Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 15, 2014

Phạm Quỳnh ngọn gió nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

PHẠM QUỲNH NGỌN GIÓ NAM

Đỗ Lai Thúy

(Bài trong sách Vẫy vào vô tận của Đỗ Lai Thúy – NXB Phụ Nữ, quý II/2014, từ trang 85 đến trang 110)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu phê bình văn học hiện đại PGS.TS Đỗ Lai Thúy sinh năm 1948 tại Quốc Oai, Hà Tây, Hà Nội. Mặc dù tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội, nhưng bao giờ ông cũng tự nhận mình là “người tự đào tạo”, “không được học hành một cách chính quy”. Ông chuyên viết ngDo Lai Thuyhiên cứu lý luận phê bình văn học, và tất nhiên còn dịch nữa.

Các tác phẩm chính là Con mắt thơ (xuất bản 1992, tái bản 1994, 1998, 2000); Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực (Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ tín ngưỡng phồn thực, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999); Từ cái nhìn văn hóa (NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 1999); Chân trời có người bay (Chân dung các nhà nghiên cứu, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2006). Ngoài ra còn: Luận về xã hội học nguyên thủy (Tổ chức dịch và viết giới thiệu-NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001); Nghệ thuật như là thủ pháp-Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga (biên soạn và dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002); Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật; Phân tâm học và văn hóa tâm linh (biên soạn và tổ chức dịch NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000 và 2002); Văn hóa học. Những lý thuyết nhân học văn hóa (dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002); Thơ Lermontov (1978); Kịch Ôxtrốpxki (1989), Chân trời có người bay (2006), Vẫy vào vô tận (2014)…

Hiện nay Đỗ Lai Thúy là phó tổng biên tập tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch).

—o0o—

Lấy vợ hiền hòa

Làm nhà hướng Nam

Tục Ngữ

Nếu Trương Vĩnh Ký là người mở đầu cho cuộc đối thoại Đông Tây, thì Phạm Quỳnh mới chính là người đặt nền móng cho cuộc đối thoại ấy. Đây không phải là chuyện tài năng cá nhân, mà do sự đặt để của thời đại. Từ Trương đến Phạm là từ thời kỳ sục sôi chống Pháp của nhân dân và sĩ phu Nam Bộ đến thời kỳ mọi cuộc khởi nghĩa đã bị dẹp yên trên cả nước. Như vậy, con đường cứu nước bằng đấu tranh vũ trang cho đến bấy giờ đã tỏ ra bất cập. Trong khung cảnh ấy, con đường cách tân đất nước – con đường văn hóa – khởi từ Trương Vĩnh Ký, sau được nhiều nhà Nho duy tân tiếp bước, đã được Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong đón nhận và cụ thể hóa thành một lối đi phi truyền thống nên đã gây không ít tranh cãi, ngộ nhận.

Phải nói rằng, trước khi có đụng độ văn hóa theo trục Tây – Đông (Pháp – Nam), thì khái niệm văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam còn khá mơ hồ. Suốt thời trung đại, trước sự Nam tiến của đế quốc phương Bắc, thì vấn đề đau đầu nhất của dân Nam là chủ quyền lãnh thổ. Nam quốc sơn hà Nam đế cư! Lúc này, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là sống còn, đáng để ưu tiên số một. Bởi thế, nếu có nói đến Phong tục Bắc Nam cũng khác thì cũng chỉ để nhấn mạnh vế trước, Núi sông bờ cõi đã chia. Sau đó, Việt Nam lại rơi vào một thách đố khác, cực kỳ nghịch lý: Để chống lại sự bành trướng của Trung Hoa thì, một mặt, phải xây dựng được một nhà nước quân chủ tập quyền vững mạnh như Trung Hoa, mặt khác phải có một văn hóa Nho giáo không kém Trung Hoa để giải tỏa mặc cảm “Nam man” do chính Nho giáo reo rắc. Dần dần, trong tâm thức Việt, những đụng độ Bắc – Nam (Trung Hoa – Việt Nam) chỉ còn là những xung đột thuần túy quân sự, chứ không phải văn hóa, bởi Việt Nam và Trung Hoa đã là những nước đồng văn tự bao giờ!

Khi đất nước mất về tay thực dân Pháp, việc giành lại chủ quyền lãnh thổ tạm thời bị thất bại, thì vấn đề ưu tiên hàng đầu là làm sao giữ vững được tinh thần đấu tranh giành độc lập. Dưới ảnh hưởng của thuyết Darwin xã hội qua con đường Tân thư, giới sĩ phu nói nhiều đến vấn đề nòi giống, chủng tộc, con Lạc cháu Hồng, nòi giống Tiên Rồng…, đặc biệt là hồn nước. Các nhà nho thập niên đầu thế kỷ XX đều có những bài thơ thức tỉnh hồn nước, tiêu biểu là Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc. Tuy nhiên chữ hồn của các nhà nho này chỉ cái gì đó vô hình, thiêng liêng, có khả năng tồn tại lâu dài đối lập với thể xác. Bởi vậy, khái niệm hồn nước vẫn chưa giải thích rõ như là bản sắc căn cước văn hóa dân tộc, nhất là để xây dựng một tinh thần quốc gia.

Phạm Quỳnh, với tư cách là một người làm học thuật, trên Nam Phong (số 164, 7-1931), đã viết bài Bàn về cái tinh thần lập quốc đề cập đến vấn đề này. Ông dẫn ý của văn hào Pháp Ernest Renan trả lời câu hỏi “Thế nào là một nước” mà cho rằng: “Cái nguyên tố dựng nên một nước không chỉ ở thổ địa, cư dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau sum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích đồng hưu, nhìn về trước ngó về sau thì cùng nhau chung một vòng hy vọng vẻ vang rực rỡ, nói tóm lại là ở cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người ta cùng nhau như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với mọi sự ngoại hoạn. Cái vô hình, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn”.

Như vậy, theo tác giả, nước là một thể cố kết cộng đồng, gồm hai phần xác và hồn. Xác mà vô hồn thì không phải là một thể sống hoàn chỉnh, còn hồn mà chưa nhập xác thì cũng vậy. Nhưng hồn còn thì còn có cơ chiêu về “Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn thì đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn thì vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có”. Vấn đề là làm sao đừng để cho cái hồn ấy tiêu tán mất, làm sao để cho “quốc hồn tỉnh tao, mạnh mẽ”.

Bởi, quốc hồn chính là văn hóa: văn hóa cổ truyền là phần hương hỏa cha ông mà chúng ta phải gìn giữ; còn văn hóa hiện đại là cái chúng ta phải xây dựng, bồi đắp. Và để làm được điều đó trước tiên chúng ta phải nhận diện văn hóa, tức phân biệt nó với chính trị. Theo Phạm Quỳnh, cái bệnh suy nhược của con người lúc bấy giờ một phần bởi ngoại cảm, còn phần lớn bởi nội thương. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tùy tình thế, tùy cơ hội mỗi lúc một mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy chỉ có một phương là bồi bổ lấy cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn kia cho mỗi ngày một mạnh mẽ, mỗi ngày một tỉnh táo lên.

Nhưng, cụ thể văn hóa Việt Nam là gì? Theo nghĩa căn cốt nhất, đó là quốc học. Nhưng trước khi đặt ra vấn đề quốc học Việt Nam như thế nào thì phải xem (cho đến thời điểm bấy giờ) chúng ta đã có quốc học chưa? Nếu chưa hoặc đã có thì làm thế nào để xây dựng hoặc tài bồi? Vấn đề này đã làm nổ một cuộc tranh luận. Có người cho là có, như Sở Cuồng Lê Dư chẳng hạn. Thậm chí ông này còn lập ra tủ sách “Quốc học tùng thư”. Nhưng cũng có người cho là không, như Phan Khôi. Thực ra, chuyện có hay không cũng khó phân định, vì mỗi người hiểu quốc học một cách khác nhau. Bởi thế, khi vào cuộc Phạm Quỳnh đã phải đưa ra định nghĩa về quốc học. Theo ông, nó “gồm những phong trào học thuật trong một nước, có đặc sắc với nước khác, và có kết tinh thành những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy”. Sau đó, tuy không trả lời trực tiếp, nhưng ông lại dưa ra một nhận xét khá xác đáng và không kém phần hóm hỉnh: “Sở dĩ phải khơi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng nhỏ nhen, eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ”

Đi tìm nguyên nhân của tình trạng trên, Phạm Quỳnh cho rằng ấy là do “cái học của ta”, cụ thể hơn cách học. Một nước nhỏ lại đứng cạnh một nền văn minh lớn thì dù muốn dù không việc học hỏi người ta là tất yếu. Nhưng hơn hai mươi thế kỷ học Tàu mà nền quốc học của ta chưa có “môn hộ” (tức trường phái học thuật) riêng, học vấn thì chưa thoát “vòng giáo khoa” (tức chỉ quẩn quanh với tri thức học đường, kiến thức phổ thông) để lên “cõi học thuật”, còn con người thì chưa thoát nổi “tư cách học trò”, “tâm lý học trò”. Kìa như Nhật Bản, ông so sánh, người ta cũng học Tàu nhưng lại có tư tưởng học thuật riêng, bởi thế có quốc học. Có nhiều nguyên nhân, ông giải thích, nhưng có lẽ chủ yếu là do người Nhật không học theo chế độ khoa cử Tàu, còn ta “học Tàu lại chỉ thuần một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả, mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc bị tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa”.

Dĩ nhiên, nỗi đau này không phải lỗi của riêng ai, Phạm Quỳnh đã phân tích các tình thế địa lý, lịch sửchính trị giữa ta (khác với Nhật) và Tàu đã dẫn đến cách học ấy. Điều này, một mặt mở ra một khả năng có thể thay đổi cách học một khi tình thế đổi thay, mặt khác cho thấy một di căn của nó đến cả thời đại Tây học. Nội dung học thì mới, nhưng cách học vẫn cũ như xưa. Bởi vậy, nói như Phan Chu Trinh xưa hủ Nho thì nay hủ Tây. Mà với tư cách học trò, nhất là trò hủ, thì vẫn thường xảy ra “cái tệ con chiên theo đạo người thường hay ngoan đạo hơn chính người nước phát hành ra đạo ấy”. (Về luận điểm “bảo hoàng hơn vua” này có thể xem thêm ý kiến của Y.Tsuboi (trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, Tri Thức, H., 2011) khi tác giả so sánh Nho giáo nhà Nguyễn với Nho giáo nhà Thanh, v.v và v.v). Hơn nữa, mọi học thật (thuật) một khi đã mang tính cách tôn giáo (dù dưới hình thức nào) thì cũng dễ thành học giả.

Thức nhận được thảm họa của cách học cũ (dù có thể mang lốt mới), Phạm Quỳnh đã đặt một cơ sở khoa học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học chân chính, một nền văn hóa mới. Đó là sự tổng hợp văn hóa Đông Tây. Thực ra, định đề này không mới, nhưng cách đặt và phân tích vấn đề thì khá thuyết phục, nhất là với tư duy bấy giờ. Thoạt tiên, Phạm Quỳnh phân biệt văn hóa Đông Tây ở hai đặc trưng lớn của nó là đạo học khoa học. “Khoa học ở đây là nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học của người Thái Tây, khởi xướng ra khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi. Khoa học là sự học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy sự thật hiển nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích”. Lối khoa học này thật mới mẻ và cũng thật khác xa với đạo học. Một đằng thì học cho đời (ứng dụng), chủ quan; một đằng thì chuộng mới, một đằng thì nệ cũ; một đằng thì càng học càng giàu có, một đằng càng học thì càng quy giản, rút lại chỉ còn mấy điều cốt yếu đủ để tự mình giác ngộ mình…

Thực ra, lối học khoa học và lối học đạo học không phải của riêng ai. Tây phương trước Phục hưng chưa có khoa học và cũng chỉ có đạo học. Nhưng rồi họ đã thực hiện một cuộc cách mạng tinh thần làm cho khoa học phát triển, dân giàu nước mạnh. Nói điều đó, hẳn Phạm Quỳnh muốn chứng tỏ rằng, các nước ngoài và sau phương Tây đã có một tiền lệ nếu muốn làm cách mạng ở nước mình. Và khoa học, xét cho cùng, cũng không có gì là mâu thuẫn với đạo học, trái lại còn bổ sung cho nó. “Cái học thụ dụng với cái học ứng dụng có thể kiêm cả cũng được. Dạy cái học thụ dụng là thuộc về cá nhân, thuộc về chủ quan, là phần riêng của mỗi người không cần và cũng không truyền dạy được; cái học ứng dụng thuộc về phổ thông, thuộc về khách quan, là chung của xã hội, có thể dùng làm lợi khí để trao đổi trí thức, để xúc tiến tư tưởng, để bồi đắp lấy một nền quốc học cho sau này được”. Như vậy, phân biệt thực chất, đặt cái nào vào đúng chỗ của cái ấy là cơ sở khoa học cho sự tổng hợp văn hóa Đông Tây, cho việc xây dựng nền quốc học mới.

Nhưng để xây dựng một nền quốc học, để thoát khỏi cảnh suốt đời làm học trò người, dù là trò giỏi, thì phải xây dựng cho được một nền quốc văn. “Nước ta sở dĩ không có một nền quốc học chân chính, phần nhiều là bởi không có một nền quốc văn xứng đáng”. Nhưng quốc văn là gì? Theo Phạm Quỳnh, đó là ngôn ngữ dân tộc (langue nationale), mà sự phát triển của nó được biểu hiện ở văn chương và học thuật. Văn chương thì chúng ta có, nhưng học thuật thì chưa. Để làm rõ kết luận này, trong bài Quốc học với quốc văn (1919), Phạm Quỳnh chia văn chương thành văn chơi văn có ích. Trước đây, cha ông ta mới chỉ có văn chơi bằng tiếng Việt, còn văn có ích thì đều bằng chữ Hán cả. Bởi thế mà tiếng ta chỉ mới phát triển phần “hình nhi hạ”, tức những từ cụ thể, giàu hình ảnh để biểu đạt tình cảm, mà không phát triển phần “hình như thượng” để có thể có tư duy trừu tượng, logíc. Ở ta, do đó, thơ ca dồi dào đến mức lạm phát, còn văn xuôi, nhất là văn luận lý, thì không có. Tiếng Việt như con chim mới chỉ bay bằng một cánh.

Đó là lỗi của việc học và dùng Hán văn (sau này là Pháp văn) làm ngôn ngữ chính thức. Học một tử ngữ là học một tử văn (culture morte). Mà, « xưa nay ở Đông phương cũng vậy, ở Tây phương cũng vậy, nước nào còn tôn sùng một cái văn hóa cổ thì không thể nào có quốc văn, có quốc học được ». Hơn nữa, quốc học là bản thể có sự thống nhất, sự đồng bộ giữa thể và chất, cứu cánh và phương tiện thì văn hóa dân tộc mới phát triển. Dùng Hán văn hoặc Pháp văn để dựng xây quốc học thì hinh chất sẽ làm hại bản thể. Bởi, ngôn ngữ không chỉ là vỏ của tư duy, mà xét cho cùng chính là tư duy. Vì thế, suy nghĩ bằng ngôn ngữ ngoại quốc thì hoặc là anh chỉ lặp lại những tư tưởng có sẵn trong ngôn ngữ đó, hoặc là anh sẽ tư duy y như người ngoại quốc. Trường hợp đầu anh sẽ trở thành một ông đồ chính hiệu (chữ đồ theo nguyên nghĩa là tô lại, lặp lại). Có thể anh cũng trở thành một người học rộng biết nhiều (bác học quảng văn), nhưng đó chỉ là cái học ký ức, chứ không phải là học trí thức ; nó không làm đầu óc ta phát triển, lòng ta say mê kiến thức, ngoại việc nhớ dai, nhất là nhớ máy móc. Trường hợp sau là của những tài năng. Học ngoại ngữ mà tư duy như người bản ngữ là tài năng. Nhất là người sáng tác được bằng ngoại ngữ. Nhưng với họ cũng sẽ xảy ra một tình trạng : một là dù giỏi đến đâu cũng không bằng người bản ngữ giỏi (thư chữ Hán Cao Bá Quát không thể hay hơn thơ Đỗ Phủ, tiểu thuyết tiếng Pháp của Phạm Văn Ký không thể hay hơn tiểu thuyết Camus), hai là một khi đã giỏi bằng họ thì sẽ không còn là mình nữa, dẫu rằng các dấu hiệu nhân chủng vẫn vậy (trường hợp các nhà văn gốc Việt thế hệ F2, F3 ở nước ngoài). Đây là những trường hợp chảy máu tài năng đáng tiếc nhất. Bởi lẽ, họ dần dần trở nên xa lạ với đồng bào, với nền văn hóa gốc của họ. Vì thế, phải phát triển ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là xây dựng một nền văn xuôi, để chắp thêm một cánh tay nữa cho nền quốc học.

Với một sự phân tích rạch ròi, sâu sắc, với một cái nhìn nhiều dự phóng tương lai, Phạm Quỳnh đã là một trong những người đầu tiên cổ vũ và xây dựng nền quốc ngữ. Nam Phong thoạt đầu là tam ngữ : Hán, Pháp, Việt dần dần chỉ còn là tạp chí quốc ngữ. Chữ quốc ngữ với sự giản tiện của nó đã làm báo chí phát triển, phổ cập hóa rất nhanh tư tưởng và tri thức. Rõ ràng đó là một công cụ hữu hiệu. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn chủ trương phải học chữ Hán, phải tận dụng những chữ Hán – Việt trong tiếng Việt, nhất là các thuật ngữ, để làm phong phú tiếng Việt.

Như vậy, tư tưởng chính của Phạm Quỳnh là muốn xây dựng một nền văn hóa Việt Nam không giống Tàu cũng không giống Tây, tuy có tiếp thu tinh hoa cả hai. Và, nếu nhìn đường dây tư tưởng của ông : quốc học => quốc văn => quốc ngữ, thì sẽ thấy ông không lấy quá khứ, mà tương lai làm chuẩn. Bởi vậy, nó mới chỉ là định hướng, một định hướng chiến lược, mà phải biết bao công sức nữa thì mới định hình. Phạm Quỳnh và các đồng chí của ông trong Nam Phong đã đi đầu trong việc xây đắp hình hài này.

Ngoài những bài có tính cương lĩnh như Bàn về quốc học, Quốc học với quốc văn, Văn quốc ngữ, Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây…, Phạm Quỳnh còn tích cực giới thiệu, dịch triết học phương Tây, trong đó ông coi Descartes là ông Tổ triết học Pháp, bởi lẽ ông này mở ra một thời đại duy lý, tác giả của công trình Phương pháp luận bất hủ. Rồi ông giới thiệu tư tưởng Keyserling ; giới thiệu văn chương Pháp (Văn học nước Pháp) với những thể loại mới như tiểu thuyết (Khảo về tiểu thuyết), nhà văn kiểu mới như Maupassant (Một nhà văn tả thực : Guy de Maupassant)… giới thiệu kiểu thơ mới (Thơ ta thơ Tây), nhà thơ kiểu mới (Thơ Baudelaire), giới thiệu cái đẹp (Đẹp là gì ?) như là mục tiêu của nghệ thuật, của mỹ học… Đồng thời từ cái nhìn mới của phương Tây, cái nhìn khoa học, Phạm Quỳnh đã xem xét lại cái vốn của văn hóa Đông Á như Khổng giáo luận, Phật giáo lược khảo, vốn của văn hóa Việt Nam ở tục ngữ, ca dao… Ngoài ra, Phạm Quỳnh còn cổ vũ cho sự phát triển của khoa học và nghệ thuật. Tức xây dựng một nền văn hóa Việt Nam phát triển từ từ từng bước, nhưng đồng bộ.

Là người dung hòa văn hóa Đông Tây, nhưng căn cốt Phạm Quỳnh, có lẽ, vẫn là một nhà Nho, một ông đồ Tây. Nên, cũng như một nhà Nho, ông muốn hành đạo đến cùng. Điều đó hẳn đã gây cho ông một ảo tưởng là nếu làm quan (Thượng thư bộ Học, rồi bộ Lại) thì sẽ dễ dàng đưa vào cuộc sống những tư tưởng tâm huyết của ông về việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam. Người ta cũng tiếc là ông vì việc làm quan này đã bỏ tạp chí Nam Phong để nó phải chết vào năm 1934. Nhưng thực ra, vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí do ông làm chủ bút với tư tưởng dung hòa văn hóa Đông Tây đã đến vãn hồi. Xã hội Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, với một tầng lớp trí thức Tây học, muốn đoạn tuyệt với quá khứ, đưa xã hội Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, theo con đường hiện đại hóa kiểu phương Tây. Họ không làm khảo cứu nữa, mà bằng những sáng tác của mình, khẳng định điều đó.

Tuy vậy, ngày nay, gần một thế kỷ trôi qua, trong hoàn cảnh dường có một cái gì đó lắp lẫn, đọc lại Phạm Quỳnh, nhất là tập Tiểu Luận (Essais 1922-1932), càng thấy quý giá cái di sản tinh thần ông để lại là đối thoại văn hóa. Nơi không có hơn kém, mà chỉ có khác nhau. Nhờ đó, Phạm Quỳnh không tự ty với văn hóa của mình, cũng không khiếp nhược trước văn hóa của người, mà thâu thái được tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Bởi thế, trước người Pháp, Phạm Quỳnh có thể hãnh diện nói về lịch sử Việt Nam, còn trước người Việt Nam ông nói về tinh hoa văn hóa Pháp mà không hề có mặc cảm chính trị. Hẳn vì thế mà Phạm Quỳnh trở thành ngọn gió nam, làm thay đổi khí hậu của một vùng nhiệt đới oi ả.

Đ.L.T.

TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM

Tiểu sử

Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi, Hoa Đường, sinh tại Hà Nội ngày 17/12/1892, quê làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, Hải Dương. Bố là nhà nho mất sớm, được bà nội nuôi ăn học.Bia Nam Phong_tieng viet

16 tuổi : Đỗ đầu trường Thông Ngôn, được bổ làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ.

Từ 1913 : Cộng tác với tờ Đông Dương tạp chí.

1917 : Nhận lời làm chủ bút Nam Phong tạp chí

1922 : Được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai Trí Tiến Đức.

1924-1932 : Được cử làm Giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán – Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội.

1925-1928 : Làm Hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

1932 : Vào Huế làm Ngự tiền văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, Thượng thư Bộ Lại.

3/1945 : Rời chính trường. Sau cách mạng ông bị bắt ở Huế và bị thủ tiêu ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.

Tác phẩm

Trên 210 số báo Nam Phong, Phạm Quỳnh viết rất nhiều thể loại.

- Về khảo luận : Văn minh luận ; Chính trị nước Pháp ; Luân lý học Thái Tây ; Lịch sử và học thuyết Ruxo ; Triết học Ôguyxtơ Côngtơ ; Triết học Becxông ; Văn học sử Pháp ; Khảo luận về tiểu thuyết ; Phật giáo lược khảo ; Người quân tử trong đạo Nho ; Tục ngữ ca dao ; Khảo về Truyện Kiều ; Hát ả đào ; Bàn về quốc học ; Quốc học và quốc văn…

- Về văn du ký : Trẩy chùa Hương ; Mười ngày ở Huế ; Một tháng ở Nam Kỳ ; Pháp du hành trình nhật ký ; Thuật chuyện du lịch Paris.

- Ngoài ra còn nhiều tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, nhiều tác phẩm dịch thuật.

