lịch đang dần đến, so với trước đây không khí cả làng nô nức chuẩn bị cho đêm hội vơi đi ít nhiều, nhưng tình yêu dành cho những câu hát vẫn hiện hữu trong tâm thức của người dân. Nếu có sự quan tâm thường xuyên, có kế hoạch đào tạo bài bản và tình yêu dành cho hát trống quân thì môn nghệ thuật này hoàn toàn có khả năng nhân rộng. Và trong tương lai gần, người dân làng Bùi có thể tự hào cất lên giọng hát để giới thiệu với bạn bè gần xa.

T.S.- H.T.

*

*   *

XẨM HÀ NỘI TÌM ĐƯỜNG CHINH PHỤC KHÁN GIẢ

Giang Nam

(Bài đăng trên trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra thứ sáu ngày 22/8/2014)

—o0o—

Từ chỗ có nguy cơ thất truyền, đến giờ, công chúng Thủ đô có thể thưởng thức hai buổi hát xẩm mỗi tuần trong khu phố cổ, vào các tối thứ sáu, thứ bảy hằng tuần. Hát xẩm đang từng bước thành công trong việc tìm đường đến với công chúng Thủ đô.

Chỉ riêng sân khấu hát xẩm tại chợ Đồng Xuân mỗi đêm thứ bảy đã có khoảng 1.000 khán giả, phần lớn là những người trẻ tuổi. Không những thế, khu phố cổ mới có thêm một địa chỉ dành cho người yêu xẩm, đó là đền Quán Đế ở 28 phố Hàng Buồm. Cứ vào tám giờ tối thứ sáu, buổi biểu diễn xẩm bắt đầu. Hàng Buồm là phố đi bộ, không gian hẹp hơn chợ Đồng Xuân, nhưng cũng thu hút hàng trăm khán giả. Những quán hàng quanh đây nhờ thế mà đông lên, khi vừa thưởng thức các món ăn, người ta vừa được nghe hát xẩm miễn phí.

Đối với những nghệ sĩ, nghệ nhân hát xẩm, việc biểu diễn ở chợ đêm Đồng Xuân của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển âm nhạc Việt Nam (phối hợp Công ty cổ phần Đồng Xuân) có thể coi là bước đột phá, tạo đà cho sự phát triển của hát xẩm Hat xamthời gian qua. Qua đây, công chúng biết đến xẩm, đồng thời, tạo một sân khấu cho những người trẻ tuổi có điều kiện biểu diễn, phát triển tài năng. Ca nương Nguyễn Thu Phương, sinh năm 1985 là một trường hợp như thế. Khi Phương đến với trung tâm, hát xẩm còn chưa được nhiều người biết đến. Cán bộ lãnh đạo trung tâm đã giao cho Phương nhiệm vụ “làm gương” cho những bạn trẻ khác, chứng minh rằng một cô gái trẻ trung, xinh đẹp có thể gắn bó với hát xẩm, qua đó, mọi người thay đổi cách nhìn về loại hình nghệ thuật này. Và Phương đã từng bước “hiện thực hóa” mong muốn của các thầy. Phương cho biết: “Mỗi dịp biểu diễn, các nghệ sĩ, nghệ nhân thường giao lưu với khán giả. Trung tâm luôn tận dụng dịp này để đưa xẩm đến với công chúng. Trong những buổi biểu diễn, các bạn trẻ thường hỏi về nguồn gốc hát xẩm, ông tổ dòng hát xẩm và những điệu hát xẩm… Khi được biết xẩm không phải là sản phẩm văn hóa “dưới mức bình dân” như nhiều người nghĩ, nhiều bạn tò mò đến tận trụ sở trung tâm để tìm hiểu. Có những bạn sinh viên dẫn cả lớp đến tìm hiểu, không ít người xin học. Có thể nói, xẩm đã chinh phục được các bạn trẻ”. Nhờ những nỗ lực không ngừng của các nghệ sĩ, nghệ nhân, xẩm ngày càng được biết đến nhiều hơn. Không chỉ biểu diễn tại khu phố cổ, nhiều nhà hàng, khách sạn lớn như: Khách sạn La Thành, nhà hàng Sen Tây Hồ… còn thường xuyên mời các nghệ sĩ, nghệ nhân hát xẩm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển âm nhạc Việt Nam đến biểu diễn phục vụ khách du lịch. Xẩm còn hiện diện tại nhiều sự kiện văn hóa, du lịch, thương mại… khác trên địa bàn.

Trên địa bàn thành phố ngày càng xuất hiện thêm các câu lạc bộ, các nhóm hát xẩm. Nhóm Xẩm Hà thành là một trong số đó. Nhóm được thành lập bởi các nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, Khương Cường, Quang Long, Đình Dũng, Văn Hải… Xẩm Hà thành có cách “lôi kéo” khán giả, nhất là khán giả trẻ đến với hát xẩm theo một cách đặc biệt: xây dựng một tiết mục xẩm đề cập đến vấn đề thời sự hiện nay. Đó là tiết mục Tiễu trừ cướp biển, được thể hiện theo điệu xẩm sai (một trong những điệu xẩm cổ). Với tiết tấu sục sôi, thậm chí có nhiều đoạn tiết tấu mạnh với nhịp trống giục liên hồi, Tiễu trừ cướp biển đã truyền tải tinh thần yêu nước của nhân dân, thể hiện sự quyết tâm đồng sức, đồng lòng của nhân dân trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bản xẩm Tiễu trừ cướp biển được coi là phiên bản của bài Tiễu trừ giặc dốt (của nghệ nhân Vũ Đức Sắc) từng được biết đến rộng rãi khi cổ vũ cho phong trào bình dân học vụ. Tiết mục này sử dụng ngôn ngữ đương đại, hóm hỉnh tạo cảm giác gần gũi với người nghe. Không những thế, đây còn được xem là tiết mục tạo đà cho những tiết mục, những bài hát xẩm mới phù hợp với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hôm nay. Rất nhiều người khi thưởng thức tiết mục này đã thay đổi hẳn quan niệm xẩm là cũ, là cổ.

Hà Nội là một trong những cái nôi của hát xẩm, hay chính xác hơn, là nơi mà nghệ thuật hát xẩm phát triển đến đỉnh cao. Không chỉ có những bài, những điệu dân dã, mà nơi đây còn có nhiều làn điệu với lời ca thanh tao như xẩm tàu điện, xẩm nhà tơ(xẩm nhà tơ là xẩm thính phòng, phục vụ tầng lớp giàu có, trí thức). Nhờ chiếm được cảm tình của công chúng, nhiều làn điệu xẩm đang từng bước được khôi phục, ngày càng có nhiều người quan tâm hơn. Nếu trước kia, những buổi biểu diễn tại chợ đêm phố cổ thường do các nghệ sĩ, nghệ nhân cao tuổi tham gia, thì nay, các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X dần thay thế, trở thành lực lượng nòng cốt. Những bậc tiền bối có thêm điều kiện để nghiên cứu sâu hơn, phục hồi những nét đẹp cổ từng mai một. Tuổi đời của những học viên tham gia lớp học xẩm do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển âm nhạc Việt Nam tổ chức cũng đang được trẻ hóa, có cả những bạn sinh sau năm 2000. Hát xẩm đã thật sự chinh phục được giới trẻ Thủ đô.

G.N.

*

*   *

BẢO TỒN NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hoàng Hải

(Bái đăng trên trang Thành phố Hồ Chí Minh số ra thứ ba ngày 14/1/2014)

—o0o—

TP Hồ Chí Minh hiện có khoảng 2.000 tài tử ca, tài tử đờn thường xuyên sinh hoạt, biểu diễn đờn ca tài tử (ÐCTT) tại các câu lạc bộ (CLB) ÐCTT ở thành phố. Tham gia bảo tồn loại hình nghệ thuật dân tộc đặc sắc của vùng đất phương nam này không chỉ là những người lớn tuổi, mà còn có không ít các bạn trẻ…

Sức sống của một loại hình nghệ thuật truyền thống

Tối chủ nhật hằng tuần, Trung tâm Văn hóa quận 12 lại ngân vang những câu ca hòa cùng nhịp song loan, tiếng đàn kìm, đàn ghi-ta phím lõm… của những thành viên CLB ÐCTT. Ðược thành lập từ năm 2010 với sáu thành viên, đến nay, CLB đã thu hút hơn 20 thành viên tham gia. Phó Chủ nhiệm CLB ÐCTT Trung tâm Văn hóa quận 12 Huỳnh Thị Kim Anh cho biết, để thu hút người dân đến với ÐCTT, mỗi tháng, CLB đều tổ chức biểu diễn phục vụ tại trung tâm và giao lưu với các CLB khác. Nhờ vậy, CLB đã thu hút đông đảo người dân thuộc nhiDon ca tai tuều tầng lớp, lứa tuổi ở các quận, huyện tham gia. Có nhiều thành viên trong một gia đình cùng tới đây sinh hoạt.

Tham gia CLB đã ba năm, ông Phan Văn Phước, 66 tuổi, ngụ quận Tân Bình bộc bạch: “Trước đây, chỉ có vợ tôi đi sinh hoạt ÐCTT. Thấy bà đi học tôi đi theo luôn. Giờ, cứ cuối tuần, vợ chồng tôi lại chở nhau tới Trung tâm Văn hóa quận 12 cùng vui ca hát. Biết hát rồi, những lúc ở địa phương tổ chức văn nghệ mình lại biểu diễn cho bà con nghe”.

Theo Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh, thành phố đã phát triển được 118 CLB ÐCTT với khoảng 2.000 tài tử ca, tài tử đờn, đông nhất trong số 21 tỉnh, thành phố phía nam có ÐCTT. Cùng với đó, thành phố cũng là nơi hội tụ nhiều nhà nghiên cứu, soạn giả ÐCTT xuất sắc. Ðó là những yếu tố góp phần tạo thêm sức sống mãnh liệt cho ÐCTT.