- Các sách in lúc đương thời gồm Nam Phong tùng thư (2 tập), Thượng Chi văn tập (5 tập) in năm 1943.

- Hiện đã in, tái bản : Mười ngày ở Huế (Văn học, 2001), Pháp du hành trình nhật ký (Hội Nhà văn, 2001), Luận văn viết bằng tiếng Pháp 1922-1932 (Tri Thức, 2007), Thượng Chi văn tập (2006).

Đ.L.T.

*

*    *

BÀN VỀ CÁI TINH THẦN LẬP QUỐC

Phạm Quỳnh

Văn hào nước Pháp Ernest Renan trong một bài đại luận đề là Thế nào gọi là một nước? có nói rằng cái nguyên tố dựng ra một nước không phải chỉ ở thổ địa nhân dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau xum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích (cùng lo lắng) đồng hưu (cùng vui hưởng Pham Quynh ban giaythái bình) nhìn về trước thời cùng nhau chung một cuộc lịch sử đề tạo (cấu thành) gian nan, ngó về sau thời cùng nhau chung một lòng hi vọng vẻ vang rực rỡ; nói tóm lại là ở một cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành một cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người cùng như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với sự ngoại hoạn (tai hoạ vì giặc ngoài). Cái mối vô hình ấy, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn. Cái tinh thần ấy phấn chấn thời nước mạnh; cái tinh thần ấy uỷ mĩ (kém hèn) thời nước suy. Có đất có người mà cái hồn chung ấy không có thời chưa thể thành một nước được. Đất đã vào tay chủ khác, dân làm nô lệ cho người, mà cái hồn chung ấy vẫn còn, thời dẫu phân lìa tan tác, bảy nổi ba chìm, sớm trưa rồi cũng có ngày khôi phục (mất rồi lại được). Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc vào hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có.

Cái mối vô hình đó là cái mối thần thánh thiêng liêng, dẫu áp chế cũng không làm cho tiêu diệt được, càng toả chiết (trắc trở) lại càng thêm mạnh bạo hơn; cái mối vô hình đó lại là cái mối mầu nhiệm tinh vi. Có giữ gìn chăm chút thời mới chung đúc kết tinh, nếu bỏ mặc chểnh mảng thời tất phân lìa giải tán. Đã kết tinh rồi thời rắn như kim cương, khó lòng mà vỡ ra được; đã giải tán rồi thời nhẹ như hơi khói, khó lòng mà thu lại được. Cho nên một nước quí không ở đất rộng người nhiều, mà ở cái quốc hồn tỉnh táo mạnh mẽ. Nhỏ như nước Nhật, chon von mấy cái đảo giữa bể khơi, mà oai hùng chấn động cả phương cầu; lớn như nước Tàu, bát ngát bao muôn dặm trên lục địa, mà việc nước lúng túng vẫn chửa xuôi. Là bởi cái tinh thần lập quốc của Nhật đã mấy mươi đời ma luyện (rèn luyện) bằng cái đạo võ sĩ (bushi), bằng cái phong “lãng nhân” (rônin), nay thành như một thanh bảo kiếm, vừa sắc vừa bền, không sức nào bẻ cho gẫy được. Mà cái tinh thần lập quốc của Tàu thời lại mấy mươi đời trầm trệ trong cái học hư văn (văn không thiết thực), trong cái thói hủ lậu, nay ví như một thanh gươm cùn, vừa rỉ vừa nhụt, không thể sao chống nổi với ngoài.

Như vậy thời cái tinh thần lập quốc, cái quốc hồn, là một mối thiêng liêng mà cũng là một mối sinh hoạt. Khéo gây dựng thời nẩy nở phát đạt, vụng chăm nuôi thời héo hắt tồi tàn. Cái công chăm nuôi gây dựng ấy là cái công chung của cả quốc dân. Hễ bao nhiêu người trong nước đều chung một cái ý nguyện cùng nhau kết hợp thành đoàn thể, sinh hoạt được thảnh thơi, thời cái tinh thần ấy tất bàng bạc trong xã hội mà đầm thấm cả mọi người. Nếu mỗi người chỉ biết riêng một thân mình, không thoát ra khỏi cái phạm vi cá nhân mà noi lên tới cái quan niệm về quốc gia về xã hội, cùng nhau ăn ở một đất nước chung, cùng nhau thờ phụng những tổ tiên chung, mà không biết rằng đối với nhau có cái giây liên lạc vô hình, có cái mối quan hệ mật thiết, lại kỳ thị lẫn nhau, coi nhau như kẻ Việt người Tần, gây ra cái tình trạng rời rạc, cái không khí lạnh lùng, thời cái tinh thần ấy càng ngày càng bạc nhược đi, rồi đến tiêu tán đi hết. Đã đến thế thời nước còn mà là mất, dân có cũng như không, vì chẳng qua là một mớ người ô hợp, phất phơ lơ láo, phảng phất mơ màng, chỉ thoảng qua một cơn sóng gió ở ngoài, là rụng rời tan tác như bèo giạt mây trôi vậy. Ấy cổ lai (xưa nay), các dân tộc lìa tan, các quốc gia lụn bại, cũng chỉ bởi cái ý nguyện người dân, cái tinh thần lập quốc đó suy sút bạc nhược đi mà thôi.

Pham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van VinhNói tóm lại thời nước là ở lòng người; cái nguyên tố lập ra nước là tự trong lòng người không phải ở đâu xa. Hễ người ta có cái ý nguyện muốn xum vầy để sinh hoạt cùng nhau, thế là nước thành. Cái ý nguyện ấy càng đằm thắm thiết tha bao nhiêu thời đoàn thể quốc gia càng bền chặt vững vàng bấy nhiêu. Cái ý nguyện ấy đã thấy hững hờ lạt lẽo, thời là đoàn thể quốc gia bắt đầu suy vậy.

Vậy thời theo như lời ông Renan: nước là một cái hồn, một cái tinh thần mầu nhiệm (La nation est une âme, un principe spirituel). Hồn ấy còn là nước còn, hồn ấy mất nước mới mất. Mà còn hay mất là ở cái ý nguyện của người ta, như trên kia đã nói.

Nay xét trong cái nguyên tố tinh thần lập quốc đó, có hai phần: một phần thuộc về quá khứ, một phần thuộc về hiện tại. Thuộc về quá khứ là phần lịch sử: người ta không phải là bỗng chốc mà nên con người được; một nước cũng không phải là hôm mai mà thành một nước được. Tất phải có kinh lịch mấy mươi đời đề tạo gian nan mới thành được: cái lịch sử đó là cái “tư bản” vô hình của một nước. Người ta phải có một cái “vốn kỷ niệm” chung như thế, thời mới có thể sinh tồn thành quốc gia được. Lịch sử càng lắm đoạn vẻ vang, lắm hồi khổ thống bao nhiêu, thời cái “vốn kỷ niệm” ấy lại càng phong phú bấy nhiêu. Mà trong các kỷ niệm, những cái kỷ niệm khổ thống (đau khổ) lại là nhớ lâu hơn cả, vì nó để cái vết sâu trong tâm hồn người ta: đã cùng nhau chịu khổ chịu nhục thời không bao giờ quên nhau được nữa. Thuộc về hiện tại thời đã có cái “vốn” chung như thế, phải có cái chí muốn đem cái “vốn” ấy ra mà cùng nhau mở mang, cùng nhau hưởng thụ, như cái hương hoả chung của ông cha để lại cho anh em trong một nhà vậy. Nếu chểnh mảng mà để cho cái “vốn” ấy suy sụt đi thời không những có tội với tổ tiên, mà lại có tội với hậu thế, vì cái hương hoả ấy phải truyền mãi đời đời, không được đoạn tuyệt, mà mỗi đời lại phải bồi bổ gom góp thêm mãi vào cho phong phú hơn lên.

Đã tiếp thu được cái hương hoả của đời trước, lại có cái chí nguyện thiết tha muốn bảo tồn lấy cái hương hoả ấy, khuếch trương cho nó phong phú thêm, để truyền thụ cho đời sau, đời đời kế tục nhau như thế, thời quốc vận sẽ vững vàng như Thái sơn Bàn thạch, cùng với núi sông hoa cỏ sinh tồn mãi mãi trong thiên địa gian vậy.

Như nước Nam ta, kể cũng có thể là một quốc gia hoàn toàn. Không những đất rộng người nhiều, chủng tộc, tôn giáo, ngữ ngôn, phong tục từ Nam chí Bắc cũng là một, không gì gián cách nhau, mà cái tinh thần lập quốc xưa kia cũng đã từng lắm phen tỏ ra mạnh mẽ tỉnh tao vô cùng. Không nói tự đời Trưng vương Triệu Ẩu, nước còn là bộ lạc có lẽ cái tinh thần ấy còn phảng phất mà chưa chung đúc lại thành quốc hồn; nhưng hồi Trần hưng Đạo đánh giặc Nguyên, hồi Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, cử quốc (cả nước) đều cùng một lòng theo ông tướng tài, ông vua giỏi mà chống cự với quân ngoại địch, đến thu phục được giang sơn nước nhà ở tay kẻ cường lân (láng giềng mạnh), thời cái quốc hồn của ta bấy giờ kể cũng đã quật cường lắm vậy. Mà cái lịch sử của ta kể cũng đã vẻ vang lắm thay! Thuộc về quá khứ như thế, mà thuộc về hiện tại thế nào? Xưa kia quật cường bao nhiêu, bây giờ (1931-PT chú) xem như uỷ mĩ bấy nhiêu; xưa kia vẻ vang bao nhiêu, bây giờ xem ra suy đồi bấy nhiêu. Nhà thuật số (nghiên cứu bát quái, ngũ hành suy ra hoạ phúc con người) thời cho cái vận hội nước nhà đến hồi như thế, qua hồi này, rồi đến hồi khác, cũng giang sơn ấy, cũng anh hùng ấy, cũng có ngày vẻ vang quật cường, có kém chi xưa. Nhà tâm lý, nhà xã hội thời cho là cái tinh thần lập quốc của ta có suy nhược đi nhiều; cái chí nguyện chung của quốc dân có phần sút kém, không được vững bền như xưa; cái lòng tín ngưỡng ở tổ tiên, tự tin ở sức mình, là cái năng lực của kẻ anh hùng hào kiệt, cũng bị thời thế, bị hoàn cảnh nó tiêu ma mà mai một đi mất. Cái bệnh suy nhược của quốc gia ta ngày nay, bởi ngoại cảm cũng có, mà bởi nội thương phần nhiều. Muốn bồi bổ cho bình phục lại và phấn phát lên thời liệu trị ở ngoài đã đành mà điều dưỡng ở trong lại cần lắm. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị là thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tuỳ tình thế, tuỳ cơ hội mỗi lúc mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy có một phương: là bồi bổ cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn tỉnh tao lên. Đó là cái nghĩa vụ chung của cả quốc dân. Nội thương đã trị được thời ngoại cảm tất cũng cũng phải trừ. Quốc hồn đã khôi phục thời mọi vấn đề chính trị sớm trưa ắt sẽ giải quyết xong. Cốt nhất là quốc dân phải tỉnh ngộ mà sớm nên chú trọng về phần hồn, dẫu gặp cảnh yếu hèn cũng chớ nên cam tâm yên phận, biết tin ở nước, tin ở mình, phấn phát (cố gắng) tự cường, thời trở lực nào mà ngăn được cái sức mạnh tinh thần đó? Lại cốt nhất là phải đồng tâm hiệp lực với nhau, cố kết cùng nhau, thời yếu mà cũng trở nên mạnh được, dẫu mỏng như cánh bèo cũng có thể che được mặt nước, chắn được trời xanh. Đời nhà Mạc, tướng Tàu Mao Bá Ôn muốn đem quân sang đánh nước Nam, có ý khinh nước ta, ví như cái bèo trên mặt nước, vịnh bài thơ bèo rằng:

“Cái bèo kia mọc theo ruộng nước nhỏ như cái kim mọc ở chỗ nào cũng không được sâu; cây không có gốc rễ mà không có cán (thân cây), thể sao có ruột với có cành được; chỉ biết mọc xúm lại một chỗ, rồi tan đi đâu không biết, chỉ biết lúc nổi trên mặt nước, rồi chìm lúc nào không biết; gặp khi chiều trời cơn gió ác, quét ra hồ bể biết đâu mà tìm! – Cụ Trạng Giáp Hải họa lại bài thơ ấy rằng:

“Bèo kia mọc ken như vẩy gấm, khó luồn được cái kim vào; cành rễ liền nhau mọc rất sâu. Thường cùng với đám mây ráng trên trời mà tranh mặt nước, không để cho mặt trời chiếu xuống lòng nước được. Sóng đánh nghìn trùng không phá vỡ được; gió thổi muôn lần không đánh chìm được. Nào cá nào rồng ẩn cả trong đám bèo ấy, đến cần câu ông Lã Vọng cũng không biết đâu mà tìm!”

Ấy cái bèo nước Nam ngày xưa hùng như thế; tranh được cả bạch vân (mây trắng), chắn được cả hồng nhật (mặt trời đỏ), mà dung được bao nhiêu kẻ hào kiệt anh hùng. Có lẽ ngày nay để cho phong trào thế giới quét sạch ra bể hồ hay sao? Nếu không biết cố kết lấy nhau, mọc ken như vẩy gấm, mà nối lá liền rễ cùng nhau, thì đến thế thật.

P.Q.

Tháng Tám 14, 2014

Vẫy vào vô tận

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:49 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

Sách mới của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy:

VẪY VÀO VÔ TẬN

TÙY BÚT CHÂN DUNG HỌC THUẬT

Bao gồm các bài viết về Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nhất Linh, Đinh Gia Trinh, Văn Tâm, Hoàng Ngọc Tiến, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Văn Tấn, Nguyễn Tài Cẩn, Đặng Tiến, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Dương. Sách do NXB Phụ Nữ ấn hành, quí II năm 2014, 464 trang.

Đề từ của sách ở trang 7 như sau:

Giơ tay ta vẫy vào vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai

                                                                                                Phạm Hầu

     (Vọng Hải Đài)

Đầu tập sách là Đôi lời thưa trước:

“Tôi thích viết về các nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng. Họ là những người bị đời thường che khuất, thậm chí chịu oan khuất. Cái oan khuất của những người nguyện hiến cuộc đời mình cho sự kiếm tìm sự thật, mà sự thật nào thì cũng là một cái khác, hay ít nhất cũng làm đổi khác một nếp cảm, nếp nghĩ, hay một cái nhìn đãVay vao vo tan đóng cặn. Điều này gây sự bất ổn cho đám đông.

Tuy nhiên, bi kịch thực sự của con người nằm trong chính thân phận của họ. Một sinh thể hữu hạn, bị quy định của ở đây và bây giờ, lại ham muốn cái vô hạn, cái toàn hiện, nằm ngoài không gian và thời gian. Tuy vậy, chính cái cuồng vọng ấy mới làm cho con người trở thành con người, dù sự cố công của họ, xét cho cùng, cũng chỉ là một cái vẫy tay vào vô tận. Nhưng là những cái vẫy tay của người bay ở chân trời.

Từ Chân trời có người bay (Văn Hóa Thông Tin, 2002, 2006) đến Vẫy vào vô tận (Phụ Nữ, 2014) là cùng một bút pháp: những tùy bút chân dung, chân dung nhìn nghiêng, chân dung học thuật. Nhưng nếu ở cuốn trước, các vấn đề chủ yếu được triển khai theo chiều ngang, chiều xã hội, hữu thức, tâm linh. Tuy vậy, bạn đọc cũng có thể tìm thấy tọa độ của hai chiều kích này tỏ mờ ở từng bài viết.

Nếu Chân trời có người bay trước đây có 17 chân dung thì với 17 chân dung lần này, trong Vẫy vào vô tận, giúp bạn đọc hình dung được con đường hình thành người trí thức Việt Nam, tài năng và nhân cách của họ, đặc biệt đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng con đường học thuật và tư tưởng của đất nước.

Con đường ấy chạy theo sơ đồ con lắc. Người này đi hết mình về phía A, mở rộng được đường biên thêm một nấc nữa thì lại bộc lộ nhược điểm. Người khác, để khắc phục nhược điểm ấy, lại đi hết mình về phía B và cũng lại bộc lộ nhược điểm. Người thứ ba lại đi về phía A. Cư như vậy, hành trình khoa học tiến lên qua những lần mở rộng biên độ ấy. Bởi thế, nói đến thành công của một nhà khoa học cũng là nói đến sự lấn rộng đường biên khoa học của người đó.

Con đường ấy cũng là con đường chuyển đổi từ hệ hình học thuật này sang hệ hình học thuật khác, từ chân trời nay đến chân trời khác. Thế hệ các nhà khoa học đã qua hoặc không có chân trời, hoặc chỉ có một chân trời mà họ cố công tìm kiếm. Đây là chiến công và cũng là giới hạn của họ. Thế hệ khoa học mới bây giờ đã có nhiều chân trời để bay. Vấn đề là khát vọng bay và, quan trọng hơn, biết bay. Viết Chân trời có người bay Vẫy vào vô tận, tôi không tôn vinh quá khứ, mà để kiến thiết một Hiện tại.

23/8/2013.

 

Xa-văn-na-khệt năm xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

XA-VĂN-NA-KHỆT năm xưa

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề của chúng tôi là phần trích trong bài Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh viết từ năm 1931 trong Tạp chí Nam Phong các số 158-159 các tháng 1 và 2 năm 1931, in lại trong tập I Du Ký Việt Nam của NXB Trẻ năm 2007 từ trang 413-458

—o0o—

Đường xa chớ ngại Ngô, Lào…

Ngày xưa, đi sang Tàu với sang Lào là gian nan hiểm trở vô cùng. Nhưng sang Tàu còn là sự thường, cống sứ vãng lai, không mấy năm không có người Nam Việt đi đến Yên Kinh.

(…)

Chứ đi sang Lào thì không mấy ai đi. Đường đi đã cách trở, mán mọi còn thú gì. Tục có câu: “Sang Lào ăn mắm nhái”, đủ biết cái phong vị dã man kham khổ là dường nào! Trừ lính đi viễn chinh, tù phải phát vãng, mới mon men đến giáp ranh nước Lào, thời rừng sâu nước độc, mười người đi một người về, những ngheVoi o Lao nói đã rùng mình, còn ai hứng đi du lịch?

(…)

Gần đây đường giao thông với Ai Lao đã mở mang, người Nam ta sang làm ăn bên ấy mỗi ngày một đông, các thành phố mới lập như Thakhek, Vientiane, Savannakhet, người mình có lẽ nhiều hơn người bản dân.

Đã lâu nay tôi vẫn có ý muốn đi Lào một chuyến, để trước là biết qua phong thổ đất Lào, sau là thăm đồng bào ta ngụ cư bên đó.

Gần đây có dịp, tôi cùng quan Tổng đốc Hoàng Trọng Phu đi du lịch xứ Lào.

Đi Lào hiện có hai đường chính: đường Vinh – Thakhek và đường Đông Hà – Savannakhet. Chúng tôi định đi một đường, về một đường, cho biết cả hai. Vậy bữa đi đi đường Quảng Trị, bữa về về đường Nghệ An.

(…)

Tự đây trở đi là vào địa phận Ai Lao, phong cảnh lại càng rừng rú lắm. Về địa phận An Nam, còn có người đi lại, từ đây thời hàng chục cây số, trên đường vắng vẻ, hầu như không có một người nào. Đường chạy ngang với con sông Sé Pone, cho đến Ban Tha Kong là nơi hợp lưu với sông Sé Bang Hiên, hiện đương bắc cái cầu sắt 165 thước chưa xong. Trước Ban Tha Kong mấy cây, có một cái làng to tên là Tchépone, cách đường cái 800 thước, được ngót ba nghìn người, vừa An Nam vừa Lào, có quan đại lý Tây, thuộc tỉnh Savannakhet. Gần đây có mấy cái mỏ thiếc đương khai, nên người đi lại cũng có.

Từ đây là hết địa phận giống Kha Lơ ở, đến địa phận Phu Thai, là một giống Lào. Phong cảnh cũng khác hẳn. Không có rừng rậm núi cao nữa, chỉ toàn rừng thưa đất cát mà thôi, xe chạy bụi bay lên như mây.

(…)

Con đường thuộc địa thứ 9 này hiện đương sửa sang làm rộng ra, cu li An Nam sang làm đông lắm, xem ra cũng chịu được thủy thổ và cũng được đủ ăn. Phần nhiều là người Quảng Bình, Quảng Trị, người Nghệ Tĩnh và người Bắc Kỳ cũng có, làm ăn lẫn cả với người Lào, nhưng làm cai, thầu khoán thì hầu hết là người An Nam cả.

(…)

Cách ba bốn chục cây đến Savannakhet thời rừng thưa đã đổi làm rừng rậm, trông cảnh sắc cũng biết rằng đã gần đến bờ sông lớn vậy.

Đến Savannakhet thời đã tối mịt, đi tự Huế tới đây ngót 400 cây số, chỉ nghỉ có vài giờ đồng hồ buổi trưa ở Tchépone để ăn cơm. Chính con đường thuộc địa số 9 thời có 328 cây, đường này sửa xong thì rộng rãi và tốt lắm, mùa nắng mùa mưa đi được cả, chứ đường Vinh – Thakhek thì chỉ đi được mùa tạnh mà thôi.

Savannakhet là một tỉnh lỵ lớn, ở trên bờ sông Cửu Long, dân số được 3000 người, phần nhiều là người An Nam cả. Buôn bán đường thủy đường bộ cũng to. Đường bộ thì các rừng các bạn (bạn, tiếng Lào là làng xóm) chung quanh đem những nông sản lâm sản đến đấy bán; đường thủy thì tầu ghe ở miền dưới lên, miền trên xuống tất đỗ ở đó rồi mới đi. (…) Tự Savannakhet cho đến Vientiane là triền bằng phẳng hơn cả, cho nên có phiêu tầu của công ty Messageries fluviales chạy đều đặn mỗi tuần lễ hai lần, chở hàng hóa cùng hành khách dem pho co Thakhekcả hai bên bờ Xiêm và Lào.

(…)

Cách người Lào ở khác hẳn người ta. Họ toàn ở nhà sàn cả, giàu nghèo cũng như nhau. Nhà làm bằng gỗ, lợp lá, hoặc lợp ngói, tầng dưới bỏ không, có cái thang lên, tối cất đi. Gian mới bước lên để trống như cái hiên, tức là phòng khách đó, còn vào trong che kín là chỗ ở. Đàng sau là bếp nước. Toàn ở trên sàn cả. Dưới thì nuôi các súc vật.

Ở làng xóm cũng như ở trong phố, nhà nọ nhà kia trông thấy nhau được, cũng có khi trồng chuối trồng dừa, nhưng là để cho xanh mát mà thôi, chứ không phải để làm rào chắn.

Savannakhet có một vài phố nhà Lào như thế, coi ra cái cảnh nhà quê, không có gì là vẻ thành thị. Còn những phố phường buôn bán thì toàn người Nam và người Khách cả.