Theo Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa TP Hồ Chí Minh Lê Văn Lộc, để ÐCTT phát triển phải đưa “hơi thở” của cuộc sống đương đại vào nghệ thuật này và cần có sự biến tấu cho phù hợp với người biểu diễn, người nghe. Những năm qua, TP Hồ Chí Minh đã nỗ lực để bảo tồn nghệ thuật ÐCTT. Năm 2012, thành phố tổ chức cuộc thi sáng tác lời mới cho ÐCTT với kết quả hơn 700 tác phẩm mới ra đời. Mới đây, Liên hoan ÐCTT năm 2013 giải Hoa sen vàng đã thu hút 27 CLB với hơn 200 tài tử đờn, tài tử ca tham gia. Những cuộc thi này đã góp phần quan trọng làm cho ÐCTT ngày càng đứng vững trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân hôm nay.

Lớp măng non của nghệ thuật ÐCTT

Cuối tuần nào cũng vậy, cháu Hồng Anh, 7 tuổi ngụ xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh lại cùng bố tới sinh hoạt tại CLB ÐCTT Trung tâm Văn hóa quận 12. Gặp Hồng Anh lúc cháu đang học cách “nhả” chữ, ngắt nhịp trong điệu Lý con sáo, cháu hồn nhiên cho biết: “Con học ÐCTT từ năm 6 tuổi, ở nhà con hay hát theo ba con. Càng học càng thấy thích nên con tới CLB để các cô chú chỉ dạy thêm để hát hay hơn”.

Hồng Anh không phải là tài tử ca “nhí” duy nhất. Tại các CLB ÐCTT ở TP còn có rất nhiều thành viên trẻ tuổi tham gia sinh hoạt. Theo ông Lê Văn Lộc, hiện tại, không chỉ có lớp lớn tuổi hát ÐCTT, mà rất nhiều bạn trẻ cũng tham gia vào các CLB ÐCTT. Ðây là tín hiệu rất vui cho nghệ thuật ÐCTT.

Tại Liên hoan ÐCTT TP Hồ Chí Minh năm 2013 vừa rồi, em Thế Thanh, 11 tuổi, thuộc CLB ÐCTT Trung tâm Văn hóa huyện Bình Chánh đã tạo ấn tượng mạnh mẽ với giải “Tài năng trẻ”. Khi nghe Thế Thanh hát bản Giang nam (một trong 20 bản cổ của ÐCTT), chúng tôi không khỏi bất ngờ về chất giọng khỏe, cách lấy hơi, nhả nhịp rất nhuần nhuyễn của cậu bé. Thanh cho biết, em học hát ÐCTT từ khi mới 6 tuổi. Ở nhà, em được người cô dạy hát và ngày càng đam mê, không thể rời được ÐCTT. Ðể rèn được cách hát, cùng với học văn hóa, cuối mỗi tuần, em lại tới Trung tâm Văn hóa huyện Bình Chánh tham gia sinh hoạt CLB ÐCTT. “Ở CLB có bạn còn nhỏ tuổi hơn con. Ðiều này làm cho con rất vui. Cái khó của hát ÐCTT là cách ngắt hơi, lấy nhịp, con sẽ cố gắng để hát cho hay.” – Thế Thanh bộc bạch.

Giữa cuộc sống hối hả của một đô thị hiện đại, những lời ca, tiếng đờn của nghệ thuật ÐCTT vẫn ngân vang. Nghệ thuật ÐCTT không chỉ được bảo tồn trong nước mà đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Chắc chắn loại hình nghệ thuật truyền thống này sẽ ngày càng gắn bó hơn với cuộc sống của người dân, trong đó có cả thế hệ măng non của đất nước.

H.H.

*

*   *

LỄ HỘI QUÁN THẾ ÂM TẠI THỪA THIÊN – HUẾ

(Tin trên báo Nhân Dân ngày 16/7/2014)

—o0o—

Ngày 15-7, tại Trung tâm Du lịch tâm linh Phật giáo Quán Thế Âm (núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy), Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) tỉnh Thừa Thiên – Huế chính thức tổ chức Lễ hội Quán Thế Âm năm 2014 dưới sự chứng minh của trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Phương, Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Lễ hội Quán Thế Âm tại Thừa Thiên – Huế năm nay được tổ chức nhân kỷ niệm Ngày khánh đản của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, cầu nguyện cho “Tổ quốc vinh quang, đạo pháp trường tồn, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc”. Lễ hội diễn ra trong hai ngày với các hoạt động: lễ hưng tác thượng Phan, bạch Phật khai kinh, lễ thỉnh tiêu diện đại sĩ, khai mạc trại hạnh, lễ nhiên đăng cúng Phật, thuyết pháp, văn nghệ, phóng sanh đăng, đăng đàn chẩn tế và nguyện cầu “Quốc thái dân an, nhất tâm cầu nguyện hòa bình Biển Đông”.

PV

*

*   *

TÔN TẠO DI TÍCH THỜ TẢN VIÊN SƠN THÁNH

Ngày 20-4, UBND huyện Ba Vì khởi công tu bổ, tôn tạo đền Trung thuộc di tích Tản Viên Sơn Thánh. Đền Trung còn được gọi là Trung cung nằm trên sườn phía tây dãy Ba Vì thuộc địa phận xã Quang Minh, ở phía tây núi Ba Vì và nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì. Theo một số tài liệu, đền được xây dựng từ triều Lý. Đến triều Nguyễn, Vua Minh Mạng cho Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai trùng tu lại. Hiện đền có gian thờ tam vị Đức Thánh: Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương; gian thờ dưỡng mẫu của Sơn Tinh là bà Ma Thị Cao Sơn. Các hạng mục tu bổ, tôn tạo gồm nhà Tiền tế, Đại bái và Hậu cung. Tổng kinh phí xây dựng các hạng mục khoảng 2,5 tỷ đồng, được huy động từ nguồn vốn xã hội hóa. Công trình được xây dựng trên nền móng cổ của ngôi đền và theo đúng quy hoạch kiến trúc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Dự kiến, các công trình được hoàn thành trong năm 2014.

LIÊN HOAN TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

Theo đại diện lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Liên hoan tín ngưỡng thờ Mẫu – Hà Nội 2014 sẽ được tổ chức từ tháng 4 ở cấp cơ sở. Sau đó, các nhóm, các câu lạc bộ thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất sắc của các địa phương sẽ tham gia Liên hoan Tín ngưỡng thờ Mẫu cấp quận, huyện diễn ra từ tháng 9 đến tháng 10 tại các đền, phủ thờ Mẫu đáp ứng đủ điều kiện trình diễn. Liên hoan tín ngưỡng thờ Mẫu cấp thành phố được tổ chức tại các điểm văn hóa công cộng thuộc các quận nội thành trong tháng 11. Đây là lần thứ hai, Hà Nội tổ chức liên hoan (lần đầu có tên gọi liên hoan Nghi lễ chầu văn). Đây là dịp thành phố thực hiện khảo sát, xây dựng hồ sơ kiểm kê Tín ngưỡng thờ Mẫu và các tư liệu liên quan đến các đền, phủ, điện thờ Mẫu trên địa bàn.

(Tin đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 22/8/2014)

*

*   *

DẠY ĐÁNH CỒNG CHIÊNG CHO THANH NIÊN DÂN TỘC CƠ TU

Công Hậu

(Tin đăng trên báo Nhân Dân ngày 27/8/2014)

Nhằm bảo tDay danh cong chiengồn và phát triển giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là văn hóa cồng chiêng của cộng đồng dân tộc Cơ Tu đang bị thất truyền và mai một, huyện Nam Đông (Thừa Thiên – Huế) tổ chức khai giảng lớp truyền dạy nghệ thuật đánh cồng chiêng cho thanh niên dân tộc Cơ Tu tại các xã có đông đồng bào dân tộc trên địa bàn. Khóa học kéo dài từ ngày 20-8 đến 10-9, các học viên được nghệ nhân truyền đạt những giai điệu, tiết tấu đánh cồng chiêng kết hợp với trống và một số nhạc cụ trong các nghi lễ đâm trâu, cưới hỏi, đón khách, đám tang, cúng thần linh… Các giai điệu được truyền dạy dựa trên nền tảng từ các bài chiêng, trống của đồng bào dân tộc Cơ Tu, kết hợp nét văn hóa đặc sắc của địa phương như: za zã, ba booch, co lêng, cơ lau…, từ đó đã tạo nên sự độc đáo, tinh túy riêng cho văn hóa cồng chiêng của người Cơ Tu.

C.H.

Từ thành nhà Hồ, nghĩ về Tạp chí Nam Phong và Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ  sáu, tuần 2 tháng 9 năm 2014.

TỪ THÀNH NHÀ HỒ,

NGHĨ VỀ TẠP CHÍ NAM PHONG

VÀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Trang 5 báo Nhân Dân ra ngày 19/11/2012 có bài của Nguyên Anh Bức tranh khắc họa thành công chân dung một danh nhân lịch sử.

Phần mở đầu, viết: “Triều đại nhà Hồ tồn tại cách đây hơn sáu thế kỷ đã để lại dấu ấn khá đậm nét trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc, trong đó Hồ Quý Ly là một nhân vật đượHo Quy Lyc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Cuộc đời và con người ông cũng là đối tượng sáng tác của văn học, nghệ thuật sân khấu và hội họa với các góc cạnh khai thác, thể hiện nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.