Tôi có vào cửa hàng một người đàn bà Xiêm lai Khách, nói tiếng An Nam được, xem cách họ bán hàng với người Lào lạ lắm. Có một bọn năm sáu người chừng ở nhà quê xa ra, da đen như đồng đen, ống chân vẽ chằng chịt, – cái tục vẽ mình ở Lào thịnh hành lắm, – vào hàng hỏi mua quần cộc và áo nịt. Họ ngồi cả xuống chiếu, như khách vào chơi. Chủ đưa hàng ra, mỗi người xem một lượt, bàn soạn với nhau. Trước mặt đã bày sẵn một lượt bát, như bát mở họ vậy. Định mặc cả bao nhiêu thì lấy tiền trong túi ra bỏ vào bát. Người chủ không bằng lòng lắc đầu, nói rẻ quá không thể bán được. Trong bọn có người nào muốn trả hơn thì bỏ vào trong bát mình thêm lên năm xu một hào gì nữa. Nếu được giá, nhà hàng thuật bán, thì người nào mua cũng phải theo giá ấy cả. Khác nào như một cuộc bán đấu giá vậy, nhưng bình tĩnh yên ổn lắm, không có tiếng mặc cả ồn ào, kẻ nói đi người nói lại như các cửa hàng ta. Thật là ung dung lắm mà người nào cũng có mặt vui vẻ tươi cười.

Nghe nói những người nhà quê đó, thứ nhất là người Khá nuôi voi, có khi trong nhà có mầy nghìn bạc, vì bán một con voi cũng đủ được cái vốn to rồi. Nhưng họ có bạc họ chôn, chứ cũng không biết tiêu dùng gì.

Savannakhet, xem qua phố phường rồi, lại xem một cái chùa Lào nữa. Nhưng chùa ở dây tầm thường lắm, phải lên Vientiane mới có chùa đẹp. Chùa nào cũng có một nơi chính điện thờ Phật, xây bằng gạch, hình chữ nhật, chạy dọc hai mái thật dốc như cái dấu mũ vậy. Còn ở ngoài là các tịnh xá của sư, cũng lối nhà sàn như trong dân gian. Chùa nào cũng có một cái nhà sàn lớn bỏ không, như cái quán, gọi là sala, để cho khách thập phương đến trọ. Sư toàn khoác áo cà sa sắc vàng, để trần một cánh tay, chùa nào cũng đông lắm.

(…)

Định ăn cơm trưa sớm, rồi một giờ lên đường đi Thakhek. Nếm một món ăn phổ thông của Lào, – không phải là mắm nhái đâu! – Là một thứ canh bún, như bún bung của ta, gọi là khaopun: bún chan một thứ canh có nước nghệ, nước dừa, có thịt có cá, có các thứ rau, ăn cũng lạ miệng. Thứ này người Lào thích ăn lắm, ngoài đường phố thường có người bán. Nhưng làm theo đúng như lối họ thì phải dùng một thứ mắm cũng nặng mùi như mắm tôm của ta, không quen thì khó ăn. Nên hôm ấy giảm bớt thứ gia vị ấy, mà nấu theo lối Tây một chút, làm nóng nẩy dễ ăn lắm. Cũng là Lào mà Lào đã “duy tân” rồi, không phải là Lào ròng vậy!

Sản vật của Lào, ai cũng biết rằng duy chỉ có thứ gấm dùng để làm xiêm, làm yếm cho đàn bà, là đẹp hơn cả. Gấm ngũ sắc, dệt đủ các huỳnh miếng trám, lại có xen đường chỉ bạc chỉ vàng, công phu lắm,và coi cũng vui mắt. Nhưng gần đây, họ dùng tơ chuối nhiều lắm, không mấy mảnh là được thuần tơ thật, nên coi thì bóng bẩy mà chẳng bao lâu rách nát ngay. Nghĩ dệt công phu như thế mà dùng tơ giả, thật uổng công quá. Họ thường dệt thành từng mảnh, đủ làm cái xiêm hay cái yếm mà thôi, nên ta dùng cũng không được việc gì.

(…) Người Lào hay người Phu Thai thì tính vui vẻ, nhưng lười biếng, không chịu khó làm ăn. Đối với khách lạ có bụng hoan nghênh. Có tục hễ nhân dịp vui vẻ gì liền mở hội, họp nhau lại mà hát đúm, tiếng Lào gọi là làm bun.

Bữa ở Vientiane, chúng tôi có đến một làng cách đấy hai cây số xem họ làm bun. Bấy giờ là buổi tối vào tám chín giờ. Nơi ấy là một nơi chùa làng, chung quanh có sân rộng. Ngoài sân làm mấy dẫy quán bằng tre bằng lá, trong quán trải chiếu xuống đất, các phu sao tức là con gái vùng ấy mặc xiêm mặc yếm sặc sỡ coi vui mắt lắm, đến ngồi cả từng dẫy dài, ăn trầu nói chuyện với nhau. Bấy giờ những phu bao là con trai đi lượn chung quanh, thấy người con gái nào vừa ý thì đến ngồi ngay trước mặt, đem cái kèn gọi là khene dến thổi và hát, toàn những giọng phong tình như hát trống quân hay hát quan họ bên ta. Duy có khác là chỉ có con trai hát, còn con gái thì ngồi nghe không phải đáp lại. Ởi giữa sân thì các nhà hàng chong đèn lên bán những quà bánh cho khách đi xem. Trong đám hội đó kể có nghìn người, mà không có cái cảnh ổn ào náo nhiệt như ở bên ta. Đó cũng là do cái tính người Lào hiếu tĩnh, dù khi hội hè cũng không có huyên náo..

Có một điều lạ, là ở trong quán có đặt giường để các vị sư ngồi hình như chứng kiến cho cuộc vui đó. Hỏi ra thì lệ thường ở đây phàm khi mở hội như thế này, trước có hát đúm, rồi sau thì lễ Phật, cho nên các nhà sư đến đấy là túc trực để sớm mai tụng kinh làm lễ. Lễ này là lễ dâng hoa, con trai con gái trong làng đem hoa đến dâng sư và cúng Phật.

Hội hè mà coi cảnh tượng có vẻ êm đềm tự nhiên lắm. Đó chính là cái tâm lý của người Lào, chỉ biết thủ thường yên phận, vui vẻ tự nhiên, không muốn khó nhọc lo lắng gì cả. Cái tính cách đặc biệt của người Lào đó, tiếng họ gọi là sừ sừ. Sừ sừ nghĩa là cứ tự nhiên, gặp sao nói vậy, sống ngày nào biết ngày ấy, cẩu thả qua thời, không lo xa nghĩ ngợi gì cả. Vì cái tâm lý đó mà người Lào xem ra khó lòng tự lập được ở đời này (…)

Làng nào cũng có chùa, chung quanh chùa có tháp, tiếng Lào gọi là thát. Người Lào theo đao Phật thuộc về Nam Tôn Tiểu Thừa, như Cao Miên, Xiêm La vậy. Sư ở đây là hạng thượng lưu học thức, nên được dân gian tôn trọng lắm. Nhà tử tế ai cũng cho con đi ở chùa để học chữ học đạo, người nào phát nguyện đi tu thì ở luôn, còn thì ở một vài năm rồi lại về nhà.

Đó là phong tục chính của người Lào, còn người Khá thì cách ăn ở hãy còn mộc mạc thô lỗ lắm. Thờ cúng toàn thờ cúng các ma rừng, họ gọi là phi, cũng có những thầy mo thầy cúng như các dân mạn ngược ta. Có khi trong làng họ có cái hèm gì thì họ đóng cửa, nội bất xuất ngoại bất nhập, rồi họ làm lễ ăn uống với nhau hàng mấy ngày. Họ có cái tục uống rượu cần cũng như người Tầy hay người Mọi. Hễ có khách lạ đi qua thì họ đem rượu ra thết, để trong cái hũ bắc cần mà hút.

Tiếng Lào hơi na ná tiếng Xiêm, thuộc loại tiếng Thái, âm vận nhiều chỗ giống với tiếng Nam ta. Các nhà bác ngữ học cho rằng tiếng An Nam ta hồi xưa cũng là một chi trong dòng tiếng Thái, sau này chịu giáo hóa bằng chữ Tàu mà càng ngày càng sai biệt đi. Nghe người Lào nói hay hát xa xa có khi phảng phất như tiếng An Nam vậy.

Ấy đại khái tính tình, phong thổ, tôn giáo, ngữ ngôn của các dân Ai Lao như vậy.

(…)

Đất Ai Lao vẫn rộng rãi, có đủ chỗ dung được mọi người. Người An Nam sang ở đấy không sợ bao giờ đến đông quá mà trở ngại cho người Lào. Hiện nay và sau này, bao giờ người Nam cũng là cần cho sự mở mang kinh tế xứ Ai Lao vậy.

Tháng 1 + 2/1931

P.Q.

*

*   *

SỨC SỐNG MỚI Ở XA-VĂN-NA-KHỆT

Bài và ảnh: Trần Duy Tân

(Bài trên trang Quốc Tế báo Nhân Dân số ra ngày 9/8/2014)

Xa-văn-na-khệt giờ đây đã khoác trên mình tấm áo mới với những công trình khang trang đem lại sức sống mới cho cả thành phố và những bản làng. Một cuộc sống tươi vui, ấm no, hạnh phúc của người dân trên vùng đất lửa đạn năm xưa đang ngày càng khởi sắc.

Thăm Xa-văn-na-khệt, chúng tôi có dịp rong ruổi dọc đường 9 là nơi ghi dấu những chiến công lẫy lừng của Quân đội nhân dân Việt Nam hiệp đồng chiến đấu với Quân đội giải phóng nhân dân Lào, đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719″ của địch hồi năm 1972. Và giờ đây, con đường 9 là huyết mạch quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, thương mại của tỉnh Xa van na khetNam Lào này. Rộng 21.774 km 2 , gồm 15 huyện, với 1.543 làng, từ lâu đây là tỉnh thuần nông, có tới 84% diện tích trồng lúa. Hai bên đường là những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Lúa gặt được chất đống trên bờ. Thấp thoáng ven làng những chú bò vàng nhẩn nha gặm cỏ. Những xóm nhỏ yên bình sau lũy tre xanh, rặng chuối, vườn đu đủ, dừa, mít… gợi nhớ cảnh miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Trong vòng xoáy của toàn cầu hóa, nhưng Xavăn-na-khệt vẫn giữ được không khí yên ả, thanh bình, nếp sống nhân hậu, trật tự, kỷ cương nay được nói tới như một miền đất lành chim đậu.

Tôi là con nhà nông. Vác cày đưa trâu ra đồng. Sống với ruộng đồng, nghề nông, lời ca mộc mạc trong bài hát rất quen thuộc của đồng bào các dân tộc nơi đây (Dên xạ bai xao na, Hạnh phúc người nông dân) nói rằng, tại Xa-văn-nakhệt này nghề nông là nghề chính. Nhưng đó là khoảng 26 năm trước kia, khi đất nước chưa tiến hành cải cách. Từ ngày mở cửa, tỉnh đã phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm, xây dựng nhiều nhà máy xi-măng, có nhà máy công suất 500 tấn/ngày; phát triển trồng cây cao-su, sản xuất phân bón, khai thác gỗ, lâm sản, vàng… xuất khẩu tới 15 nước. Cơ cấu ngành nghề cũng khác trước, công nghiệp đóng góp 23%, dịch vụ hơn 22% vào nguồn thu của tỉnh.

Thị trưởng Xu-phăn Kẹo-mixay cho biết, Xa-văn-na-khệt không có bất cứ hạn chế nào đối với các nhà đầu tư. Điều kiện rất thông thoáng, thuận lợi, cụ thể với công ty 100% vốn nước ngoài, thời hạn thuê đất từ 50 đến 70 năm; không đánh thuế sản phẩm xuất khẩu; thuế 0% vật liệu xây dựng, thiết bị, máy móc nhập khẩu. Năm 2013, tỉnh cấp phép cho 13 dự án đầu tư của Thái-lan, 10 dự án của Việt Nam, sáu dự án của Trung Quốc, các dự án của Ô-xtrâyli-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po… với tổng giá trị vốn đăng ký gần 450 triệu USD. Các lĩnh vực được các đối tác quan tâm nhất là trồng cao-su, trồng mía. Tỉnh kêu gọi đầu tư vào các dự án mới như lúa chất lượng cao, nước nóng thiên nhiên, sản xuất hàng mây tre, đồ gỗ, trồng cây công nghiệp, y học dân tộc…

Hành lang kinh tế đông-tây (EWEC) dài 1.450 km đi qua bốn nước, bắt đầu từ TP cảng Mô-la-mi-in (bang Mon) đến cửa khẩu My-a-oa-đi (bang Kay-in) trên biên giới Mi-an-ma – Thái-lan; ở Thái-lan, chạy từ Me Xọt qua bảy tỉnh: Tạc, Xukhố-thai, Ka-la-xỉn, Phít-xạ-nulốc, Khỏn-kèn, Y-a-xô-thon và Mục-đa-hản; ở Lào chạy từ Xavăn-na-khệt đến cửa khẩu Đen-xa-vẳn và ở Việt Nam chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua Quảng Trị, Huế và kết thúc tại cực đông là cảng Tiên Sa (TP Đà Nẵng). Đây là tuyến đường bộ duy nhất nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, mở đường ra biển cho khu vực đông – bắc của Thái-lan và Lào. Chính vì thế, chuyện làm ăn của người Xa-văn-na-khệt giờ đây còn gắn với hành lang này trong khuôn khổ các dự án hợp tác khai thác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS).

Trao đổi ý kiến với chúng tôi về chiến lược của tỉnh để khai thác tốt cơ hội mà dự án mở ra, Phó Thị trưởng TP Xa-văn-nakhệt Phô-thi-lát cho biết: EWEC có khoảng 80 dự án, tập trung vào các lĩnh vực giao thông, năng lượng, viễn thông, du lịch, thương mại, nông nghiệp, khu công nghiệp… rất phù hợp nhu cầu phát triển của Lào. Tỉnh vạch chiến lược phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn để đón đầu. Về nông nghiệp, chú trọng giống tốt, ứng dụng công nghệ sinh học bằng các biện pháp khuyến nông, làm ra sản phẩm nông nghiệp sạch để xuất khẩu. Về thủ công mỹ nghệ, tăng sản lượng hàng mây tre đan, chạm khảm, khắc gỗ, vải nhuộm, chất lượng cao, bảo đảm uy tín thương hiệu để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản và châu Âu. Mở rộng buôn bán với Cam-pu-chia, Thái-lan, khai thác tốt các điểm du lịch sẵn có, mở các tuyến du lịch mới với Việt Nam và Thái-lan, thu hút du khách tham gia các loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch di tích lịch sử, bằng đường bộ và một điều thú vị, trên hành trình này du khách còn được trải nghiệm “Một ngày ăn cơm ba nước” (sáng ở Thái-lan, trưa ở Lào và tối ở Việt Nam).

Trong khuôn khổ các dự án hợp tác GMS, các doanh nghiệp Xa-văn-na-khệt và các tỉnh miền trung Việt Nam đã và đang đẩy mạnh giao lưu trên nhiều lĩnh vực. Đà Nẵng xúc tiến các thỏa thuận về thương mại, tư vấn thiết kế, xây dựng, công – nông nghiệp với các tỉnh của Lào, trong đó có Xa-vănna-khệt; đã triển khai một số hợp đồng như Công ty cơ khí Đà Nẵng xây dựng Nhà máy phân vi sinh Xa-văn-na-khệt; Tổng công ty xây dựng miền trung hợp tác với Xa-văn-nakhệt thi công hồ thủy lợi Xê-lanong, đào nền quốc lộ 12A, làm mặt đường biên giới Việt -Lào; hỗ trợ heo giống và còn xây dựng trạm nghiền thức ăn gia súc cho hai tỉnh Xa-la-văn và Xê-coong, v.v.

Việc hình thành EWEC sẽ liên kết các ngành công nghiệp của Việt Nam, Lào và Thái-lan với nhau, tạo nên chuỗi điểm nhấn liên hoàn Đà Nẵng – Phú Bài – Lao Bảo (Việt Nam) – Xavăn-na-khệt (Lào) – Mục-đahản (Thái-lan), tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại, mở cơ hội lớn cho tăng trưởng du lịch và hình thành các ngành công nghiệp mới, hiện đại như công nghiệp điện tử, tin học. Đất lành Xa-vănna-khệt sinh sôi, mang lại cho hơn tám nghìn dân lợi ích thiết thực và lâu dài.

D.T.

Tháng Tám 5, 2014

Xét Tật Mình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 8 năm 2014.

XÉT TẬT MÌNH

Nguyễn Văn Vĩnh

(Bài trong sách Vẫy vào vô tận của Đỗ Lai Thúy – NXB Phụ Nữ, quý II/2014, từ trang 80 đến 84)

—o0o—

(Nói hết để biết hết, để chữa hết)

TOUT DIRE POUR TOUT CONNAȊTRE,

POUR TOUT GUÉRIR

E.ZOLA

« Le Dr. Pascal »

Các nết xấu, các hủ tục của người Việt Nam ta, cần nói ra hết, đừng có giấu giếm, ai cũng biết thì mới sửa được. Luân lý phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầm mống điều thiện để tự giác làm điều thiện. Nếu cứ nói cứ bắt buộc phải thế này không được thế kia thì khó nghe, uổng công nói, mà phải cho biết rõ làm việc thiện lợi thế nào, làm điều xấu hại ra sao thì người ta dễ theo. Người có bệnh phải biết rõ bệnh, căn nguyên bệnh thì mới uống thuốc mà khỏi. Trong xã hội có nhiều hủ tục, đã thành thói quen của cộng đồng, một người hay một thiểu số knguyen van vinhhông đủ sức đấu tranh để sửa mà nên phô bầy ra, rõ ràng cái xấu, căn nguyên cái hại để Nhà nước biết, để đa số nhân dân biết, khi đó lệnh của Nhà nước hợp với ý dân thì mới sửa được.

Vì vậy mỗi số sau sẽ trình bày cụ thể một tệ hủ bại, phân tích rõ gốc rễ và điều hại cho dân cho nước để cùng nhau sửa (từ Đông Dương tạp chí số 6)

Năm xưa tôi có đăng báo mấy bài luận về các nết xấu, và các hủ tục của người An-nam ta.

Bây giờ cũng nhiều người thích xem những bài nghị luận ấy, mà cũng có người trách tôi, sao lại cứ đi bới xấu người minh ra cho thiên hạ chê cười.

Ông nào trách chê cũng là trách lầm mà ví dù có người chê cũng là chê lán.

Có một ông sĩ-danh Lang-sa đã nói rằng : đời nào nhân loại cũng vẫn có bấy nhiêu cái điên-dồ, cũng có bấy nhiêu cái dại dột mà tiêu dùng. Điên dồ và dại dột của loài người tự hồ như một cái vốn, đặt tiền nắm lãi chạy, hoặc dùng cách này, hay dùng cách khác, cũng vẫn sinh tức ra bấy nhiêu cho mà tiêu, mà vốn vẫn không hao mòn đi chút nào.

Thì dẫu bên Âu châu cũng vậy, bên Á châu ta cũng vậy, cái dại dột của người ta cũng không có kém gì nhau.

Cái văn minh Âu châu cao hơn ta, là vì người Âu châu cũng có bấy nhiêu dại, nhưng mà nhiều người biết dại, mà cách xét học sự dại sâu sắc vô cùng.

Người ngu, dở sách tiểu thuyết Tây ra coi, thấy bầy phơi các cựa gà kín của muôn việc con người ta hằng ngày làm ra, thì mới cười. Còn người trí thì chịu ngay Âu châu học cao về cái cách chiết vặn vụn ra hết cả những xó góc nhân tâm ấy.

Cứ suy xét như thế thì cái căn thiện ác của người ta nó rành rành ra đó, người ta có xem thấy cái gốc rễ mọi việc của mình, thì ăn ở trên đời này mới theo được chính đạo.

Ví nếu cứ khuyên người đừng làm cái này, nên làm điều kia, mà không xét cho ra rằng làm cái này, điều kia vì cớ gì, thì sách dạy luân lý vẫn cứ uổng mãi, vì điều thiện điều ác, điều hay điều dở, thì dù cái hay ngay bên cạnh tay, làm dở vẫn hoàn dở.

Cho nên chính luân lý là cách để người ta biết gốc rễ điều ác, để mà tránh những thế phải làm ác ; biết mầm giống điều thiện, để mà gây nên điều thiện, chớ không phải là sách dậy nên các từ ác theo thiện, là dạy nhảm uổng công người dạy, lại trái ý khi nghe, vì nhời thằng Lợi bao giờ vẫn êm tai hơn nhời ông Nghĩa.

Vậy thì đạo tu thân ngày nay cốt ở việc xét mình. Như người có bệnh muốn chữa khỏi phải biết mình có bệnh chi, mà bệnh căn ở đâu, thì uống thuốc mới công hiệu. Chớ có bệnh mà lại cứ chuyên học một câu : nên mau khỏe đừng nên ốm, thì học mà làm gì.

Bởi thế, tôi trộm nghĩ rằng : dân An-nam ta ngày nay muốn chóng theo được dấu văn minh, trước hết phải học cho kỹ xem mình có những thói xấu gì, căn nguyên bởi đâu mà ra, để mà đầu tiên hãy cố mà từ bỏ cái tệ ấy trước nhiên hậu mới học được cái khôn sau, chớ muốn học văn minh Âu châu mà thói hủ vẫn còn giữ, thì e răng đã chẳng học được điều hay, vì điều hay mới, mấy thói hủ xưa không dung được nhau, mà lại còn ghi chép được cái bề xấu văn minh mà thôi.

Nước Nam ta ngày nay học mà chưa có chút nào, thì dễ khiến hơn là những trình độ dở dang của mấy nước lân cận, văn minh cữ có mấy điều hay vứt bỏ đi mất rồi, mà văn minh mới thì chưa chép được điều gì thực hay thực ích.

Tính người An-nam, tiếng thế, được một điều nghĩ chín lắm. May ra có phần khôn hơn người. Học văn minh biết cho làm học lấy duyệt lịch, chứ chẳng phải thấy làm sao hào hao làm vậy.

Thế là định nói xấu mình, mà đầu tiên hãy đã tự khen. Gọi là để đồng bào ta dỗ ngọt nhau, trước khi xoi mói cái tệ.

An-nam ta ngày nay đối với nhà nước Lang-sa tự hồ như người ốm với ông thầy thuốc. Muốn thầy chữa bệnh cho khỏi thì phải kể cho thầy biết bệnh não mình thế nào.

Thuốc văn minh uống nhầm công phản lại tệ hơn thuốc bệnh.

Ta chớ nên làm như người bệnh hiểm nặng, mà cứ thẹn thò đành chết còn hơn phải dở nơi trọng thương cho thầy xem.

Các tật xấu của ta hết thảy chỉ có một cái căn, là cái cách đoàn thể, cách lập hương thôn, sinh ra một cách giáo dục riêng, làm cho người ta lớn lên, hội một cái ý thắt buộc về phận làm người, về xã hội.

Đoàn thể của ta nên để vậy hay là nên đổi cái gốc nó đi, thì điều ấy tôi lấy làm quan hệ lắm, không phải một người dám đem tư tưởng riêng của mình, mà bàn làm phương tuyệt diệu.

Trong cách đoàn thể ta, có nhiều điều tệ, nhưng mà lại có cách tiện cho việc chánh trị vô cùng, làm cho chánh phủ nào cũng phải nghĩ sâu xa, rồi mới dám sẽ tay mà đụng đến.

Tôi tưởng chỉ nên tỏ ra cho nhà nước biết hết những các tục hủ thói tệ, do lối đoàn – thể ta mà sinh ra, làm nên một cái thành cao, hào sâu ngăn đón không cho văn minh Âu châu lọt vào được óc dân ta.

Tôi mong rằng, khi nhà nước sẽ rõ hết những tính tệ ấy, mà dân An-nam ta cũng tự hiểu, thì lòng dân cùng hợp với ý nhà nước mà cải lương, mới thực được công hiệu.

Vì bằng nhà nước lòng thực muốn sửa đổi cho ta khá, mà dân ta lại cứ khư khư cho những tệ hủ của mình là điều hay, nhà nước có bỏ đi, ta chẳng biết ơn lại còn cho là uất ức, thì sao cho việc duy tân chóng hóa được.

Sau này, tôi xin mỗi lần tỏ một việc hủ bại của mình ra, mỗi điều tôi xin cứu cho cái gốc rễ bởi đâu.

Rồi các quan xem báo sẽ biết rằng chẳng phải là bới xấu ta cho người cười đâu, tự biết dại ấy là đã giơ chân bước vào đường văn minh đó.

Đông Dương Tạp Chí, số 5

Giáo sư Hồ Sĩ Quý: Rất cần một bảng giá trị không lệch lạc (P2)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 8 năm 2014.

GIÁO SƯ HỒ SĨ QUÝ:

RẤT CẦN MỘT BẢNG GIÁ TRỊ KHÔNG LỆCH LẠC

Thảo Nguyên (thực hiện)

(Bài thu từ www.vanhoanghean.com.vn phát ngày thứ sáu, 9/3/2012 lúc 4:04g)

—o0o—

(Tiếp theo và hết)

n Hóa Nghệ An: Gần đây, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã ra nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng. Xét cho cùng đây cũng chính là vấn đề Con Người, vấn đề văn hoá, tất nhiên là khu biệt ở cộng đồng cán bộ, đảng viên của Đảng. Để có thể có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề này từ trong chiều sâu tâm thức văn hoá, đặt vấn đề trong tổng thể cộng đồng dân tộc, Văn Hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với giáo sư, tiến sĩ triết học Hồ Sĩ Quý – Viện trưởng Viện thông tin Khoa học xã hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Tôi đồng ý với Giáo sư, từ nhận thức đến chính sách là một khoảng cách, từ chính sách đến thực hiện chính sách lại Ho Si Quylà một khoảng cách lớn hơn. Giáo sư lý giải như thế nào về điều Giáo sư vừa nói, hiện nay ta đang thiếu một bảng giá trị không lệch lạc để điều chỉnh hành vi.

HSQ: Theo tôi, bảng giá trị điều chỉnh hành vi ở ta đang lệch lạc, thậm chí khá lệch lạc.

Nếu lần theo những hiện tượng kinh tế – văn hóa – xã hội cụ thể, có lẽ không mấy khó khăn để nhận ra, mục đích thực, mục đích kép, hoặc mục đích ẩn giấu đằng sau không ít các hiện tượng đó không trùng với hoặc không giống như mục đích mà chủ nhân của những hiện tượng ấy trình diễn trước công luận. Ngày nay, khi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân… trá hình hoặc công nhiên can thiệp vào các kế sách, thì giá trị nào chi phối các động cơ của con người cũng không quá khó để nhận diện. Dư luận và báo mạng gần như than vãn hàng ngày về những lợi ích đằng sau một số dự án, công trình, kế hoạch… Cái điều chỉnh hành vi của những người vụ lợi trong các công trình dự án đó, hẳn không phải là những lợi ích quốc kế dân sinh. Không hề quá nếu nói rằng, đôi khi những thành tích quốc kế dân sinh, rất tiếc, lại chỉ là hệ quả của một lợi ích khuất tất khác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Hội nghị TW 4 mới đây đã phải ra Nghị quyết nhằm chặn lại hiện tượng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” Thậm chí, Nghị quyết chỉ rõ, hiện tượng tệ hại đó đang “thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”[3]. Bởi vậy, nói lệch lạc về giá trị có thể cũng còn là nhẹ.

Nếu động cơ tối thượng thúc đẩy sự ra đời ồ ạt của các trường đại học những năm vừa qua nằm ngoài sứ mệnh thiêng liêng của giáo dục, thì giá trị thực dẫn dắt và điều chỉnh hoạt động của những trường đó, trước hết, hẳn không phải là tri thức, cũng không phải là nâng cao dân trí hay đào tạo nguồn nhân lực[4]. Và, cũng từ đó, nếu động cơ thúc đẩy người học đến trường không phải là tri thức… thì giá trị điều chỉnh hành vi của người học hẳn cũng không thể là trí tuệ, hay cao hơn, học để làm việc, làm người. Nhà trường và người học gặp nhau ở điểm này – mục tiêu cao nhất trên thực tế chỉ còn là mảnh bằng. Bằng thật, đương nhiên, nhưng kiến thức thì giả hoặc gần như giả. Ai đó nói vương quốc giả dối đã lên ngôi cũng không hề quá.

Hiện nay giá trị nào ở ta được tôn vinh xếp ở bậc thang cao nhất trong bảng các giá trị làm người. Rất tiếc, dù ít ai công khai thừa nhận, lại chính là “làm quan”giàu có. Tôi không nghĩ làm quan giàu có không phải là các giá trị đáng được trân quý. Nhưng làm quan giàu có là những giá trị cao hơn mọi giá trị khác, xếp đầu bảng trong bảng các giá trị, được tôn vinh từ công sở đến gia đình, thì ở đây đúng là có sự lệch lạc. Dĩ nhiên, những người thực sự mơ được làm quan và được trở thành giàu có không nhiều. Nhưng tôi nói bảng giá trị lệch lạc, vì biết rằng không ít cá nhân đã phải lỡ dở về sở trường sở đoản cá nhân, phải hy sinh niềm đam mê riêng của mình về văn chương, nghệ thuật, khoa học, hay thậm chí nhàn tản… để lao vào làm giàu và phấn đấu làm quan, vì nếu không như thế thì khó mà chịu nổi tiếng thở dài của vợ con, bố mẹ và những người thân, trước khi hứng chịu sự chê bai của xóm giềng, đồng nghiệp và xã hội. Người thành đạt được cộng đồng thừa nhận, ở ta, trước hết phải là người giàu có, hoặc “làm quan”, rồi mới đến các “tước vị” khác. Giải thưởng quốc tế và quốc gia về chuyên môn, dẫu có một không hai, cũng chưa phải là cao, nếu người nhận giải vẫn nghèo khó hoặc là người nằm ngoài vòng hoạn lộ (宦路). Nghệ sỹ tài ba, nhà khoa học tiếng tăm, người thày mẫu mực… cũng không tránh khỏi bị người thân và đồng nghiệp đo bằng thu nhập và chức vị.

Tình trạng này nếu còn kéo dài thì quả thực là nguy hiểm.

PV: Cha ông có câu “thuốc đắng dã tật”. Thuốc nào cho căn bệnh nói trên? Văn hóa và luật pháp? Hay là cái gì khác…? và văn hóa có phải là phương thuốc cơ bản nhất?

HSQ: Giải pháp hữu hiệu và triệt để cho căn bệnh nói trên, cũng là giải pháp hữu hiệu và triệt để cho mọi căn bệnh khác ở Việt Nam trên đường chuyển đổi để phát triển, theo tôi, là công khai tất cả những gì có thể công khai và loại trừ bằng được lợi ích cục bộ.

Ở tầm vĩ mô, tôi nghĩ đây là giải pháp trị được tận gốc mọi cái xấu trong xã hội. Mọi giải pháp khác chỉ là hệ quả của giải pháp này trong những lĩnh vực và hiện tượng cụ thể. Giải pháp này đụng đến cơ chế, xuyên qua các chính sách, gây sức ép đến từng người và tất cả các thiết chế xã hội, nên nó buộc cái xấu phải trả lại cho luật pháp tính nghiêm minh của luật pháp, trả lại cho văn hóa tính nhân văn của văn hóa, trả lại cho kinh tế tính chính đáng của lợi ích kinh tế, và trả lại cho chính trị tính “vị dân” của chính trị.

Thành tựu của sự phát triển đất nước từ những năm đổi mới đến nay, do rất đáng kể nên đã khiến chúng ta ít nhiều lãng quên ngăn ngừa lợi ích cục bộ và không chú ý thỏa đáng đến nhu cầu công khai của đời sống xã hội. Nay, tệ thiếu công khai và sự lộng quyền của lợi ích cục bộ đã cản trở sự phát triển đến mức báo động. Chúng đang “thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”.

PV: Xin cám ơn Giáo sư!

T.N.

[1]Hồ Ngọc Đại. Cần sự nổi dậy của tư duy giáo dục. http://dantri.com.vn/c0/s0-249651/can-su-noi-day-cua-tu-duy-giao-duc.htm

[2]Hoàng Tụy. Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống.

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=4793&CategoryID=42

[3]Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. http://www.cpv.org.vn/CPV/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30257&cn_id=502700

[4] Trong “Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 ngày 26/5/2010, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho biết, từ 1998 đến 2009, đã có 304 trường đại học, cao đẳng được thành lập,trong đó có 230 trường được nâng cấp từ bậc học thấp hơn; 9 trường đại học được nâng cấp từ khoa trực thuộc đại học Quốc gia, đại học vùng; 7 trường đại học được thành lập theo phương thức sáp nhập, chia tách và có 58 trường đại học, cao đẳng được thành lập mới hoàn toàn. 35/63 tỉnh, thành phố có thêm trường đại học, cao đẳng mới. Năm 1997, cả nước mới chỉ có 15 trường đại học ngoài công lập, đến hết tháng 9/2009 con số này là 78 trường. Nghĩa là bình quân trong thời gian này cứ 1 tháng có tới gần 3 đại học mới ra đời.  Xem: Báo cáo số 29/BC-UBTVQH12 ngày 26/5/2010 của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5-6/2010).

Theo Tạp chí Viện Thông tin Khoa học xã hội giới thiệu:

Giáo sư Hồ Sĩ Quý: Rất cần một bảng giá trị không lệch lạc

17/3/2012

Gần đây, Ban cháp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng. Xét cho cùng dây cũng chính là vấn đề Con Người, vấn đề văn hóa, tất nhiên là khu biệt ở cộng đồng cán bộ, đảng viên của Đảng. Để có thể có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề này từ trong chiều sâu tâm thức văn hóa, đặt vấn đề trong tổng thể cộng đồng dân tộc, Văn hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Triết học Hồ Sĩ Quý – Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn cuộc trao đổi.

Phạm Quỳnh – Một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ  sáu, tuần 3 tháng 8 năm 2014

PHẠM QUỲNH – MỘT NHÂN CÁCH

VỀ LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ chín kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 14.142 lượt người truy cập.)

Nguyễn Thúc Chuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Bài này của nhà giáo hưu trí thành phố Huế Nguyễn Thúc Chuyên đã đăng trên tạp chí Huế xưa & nay, số 94 tháng 9, 2009 (các trang 63-69).

—-o0o—-

Năm tôi học bậc tiểu học trường Pháp – Việt, lúc rảnh rỗi thường lấy Nam Phong tạp chí của cha tôi mua để xem (cha tôi là nhà nho). Thấy tôi ham đọc, cha tôi bảo: “Báo này đọc có ích, con lấy mà xem, chẳng khác gì cuốn bách khoa thư”! (Tất nhiên có nhiều nội dung tôi không hiểu). Hồi đó và kể cả khi lên học bậc trung học, tôi chỉ biết Phạm Quỳnh qua báo Nam Phong, cũng như chỉ biết Đào Duy Anh qua cuốn Hán Việt từ điển. Học sinh, sinh viên ngày nay, có lẽ chỉ biết Phạm tiên sinh qua câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

Cuộc đời của cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh, theo tôi nghĩ, thời ông làm chủ bút tạp chí Nam Phong suốt trong 15 năm (hai năm sau người khác làm) là “đắc ý nhất”. Đây là nơi ông gửi gắm lòng tự hào dân tộc, sự tôn trọng, yêu mến nền văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó có nền Quốc văn… Về sau ông ra làm quan cho Nam triều. Thông cảm với Phạm tiên sinh, nhà văn Nguyễn Công Hoan xây dựng nên truyện ngắn Kép Tư Bền, phản ánh cuộc “ép duyên” của thực dân Pháp, dẫn đến sự “tiến thoái lưỡng nan” của ông chủ bút Nam Phong, cũng như Kép Tư Bền phải lên sân khấu làm trò cười cho khán giả, trong lúc ở nhà cha mình đang hấp hối… Cuộc đời làm quan của ông, từ ngự tiền văn phòng đến thượng thư bộ Học rồi bộ Lại, cả thảy hơn 12 năm. Bấy giờ tôi học trung học ở Huế, thỉnh thoảng vẫn thấy ông ngồi trên xe tay kéo sơn đen, gọng đồng, đầu đội khăn xếp, mặc áo dài thâm, đi giày, mang kính trắng, không hề thấy đeo bài ngà, với vẻ hồn nhiên như một thư sinh. Ông là người có thể rất tâm đắc với hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị:… “Thuở ra sân khấu không làm rộn/ Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi”, chăng! Do đó nhiều người cảm thấy hình như ông không chút “mặn mà” gì khi nhận các chức vụ trên. Sau cuộc đảo chính Nhật lật đổ Pháp (9/3/1945), ông về hưu, làm kẻ ẩn sĩ, trong nhà “không có gì là sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có đồ cổ đắt tiền…” (dẫn theo Nhật Hoa Khanh, Xưa và Nay, số 269, tháng 10 năm 2006).

Là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí, ông đã thu hút nhiều cộng tác viên nổi tiếng thời bấy giờ với số lượng kể đến hàng trăm người. Đó là nhờ nhân cách và học vấn của ông. Số cộng tác viên của Nam Phong tạp chí có nhiều vị vào hàng khoa bảng như: Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, phó bảng Hoàng Yến, cử nhân Bùi Kỷ… cùng với các vị đường quan tuần vũ Trần Mỹ, Tế tửu Quốc tử giám Ưng Trình, án sát Nguyễn Đình Chi, đốc học Trần Thất Phán, huấn đạo Nguyễn Kinh Chu…và các học giả, nhà văn, nhà thơ khác như: Phan khôi, Dương Quảng Hàm, Phạm Duy Tốn, nữ sử Đạm Phương, thi sĩ Tương Phố… và có các anh sinh viên Đặng Nguyên Khu (trường Cao đẳng Thương mại), Tôn Quang Phiệt (trường Cao đẳng Sư phạm Đông dương)… Nhiều cộng tác viên không chỉ viết một đôi bài mà viết hàng chục bài. Ông chủ bút Nam Phong rất tôn trọng các tác giả. Đó cũng là nét nhân cách đẹp của Thượng Chi tiên sinh. Ví dụ, khi tác giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết trong mục “Tồn cổ lục” nêu bà Nguyễn Thị Điểm diễn Nôm khúc ngâm “chinh phụ” là em gái tiến sĩ Nguyễn Trác Luân, người huyện Đông Hào, tỉnh Hải Dương…, ông chủ bút Phạm tiên sinh vẫn để nguyên xi sự lầm lẫn trên của tác giả và cho đăng tải lên báo Nam Phong tạp chí với một câu chú thích rất tế nhị: “Sách Đăng Khoa lục cho bài là người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Tang thương ngẫu lục cho bà là người Bắc Giang, bà ấy là họ Đoàn không phải họ Nguyễn, không biết lời nào nói phải?”. Với một bài báo khảo cứu ai là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc đăng trên báo Nam Phong số 24 tháng 6 năm 1919, cách đây gần 90 năm, đã khuấy động nhiều học giả, giáo sư, các nhà nghiên cứu… tốn không biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu cuộc hội thảo khoa học…mà nay vẫn còn tồn nghi. Gần đây (2007) giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tỏ ra nghi ngờ, nên đã viết một bài báo khuyên các thầy cô giáo: … “Khi giảng Chinh phụ ngâm cũng nên chọn một hai đoạn hay của Đoàn Thị Điểm, trước khi chọn các đoạn của Phan Huy Ích để học sinh thấy đúng được thực tế tiến lên của lịch sử văn học” (Văn hóa Nghệ An, số 110).

Đối với một số ít tác giả cố tình làm tổn thương tinh thần tự tôn dân tộc, thì Phạm Quỳnh tiên sinh không chút ngần ngại vạch mặt trên báo. Sự việc được thể hiện qua sự đối đáp của ông với một vị “Tây dương[1]” về một bài báo ông này dịch từ chữ Hán trên báo Nam Phong ra tiếng Pháp, rồi đưa đăng trên tờ báo Avenir du Tonkin (tức Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú) xuất bản tại Hà Nội. Dịch giả đã cố ý dịch sai. Ông đọc bài báo này thấy đụng đến lòng tự trọng và tự tôn dân tộc, ông bèn đi “thương thuyết” với Louis Marty nhờ viết một bài báo bằng tiếng Pháp, dịch lại cho ông “Tây dương” nọ thấy chỗ dịch sai, rồi đăng lên báo Nam Phong số 24 (tháng 6 năm 1919) kèm theo bài viết bằng tiếng Việt của ông chủ bút họ Phạm với tiêu đề Về mấy bài bình phẩm báo Nam Phong. Mấy câu đầu Phạm tiên sinh viết đại ý: Ngài quá khen bỉ nhân cùng bạn đồng sự là Nguyễn chủ bút (tức Nguyễn Bá Trác, phụ trách phần chữ Hán – TG)… “Chúng tôi lấy làm vinh dự và cảm ơn ngài lắm… Ngài cũng biết rằng chúng tôi một lòng yêu thương nước chúng tôi, là một nước cổ mấy ngàn năm đã từng có một cuộc lịch sử cũng lắm phen hiển hách vẻ vang. Chúng tôi yêu thương nước chúng tôi, đó cũng là cái thường tình của người ta, phàm những trí thức ai cũng có bụng ấy… Duy trong bài ngày 20 Juin (Tháng 6 – PT chú) 1919, thượng nhân có dịch một đoạn Hán văn của ông Nguyễn Bá Trác, phải câu cuối cùng dịch sai nghĩa…, có thể khiến cho người không biết xét lầm và nghi cái bụng thành thực của chúng tôi. Bởi vậy, chúng tôi có cậy quan cai trị Marty thảo mấy lời thuyết minh bằng tiếng Pháp, trước là chỉ rõ thượng nhân biết sự sai lầm đó, có thiệt hại cho danh dự của bản báo đối với chính phủ, sau là nhân thể bộc bạch cho những người Pháp hay có tính đa nghi biết cái thái độ của chúng tôi là rất phân minh, rất chính đáng vậy” (PH.Q – Nam Phong tạp chí số 24).

Năm 1922, Phạm Quỳnh tiên sinh có đi mấy tháng sang Paris (Pháp) với tư cách đại diện hội “Khai trí tiến đức” dự cuộc đấu xảo Marseille, lại được toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết ở một số trường học lớn tại Ba Lê; ông đã đăng đàn 4 lần về các đề tài: 1. Về thi ca Việt Nam; 2. Sự tiến hóa chữ quốc ngữ; 3. Sự tiến hóa của dân An Nam; 4.Tình trạng giáo dục ở An Nam. Một năm sau (1923) những bài diễn thuyết trên được tập hợp in thành sách, xuất bản tại Pháp với tiêu đề: À propos des Quelques conférences à Paris de Monsieur Pham Quynh (dịch: Lời bình phẩm về sách: “Mấy bài diễn thuyết ở Paris của Phạm Quỳnh) Sách xuất bản ở Pháp, thì mấy tháng sau đã thấy xuất hiện ở Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia). Một trí thức người Pháp, có bút danh là Sérénus đọc khen hay và rất tán thưởng, bèn viết một bài bình phẩm bằng tiếng Pháp đăng trên báo France – Indochine, một tờ báo có uy tín ở Bắc kỳ thời bấy giờ. Phạm Quỳnh tiên sinh đã xem bài báo này; có người đề nghị ông dịch ra Quốc ngữ để đăng tải ở Nam Phong tạp chí. Ông đã từ chối. Về sau, bạn bè ông là trí thức Tây học cũng đã đọc bài báo này, liền đến gặp ông khen và phân tích giải bày với ông, dần dà ông bị “lung lay”, từ thái độ từ chối, dẫn đến sự do dự, ngập ngừng… cuối cùng ông đã suy nghĩ rằng: “Lời khen của vị quan ấy không phải là khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công chúng cùng lãm” (ghi theo lời chú thích – Nam Phong tạp chí số 75 tháng 9 năm 1923).

Thượng Chi Phạm Quỳnh sinh ra trong một gia đình nhà Nho có nền nếp (cụ thân sinh mất sớm). Với kiến thức uyên bác Đông Tây kim cổ, ông đã thấm nhuần lời dạy của thánh nhân: “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (lời nói viết ra, bốn ngựa đuổi không kịp). Khi làm chủ bút Nam Phong, ngoài một số bài báo do Pháp điều khiển (vì Pháp tài trợ hằng tháng) còn lại phần lớn những bài ông cho đăng trên báo, về mặt khách quan nói chung, đều là những điều bổ ích cho người đọc. Một vị thượng thư trí sự ở Huế (Vĩ Dạ) đã nói với cha tôi rằng: “Ông ấy trẻ nhưng suy nghĩ và tài năng hơn chúng ta”. Với sự giao lưu nền văn hóa Pháp, Phạm tiên sinh được tiếp xúc văn học Pháp từ nhỏ. Tôi chắc rằng ông đã đọc sách Pháp khá nhiều, trong đó có các tác phẩm của nhà văn Alphonse Daudet (1840-1897). Trong một tác phẩm của nhà văn này có truyện ngắn Buổi học cuối cùng (La dernière classe), A. Daudet viết: (dịch) “Khi một nước đã bị hãm vòng nô lệ, mà còn giữ được quốc văn cho hoàn toàn, thì cũng hình như là giữ được cái chìa khóa để mở cửa ngục giam mình vậy” (nguyên văn: … “Quand un peuple tombe esclave, tant qu’il tient bien sa langue, c’est comme s’il tenait la clef de sa prison”Contes du Lundi, page 12. (Những mẩu chuyện ngày thứ hai, trang 12 – PT chú). Theo chú thích của A.Daudet thì ý tưởng này là của Fréderic Mistral[2]). Cùng với ý tưởng trên, ngoài câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn…” của Phạm tiên sinh, thì trong tạp chí Nam Phong số 101 tháng 12 năm 1925, ông còn có viết câu: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn; tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa”. Ngày nay khi khảo cứu về nội dung báo Nam Phong, trừ các mặt tiêu cực do Pháp lợi dụng, nhìn chung, Phạm tiên sinh đã có vai trò góp phần phát triển kho từ vựng chữ quốc ngữ và tiếng nói của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XX. Với sự điều hành của ông chủ bút họ Phạm, kiêm phụ trách phần tiếng Việt, kết quả khách quan đưa lại là chữ quốc ngữ được sử dụng như một phương tiện để biểu đạt các loại vấn đề mà trước đó hàng chục thế kỷ chữ Hán giữ vai trò độc tôn nhưng lại khó hiểu đối với quần chúng.