Nhìn lại những tác phẩm nghiên cứu và sáng tác về Hồ Quý Ly đều có chung một khẳng định, ông là một người yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm quyết liệt để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Hồ Quý Ly cũng là người mang tư tưởng cách tân với những hành động thực tế khá táo bạo nhằm đổi mới, đưa đất nước phát triển trong bối cảnh xã hội nước ta lúc đó đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Bi kịch lịch sử của Hồ Quý Ly đến nay đã phần nào sáng tỏ qua nhiều nghiên cứu để từ đó hậu thế có thể nhìn rõ hơn và ghi nhận tầm vóc tư tưởng cải cách của ông cùng những đóng góp lịch sử văn hóa của thời đại ông đã tạo dựng nên, trong đó có Thành Nhà Hồ, một công trình kiến trúc độc đáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Nghiên cứu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ tiếp cận trong suốt bảy năm qua, họa sĩ Hoàng Hoa Mai đã dày công thực hiện nhiều bức tranh chân dung về nhân vật lịch sử này. (…) mong muốn thể hiện hình tượng Hoàng đế Hồ Quý Ly với những nét khắc họa ấn tượng về tính cách, dáng vóc, dung quang phù hợp với cuộc đời và sự nghiệp đầy bi kịch của ông trong giai đoạn lịch sử biến động cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15.”

Trong bài Thành nhà Hồ, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã viết

“Trong lịch sử các kinh đô của Việt Nam, mỗi kinh thành đều được định vị và xây dựng trong từng bối cảnh địa – văn hóa cụ thể và đều có vị trí, vai trò và đặc điểm riêng, tạo nên một bộ phận vô giá của di sản lịch sử và văn hóa dân tộc. Thành nhà Hồ là một kinh thành tuy thời gian tồn tại không dài nhưng có nhiều đặc điểm và giá trị văn hóa độc đáo không chỉ của Việt Nam mà của cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Thành bắt đầu xây dựng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 đời vua Thuận Tông của vương triều Trần. Người quyết định chủ trương xây dựng là Hồ Quý Ly, lúc bấy giờ giữ chức Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn). Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên Tây Đô, nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới, thành Thăng Long đổi tên là Đông Đô vẫn giữ vai trò quan trọng của đất nước. Vì vậy thành Tây Đô được dân gian quen gọi là Thành nhà Hồ.

Hổ Quý Ly từ khi nắm quyền lực của triều Trần cho đến khi sáng lập vương triều mới đã ban hành và thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng của chế độ quân chủ cuối triều Trần, củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Minh. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, táo bạo. Thành nhà Hồ được xây dựng và tồn tại trong những biến động cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gắn liền với sự nghiệp của nhà cải cách lớn Hồ Quý Ly và vương triều Hồ.

Thanh nha hoTheo chính sử, thành được xây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng. Đối chiếu với qui mô to lớn của tòa thành thì đây là một đặc điểm quan trọng, có thể là một kỷ lục trong lịch sử kinh thành của Việt Nam. (…) Theo các nhà khảo cổ khối lượng đá xây dựng ước tính trên 25.000m3, khối lượng đất đắp trên 100.000m3. Đó là chưa nói đến hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Theo sử liệu, trên thành còn xây tường bằng gạch mà khảo cổ học đã phát hiện khá nhiều, trên nhiều viên gạch còn khắc tên đơn vị các làng xã được điều động về xây thành. Ngoài ra còn nhiều kiến trúc khác, trong đó đàn Nam Giao xây trên sườn phía Tây Nam núi Đốn Sơn bằng đá qui mô khá lớn.

Thành nhà Hồ là một kiến trúc kinh thành qui mô lớn, đặc biệt Hoàng thành, đàn Nam Giao xây bằng đá rất bền vững và kiên cố. Giá trị độc đáo bậc nhất của Thành nhà Hồ là tòa kinh thành xây bằng đá. (…) Tất cả nói lên một kỳ tích của con người, tài năng tổ chức, điều hành của công trình sư và lao động sáng tạo của các lớp dân phu, thợ thủ công các nghề làm đá, nung gạch ngói, xây dựng và trang trí… Trên lãnh thổ Việt Nam và phương Đông có nhiều kiến trúc bằng đá, nhất là các pháo đài, đền miếu, tượng đài, lăng mộ… nhưng Thành nhà Hồ là kinh đô duy nhất xây dựng chủ yếu bằng đá lớn rất hiếm trên thế giới. (…) gần như tổng thể kiến trúc bằng đá vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”” (Trích trang 3 đến 6 Tạp chí Xưa và Nay số 407 tháng 7 năm 2012).”

Bia Nam Phong

Trong những ngày Thành Nhà Hồ đang được vinh danh quốc tế là Di sản văn hóa thế giới và Nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, chúng tôi và không ít người có lòng với văn hóa, văn học, lịch sử nước nhà không khỏi trạnh lòng nghĩ tới Thượng Chi – Phạm Quỳnh và bộ tạp chí Nam Phong đồ sộ, như một bức trường thành chống ngoại xâm về văn hóa và bảo vệ quốc hồn quốc túy của dân tộc.

Hồ Quý Ly xưa nay vẫn bị kết tội là “cướp ngôi nhà Trần”, thậm chí còn là “kẻ phản quốc, đầu hàng giặc một cách nhục nhã”… Mà không phải chỉ có sử phong kiến mới kết tội Hồ Quý Ly, nhà Hồ, và do đó, luôn cả thành nhà Hồ cũng chẳng ai thèm đoái hoài đến.

Mãi đến gần đây, Hồ Quý Ly, nhà Hồ mới được nhìn nhận công bằng hơn.