Ngày 31 tháng 5 năm 1922 (thứ tư), trong bài diễn thuyết về đề tài: “Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt bảo hộ Pháp” tại Trường Thuộc địa (bộ Thuộc đại Pháp) có 300 người dự, Phạm tiên sinh mặc quốc phục khăn đen áo dài làm lễ phục, đã chững chạc và hùng hồn diễn thuyết bằng tiếng Pháp rất trôi chảy, rằng: “Người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi là một quyển sách dày, đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho phù hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ… Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không có quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn, không có tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc đia cũ của Pháp…”[3]

Cũng trên Nam Phong tạp chí, số 107 tháng 7 năm 1926, Phạm tiên sinh viết bài báo với nhan đề Văn hóa và Chính trị, một bài luận thuyết hay, trả lời tác giả Trần Văn Tăng ề bài báo Quá khứ và hiện tại đăng ở báo Nam Phong số 106 (tháng 6-1926). Sau một hồi phân tích mục đích bài báo của tác giả họ Trần là muốn giúp cho công việc “Vãn hồi quốc vận, phù cứu quốc nguy”. Mục đích chánh đáng vô cùng. Phàm kẻ làm văn, kẻ tư tưởng ở nước ta ngày nay, không thể có mục đích khác được… “Tôi cũng xin vì mục đích ấy mà thể cái lòng nhiệt thành của tác giả, muốn xét lại cái vấn đề trên kia về một phương diện thiết thực với thời thế hiện nay là: Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn?… Hai câu đó mới xét tựa hồ như rời nhau, một câu thuộc về hiện tại, một câu thuộc về tương lai; có giải quyết được câu thứ nhất thời mới giải quyết được câu thứ nhì; nhưng xét kỹ hai câu cũng là một, câu trên thuộc về chính trị, câu dưới thuộc về văn hóa, mà chính trị rút lại cũng gồm ở trong phạm vi văn hóa… Sau đây xin bàn rõ về hai phương diện chính trị và văn hóa và chứng giải rằng trong hai phương diện ấy, phương diện văn hóa thật là quan hệ và bao quát hơn, dẫu có lúc tùy từng thời thế, tùy cơ hội, phải chuyên chủ về phương diện chính trị cũng không thể nhãng bỏ phương diện văn hóa, một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thì ngọn mới tốt được… Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị, điều đó cũng hiển nhiên ai cũng biết… Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: Một cách bạo động, một cách ôn hòa…”

Cụ Phạm Quỳnh là một con người say mê trong sự nghiệp “văn chương chữ nghĩa”. Chỉ một tờ bìa của Nam Phong tạp chí mà đã làm tôi ngạc nhiên và mến phục tài ứng xử, đối đáp khéo léo để thắng đoạt mọi sự phản đối của ông quan cai trị Louis Marty. Đó là việc ông chủ bút họ Phạm đã thay đổi biểu trưng (logo) trên bìa 1 của tờ báo. Mấy năm đầu thì logo in hình “con gà trống Gôloa” (Gaulois)[4] đứng toàn thân trong hình vành khăn với 3 từ tiếng Pháp dàn đều quanh vòng: Liberté (Tự do) Égalité (Bình đẳng) Fraternité (Bác ái), đến năm 1920 thì hủy bỏ logo này, thay vào biểu trưng hình bầu dục với hai đường viền xung quanh, ở giữa in hai từ tiếng việt: “Nam Phong” lồng vào nhau. Từ năm 1926 về sau thì logo lại là một con dấu hình chữ nhật có 3 đường viền đậm nhạt khác nhau, in hai chữ Hán “Nam Phong” kiểu chữ triện. Sự thay đổi của ông chủ bút Nam Phong thể hiện rất rõ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc. Năm 1931, nhân dịp Tổng trưởng Thuộc địa Pháp Paul Reynaud qua Đông Dương kinh lý, Phạm tiên sinh đã gửi bức thư ngỏ yêu cầu Chính phủ Pháp “hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ; vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Phải chăng các ý tưởng trên đây là sản phẩm của nhân cách Phạm Quỳnh, ông phát biểu và viết ra đem in trên tờ Nam Phong tạp chí để đến với công chúng bạn đọc.

Thay lời kết:

Gần đây, trong một buổi giới thiệu sách dịch: Phạm Quỳnh, những tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, có đông người đến dự, trong đó có nhiều giáo sư, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các dịch giả, các nhà khoa học…, giáo sư Nguyễn Đình Chú có nói một câu tự đáy lòng rằng: “Phạm Quỳnh đối với riêng tôi là một cuộc sửa sai chính mình, một cuộc nhận thức lại những định kiến…Tôi cảm thấy xấu hổ”. Còn ông Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, nơi phối hợp xuất bản cuốn sách, đã nói: “Tôi quan niệm người trí thức đích thực là người truyền bá được những giá trị khoa học, văn hóa, người có ý thức trách nhiệm với dân tộc… đóng vai trò trung tâm hướng dẫn dư luận xã hội, Phạm Quỳnh chính là người trí thức như thế” (Văn hóa Nghệ An, số 116).

Huế, tháng 8 năm 2009.

N.T.C.

Tài liệu tham khảo:

-          Phạm Quỳnh. Pháp du hành trình nhật ký, Nxb Hội Nhà Văn và Công ty Văn hóa Phương Nam.

-          Nam Phong tạp chí các số: 13, 24, 46, 75, 101, 106, 107, 159…

-          Nguyễn Hoàng Diệu Thúy. Phạm Quỳnh, một nhận thức lại (Văn hóa Nghệ An số 116 tháng 1 năm 2008)

-          Vĩnh Ba. Nhà văn hóa Phạm Quỳnh (Huế Xưa và Nay số 82).


[1] Bút danh: Tây Dương

[2] F. Mistral (1830-1914): “S’il tient sa langue, il tient la clef qui, de ses chaines, le délivre” (tạm dịch: Nếu ai giữ được tiếng nói, tức là nắm được chìa khóa để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ). F.Mistral nhận giải thưởng Nobel năm 1904.

[3] Trong sách Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (ESSAIS 1922-1932) do nhà xuất bản Tri thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, xuất bản năm 2007, ta thấy ông lại nhấn mạnh ý này trong bài diễn văn đọc trước Viện Hàn lâm Pháp ngày 22/7/1922, nhan đề là Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi (PT chú)

[4]Con gà trống Gôloa”: Biểu trưng cho xứ Gaule thời cổ đại về nhà nước của người Gaulois; có thời biểu trưng này được trang trí trên ngọn cờ cách mạng Pháp, sau bị xóa đi thời Đế chế, sau lại xuất hiện (1830) rồi lại bị xóa bởi Napoléon III. Lịch sử Pháp có câu: “Tổ tiên ta là người Gôloa” (Nos ancêtres sont les Gaulois). Thực dân Pháp đã đưa câu này dạy cho học sinh Việt Nam trong các trường Pháp – Việt từ bậc tiểu học.

Tháng Bảy 31, 2014

Giáo sư Hồ Sĩ Quý: Rất cần một bảng giá trị không lệch lạc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:40 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 8 năm 2014.

GIÁO SƯ HỒ SĨ QUÝ:

RẤT CẦN MỘT BẢNG GIÁ TRỊ KHÔNG LỆCH LẠC

Thảo Nguyên (thực hiện)

(Bài thu từ www.vanhoanghean.com.vn phát ngày thứ sáu, 9/3/2012 lúc 4:04)

—o0o—

n Hóa Nghệ An: Gần đây, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã ra nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng. Xét cho cùng đây cũng chính là vấn đề Con Người, vấnHo Si Quy đề văn hoá, tất nhiên là khu biệt ở cộng đồng cán bộ, đảng viên của Đảng. Để có thể có một cái nhìn toàn diện hơn vấn đề này từ trong chiều sâu tâm thức văn hoá, đặt vấn đề trong tổng thể cộng đồng dân tộc, Văn Hóa Nghệ An đã có cuộc trao đổi với giáo sư, tiến sĩ triết học Hồ Sĩ Quý – Viện trưởng Viện thông tin Khoa học xã hội. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Mỗi cá nhân thông thường đều có những nét riêng về phẩm chất, tính cách. Tuy vậy, trong phạm vi một cộng đồng thì sự khác biệt của các cá nhân đó lại không làm mất đi những phẩm chất và những tính cách chung, mà người ta thường gọi là mẫu số chung về tính cách cộng đồng. Chúng tôi quan niệm đó là bảng giá trị nhân cách của cộng đồng. Nếu chấp nhận cách hiểu này thì, theo Giáo sư, trong bảng giá trị đó, cộng đồng người Việt Nam chúng ta có những phẩm chất nào được coi là tiêu biểu nhất, và những cái gì tạm gọi như là những thói xấu cố hữu chưa gột bỏ được?

GS.HSQ: Nét tích cực tiêu biểu và những thói xấu cố hữu trong tính cách người Việt là chuyện được bàn nhiều ở vài năm trước, lúc tâm thế xã hội còn tràn đầy không khí lạc quan, cái không khí khiến nhiều người tin hơn ở những đức tính tốt đẹp của người Việt, coi đó có thể là nguyên nhân lớn tạo nên sự phát triển. Một phần nữa, lúc đó cuốn sách Người Trung Quốc xâu xí của Bá Dương, tác giả người Đài Loan, mới được biết đến nên cũng gây ảnh hưởng, tạo cảm hứng mới mẻ cho sự bàn cãi. Mấy năm nay, đời sống kinh tế xã hội tuy vẫn phát triển nhưng đã nảy sinh nhiều vấn đề nổi cộm, có những điểm tắc nghẽn rất khó khai thông nên việc bàn đến tính cách người Việt có phần nhạt đi. Hiện thời, có lẽ anh Vương Trí Nhàn là một trong số ít những người còn mặn mà với chủ đề này.

Sự thực, đây là vấn đề rất căn bản, nằm ở tầng rất sâu trong văn hóa. Nó sẽ đeo bám sự phát triển trong mọi bước ở tương lai. Nghĩa là điều hay, nếu đạt tới, nó cũng có công, và cái dở, nếu mắc phải, nó cũng là một trong những kẻ tội đồ.

Trong một số bài báo và trả lời phỏng vấn, tôi cũng đã vài lần khẳng định cái hay, cái dở ở người Việt. Nay, lùi xa hơn một chút để suy ngẫm, tôi thấy, vẫn đủ cơ sở để một lần nữa khẳng định, thông minh, năng động, học giỏi và ít nhiều chịu khó là phẩm chất khó phủ nhận của người Việt, trong so sánh với bất kỳ cộng động tương đương nào. Và, thiếu triệt để trong tư duy và hành động, thiếu đại lượng khi nhìn nhận cá nhân, khi đánh giá người bên cạnh mình, và thiếu một bảng giá trị không lệch lạc để điều chỉnh hành vi là những điểm dở nhất trong tính cách người Việt, kể cả người Việt sống ở nước ngoài.

P.V Giáo sư có thể nói kỹ hơn…

GS. HSQ: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên các trang tin Online, lâu nay nhiều ý kiến đã tỏ ý hoài nghi các phẩm chất thông minh, năng động, học giỏi và chịu khó của người Việt. Các bằng cớ đưa ra cũng không dễ cãi. Cũng đã có những nghiên cứu định lượng công phu với ý định nhằm khẳng định một lần cho dứt điểm về vấn đề này. Nhưng sự thật không đơn giản thế, ấy là chưa nói đến việc nghiên cứu định lượng ở ta cũng chưa đạt tới trình độ thật tin cậy. Thành thử mọi ý kiến, kể cả ý kiến của tôi hôm nay, cũng chỉ là những cảm nhận, những suy tư, khái quát có phần cảm tính.

Nhưng thật khó phủ nhận, tại sao từ thời (Theo chúng tôi, có lẽ giáo sư muốn nói về thời các vị học giả này đưa ra những nhận xét về các phẩm chất của người Việt cả mặt hay lẫn dở – tức đầu thế kỷ 20 – PT chú) cụ Đào Duy Anh, cụ Nguyễn Văn Huyên, cụ Phạm Quỳnh đến tận ngày nay, lúc nào cũng có những tiếng nói và quan trọng hơn, những hiện tượng, những chứng cứ chứng minh cho những phẩm chất đẹp này ở người Việt. Xin không nhắc lại những hiện tượng đáng tự hào của nhiều cá nhân và cộng đồng người Việt ở Đức, ở Pháp, ở Mỹ … và trong các kỳ thi tranh tài quốc tế, dù không ít cuộc thi chỉ là những thi cử ở tầm học trò. Người Việt trong cạnh tranh, giao tiếp với các cộng đồng bên ngoài, thường bộc lộ khá rõ tư chất thông minh, dù đôi lúc thông minh có phần “láu cá”. Tính năng động, độ nhạy bén, khả năng thích nghi với hoàn cảnh, cũng là phẩm chất khá trội, dù không ít trường hợp vẫn chưa vượt quá trình độ “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Còn tinh thần hiếu học, thì xưa nay luôn là giá trị dễ thấy nhất, dù mục đích của việc học thường vẫn bị chê trách là học “để làm quan”, học để có bằng cấp, và nhiều lắm là học để làm việc, chứ rất ít người học với tinh thần “yêu thích tìm ra sự thật hơn là làm vua Ba Tư”. Và, tính cần cù, sự chịu khó trong kiếm sống nữa. Ngày nay, người cần cù có thể ít hơn, nhưng cũng chưa hề quá lời khi không ít người vẫn bị chê là “cần cù đến cù lần”.

Tôi nghĩ rằng, nếu cộng đồng, các tổ chức xã hội, bộ máy giáo dục và các quan chức có trách nhiệm, có cái nhìn “đãi cát tìm vàng”, chứ không phải “bới lông tìm vết”, với những hiện tượng này, ít ra phải được như cụ Tạ Quang Bửu ngày trước, thì tình hình sẽ khả dĩ hơn rất nhiều. Không đánh giá thích đáng những hiện tượng này, có thể sẽ là một sự lãng phí ngớ ngẩn. Ý tôi muốn nói là, nếu không đủ đại lượng để có cái nhìn ưu ái với những hiện tượng này, để nâng đỡ, khuyến khích, sử dụng và phát huy những hiện tượng này, xã hội sẽ lãng phí một nguồn lực quý – nguồn lực trí tuệ, nguồn lực con người.

Cũng cần nói thêm rằng, nhu cầu xã hội về một cái nhìn đại lượng ưu ái đối với phẩm chất thông minh, năng động, học giỏi và chịu khó khi đánh giá con người, mà tôi muốn nói đến ở đây, không phải chỉ là nhu cầu cần có một thái độ, một “lòng tốt”, hay là một “quan chức anh minh”…, mà là nhu cầu trong hoạt động, trong thực tế với các chính sách, chế độ, cơ chế… đảm bảo cho các phẩm chất đẹp có cơ hội nảy nở, thể hiện mình và phát triển. Chỉ nghĩ trong đầu mà chưa thể hiện thành hành vi, thành chính sách thì vẫn chưa thể coi là có thái độ đúng.

P.V. Thế còn cái xấu của người Việt, thưa Giáo sư?

Như vừa đề cập, trong tính cách người Việt, những điểm hạn chế đáng ngại nhất, khi đối chiếu với nhu cầu của sự phát triển đất nước ở thời điểm hiện nay, đó là thiếu triệt để trong tư duy và hành động, thiếu đại lượng khi nhìn nhận cá nhân, khi đánh giá người bên cạnh mình, và thiếu một bảng giá trị không lệch lạc để điều chỉnh hành vi.

GS. Trần Đình Hượu trước đây đã cảnh báo đại ý rằng, người Việt ai cũng biết làm một vài câu thơ, nhưng chẳng có nhà thơ nào và tác phẩm thơ nào được tôn vinh như là biểu tượng của cả nền văn hóa. Ngay cả Nguyễn Du cũng chưa được như Tagore trong văn hóa Ấn Độ, hay Đỗ Phủ, Lý Bạch trong văn hóa Trung Hoa. Cả dân tộc đánh giặc ngoại xâm gần như liên tục trong nhiều thời đại, nhưng chẳng có tướng sĩ nào được tôn vinh thành tượng đài thiêng liêng của ý chí dân tộc; hình tượng Trần Hưng Đạo được biết đến trong tâm thức dân gian, trên thực tế, là tượng đài của một Đức Thánh Trần, chứ không phải là tượng đài của một nhà quân sự tài ba. Chiến sỹ – nông dân áo vải cờ đào thì mới chỉ là đám đông anh hùng, không hề có một gương mặt cụ thể với những nét tính cách cụ thể. Nếu Chiến tranh thế giới II để lại ở Nga một số con phố mang tên những chiến sỹ binh nhất binh nhì, thì Chiến tranh chống Mỹ ở ta, đến nay, ngay các vị tướng cũng chưa được nhắc tới. Và, điều đáng ngại là ở chỗ, chúng ta thấy thế là bình thường.

Triệt để trong tư duy và hành động thường có nguy cơ, và đôi khi buộc phải, rơi vào cực đoan. Nhưng ở ta, mẫu người cực đoan, trong lĩnh vực nào cũng thế, lại rất ít nhận được sự thiện cảm của cộng đồng, nếu không muốn nói là thường bị ghẻ lạnh. Trong khi đó, ở phương Tây, người cực đoan có “đám đông” của họ, và rất nhiều phát minh, sáng tạo, sáng chế, tác phẩm… đã ra đời từ những ý tưởng cực đoan ở những con người cực đoan. Cực đoan, trong không ít trường hợp là đi đến tận cùng lý lẽ của vấn đề, là tư duy “vét cạn” toàn bộ sự việc, buộc sự việc phải lộ ra bản chất của nó. Cực đoan, mặt tốt của nó là triệt để. Đây là cái mà người Việt rất thiếu. Ngày nay, nhìn vào các hiện tượng văn hóa – xã hội, dù đã qua nhiều năm hội nhập và GDP đã vượt qua ngưỡng 1000 USD đầu người năm, nhưng đâu đâu ta cũng thấy những hiện tượng cải tiến, chắp vá, “có mặt nọ có mặt kia”…; rất ít có những hiện tượng là sản phẩm của tư duy triệt để, nhất quán, làm một lần là xong và không phải làm lại.

PV. Có phải Giáo sư cho rằng triệt để thì phải cực đoan?

GS.HSQ: Mọi sự triệt để đều có màu sắc cực đoan. Nhưng rất nhiều hiện tượng cực đoan lại chẳng mang thái độ triệt để hay tư duy triệt để nào cả. Đây là điều không dễ phân biệt nên trước cộng đồng, những người có tư duy triệt để thường phải chịu thiệt thòi. Trong cộng đồng người Việt, không nhiều người đủ đại lượng để nhận ra trong số những người cực đoan thì ai là người có tư duy triệt để, có cái nhìn xuyên thấu logic của sự việc. Vậy nên, các liệu pháp sốc, các phương án toàn diện – tổng thể, các giải pháp chấp nhận hy sinh… thường rất khó được tán đồng; chưa kể, những khó khăn khách quan cho những giải pháp kiểu này lại luôn rất lớn.

Thực tế đời sống ở Việt Nam cho thấy, những khó khăn khách quan luôn có xu hướng khuất phục được rất nhiều người có tư duy triệt để, khiến mọi ý đồ triệt để nhất rồi cũng phải thỏa hiệp hoặc chùn bước. Nhiều sự khởi đầu đầy hăng hái nhưng do thiếu một sự cực đoan cần thiết, nên rồi, kết quả vẫn không như mong đợi. Những ý tưởng to lớn không hiếm khi vẫn chỉ cho ra những kết quả bé tý, thường là do thiếu một phương thức thực hiện hợp lý với những cách làm và cách nghĩ triệt để. Nền văn hóa ở ta không khuyến khích những người dám chết để làm điều mình cho là có ích. Cộng đồng luôn nhân danh những giá trị của tiền nhân về dại và khôn, lợi và hại, cho và nhận, tâm và tài… để răn dạy các cá nhân không nên quá mạo hiểm với đời sống của mình. Điều này cũng có ý nghĩa tích cực của nó. Nhưng về một phương diện khác thì nó cản bước sự sáng tạo, làm thui chột ý chí vươn tới đỉnh cao và kéo dài sự sống của những cái lạc hậu. Điều này rất khác với văn hóa duy lý châu Âu.

Cách đây ít lâu, đứng trước những vấn nạn của nền giáo dục nước nhà, GS. Hồ Ngọc Đại nhận xét: “Tình trạng loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… là thực trạng buồn của giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì ta lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu”[1]. Tôi chú ý đến sự nhắc nhở của ông về tính triệt để trong tư duy và hành động. Với nền giáo dục đã có vài thập niên cải cách mà càng làm càng rối, thì tư duy chắp vá, thiếu triệt để, kém đồng bộ, chỉ “cải cách phần ngọn”… là thứ cần phải tính đến. Nghĩa là, cần có các giải pháp toàn diện – đồng bộ với tư duy triệt để. Nói như GS. Hoàng Tụy, sự trục trặc ở đây đã thuộc về lỗi hệ thống. Hệ thống vận hành của giáo dục đã không còn đủ sức tự sửa những lỗi của nó nữa. “Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học”[2].

Dĩ nhiên, cắt nghĩa sự yếu kém của giáo dục mà chỉ tìm nguyên nhân ở nếp tư duy, ở phẩm cách con người hay ở văn hóa thì rất không đầy đủ và do đó, rất dễ lệch lạc. Bởi đó là những nguyên nhân xa. Còn những nguyên nhân gần, nguyên nhân trực tiếp hơn của tình trạng yếu kém của giáo dục hiện đang thuộc về lợi ích, thuộc về bộ máy quản lý giáo dục, và cơ chế vận hành bộ máy quản lý ấy.

(Còn tiếp)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:32 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 8 năm 2014.

Một Phạm Quỳnh viết du ký

(Bài thu từ báo điện tử Đại biểu Nhân Dânhttp://daibieunhandan.vn hồi 8:39 ngày 13/2/2014)

Hương Sen

—o0o—

Không chỉ là nhà lý luận tiên phong về văn học hiện đại Việt Nam, một trí thức nặng lòng với văn hóa dân tộc, Phạm Quỳnh còn là nhà viết du ký xuất sắc thế kỷ XX.

Học giả Phạm Quỳnh (1892 – 1945) sinh tại làng Lương Ngọc, tổng Ngọc Cục, phủ Bình Giang, nay thuộc xã Thúc Kháng, Bình Giang, Hải Dương. Với các bút danh Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân, ông dành trọn cuộc đời để viết báo, làm chủ bút tạp chí Nam Phong, làm giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội, sáng lập hội Khai TrPham Quynh_deo bai ngaí Tiến Đức… Tên tuổi Phạm Quỳnh đã được khẳng định trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, công trình nghiên cứu, chuyên khảo, luận văn. Từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay, nhiều tác phẩm của ông đã lần lượt được sưu tập và công bố như: Mười ngày ở Huế (2001), Luận giải văn học và triết học (2003), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong (1917 – 1934), 3 tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007)…, và mới nhất là Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (NXB Tri thức).

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, tác giả Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký nhấn mạnh: các trang du ký của Phạm Quỳnh thể hiện niềm tự hào dân tộc và cảm xúc chân thành trước vẻ đẹp non sông đất nước. Nhiều trang du ký của ông thực sự có giá trị sử liệu để xem xét nhiều sự kiện văn hóa – xã hội và định vị hoạt động tổ chức hành chính của giai tầng công chức thượng lưu dưới thời thực dân phong kiến. “Qua những chuyến du hành vượt biên giới, du ký của Phạm Quỳnh đã mở ra những chân trời nhận thức mới, đưa lại niềm phấn khích bởi những trang ghi chép, miêu tả sống động của người trải nghiệm. Phạm Quỳnh đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng ở thể tài du ký hồi đầu thế kỷ XX”.