Đến tháng 11/2000, Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sau mấy chục năm gác bút, đã cho ra đời tác phẩm đồ sộ Hồ Quý Ly (Nhà xuất bản Phụ Nữ) Tiểu thuyết lịch sử dày đến 834 trang, vậy mà đông đảo người đọc cứ say mê tìm đọc, đọc ngốn đọc ngấu cho đã cơn khát chân lý!

Và đến nay, thì cả nước và cả thế giới đã biết đến và ca ngợi thành Nhà Hồ, một kiến trúc thành đá duy nhất còn tồn tại đến nay, sau hơn 600 năm xây dựng. Đó là vì dù sử viết thế nào thì những cải cách của Hồ Quý Ly vẫn còn in dấu trong sự thật lịch sử. Và dù được công nhận hay không công nhận, nhưng tòa thành đá vẫn sừng sững, “trơ gan cùng tuế nguyệt”, thách thức gió mưa, động đất, chiến tranh và thách thức cả những kẻ không ưa nhà Hồ, căm ghét Hồ Quý Ly, vì không ai dám phá một tòa thành do nhân dân đã xây trong lòng dân và được dân bảo vệ.

Bon anh Pham QuynhCũng như thế, mạng sống con người Phạm Quỳnh đã bị thủ tiêu ngót 70 năm nay, nhưng, những gì ông viết vẫn còn mãi trong lòng nhiều thế hệ người dân Việt có lương tri và thật lòng yêu nước. Tạp chí Nam Phong do ông đồng sáng lập và làm chủ bút phần quốc ngữ từ năm 24 tuổi, rồi chủ nhiệm kiêm chủ bút cho đến năm 1932, sau đó còn viết bài cho tạp chí đến năm 1934, tổng cộng 211 số (kể cả số Tết Mậu Ngọ 1918, là số báo Tết đầu tiên của nước ta). Một số bài viết đến năm 1922 được ông chọn, tập hợp thành bộ Thượng Chi văn tập ngót 1.200 trang, một số bài khác thì in thành sách trong Nam Phong tùng thư do ông làm chủ nhiệm, như Văn học nước Pháp (Đông Kinh ấn quán xuất bản, 1927), Khảo về tiểu thuyết (1929),Lịch sử và học thuyết của Voltaire (1930), L’Idéale du sage dans la philosophie Confuçéenne
(Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng) in song ngữ, 1928…. và bằng Pháp văn như Essais Franco-annamites (1929-1932) 489 trang, xuất bản tại Editions Buy Huy Tin Hué 1937 và Nouveaux essais Franco-annamites, 524 trang, 1938, v.v… Đúng là cả một bức trường thành to lớn, vững chãi. DVD Nam Phong

Tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 và chấm dứt hoạt động năm 1934 (hai năm cuối, do Nguyễn Tiến Lãng phụ trách) đến nay đã lui vào dĩ vãng, nhiều người muốn tìm đọc mà không có, đành xem các bản trích, bản vi phim, nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy. Chỉ những thư viện lớn trên thế giới mới có.

Thành nhà Hồ thì xây dựng bằng đá tảng, còn tạp chí Nam Phong thì làm bằng giấy, dễ bị thời tiết nóng ẩm, rồi mối, mọt hủy hoại. Thật bất hạnh cho văn hóa, lịch sử nước nhà…

Nhưng, may thay, tháng 6 năm 2009 người con trai út của Phạm Quỳnh và vợ đã hợp tác với Viện Việt học California (Hoa Kỳ) để giới thiệu công trình chuyển 211 số báo gồm 35.000 trang chữ từ 1917 đến 1934 vào bộ sáu đĩa DVD- Rom. Trong đĩa 1, có bản dịch ra tiếng Việt luận văn tiến sĩ Sorbonne của Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh là Tìm hiểu tạp chí Nam Phong và còn có cả Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Bộ đĩa do hơn 50 người tình nguyện, phần lớn là người trẻ, đã vất vả hoàn thành trong sáu năm ròng. Gia đình Phạm Quỳnh ở Mỹ và Pháp đã biếu tặng Viện Việt học toàn bộ số tạp chí có chữ ghi chú của Phạm Quỳnh bằng bút chì mà gia đình còn giữ được, vẻn vẹn chỉ 186 số. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhờ Viện Văn học Việt Nam giúp bổ sung số còn thiếu. Về kinh phí làm DVD-Rom này, riêng gia đình con trai út Phạm Quỳnh là Phạm Tuân và vợ là Hoàng Hỷ Nguyên đã góp 12.000 đô la, cô Nguyễn Thị Kim Ngân góp 8.500 đô la và một số người quý mến Phạm Quỳnh khác góp số chi phí còn lại.

Như vậy là hiện nay tại các thư viện lớn ở nước ta đều đã có bộ đĩa này do nhạc sĩ Phạm Tuyên gửi tặng. Và bức trường thành tạp chí Nam Phong lại sừng sững đứng ngay trước mắt những ai cần tìm hiểu về một thời và về một con người suốt đời Trung với nước, Hiếu với dân là Thượng Chi Phạm Quỳnh, một con người Việt Nam chân chính.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/11/2012.

P.T.

Tháng Tám 22, 2014

1913: Nam Phong; 1932: Phong Hoa, Ngày Nay; 1945: Cờ Giải Phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:32 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 9 năm 2014.

1913: NAM PHONG ; 1932: PHONG HÓA, NGÀY NAY; 1945: CỜ GIẢI PHÓNG

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 5/8/2014 đưa tin:

Xét đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý bổ sung Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Bảo tàng Báo chí Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam quản lý, sẽ lưu giữ, phát huy giá trị của di sản báo chí Việt Nam; là nơi ghi nhận, tôn vinh sự đóng góp của báo chí và các nhà báo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tàng Báo chí Việt Nam cũng là nơi để người dân, các nhà khoa học, các nhà báo trong nước và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam, đồng thời là một địa chỉ văn hóa, điểm tham quan, du lịch. Dự kiến, Bảo tàng Báo chí Việt Nam sẽ khánh thành vào năm 2015 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 – 21-6-2015).”

Nhân dịp này, chúng tôi mời quí bạn đọc tư liệu sau mà ít người biết vì ít được nhắc tới: Đó là tư liệu được nhà báo nổi tiếng Thép Mới công bố trong hai ấn phẩm.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đó chính là “khẩu hiệu phấn đấu” do Trường-Chinh nêu ra trong cuộc họp với gần 100 trí thức trẻ Hà Nội ngày 27/8/1945, chuẩn bị cho báo Cờ Giải Phóng ra công khai.

Cuộc họp này được Thép Mới tường thuật tỉ mỉ trong bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo (Nội San Nthep-moi2hân Dân số 2, quý 2, 1985, các trang 13, 14 và 31). Sau đó còn được nhắc lại trong bài Sống động sự nghiệp báo chí Thép Mới viết xong ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 3/1991, sửa xong ở Hà Nội tháng 7/1991, một tháng trước khi qua đời. Bài này in trong tập Sống động sự nghiệp báo chí 336 trang của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội-2004 từ trang 93 đến trang 178. Đầu đề phần trích là của chúng tôi.

Thép Mới (15/2/1925-28/8/1991) nhà báo,nhà văn, tên thật là Hà Văn Lộc, sinh tại thành phố Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Tây Hồ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Trước 1945 là sinh viên Đại học Luật khoa Hà Nội, năm 1945 giác ngộ Cách mạng, từng tham gia viết tờ Tự Trị của phong trào sinh viên yêu nước thời Nhật chiếm đóng. Sau Cách mạng tháng 8, công tác tại tòa soạn các báo Đảng Đảng Cộng Sản Đông Dương như Cờ Giải Phóng (1945-1946), Sự Thật (1946-1951) và Nhân Dân từ 1951. Thép Mới chuyên viết ký, năm 1951 xuất bản cuốn Trách Nhiệm, 1955: Hữu Nghị, 1957: Như anh em một nhà và 1962: Hiên Ngang Cu-Ba. Tác phẩm thành công hơn cả là Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam xuất bản năm 1964 nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1965, Thép mới vào công tác chiến trường miền Nam. Năm 1967, xuất bản Trường Sơn hùng tráng. Năm 1984: Thời dựng Đảng, 1985: Từ Điện Biên Phủ đến 30/4, 1990: Năng động thành phố Hồ Chí Minh, 2001: Cây tre Việt Nam, 2004: Sống động sự nghiệp báo chí. Ngoài ra ông còn dịch và xuất bản năm 1946 Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăng-Ghen (cùng dịch với Sơn Tùng, Lê Văn Lương hiệu đính), 1954: Thời gian ủng hộ chúng ta tùy bút của I.Êrenbua, 1955: Thép đã tôi thế đấy tiểu thuyết của N.Ôxtrốpki.

Ông còn có các bút danh khác như Phượng Kim, Hồng Châu. Sau đây chúng tôi trân trọng giới thiệu với các bạn hai phần trích các bài viết của Thép Mới:

  1. Phần trích từ bài Học anh Trường-Chinh làm báo và viết báo

Điều vĩ đại là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công vào khoảng 23 tháng 8 (thật ra là ngày 27 tháng 8-PT chú), anh (tức Trường-Chinh-PT chú) xuất hiện ở Hà Nội. Bên cạnh bao nhiêu công việc to lớn, phức tạp, bề bộn của Cách mạng buổi đầu, anh lúc bấy giờ lấy tên là Nghiêm rồi là Nhân, trực tiếp đứng ra triển khai toàn bộ công tác tuyên truyền và báo chí của Đảng. Tôi không thể nào quên được cuộc họp lớn, do anh Trần Quốc Hương là người giúp việc trực tiếp anh Trường-Chinh triệu tập, gom lại khoảng 100 anh em thanh niên trí thức Hà Nội, đã đứng trong tổ chức hay có cảm tình với Đảng, tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, tức là tòa nhà bên cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay. Cuộc họp đó do anh Trường-Chinh trực tiếp chủ trì, và anh Phạm Văn Đồng cũng đến dự, được anh Trường-Chinh giới thiệu là một nhà văn hóa. Cuộc họp không ai gọi là lịch sử nhưng đáng gọi là lịch sử, phân công anh em có mặt vào các tổ chức thông tin, tuyên truyền, báo chí, đài phát thanh, văn hóa nghệ thuật của cách mạng mới thành công. Cả một bộ máy thông tin đại chúng và làm công tác văn hóa tư tưởng từ không đến 100 người ngày đó, ngày nay đông đến ít ra mấy vạn người, tích lũy dày kinh nghiệm và được học hành, được đào tạo phần lớn. Cả một sự nghiệp lớn của chúng ta bắt đầu một sức phát triển mới từ đây.