Quá trình thực hiện Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký, Ts Nguyễn Hữu Sơn đã chọn in các bài viết hay về những nơi Phạm Quỳnh đi qua như: Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Trảy chùa Hương, Pháp du hành trình nhật ký, Thuật chuyện du lịch ở Paris, Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng, Du lịch xứ Lào. Trong từng tác phẩm, độc giả thấy được sự đan xen, hòa quyện của một ngòi bút đa phong cách – khi mang màu sắc của một nhà báo, một ông chủ báo; lúc mang văn phong của một nhà văn; khi viết trong tâm thế một nhà chính trị, một học giả. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, cho rằng, đọc các tác phẩm của Phạm Quỳnh, độc giả như theo chân ông viễn du từ Á sang Âu, từ Nam tới Bắc, đồng thời được thưởng thức tinh hoa văn học du ký – thể loại thịnh hành đầu thế kỷ XX và đang được ưa thích trở lại trong một vài năm gần đây.

Các tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh thỏa mãn người đọc ở hai điều: kiến thức địa lý và những trải nghiệm thuộc về tinh thần. Trong Mười ngày ở Huế, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp phong cảnh Huế mà còn đúc rút được nhiều kinh nghiệm du lịch đất Huế thuở đó: “… Muốn đi xem lăng phải đi vào ngày gió thu hiu hắt, giời đông u ám thì mới cảm nhận được hết cái thú thâm trầm…”. Một tháng ở Nam Kỳ lại là những trang viết sống động về Sài Gòn – Gia Định, “từ cách đặt đường phố cho đến cách dựng cửa nhà, từ cách thắp đèn điện cho đến cách đặt máy nước ở các nhà, cho đến cách tuần phòng vệ sinh trong phố xá, nhất nhất đều tiến bộ hơn Hà Thành ta cả. Ở Sài Gòn thật là có cái cảm giác một nơi đô hội mới, nghĩa là một nơi đô hội theo lối Tây…”. Trong Pháp du hành trình nhật kýDu lịch xứ Lào, người đọc không chỉ được theo chân học giả tới những quốc gia khác mà còn được biết thêm những tư liệu mang giá trị lịch sử, để từ đó hiểu hơn nhiều sự kiện văn hóa – xã hội, hoạt động của giai tầng công chức thượng lưu thời thực dân phong kiến… Trảy chùa Hương thể hiện niềm vui khi khám phá một danh lam thắng cảnh, với những trang viết đầy tính nghệ thuật. Hay kết thúc Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng ông cũng nặng lòng với trách nhiệm của nhà văn ở đời là người gióng lên tiếng kêu cho mọi người nghe thấy đồng điệu mà đồng tình, đồng thanh mà đồng cảm. Tinh thần tự hào trước vẻ đẹp non sông đất nước, cùng với khát vọng thức tỉnh, thúc giục đồng bào trong nước tiến lên cho bằng người.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, đọc các tác phẩm của Phạm Quỳnh, tìm hiểu con người ông, về những năm tháng ông sống ở Huế và Nam Kỳ giai đoạn 1932 – 1945 cho thấy, ông đã nghĩ tới niềm mong mỏi của dân đối với đất nước: “… Tôi càng đi du lịch trong Nam Kỳ lại càng thấy cái cảm giác rõ ràng rằng người Nam người Bắc thật là con một nhà, nếu biết đồng tâm hiệp lực thì cái tiền đồ của nước Nam ta không thể nào hạn lượng cho được…” (Một tháng ở Nam Kỳ). Từ đó, chân dung Phạm Quỳnh hiện ra như hình ảnh một trí thức giàu tâm huyết, một học giả uyên thâm, một nhà báo sắc sảo, một nhà văn hóa nhiệt tâm với quê hương đất nước. “Phạm Quỳnh cùng với các tác phẩm của ông đã đóng góp một phần quan trọng trong vấn đề thống nhất đất nước, thống nhất quốc gia, là những di cảo xuất sắc trong thế kỷ XX” – nhà sử học Dương Trung Quốc nói.

Đóng góp của Phạm Quỳnh không chỉ là kiến thức và tư liệu, mà còn là lối viết văn theo hướng hiện đại, gãy gọn, khúc triết và trong sáng. Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đình Chú khẳng định trong bài Thượng Chi bàn về tiểu thuyết: “Trong lịch sử văn học Việt Nam, trước Phạm Quỳnh, chưa ai nói về thể loại tiểu thuyết một cách có hệ thống và phong phú như thế. Dù không phải là người làm lý luận văn học, lý luận tiểu thuyết, ông có nhiều ý kiến đúng và xứng đáng là nhà lý luận tiên phong về văn học hiện đại Việt Nam”.

H.S.

Phỏng vấn một khách du lịch

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:25 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 8 năm 2014.

 PHỎNG VẤN MỘT KHÁCH DU LỊCH

Lê Thị Liên Hoan

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài viết sau đây của tác giả Lê Thị Liên Hoan đăng trên trang 42, mục Phản Chiếu báo Thể Thao và Văn Hóa số 40 (25/4/2006) nhân Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh mới được tái bản.

 —-o0o—-

 PV: Thưa anh, trong khi đi du lịch cơ bản anh làm gì?

Khách: À, đã đi du lịch thì cơ bản là… nhìn ngó.

PV: Vậy giữa các điểm ngó thì sao?

Khách: Thì tôi ngồi trên xe, và đọc sách.

PV: A, sách hướng dẫn phải không? Chỉ ra những nơi giảm giá? Le Hoang

Khách: Ồ, đâu có. Nhiều thứ đáng đọc hơn. Chẳng hạn Pháp du hành trình nhật ký của tác giả Phạm Quỳnh, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, ông Vương Trí Nhàn chú giải.

PV: Tôi biết Phạm Quỳnh là một trong những nhà văn hóa lớn đầu thế kỷ

Khách: Đúng vậy. Nhưng có lẽ nếu chưa đọc cuốn sách này, ít người biết ông ấy cũng là một nhà du lịch lớn.

PV: Du lịch? Lớn theo nghĩa nào?

Khách: Theo hai nghĩa: Đầu tiên, vào những năm 20 của thế kỷ trước, đối với một người Việt Nam (lúc đó còn gọi là An Nam) đi theo một chặng đường dài qua nhiều nước như vậy là điều rất hiếm.

PV: Không thể gọi là rất mà phải gọi là rất – rất –rất hiếm hoi.

Khách: Vâng. Rồi sau đó, gần như toàn bộ chuyến đi, những suy nghĩ của Phạm Quỳnh chủ yếu thiên về văn hóa.

PV: Văn hóa.

Khách: Đúng thế. Hãy nhớ rằng vào năm 1922, năm mà chuyến du lịch ấy được thực hiện, Việt Nam còn ở trong một tình trạng xã hội phong kiến nặng nề, nói thẳng ra là vô cùng lạc hậu. Đùng một cái, Phạm Quỳnh tới nước Pháp, một xã hội tư bản phát triển, y hệt như anh đang đi guốc leo vào thang máy.

PV: Tôi cũng đọc cuốn đó rồi. Phạm Quỳnh không những nhìn thấy thang máy, mà thấy cả tàu điện ngầm, trong khi bản thân vừa mới bước xuống từ…xe kéo

Khách: Nhưng khách du lịch Phạm Quỳnh (tôi chỉ nói về khía cạnh này thôi) đã làm một điều rất hay mà khách du lịch ngày nay khối người không làm được.

PV:Chắc là ông ấy khảo giá được hết các mặt hàng, và mua được toàn đồ rẻ?

Khách: Bậy nào. Phạm Quỳnh chả để ý gì tới hàng hóa. Ông chỉ quan tâm đến văn hóa mà thôi.

PV: Vậy sao?

Khách: Đúng. Toàn bộ những ghi chép của ông, từ lúc tàu rời cảng Hải Phòng, đều hướng về điều đó. Ông quan sát, ông đối chiếu và ông tự rút ra bài học cho mình.

PV: Một cách sâu sắc?

Khách: Vào những năm ấy, suy nghĩ như thế rõ ràng là sâu sắc. Nhưng đánh giá nó là tùy mỗi người. Điều tôi thích ở Phạm Quỳnh là thái độ của ông. Một thái độ học giả hoàn toàn.

PV: Suốt ngày, Phạm Quỳnh chui vào thư viện hay sao?

Khách: Không chỉ thư viện thôi đâu. Ông lắng nghe người ta diễn thuyết, ông dạo quanh các bảo tàng, ông tới nhà hát.

PV:A, những thứ đó thì tôi cũng đến

Khách: Nhà báo đến là do được…người ta hướng dẫn, hoặc đến để cho oai, để chụp hình về treo tủ kính. Còn Phạm Quỳnh thì đến vì tự thân. Ý thức học hỏi của ông rất cao

PV: Chỉ học hỏi thôi à?

Khách: Phạm Quỳnh còn phân tích nữa. Ví dụ ở trang 321 ông viết: “Nghĩ trong các vấn đề thiết yếu của người mình không có gì bằng vấn đề giáo dục…Nước Việt Nam là một nước cổ, vốn đã có một nền văn hóa cũ, nhưng cái văn hóa cũ ấy ngày nay không thích hợp với thời thế nữa, cần phải có văn hóa mới thời nay thì mới có thể sinh tồn được trong thế giới bây giờ…Nhưng ngặt thay, dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì cũng được, tức là một tập giấy đã có sẵn chữ từ mấy đời đến bây giờ rồi. Nếu bây giờ viết đè lên một chữ mới lên trên, thì e thành giấy lộn mất…”

PV: Nghĩa là Phạm Quỳnh không phải loại trí thức “thuộc địa” lắm!

Khách: Không! Nhưng đó không phải vấn đề của bài này. Cái tôi muốn nhấn mạnh là thái độ du lịch của ông.

PV: Thái độ du lịch à? Chữ dùng lạ đấy.

Khách: Lạ ư. Nhưng tôi không tìm ra chữ khác. Thái độ của Phạm Quỳnh rõ ràng là của nhà nghiên cứu. Nó đầy suy ngẫm, đầy liên tưởng và cũng nhiều khi mỉm cười phê phán.

PV: Chà, giá như ngoài mỉm cười, ông ấy có chút mỉa mai…

Khách: Đừng đòi hỏi nhiều quá. Sự mỉa mai chỉ đến sau này…

Tóm lại Pháp du hành trình nhật ký là một cuốn sách đáng đọc, không chỉ dành cho người sắp định đi đâu.

 LTLH

 

 

Tháng Bảy 24, 2014

Cùng bạn đọc (tuần 1 tháng 8 năm 2014)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:00 chiều

Cung ban doc (tuan 1 thang 8 nam 2014)

Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý: Di sản tư liệu dung chứa nhiều bài học từ lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:17 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý:

Di sản tư liệu dung chứa nhiều bài học từ lịch sử

Luân Vũ (thực hiện)

(Bài đăng trong mục Trò chuyện cuối tuần trang 8 báo Nhân Dân cuối tuần số 21 (1321) 25/5/2014)

*

*      *

Châu bản triều Nguyễn vừa được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cùng với 82 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội, Mộc bản triều Nguyễn và Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, các di sản tư liệu vô cùng đặc sắc này đang lưu giữ rất nhiều giá trị văn hóa, lịch sử có ý nghĩa đặc biệt với đời sống xã hội. Song song với những nỗ lực gìn giữ, vấn đề khai thác, quảng bá những giá trị tư liệu vô giá này đang được đặt ra cấp thiết. TS Lê Thị Minh Lý, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chia sẻ nhiều băn khoăn, trăn trở về vấn đề này.

Hoang sa trong dai nam thuc luc- Thưa bà, đã có đến bốn di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO công nhận, ghi danh vào chương trình Ký ức thế giới. Có điều gì khác biệt giữa các di sản này với hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thế giới?

- Di sản thông tin tư liệu là loại hình di sản vừa có tính vật thể, vừa có nguồn gốc phi vật thể. Tức là nó có dạng vật chất, và có sáng tạo của con người để lại trong các dạng vật chất ấy. Nhưng di sản tư liệu không phải là di sản phi vật thể hiểu theo nghĩa là do con người đang lưu giữ, con người đang thực hành. Sở dĩ người ta nghĩ đến loại hình di sản này vì nó thật sự rất quý giá. Nó là văn hóa, nó cũng đang mai một và cần được bảo vệ khẩn cấp. Chính vì vậy, UNESCO đang có chương trình ghi danh các di sản thông tin tư liệu. Hiện chương trình này đang tiến tới việc xây dựng công ước để bảo vệ như đối với di sản vật thể và phi vật thể. Như vậy, có thể thấy nhân loại đã có một cái nhìn toàn diện về các loại hình di sản và có các cách thức khác nhau để bảo vệ.

- Bà có thể nói rõ hơn về tiêu chí công nhận của loại hình di sản này?

- Trước hết, đó phải là sự độc đáo, ở cả vật mang tin và cả thông tin. Vật mang tin có thể là mộc bản, có thể là bia đá, văn bản bằng giấy… nhưng là một hình thức độc đáo, một sự sáng tạo, và độc bản. Điều quan trọng hơn, thông tin trên đó phải là những điều đặc biệt, nó chứng minh những giai đoạn phát triển, đánh những dấu mốc quan trọng trong lịch sử. Ngoài ra, còn có những tiêu chí khác nữa như sự tích cực của người dân trong việc bảo vệ di sản này, vai trò của Nhà nước trong việc quan tâm bảo vệ di sản, đặc biệt là ý nghĩa xã hội nếu như di sản đó được đưa vào danh sách của UNESCO. Việc ghi danh này không phải để nhằm xác định danh hiệu, mà hướng đến mục tiêu khẳng định rằng đây là những tài sản quý giá của dân tộc đó, của nhân loại, và mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ.

- Có một vấn đề đang rất được dư luận trong nước quan tâm, đó là các thông tin liên quan đến vấn đề chủ quyền quốc gia được ghi nhận trong hệ thống các di sản tư liệu đã được thế giới công nhận?

- Chúng ta cần hiểu chính xác về vấn đề này. Đối với việc ghi danh các di sản, nhất là các di sản tư liệu, có những nội dung liên quan đến lịch sử và chính trị, nhưng với các chuyên gia quốc tế, khi xem xét các tài liệu này, họ không can thiệp vào các vấn đề chính trị của các quốc gia, mà chỉ đánh giá nó trên khía cạnh phản ánh văn hóa và giá trị di sản. Thí dụ, trong các di sản tư liệu có những thông tin liên quan đến vấn đề của Hoàng Sa, Trường Sa, thì đó là câu chuyện của quốc gia đó, tại thời điểm đó. Họ không đào sâu vào vấn đề tài liệu đó nói như thế có đúng hay không, mà họ chỉ đánh giá là thông tin đó được ghi vào thời điểm đó, và nó thuộc về văn bản đó.

- Mang chứa rất nhiều thông tin lịch sử có giá trị như vậy, tuy nhiên, sau những nỗ lực lập hồ sơ công nhận danh hiệu, và chú trọng đầu tư bảo vệ, lưu giữ, hoạt động quảng bá, giới thiệu nội dung các di sản tư liệu này với cộng đồng dường như chưa được quan tâm thỏa đáng?

- Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm thuộc cộng đồng quản lý. Nhà nước đã quan tâm, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho phép thực hiện một đề án và ba đề tài cấp nhà nước để làm cho mộc bản đó được sống trong đời sống đương đại, với các phần việc khác nhau: trưng bày, giới thiệu bằng các cách tiếp cận khác nhau (có thể là bản gốc, có thể là bản phục chế, có thể là bản điện tử). Quan trọng hơn, các nội dung đó sẽ được nghiên cứu, dịch thuật và tìm ra các giá trị kết nối với đời sống ngày hôm nay để làm sao cho người dân nhận biết được giá trị vô giá của di sản và học được điều gì đó từ lịch sử.

Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn đang được Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước bảo quản trong điều kiện rất tốt. Tuy nhiên, tại những nơi này chưa hình thành quyền tiếp cận dễ dàng để nghiên cứu, đó cũng là vấn đề. Trong thời gian tới, cần phải có những dự án để tạo cách thức giúp cộng đồng tiếp cận dễ dàng hơn với di sản, tìm hình thức để quảng bá di sản rộng rãi trong đời sống xã hội. Cần nhớ, yêu cầu của UNESCO là di sản phải được tiếp cận và bảo vệ trên cơ sở tôn trọng.

- Xin cảm ơn bà đã dành thời gian cho cuộc trò chuyện này.

L.V.

Châu bản là một loại văn bản hành chính của vương triều Nguyễn (1802- 1945). Trên các Châu bản này còn lưu lại các dấu tích bút phê của vua triều Nguyễn bằng son đỏ. Trong hơn 700 Châu bản được lưu giữ, có 18 Châu bản thể hiện rất cụ thể việc triều Nguyễn thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua việc liên tục cử người ra hai quần đảo này để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ. Hiện nay, chỉ duy nhất triều Nguyễn có các Châu bản khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài Việt Nam, không một nước nào có Châu bản về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo này. Châu bản cũng là tư liệu gốc để các nhà sử học triều Nguyễn biên tập bộ Đại Nam thập lục – bộ sách có giá trị để nghiên cứu và có nhiều nội dung khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ lịch sử xa xưa. Mộc bản bộ sách này thuộc khối di sản tư liệu Mộc bản triều Nguyễn cũng đã được công nhận Di sản tư liệu của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

 

Điện Biên Phủ 60 năm, kỷ niệm sâu sắc trong lòng người cháu dâu Phạm Quỳnh: Xuân Trong Hầm Pháo Điện Biên Phủ – 1954

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:50 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

ĐIỆN BIÊN PHỦ 60 NĂM

KỶ NIỆM SÂU SẮC TRONG LÒNG NGƯỜI CHÁU DÂU PHẠM QUỲNH:

XUÂN TRONG HẦM PHÁO ĐIỆN BIÊN PHỦ – 1954

 

Xuan trong ham phaoTranh sơn dầu của họa sĩ Phạm Thanh Tâm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sáng 5/7/2014, họa sĩ Phạm Thanh Tâm lần đầu tiên đến thăm gia đình chúng tôi tại 82 Lý Chính Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh. Người họa sĩ chiến sĩ Điện Biên năm xưa đã ngoại bát tuần, vóc người cao, lưng thẳng, tóc bạc trắng, đi bộ trên tay có cây ba toong chỗ cầm có chạm Pham Minh Tamtrổ mỹ thuật, hào hứng kể cho tôi nghe về chuyến đi Điện Biên Phủ vừa qua, với một nhóm nhà làm phim I-ta-li-a. Ông vui vẻ nói: “Có lẽ đây là chuyến đi cuối cùng tới Điện Biên và cũng là công việc cuối cùng tôi được làm trên đất Điện Biên….”

Nhân nhắc tới việc bức tranh của họa sĩ đã được 13.001 lượt người xem qua Blog PhamTon chúng tôi, từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, và được đưa trang trọng lên trang bìa tạp chí Hồn Việt của Hội Nhà văn Việt Nam số 81 tháng 5/2014, họa sĩ cho biết cô gái múa lượn trong bức tranh ông vẽ năm 1954 đó, nay là thiếu tá Nguyễn Thị Lương, hiện vẫn mạnh khỏe và tích cực tham gia các hoạt động văn nghệ phục vụ bộ đội, nhân dân và sinh sống cùng gia đình tại Hà Nội.

Tôi có thưa với họa sĩ là sau khi chúng tôi phát tin về bức tranh đó thì rất đông đảo bạn đọc gọi điện đến, hoặc gửi email khen ngợi nhưng họ “chỉ tiếc một điều” là phần viết về cô gái múa lượn trong hầm pháo tối ấy với cả tấm lòng yêu mến kính trọng các chiến sĩ pháo thủ trẻ, còn ít quá. Họ mong hiểu biết thêm về cô.

Đáp lại thịnh tình của bạn đọc, chúng tôi đã liên lạc với con gái bà, mong chuyển lời xin cho chúng tôi biết thêm về cuộc sống và hoạt động nghệ thuật của bà. Chị con vui vẻ nhận lời, nhưng cho biết hiện bà đang dẫn đoàn cựu chiến binh đi phục vụ… Chúng tôi đợi, đợi mãi… Rồi cuối cùng, chúng tôi hiểu: Bà không muốn nói thêm gì về mình, ngoài những điều bà đã nói trong cuộc giao lưu ngày nào do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức và đã phát ra “bốn biển năm châu” rồi. Chúng tôi hiểu bà thuộc “loại phụ nữ rất Việt Nam”, suốt cuộc đời chỉ lo làm chỗ dựa, làm “hậu phương” cho chồng con, hòa tan đời mình vào cuộc sống và sự nghiệp của chồng, con… Có lẽ, muốn hiểu thêm về bà, thì hãy cứ tìm hiểu kỹ cuộc sống và sự nghiệp của chồng con bà…

Tin như thế, Blog PhamTon kỳ này giới thiệu với quý bạn đọc hai bài viết về Phạm Vinh là chồng bà và Phạm Minh, con trai bà, tức là người cháu đích tôn và người chắt của học giả Phạm Quỳnh.

 *

*   *

Kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ, trên sóng VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam đã mở chương trình giao lưu đặc sắc, hùng tráng Điện Biên Phủ bản giao hưởng Hòa Bình với những nhân chứng từng tham gia trận đánh Điện Biên Phủ 1954 oai hùng. Bên cạnh những nhân vật lớn, cỡ tướng, tá, anh hùng kể lại những chiến công trời long đất lở… lại có một nhân vật kể lại câu chuyện “nhỏ” mình từng tham dự ở một “góc rất nhỏ”, nhưng đã khiến hàng triệu con tim Việt Nam và người nước ngoài ở cả trong và ngoài nước rung động khi nghe chính người trong cuộc, một nghệ sĩ múa 81 tuổi, kể tỉ mỉ, đầy xúc động về kỷ niệm thời mình là một cô gái 21 tuổi, được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ở đại đoàn pháo binh 351 và múa lượn tại hầm pháo số 2, ngay đêm đầu tiên pháo binh Việt Nam khai hỏa, trên trận địa Him Lam, mở đầu Đại thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, oanh liệt sau này. Các pháo thủ bắn một loạt thì văn công lại múa hát một bài cho đến khi có lệnh chuyển xuống phục vụ đơn vị pháo cao xạ phòng không

May thay, có họa sĩ Phạm Thanh Tâm người cùng đại đoàn, ký họa tại chỗ ngay, nên chúng ta đã có bức tranh sơn dầu quý báu này.

Sau chiến thắng, cô gái múa trở lại thăm những chàng lính trẻ nhớ mặt mà chưa biết tên của mình ở căn hầm số 2 thân thương, nhưng chỉ còn là tan hoang, đổ nát, máu rơi, thịt nát. Các chiến sĩ xem múa đêm ấy đều hy sinh khi đang đánh giặc bên cỗ pháo. Khi nghệ sĩ múa trẻ run rẩy không còn đứng vững được trước những đau thương quá sức chịu đựng như thế, cô tựa vào một bức vách hầm, thì có người mách nhỏ, “đừng bám vào, để các anh yên, trên vách còn dính nhiều máu, thịt của các anh để lại khi hầm pháo nổ tung…”

Tất cả chỉ còn là tan hoang, đổ nát, chan hòa nước mắt… Các cô gái xin đi thăm mộ các anh còn đắp sơ sài và cố tìm những đóa hoa mua tím còn sót lại sau những trận địch dội bom, đạn tơi bời, cố cắm mỗi mộ một, hai bông.

Cái giá trả cho chiến thắng vĩ đại thật là quá lớn, mà cũng rất giản dị…

Những người anh hùng ấy chỉ còn trong bức tranh của họa sĩ Phạm Thanh Tâm và trong trái tim cô gái trẻ, sáu mươi năm sau (khi đã là thiếu tá, chính trị viên phó Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam) vẫn còn rung động trái tim lão cựu chiến binh hơn 80 tuổi…

Người múa họa sĩ vẽ trong tranh, trong hầm pháo số 2 đêm đó là chị Vũ Thị Lương, vợ của anh Phạm Vinh, người trọn đời xứng danh “Anh bộ đội Cụ Hồ”, đích tôn của học giả Phạm Quỳnh. Và cũng chính chị đã kể cho hàng chục triệu khán giả truyền hình Việt Nam và quốc tế câu chuyện không thể quên ở Điện Biên Phủ năm 1954.

P.T.

 

Phạm Minh, chắt nội của Phạm Quỳnh, biên đạo và diễn viên ba lê nổi tiếng

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:33 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

Phạm Minh, chắt nội của Phạm Quỳnh, biên đạo và diễn viên ba lê nổi tiếng

(Bài viết riêng tặng cháu Phạm Minh)

Phạm Tôn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Blog PhamTon, chúng tôi đã đăng bài Phạm Vinh, đích tôn của Phạm Quỳnh, trọn đời là anh bộ đội Cụ Hồ. Cuối bài, có nhắc đến Phạm Minh, con trai ông và cũng là diễn viên ba lê múa đơn kiêm biên đạo nổi tiếng. Nhiều bạn đã gởi email và gọi điện thoại ngỏ ý mong được biết rõ hơn con đường dẫn người chắt nội này của học giả Phạm Quỳnh đến với nghệ thuật hàn lâm và thành đạt khi tuổi đời còn rất trẻ.

Hôm nay, chúng tôi xin đáp ứng phần nào yêu cầu đó của bạn đọc thân mến của blog PhamTon.

*

*  *

Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn, ông có tài về cả văn học nghệ thuật và khoa học. Đến đời các con ông, thì mặt khoa học xem ra phát triển mạnh hơn. Người là luật sư, người là bác sĩ, dược sĩ, người là nhà nghiên cứu văn học. Tuy hầu như tất cả các con ông đều ham mê văn học nghệ thuật, người dàn giỏi, người hát hay, người làm thơ, người vẽ tranh… Nhưng, chỉ là để làm phong phú hơn cuộc sống làm khoa học của mình. Chỉ có một người hiến trọn đời mình cho nghệ thuật âm nhạc, đó là nhạc sỹ Phạm Tuyên . Đến đời các cháu ông, cũng thế. Xu hướng khoa học át hẳn xu hướng văn học nghệ thuật. Tuy thế, vẫn có người quản lý đoàn nghệ thuật, dạy nhạc, đàn pi-a-no… có người viết báo mê văn, có kiến trúc sư sành đàn ghi ta và vẽ tranh đẹp, có nhà giáo nhân dân hát hay… Và hầu như, mọi người đều thích hát, nghe nhạc.. Chỉ đến đời các chắt của ông, mới xuất hiện một con người như sinh ra chỉ để làm nghệ thuật. Mà lại là một nghệ thuật hàn lâm, cao siêu, chuyên sâu: múa ba lê. Đó là Phạm Minh, con trai đích tôn Phạm Vinh của ông. Phạm Minh như sinh ra chỉ để múa, mà là múa ba lê.

Phạm Minh sinh ngày 4/10/1974, tại Hà Nội, trong khu văn công Mai Dịch. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, em mới hơn nửa tuổi. Và bấy giờ, bố Phạm Vinh của em, người “trọn đời là anh bộ đội Cụ Hồ” đang tiếp quản Sài Gòn. Với cương vị phó đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn, rồi đoàn Văn công Quân khu II. Những ngày bố Vinh về thăm nhà, Phạm Minh mới biết có bố sống bên mình sướng đến thế nào…

Được hơn ba năm, Phạm Minh mới gần tròn năm tuổi, thì tối 7/9/1979, bố Vinh đi dự liên hoan mừng thắng lợi của đơn vị và cũng là buổi đơn vị cũ thân thương tiễn anh lên nhận chức vụ mới, cao hơn. Sáng hôm sau, bé Minh ngơ ngác thấy bố không về và mắt mẹ và hai chị cứ đỏ hoe. Các cô, chú trong khu văn công thì nức nở: “Bà Vinh ơi, thương bà quá”. Minh hiểu, mọi người nói “Bà Vinh” là nói về bố em, người vốn rất yêu thương chăm sóc chu đáo đồng đội. Mẹ bảo: “Đêm qua, bố ngủ lại với đồng đội sau buổi liên hoan chia tay. Sáng nay, bố không dậy nữa”.

Dần dần, Phạm Minh mới hiểu thế là em mất bố Vinh thật rồi…

Trước cặp mắt ngây thơ của em, mẹ và chị cả gọi người đến bán dần bán mòn “các đồ vật có giá” quen thuộc với gia đình từ khi “đổi đời” mấy năm nay. Tivi, tủ lạnh, ra-đi-ô, rồi đến cả quạt máy, bàn là…lần lượt ra đi… Các bữa cơm hằng ngày cũng nhiều rau đậu hơn thịt cá. Em không hiểu vì sao khi cả nước vui mừng, các gia đình trong khu văn công quân đội đời sống ngày càng đầy đủ hơn, vui vẻ hơn thì nhà mình lại buồn bã suy tàn thế này. Mẹ là diễn viên múa đơn xinh đẹp mà nay xơ xác lo chạy ăn hằng ngày. Các chị lặng lẽ học và giúp mẹ làm việc nhà; ai cũng ít nói, cười…Tuy thế, mẹ Lương vẫn lo cho em đi học nhạc tại Trường Nghệ thuật Hà Nội. Nhưng lại học vi-ô-lông. Không cho theo nghề múa vất vả của mẹ. Minh được học nhạc là mừng rồi, học chăm và được trường cấp giấy khen. Bấy giờ, em mới tám, chín tuổi.

Còn hai tháng nữa thì em tròn mười tuổi. Bấy giờ Bộ Văn hóa có tổ chức thi tuyển để chọn những thiếu nhi có năng khiếu về múa, đưa đi đào tạo ở nước ngoài. Mong tránh cho con khỏi phải khổ vì theo cái nghiệp của mẹ, bà Lương đã giấu, không cho Minh biết. Bà lại đang là chính trị viên phó Đoàn Ca múa Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam thì nếu dự thi, Minh càng dễ trúng tuyển.

Nhưng bà mẹ thương con và lo xa ấy không hề biết tới tâm trạng u buồn lâu nay của cậu con út luôn đau đáu “tìm cách cứu mình, cứu nhà” và một lòng lo chuyện kế nghiệp múa của mẹ yêu quí.

Hằng ngày, Phạm Minh vẫn chăm chỉ đi xe buýt từ nhà đến trường học vi-ô-lông; còn học cả cách trốn vé xe cho đỡ tốn tiền mẹ. Nhưng rồi, chẳng biết bằng cách nào, Phạm Minh nghe ngóng được tin có cuộc thi tuyển định mệnh đó. Có lẽ, do đó là một tin làm chấn động cả Khu văn công Mai Dịch. Em nằng nặc đòi mẹ cho dự thi. Mẹ em đành bảo là em có học múa bao giờ đâu mà dự thi, vả lại hạn đăng ký thi cũng đã hết từ lâu rồi. … Chẳng ngờ, thấy mẹ không phản đối, chỉ nêu lý do khó khăn này nọ, Minh bèn tìm cách khắc phục. Khăn quàng đỏ trên vai, cậu bé gầy gò, nhỏ bé, lầm lũi đi bộ đến nơi dự thi. Thì khi ấy, cuộc thi đã qua hai vòng rồi. Bây giờ là vòng cuối. Phạm Minh hớt hải chạy đến nài nỉ ban tổ chức, vốn có nhiều người trong ngành múa quen biết bố, mẹ em. Thương tình cậu bé nhiệt tình, quyết tâm, đang mồ hôi mồ kê nhễ nhại đến xin dự thi, họ báo cáo lại và được ban giám khảo chấp thuận cho em vào thi thằng vòng ba. Thật không ai ngờ: Phạm Minh trúng tuyển ngay, lại còn được chuyên gia giám khảo khen là “có cả năng khiếu về múa lẫn âm nhạc”. Sau này, bà Vũ Thị Lương, mẹ em xúc động kể lại: “Hôm ấy, tôi thấy cu cậu ôm một tập hồ sơ về, vừa bước vào nhà vừa khóc thút thít. Tôi nghĩ là cháu bị trượt nên khóc; mà trượt thì cũng phải thôi, có học hành tập tành gì đâu, tôi định lựa lời an ủi… Về sau, mới biết, chỉ khóc vì tủi thân: “Ai cũng có bố, mẹ đưa đón, còn con thì lủi thủi một mình đến, lại lủi thủi một mình về.” Cháu đỗ rồi, tôi không muốn xa con, sợ con vất vả suốt đời với nghiệp múa mình đã trải qua, nhưng cũng đành chiều ý con.”

Mới chín, mười tuổi đầu, Phạm Minh lại một mình sang nước bạn xa xôi giá lạnh để quyết nối nghiệp mẹ, hiến thân cho nghệ thuật múa.

Suốt tám năm ròng rã học ở Trường múa của Nhà hát Hàn lâm quốc gia Ki-ép (U-crai-na) cái nôi lớn đào tạo diễn viên ba lê nổi tiếng thế giới, Phạm Minh đã cố gắng học cho được những bước cơ bản nhất của nghệ thuật múa hàn lâm này. Không có gì ngoài học bổng ít ỏi, không trông chờ gì vào chi viện của gia đình ba miệng ăn chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của mẹ, cũng không theo bạn bè “dạy khôn” học buôn bán kiếm tiền. Em chỉ lo học tập, miệt mài học tập, mà chỉ học một môn múa ba lê mà càng ngày em càng say mê, cảm thấy như mình sinh ra chỉ là để múa ba lê vậy. Có lần, viết thư về cho mẹ ở Hà Nội, Phạm Minh thành thật bày tỏ: “Mẹ ơi, con không thể từ bỏ ba lê!” Càng ngày em càng được thầy cô ưu ái, các vị giáo sư đầu ngành ở Ki-ép này đã không tiếc công sức chỉ bảo cho cậu học trò Việt Nam, cả từ chuyên môn múa đến những việc nhỏ nhặt nhất trong đời sống hằng ngày của một diễn viên ba lê. Ở đây, Phạm Minh học thiên về múa cổ điển. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc với tấm bằng đỏ, thầy cô muốn giữ lại trường, nhưng Minh nghĩ là muốn phát triển thêm thì phải qua biểu diễn thực tế trên sàn diễn thật nhiều, đồng thời phải biết kết hợp giữa cái cổ điển và cái hiện đại. Anh đành lòng từ chối nơi mình từng lưu luyến cả người lẫn cảnh và tìm cách gia nhập một vũ đoàn thực sự.

May mắn đến với anh khi trường cử học sinh xuất sắc của mình dự Cuộc thi Ba lê Quốc tế tại Vác-na (Bun-ga-ri). Phạm Minh vào tới vòng hai trong ba vòng, không được giải. Anh bình tĩnh nói với các chuyên gia ở đây là: “Tôi không phải là một trong số những người xuất sắc ở đây, bị loại là điều không thể tránh khỏi…”. Nhưng không ngờ, chính thái độ bình tĩnh của chàng trai Việt Nam 18 tuổi ấy đã khiến một vị trong Ban giám khảo xúc động. Ông Robert Barthier, người Pháp, giám đốc Đoàn Ba lê Trẻ Pháp (Jeune ballet de France –JBK) đã thấy được những khả năng thần kỳ tiềm ẩn trong cặp chân của Phạm Minh. Sau này, năm 1993, khi sang Việt Nam chỉ đạo đoàn biểu diễn, ông nói với giới báo chí Việt Nam: “Chúng tôi thấy cậu bé Việt Nam có đôi chân rất đặc biệt, nhất là trong các điệu cổ điển và cũng có rất nhiều khả năng để sau này múa hiện đại. (…) chúng tôi thích cậu ấy.” Phạm Minh được nhận vào đoàn ba lê của ông.

Đoàn này thật có một không hai: chỉ nhận học sinh từ 16 đến 22 tuổi, đã học múa mà chưa biểu diễn chuyên nghiệp, gồm cả thanh niên Pháp và các nước khác, đào tạo trong đúng một năm, sau đó giới thiệu cho các đoàn múa chuyên nghiệp. Trong năm này, học sinh biểu diễn trên 170 buổi. Phạm Minh nhờ được rèn luyện trong một môi trường múa chuyên nghiệp như vậy mà thành tài.

Năm 1994, lại một bước ngoặt quyết định nữa trong cuộc đời nghệ thuật của Phạm Minh. Anh là một trong ba người được chọn vào Nhà hát Le Ballet Capitole de Toulouse (Pháp) qua cuộc thi tuyển năm sáu chục người tài năng. Phạm Minh sớm được đảm nhiệm vai diễn chính trong các vở đặc sắc của George Balanchine, Peter Martine, Nacho Duato, Richard Tannuer, JC Blavier, Antony Todor… Anh vào các vai Albrecht trong Giselle (phóng tác của N.Glushak), vai hoàng tử trong Cô bé Lọ Lem của D.Dean, vai Franz trong Camella của Martinez và Kẹp Hạt Dẻ trong vở cùng tên của M.Rhan. Với kỹ thuật múa ba lê cổ điển điêu luyện gây ấn tượng và một phong cách múa thanh thoát, trẻ trung, tự nhiên, nhiều báo chí Pháp và thế giới đã ca ngợi Phạm Minh là một diễn viên múa đơn xuất sắc trong số những diễn viên ba lê nổi tiếng của Nhà hát Capitole lừng danh thế giới.

Năm 1993, Phạm Minh và Đoàn Ba lê Trẻ Pháp đã về biểu diễn ở nước ta. Đoàn biểu diễn buổi đầu tiên tại Cung văn hóa Việt Xô ngày 25/4/1993. Sau đợt biểu diễn ở Hà Nội đến hết tháng 5, đoàn đi nhiều tỉnh và thành phố lớn, đặc biệt là diễn cho công nhân khu mỏ Quảng Ninh. Năm 2003, Phạm Minh về nước cùng Đoàn ba lê Capitole, biểu diễn hai tối 30 và 31 tháng 8, tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh múa đơn, với kỹ thuật ba lê cổ điển, điêu luyện, gây ấn tượng và với phong cách độc đáo của riêng anh thanh thoát, trẻ trung và tự nhiên đã chinh phục khán giả Hà Nội, đặc biệt là thanh niên và sinh viên được xem với giá vé giảm tới 50%. Trong hai tối 6 và 7 tháng 9/2006, Phạm Minh, nghệ sĩ múa đơn số 1 từ hơn 10 năm nay của Nhà hát Capitole Toulouse dàn dựng vở Mùa xuân thiêng liêng của N.Roerich, ra mắt tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đoàn múa Capitole Toulouse (Pháp) trình diễn cùng với các nghệ sĩ múa của Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Đây là chương trình hợp tác giữa Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội, Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam và Dự án Hỗ trợ phát triển văn hóa Việt Nam. Năm 2008, Phạm Minh lại về nước, chỉ đạo các nghệ sĩ múa ba lê của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam trình diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội hai tối 27 và 28 tháng 8/2008 tiết mục Người đãng trí (Amnesta) của Roderick Vanderstraen do anh biên đạo trong Đêm Ba lê hiện đại Khúc Giao Mùa.

Chắt nội Phạm Minh của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, con trai của hai nghệ sĩ –chiến sĩ Điện Biên Phủ Phạm Minh và Vũ Thị Lương, dù đi nhiều nước trên thế giới, danh tiếng cũng đã vang khá xa khi tuổi đời còn trẻ, nhưng bao giờ anh cũng luôn tâm niệm một điều là “Đi đến bất cứ nơi nào, mình và những người bạn của mình đều cố gắng làm mọi việc đạt kết quả cao nhất để nói lên rằng người Việt Nam rất tốt, rất giỏi”.

Tại Hà Nội, anh đã gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, ông trẻ của mình, một người cũng hiến thân cho nghệ thuật. Và khi nhắc tới tấm gương sáng của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, Cụ của Phạm Minh, anh càng thấy rõ hơn con đường hiến thân cho nghệ thuật của mình còn dài lắm.

Và cao hơn cả hiến thân cho nghệ thuật nữa là hiến thân cho Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quí của chúng ta.

Thành phố Hồ Chí Minh

7/3/2010

P.T.

Phạm Vinh, đích tôn của Phạm Quỳnh trọn đời xứng danh “Anh bộ đội Cụ Hồ”

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:00 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 8 năm 2014.

PHẠM VINH, ĐÍCH TÔN CỦA PHẠM QUỲNH,

TRỌN ĐỜI XỨNG DANH “ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

(Bài viết tặng chị Vũ Thị Lương và các cháu Phạm Mai Hương, Phạm Lan Phương và Phạm Minh)

Phạm Tôn

Lâu nay, khi nói về học giả, nhà văn hóa Phạm Quỳnh, ta thường thấy nhắc tới các con Ông, nhất là Giáo sư bác sĩ Nhà giáo Nhân dân, Đại biểu Quốc hội Phạm Khuê, Viện trưởng cũng là người sáng lập ra Viện Lão Khoa và ngành lão khoa Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam. Và cũng không ai quên nhắc tới nhạc sĩ Phạm Tuyên, người đã viết lên bài ca khải hoàn mà toàn thể người dân Việt Nam từ trẻ đến già và cũng không ít bầu bạn năm châu đều thuộc là Như có Bác trong ngày đại thắng, tác giả của hơn sáu trăm ca khúc và hiện là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Hà Nội, ông cũng là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam từ ngày thành lập năm 1957.

Nhưng, những người viết thường quên, hoặc không biết đến thế hệ thứ ba, các cháu nội, ngoại của Ông. Mặc dù vất vả, khốn khó với “chủ nghĩa lí lịch” một thời ngăn cản, kìm hãm, thậm chí trù dập, không muốn cho họ có cơ hội thành đạt… nhưng, đến nay, các cháu nội, ngoại của nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã có không ít người là giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo nhân dân, tiến sĩ, viện trưởng viện này viện nọ ngay trên đất nước mình. Trong số đó, nổi bật nhất có một viện sĩ, giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm một ủy ban trong Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, từng ba khóa liền là ủy viên trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đó là chưa kể các cháu nội ngoại,  vì lý do “tan đàn xẻ nghé” đau lòng năm 1945 ấy, đã phải ra sống ở nước ngoài, nay cũng nhiều người thành đạt, là cán bộ của Liên Hiệp Quốc, tổng giám đốc các công ty đa quốc gia lớn… Nói chung, tất cả đều là những con người lương thiện, không hề làm điều gì có hại cho dân cho nước mà người Ông đáng kính của họ đã dốc lòng phụng sự và suốt đời yêu quí. Tiêu biểu cho thế hệ thứ ba này là Phạm Vinh, đích tôn của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, người đã trọn đời là một anh bộ đội Cụ Hồ.

Trong bức ảnh mừng sinh nhật hai cụ đồng tuổi Nhâm Thìn tổ chức tại gia đình ở Huế năm 1934, dễ nhận thấy ngay chú bé hai tuổi đứng giữa ông, bà, ngay sát chân ông là Phạm Vinh, đích tôn của hai ông bà Phạm Quỳnh – Lê Thị Vân.

Phạm Vinh sinh ngày 21/5/1932, tại nhà số 5 phố Hàng Da Hà Nội, trụ sở tòa soạn tạp chí Nam Phong, khi Phạm Quỳnh vẫn còn làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Năm 1938, bố mẹ li dị vì không còn hợp nhau nữa, nhưng Phạm Vinh vẫn cùng mẹ và em sống với gia đình Phạm Quỳnh ở Huế, tại biệt thự Hoa Đường. Đến năm 1943, ba mẹ con mới ra Hà Nội sống với bên ngoại. Năm 1945, sau Cách Mạng Tháng Tám, bên nội ly tán, Phạm Vinh mới 13 tuổi đã phải xa cả bố lẫn mẹ. Rồi năm 1946, mới 14 tuổi đã thành nhân viên kế toán cho Công binh xưởng K6 Cục Quân giới, liên khu 11 đến gần hết năm 1947 thì được về sống cùng với mẹ và các em tại Vĩnh Yên để đi học tiếp đến gần hết năm 1948. Rồi trường Lục quân khóa 6 về đóng tại trường học Vĩnh Yên, thế là đích tôn của Phạm Quỳnh xin nhập ngũ ngay ngày 4/3/1950, công binh khóa 6 trường Lục quân, học tại Trung Quốc. Vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20/10/1950, được công nhận là đảng viên chính thức ngày 18/5/1951. Xong khóa học, thì về nước, được phát hiện “có năng khiếu văn nghệ”, nên đưa vào đoàn Văn công F.351. Những năm 1951 đến 1953, anh đi biểu diễn phục vụ chiến sĩ các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, rồi Điện Biên Phủ. Và dự Hội diễn văn công toàn quân ở Việt Bắc (Thái Nguyên). Đến tháng 8/1954 thì về công tác tại Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, tham gia tiếp quản tỉnh Nam Định, biểu diễn ở Thái Bình, Nam Định, Phát Diệm và toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1957, đi biểu diễn ở bốn nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em: Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Liên Xô.

Về nước cuối năm 1957 đến năm 1958 đi biểu diễn phục vụ bộ đội các đơn vị ở Tây Bắc. 1958 đến 1963  cùng vợ là nghệ sĩ múa Vũ Thị Lương tham gia biểu diễn vở nhạc vũ kịch đầu tiên của nước ta Ngọn lửa Nghệ – Tĩnh ở miền Trung và miền Bắc. Năm 1962 đến 1965 Phạm Vinh mới có thời cơ về học nhạc chính qui tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Tốt nghiệp trường nhạc, Phạm Vinh về Đoàn văn công Quân khu Việt Bắc và đến tháng 10/1969 thì về Đoàn văn công Quân giải phóng Trường Sơn, trực thuộc Bộ tư lệnh 559. Suốt 10 năm trời, đích tôn của nhà văn hóa Phạm Quỳnh là đoàn phó Đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn, thuộc Tổng cục Xây dựng Kinh tế, tham gia biểu diễn tại các mặt trận Quảng Trị, Vĩnh Linh, Khe Sanh, Đông Hà, Lào, Buôn Ma Thuột, ngay khi chiến sự còn đang diễn ra ác liệt. Anh luôn chăm sóc diễn viên một cách chu đáo, tỉ mỉ cho nên thường được diễn viên gọi thân mật là “Bà Vinh”, coi anh như bà mẹ luôn chăm lo cho các con , một người mẹ hiền, tốt bụng.

Sau ngày đại thắng 30/4/1975, các anh vào tiếp quản Sài Gòn. Từ đấy, Đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn chuyển thành Đoàn Văn công Quân khu II.