Noi san Nhan Dan hoc anh truong chinh lam bao Phần lớn thời gian quý báu dành ra được giữa bao nhiêu công việc to lớn khác, anh Trường-Chinh đã tập trung chăm lo xây dựng tờ Cờ Giải Phóng công khai. Chúng ta ngày nay làm báo trên thế vững chắc của Cách mạng, cơ sở mọi mặt tuy chưa thật khỏe như mong muốn, nhưng đã được hưởng nhiều điều kiện của Đảng lâu năm cầm quyền, ít ai hình dung được thế nào là “tung ra” (lancer) một tờ báo. Uy tín của tờ Cờ Giải Phóng đã xác định, nhưng giữa trận địa báo chí công khai còn nguyên vẹn đủ màu sắc lúc bấy giờ, phải có lòng tự tin giai cấp lớn lắm mới quyết bung ra mạnh mẽ đến như thế. Theo chỉ thị của anh Trường-Chinh, chúng tôi – một dúm nhỏ người đến với báo Đảng – in những tờ áp phích rất lớn, rất đẹp, do Trần Đình Thọ là họa sĩ của báo vẽ, dán cùng khắp Hà Nội, nổi rõ hơn hết thảy áp phích khác: “Hãy đọc Cờ Giải Phóng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi khí sắc bén đấu tranh giải phóng dân tộc”. Giải phóng dân tộc lúc đó đang là nguyện vọng cháy bỏng của toàn dân.

Tiền của Đảng lúc bấy giờ còn rất eo hẹp mà anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) bỏ ra hai nghìn đồng để chữa dãy nhà lớn trường Phan Chu Trinh, đường Nguyễn Thái Học ngày nay, vốn là doanh trại của lính Nhật vừa rút, để làm tòa soạn của báo. (Tòa soạn báo Đảng theo truyền thống từ hồi hoạt động nửa hợp pháp là trụ sở liên lạc công khai của Đảng) Ta chữa gần xong thì Tàu Tưởng vào chiếm mất. Những thanh niên đến làm việc ở báo Đảng lúc bấy giờ được giáo dục bởi chính ngay hoàn cảnh công tác còn mang nhiều chất chiến đấu sống còn; phát huy ảnh hưởng của Đảng là trực tiếp bảo vệ và củng cố Cách mạng Tháng Tám đang giờ căng gió.

(…)

Một người viết báo, làm báo như anh không thể không có ước vọng to lớn. Ước vọng đó, anh đã đề ra thành khẩu hiệu phấn đấu in sâu vào óc chúng tôi lúc đó: “1917-NAM PHONG, 1932-PHONG HÓA-NGÀY NAY, 1945-CỜ GIẢI PHÓNG”, (Chúng tôi nhấn mạnh-PT) giai cấp công nhân VSong dong su nghiep bao chiiệt Nam nhất định đưa nền báo chí Việt Nam lên một đỉnh cao mới, một nền báo chí hơn hẳn về mọi mặt báo chí của mọi giai cấp khác, để lại dấu ấn vào thế hệ, góp phần xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng văn hóa Việt Nam mới. Đó vẫn còn là trách nhiệm phải tính của chúng ta.

Nghĩ về anh như một tấm gương lớn sáng mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam, một tên lớn trong văn học chính luận của mọi thời đại, tôi càng thấy ra điều quan trọng nhất: chỉ có một nhân cách lớn mới đẻ ra một ngòi bút lớn.

Ngọn bút lớn đó là một cây cờ đỏ mãi của báo chí của Đảng và báo chí Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa đã từng mấy lần chiến thắng vẻ vang.

  1. Phần trích từ bài Sống động sự nghiệp báo chí

Anh Trường-Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà văn viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27/8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”

(…)

Khi nhìn lại mấy chục năm phát triển báo chí của ta, tôi tự đặt cho mình câu hỏi là một trong những người được tiếp nhận hoài bão lớn trong một giờ lớn đó của người lãnh đạo Đảng ta lúc đó, xem mình đã đạt được đến đâu và chưa đạt được đến đâu. Câu tự trả lời đầu tiên của tôi là nếu Cách mạng Tháng Tám tự nó cứ phát triển suôn sẻ, không phải đối phó với quân thù hàng loạt, không phải kinh qua chiến đấu cầm súng lâu dài, thì hoàn toàn có thể đạt được

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển trong hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ

Trang sau »

The Rubric Theme. Blog at WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 28 other followers