Ngày 7/9/1979, trong buổi liên hoan mừng công của đơn vị, cũng là để tiễn Phạm Vinh lên nhận chức vụ mới, cao hơn, anh vui vẻ chan hòa cùng đồng đội đã từng cùng nhau chia lửa, cất cao lời ca tiếng nhạc suốt hàng chục năm dài gian khổ. Đêm ấy, anh ngủ lại cùng đồng đội trước lúc chia tay. Không ngờ tất cả những gian khổ về vật chất, đau đớn về tinh thần mà anh đã chịu đựng để rồi vượt qua từ năm mới mười ba tuổi đầu, đã dồn cả lại khiến đêm ấy thành đêm cuối cùng anh nằm trong lòng đồng đội yêu thương. Sáng hôm sau, Phạm Vinh không dậy nữa, không bao giờ còn thấy lại đồng đội, mẹ và vợ con yêu thương. Năm ấy, anh mới 47 tuổi đời, nhưng đã có 29 tuổi quân và 29 tuổi Đảng.

Khi anh mất, nhiều đồng đội đã đau đớn thốt lên: “Bà Vinh ơi, thương bà quá”.

Sau này, bà Vũ Thị Lương, nguyên chính trị viên phó Đoàn Ca múa Tổng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, vợ hiền của Phạm Vinh đã nhớ lại: “Anh sống cả cuộc đời trong quân ngũ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh là con người hiền hậu, tận tụy với công việc, một mình làm việc bằng ba người… Không hề bao giờ anh kêu ca, phàn nàn, mà kiên trì chịu đựng mọi gian khổ trong đời sống người lính, cống hiến cho quân đội không hề tiếc sức, dù có lúc từng bị trù dập cũng vẫn không nản chí, không oán trách. Nhưng tôi cũng cảm ơn quân đội đã công bằng nhìn nhận những thành tích của anh”. Tổng cục Chính trị và các Bộ tư lệnh Quân khu đã tặng anh quá nhiều bằng và giấy khen của Phòng Chính trị F351, Tổng cục Chính trị, Nhạc viện Hà Nội, Quân khu Việt Bắc, Đoàn Văn công Quân giải phóng Trường Sơn, Quân khu II, Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Ngoài ra, Phạm Vinh còn được tặng một Huân chương Kháng chiến Chống Pháp hạng ba, ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang các hạng I, II, III, một huân chương Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước hạng I, hai huân chương Chiến công Quân giải phóng và hai lần được bầu là chiến sĩ Thi đua.

Đêm 7 rạng ngày 8/9/1979, Phạm Vinh đột ngột ra đi nhẹ nhàng trong giấc ngủ, để lại cho vợ mẹ già và ba con nhỏ. Con trai út là Phạm Minh, bấy giờ mới gần năm tuổi. Cuộc sống gia đình thật chật vật, ăn bữa nay, lo bữa mai; những đồ đạc “có giá” như tủ lạnh, ti-vi, ra-đi-ô, bàn là, quạt máy…đều lần lượt “ra đi” để đổi lấy ngày ba bữa ăn đạm bạc. Vợ anh, chị diễn viên múa xinh đẹp năm nào, nay đầu tắt mặt tối suốt ngày với công tác và lo chạy ăn hằng ngày. Nhưng chị vẫn nuôi dạy con cái thành người có ích cho xã hội, sống lương thiện, tận tụy với dân với nước như cha các con.

Cậu út Phạm Minh sinh năm 1974, đến năm 1982 thì bà lo cho theo học vi ô lông tại Trường Nghệ thuật Hà Nội. Do có năng khiếu và cố gắng học tập đã được giấy khen của trường. Lúc đó em mới tám, chín tuổi. Đến tháng 8/1984, non mười tuổi thì em may mắn “lọt mắt xanh” một chuyên gia Liên Xô đến Hà Nội tuyển học sinh đào tạo diễn viên ba lê, nên được sang nhập học ở Trường Ba lê quốc gia Ki-ép (U-crai-na) đến tháng 6/1992. Tốt nghiệp với tấm bằng đỏ, sau 8 năm miệt mài học tập, em được Trường Ba lê quốc gia Ki-ép cử dự thi Cuộc thi múa ba lê quốc tế (International Ballet Competition) tại Vác-na (Bun-ga-ri). Vừa lúc em tròn 18 tuổi. Từ đó, Phạm Minh vào Đoàn Ba lê Trẻ Pháp (Le Jeune Ballet de France). Rồi tháng 8/1994, tròn 20 tuổi, Phạm Minh được chính thức mời về làm việc tại Nhà hát Ballet du Capitole de Toulouse vơi vai trò là diễn viên múa đơn số 1 (Premier Solist). Trong thời gian làm việc ở hai đoàn trên, Phạm Minh đã tham gia biểu diễn các gala ở Mỹ, I-ta-li-a, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Na Uy, Trung Quốc, Phi-li-pin, Thái Lan, Cu-ba, Vê-nê-duy-ê-la, Bờ Biển Ngà, Ba Lan và lãnh thổ Hồng Công…Từ năm 2005, Phạm Minh thường xuyên được mời sang Nhật Bản, dạy ba lê cho Architanz Dance Studio ở Tô-ki-ô (Nhật Bản). Tháng 9/2009, Phạm Minh được Ban Giám đốc Nhà hát Ballet du Capitole bổ nhiệm làm “Bậc thầy ba lê” (Maître de Ballet) của nhà hát.

Trong hai tối 6 và 7/9/2006 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, đã ra mắt vở ba-lê nổi tiếng Mùa xuân thiêng liêng của N. Roerich do Phạm Minh đạo diễn. Đây là chương trình hợp tác giữa Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’Espace) với Nhà hát nhạc vũ kịch Việt Nam và dự án Hỗ trợ phát triển Văn hóa Việt Nam. Tham gia biểu diễn có các nghệ sĩ của Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội và Phạm Minh, nghệ sĩ múa đơn số một từ mười năm nay của đoàn múa Capitole  (Toulouse, Pháp).

Thế là đứa chắt, con trai của đích tôn nhà văn hóa Phạm Quỳnh cũng đã trở về phục vụ nhân dân nước nhà.

Đến đây, có thể còn có người không hiểu vì sao con, cháu, chắt Phạm Quỳnh lại sống và làm việc như thế, trong khi nỗi đau bốn đời chưa được giải tỏa thỏa đáng… Sự thật giản dị hơn họ nghĩ nhiều. Con, cháu, chắt nhà văn hóa Phạm Quỳnh đều là những con người lương thiện, một lòng trung với nước, hiếu với dân như Ông suốt đời nêu gương và tin vào lời dặn lại của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng tám năm 1945 sau khi thảm kịch xảy ra với đại gia đình là: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Các con, cháu… cứ vững tâm đi theo cách mạng”

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng chạp năm Kỷ Sửu, tức 12/2/2010.

P.T.

Tháng Bảy 17, 2014

Bảo vệ chủ quyền phải thường xuyên,chủ động và kiên quyết

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:28 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 7 năm 2014.

Bảo vệ chủ quyền phải thường xuyên, chủ động và kiên quyết

(Tin trên trang 3, mục Thời Sự, báo Tuổi Trẻ, thứ năm 17/7/2014)

—o0o—

Hôm qua 16-7, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chính phủ đã họp phiên chuyên đề về công tác xây dựng pháp luật.

Mở đầu phiên họp, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao đã báo cáo cập nhật tình hình liên quan tới việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng biển của Việt Nam. Theo đó, từ tối 15-7, Trung Quốc đã di chuyển giàn khoan về hướng đảo Hải Nam.

Bao ve bien dong

Trước đó, từ ngày 2-5-2014, Trung Quốc đã hạ đặt trái phép giàn khoan 981 vào sâu trong vùng biển của Việt Nam, sử dụng hàng trăm tàu hộ tống, có cả tàu quân sự, máy bay. Các tàu của Trung Quốc đã hung hăng đâm va, phun vòi nước công suất lớn làm hư hỏng nhiều tàu và làm bị thương nhiều cán bộ thực thi pháp luật của Việt Nam; đặc biệt, đã có hành vi vô nhân đạo đâm chìm tàu cá, đe dọa nghiêm trọng tính mạng ngư dân Việt Nam.

Những hành vi này của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC); thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trong khu vực.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam luôn kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp và các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế; yêu cầu Trung Quốc không tái diễn hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan cũng như các hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng biển của Việt Nam.

Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển.

Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên biển Đông theo luật pháp quốc tế.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao và biểu dương các cơ quan chức năng, lực lượng thực thi pháp luật trên biển, bà con ngư dân, đồng bào ta cả trong và ngoài nước với lòng yêu nước nồng nàn đã biểu thị thái độ và trách nhiệm cao, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Việt Nam trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với lập trường chính nghĩa của Việt Nam; lên án mạnh mẽ các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, đe dọa hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh bảo vệ chủ quyền là nhiệm vụ thiêng liêng đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên, liên tục chủ động và kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời đoàn kết một lòng, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường tiềm lực về mọi mặt của đất nước.

V.V.Thành

*

*   *

Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đang dịch chuyển

Theo thông tin từ Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, từ 21g ngày 15-7, giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam dịch chuyển theo hướng Bắc Tây Bắc về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc).

Qua theo dõi của các lực lượng chức năng của ta, giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc cùng các tàu hộ tống dịch chuyển với tốc độ lúc cao nhất khoảng 4 – 4,2 hải lý/giờ (gần 8km/giờ) theo hướng bắc tây bắc, về phía đảo Hải Nam (Trung Quốc).

Phía Trung Quốc bố trí gần 60 tàu các loại hộ tống giàn khoan dịch chuyển theo hình chữ V ở cự ly sát nhau.

Tại thời điểm 18g30 chiều 16-7, giàn khoan Hải Dương 981 đã dịch chuyển khỏi vị trí cũ 41 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 163 hải lý về phía Tây Nam, ra ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đang tiếp tục theo dõi sự dịch chuyển của giàn khoan Hải Dương 981 và các tàu hộ tống của Trung Quốc.

TTXVN

*

*   *

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan trở lại

Liên quan đến việc Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình đã nhấn mạnh như vậy trong thông cáo gửi cho các cơ quan báo chí vào hôm nay 16-7.

Thông cáo nêu rõ: “Từ ngày 02/5/2014, giàn khoan Hải Dương-981 và nhiều tàu hộ tống, bao gồm cả tàu quân sự của Trung Quốc đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Vị trí hoạt động của giàn khoan chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 130 hải lý.

Các tàu của Trung Quốc đã vây ép, cố tình đâm húc, phun vòi rồng công suất lớn vào các tàu cảnh sát biển, tàu kiểm ngư đang thực thi nhiệm vụ quản lý biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, làm bị thương nhiều cán bộ kiểm ngư của Việt Nam và gây tổn thất cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam, thậm chí đâm chìm tàu cá của Việt Nam. Việt Nam đã đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền bằng các biện pháp hòa bình.

Một lần nữa, Việt Nam khẳng định khu vực hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 từ đầu tháng 5 đến nay thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.

Hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 và các tàu hộ tống của Trung Quốc trong hơn 2 tháng qua là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Việt Nam mong muốn thông qua đàm phán hữu nghị để giải quyết các tranh chấp, bất đồng ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Nhằm tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan Hải Dương 981 quay trở lại hoặc đưa bất cứ giàn khoan nào khác vào hoạt động ở khu vực lô dầu khí 143 của Việt Nam hoặc bất kỳ khu vực nào khác thuộc vùng biển của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.

Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền theo đúng luật pháp quốc tế.”

L.THANH

 *

*       *

Đại biểu thanh niên kiều bào xem triển lãm về Hoàng Sa

(Tin của Trường Trung trên trang 2, mục Thời Sự, báo Tuổi Trẻ, thứ năm 17/7/2014)

—o0o—

Nằm trong chương trình trại hè 2014 có chủ đề “Biển đảo quê hương tôi”, chiều 16-7 gần 170 đại biểu là thanh niên kiều bào từ 26 quốc gia đã tham quan Bảo tàng Đà Nẵng.

Dai bieu thanh nien xem trien lam hoang sa

Tại đây, các đại biểu xem triển lãm tư liệu về quần đảo Hoàng Sa và những hình ảnh là bằng chứng sự vi phạm chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển này.

Cũng trong chương trình này, các đại biểu có dịp giao lưu và nghe những thông tin mới nhất từ đại diện lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư về tình hình trên vùng biển Hoàng Sa. Đại biểu Nguyễn Thanh Hương (20 tuổi, Cộng hòa liên bang Đức) chia sẻ: “Khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển Việt Nam thì tôi cùng gia đình hai lần tham gia biểu tình phản đối. Về đây, được xem những hình ảnh tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá của bà con ngư dân Đà Nẵng, được nghe kể về quá trình đấu tranh của các cảnh sát biển, kiểm ngư, tôi thật sự rất xúc động. Khi về nước, tôi sẽ kể lại những gì mình được nghe tại đây để cha mẹ và bà con bên ấy hiểu hơn về tình hình trong nước cũng như quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền”.

TRƯỜNG TRUNG

“Ha-Na Hà Nội” Một câu chuyện huyền thoại với cựu chiến binh Mỹ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:25 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 7 năm 2014.

“HA-NA HÀ NỘI”

MỘT CÂU CHUYỆN HUYỀN THOẠI VỚI CỰU CHIẾN BINH MỸ

Thái Bảo

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông.

Chương I mở đầu bằng hai câu:

            Chúng ta phải thừa nhận

            Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm QuỳnhTho Erik Stinus

            Chương VII lại mở đầu bằng câu:

            Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

            Còn trong chương VI, có những câu:

            Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

            …

            Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

            rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

            ….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá trình thời đại

Và thực ra thì ông ta có phần đúng

(Theo bản dịch từ tiếng Anh của Nghệ sĩ Ưu tú Trịnh Thị Ngọ, bạn thân cùng học Anh văn với bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh)

Nhân dịp này, chúng tôi mời các bạn đọc bài viết về Nghệ sĩ Ưu tú Trịnh Thị Ngọ dăng trên trang 6 báo Nhân Dânsố ra ngày 20/8/1997 nhan đề “Ha-Na Hà Nội” Một câu chuyện huyền thoại với cựu chiến binh Mỹ

—o0o—

Trong tư liệu Nửa thế kỷ tiếng nói Việt Nam của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam có đoạn viết: “Trịnh Thị Ngọ (biệt hiệu Thu Hương (nghệ danh của bà Phạm Thị Hoàn khi hát tại Ban Việt Nhạc đài phát thanh Hà Nội cũ – PT chú), binh sĩ Mỹ thường gọi là Ha-na) là phát thanh viên tiếng Anh có giọng nói chuẩn xác và ngọt ngào, được binh sĩ Mỹ rất ưa thích, có sức quyến rũ mạnh tới mức một tờ báo của quân đội Mỹ Sao và vạch đã phải viết bài khuyên binh sĩ “Đừng nghe con mẹ phù thủy Ha-na!”. Có bài báo của Mỹ đã ví Ha-na với cô gái người Mỹ phát thanh viên của đài Nhật Bản có biệt hiệu là Tô-ky-ô Rô-sa (Bông hồng Tô-ky-ô) trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và nhận xét: “Tô-ky-ô Rô-sa quyến rũ bằng cách gợi tình, còn Ha-na thuyết phục binh sĩ Mỹ bằng cách nói chuyện đứng đắn nhưng rất thuyết phục”. Khuyên can không được, Bộ tư lệnh viễn chinh quân đội Mỹ cấm binh sĩ Mỹ ở Hạm đội 7 và Thái-lan cũng như ở miền nam Việt Nam không được nghe chương trình này của “đài Cộng Sản”. Nhưng càng bị cấm họ càng có thêm hứng thú nghe, rồi lén lút truyền bá cho nhau nghe. Có thể nói chương trình tiếng Anh dành cho lính Mỹ thời ấy đạt hiệu quả cao và là thành công của sự hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam và Cục địch vận (Tổng cục Chính trị)”.

Hana Trinh Thi NgoHơn ¼ thế kỷ đã trôi qua, nhưng đến nay với rất nhiều cựu chiến binh Mỹ đã tham gia chiến tranh ở Việt Nam vẫn có thể nhận ra giọng của Ha-na. Bởi lẽ trong số họ có người còn giữ được băng cát-xét thu “Tiếng nói nàng tiên cá Ha-na”. Nhớ lại năm 1965, khi quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, bà Trịnh Thị Ngọ được giao diễn xuất chương trình Chuyện nhỏ với binh sĩ Mỹ. Câu mở đầu của chương trình được dẫn tự nhiên: “Đây là Thu Hương trò chuyện với binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam…”. Lúc đầu lời thoại dài 5-6 phút và mỗi tuần có hai buổi phát, về sau tăng dần thời lượng và phát ngày ba buổi, mỗi buổi 30 phút. Như thế mỗi ngày “Ha-na Hà Nội” có 90 phút trò chuyện với binh sĩ Mỹ. Có thể nói hằng ngày có hằng trăm nghìn binh sĩ Mỹ nghe Thu Hương trò chuyện. Những buổi phát thanh của Ha-na khiến cho binh sĩ Mỹ thường tranh luận, có khi tới ẩu đả. Một số sĩ quan Mỹ bực tức vì “chiến tranh tâm lý của Cộng sản”, nghe rồi phải hét lên: Ha-na! Người là đấng tiên tri hay là quỷ dữ mà biết lắm điều thế? Trong cuốn Hồ sơ văn hóa Mỹ của Nhà xuất bản Thế giới (1996) đã giới thiệu nhà báo Mỹ Đôn-nót cách đây 20 năm là phóng viên của hãng ABC News và là người đầu tiên công bố những hình ảnh “Việt cộng tập kích Đại sứ quán Mỹ” trong cuộc tấn công Mậu Thân 68 – ông ta cũng cho ra đời bộ phim nổi tiếng Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày viết về chiến tranh Việt Nam. Mới đây khi tới Việt Nam gặp hỏi chuyện “Ha-na Hà Nội” ngay trên sân thượng khách sạn Rex (Sài Gòn) – khi về Đôn-nót xúc động đã viết một phỏng vấn dài trên báo nước ngoài thuật lại cuộc gặp này: “Không! “Ha-na Hà Nội” không phải là ma. Chị không có vẻ tai ác, mà đã đến đúng hẹn. Một phụ nữ yêu kiều nhỏ nhắn, ăn mặc hấp dẫn xuất hiện và dường như những âm thanh thời chiến của đài Hà Nội trở lại như những đợt sóng: “chúng ta phải đi khỏi nơi đây, nếu đó là việc cuối cùng cần làm. Chúng ta phải đi khỏi nơi đây chắc chắn là có một cuộc sống khác tốt đẹp hơn đối với tôi và anh”. Đó là lời một bài hát của nghệ sĩ Mỹ nổi tiếng Ê-rích Ba-dôn thường được Đài phát thanh Việt Nam phát đi trong khi lục quân Hoa Kỳ cấm.

Mới đây trong một dịp công tác vào Sài Gòn, tôi đã tìm gặp bà Trịnh Thị Ngọ, tại nhà riêng ở 19B Võ Văn Tần (Quận 3, TP Hồ Chí Minh). Gia đình bà sống trong một căn hộ 2 phòng trên lầu 2. Thoáng qua thấy cuộc sống của bà thanh đạm. “Ha-na Hà Nội” đã ở tuổi 67 nhưng với phong độ giao tiếp lịch duyệt, nhiệt thành khiến người gặp ngỡ bà như chưa đến 50. Qua câu chuyện được biết Trịnh Thị Ngọ sinh ra và lớn lên ở phố cổ Hàng Bồ, Hà Nội. Một thời bà là hoa khôi duyên dáng, đậu tú tài Pháp rồi học tiếng Anh qua tiếng Pháp do một người Anh có chồng là người Việt trực tiếp truyền thụ. Năm 1955, Đài Tiếng nói Việt Nam mở chương trình phát thanh bằng tiếng Anh, Trịnh Thị Ngọ đã trở thành phát thanh viên kiêm biên dịch và biên tập.

Vòng vo tôi hỏi: Bà có thể cho biết một vài kỷ niệm sâu sắc của mình?

“Ha-na Hà Nội” với giọng trầm ấm, thong thả trả lời: “Hơn 20 năm làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi ghi nhớ sự quan tâm và lòng ưu ái của nhiều đồng nghiệp – và có thể nói đó là những năm tháng đã qua đẹp nhất của đời mình. Tôi nghĩ, nếu có cuộc đời thứ hai phải làm lại thì tôi rất sung sướng lại được làm như thế.

Năm 1967, tôi cùng một số anh, chị em ở Đài may mắn được gặp Bác Hồ và được chụp ảnh chung với Người. Tấm ảnh đó hiện nay tôi lưu giữ như một kỷ vật thiêng liêng. Tôi cũng từng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho những tình cảm khích lệ và quan tâm mà cả đời mình, tôi không khi nào quên. Nghề nghiệp đã cho tôi môi trường để được gặp và làm quen với một số nhà báo, nghệ sĩ nước ngoài có tình cảm đặc biệt với Việt Nam trong thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước như nhà báo Ô-xtrây-li-a Bớc-sét, nữ ký giả Pháp M.Ri-phô và cả nữ diễn viên điện ảnh Mỹ danh tiếng Giên Phôn-đa. Chiến tranh đã lùi lại hơn 20 năm, nhưng vẫn không ít nhà báo, nhà văn, đạo diễn truyền hình của nước ngoài, đặc biệt là các cựu chiến chiến binh Mỹ đã tìm tới tôi để hỏi chuyện xưa. Có lần một phóng viên Mỹ đã tìm tới tôi hỏi “chị có nói dối không (nội dung của những buổi phát thanh của đài)”. Tôi trả lời: “Chúng tôi không bao giờ nói dối. Các tin tức, bài vở chúng tôi dùng có khác nhiều của chính các hãng thông tấn phương Tây và báo chí Mỹ. Chúng tôi đã nói tới sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, để giúp nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam”

Nay (tức năm 1997-PT chú) đã ở tuổi gần “thất thập cổ lai hy” nhưng “Ha-na Hà Nội” vẫn dành rất nhiều thời gian góp phần truyền thụ kinh nghiệm hiểu biết về nghề nghiệp của mình cho những lớp người đi sau. Ở Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh bà vẫn được mời đi hiệu đính, biên tập, biên dịch tiếng Anh. Người Nghệ sĩ Ưu tú ấy có tình yêu và niềm đam mê không ngưng nghỉ và theo cách nói của bà: “Trên đời này có hai thứ mà tôi “trung thành cho tới chết” đó là chồng con và nghề nghiệp.”

 

T.B.

Thư của nhà thơ Erik Stinus gửi bà Phạm Thị Hoàn

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:20 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 7 năm 2014.

THƯ CỦA NHÀ THƠ ERIK STINUS GỬI BÀ PHẠM THỊ HOÀN

Copenhagen

2-5-2002

Bà Phạm Thị Hoàn thân mến,

Một lần nữa tôi lại phải xin lỗi bà về sự chậm trễ này. Cám ơn bà rất nhiều về lá thư của bà, về cuốn sách và tập tiểu luận với bao thông tin quan trọng về Phạm Quỳnh. Và cám ơn bà đã nhắc nhở tôi.

Bà đặt cho tôi một câu hỏi rất khó, đó là tại sao tôi lại biết đến cụ thân sinh của bà với công trình của một học giả về văn chương. Tôi đã cố gắng ôn lại những chặng đường của mình và những điều tôi đọc được qua nhiều năm, nhưng chưa thể làm sáng tỏ cho câu hỏi của bà được.

Như bà biết tôi là một người làm thơ và hư cấu, đã có bao nhiêu điều xảy ra trên thế giới này đối với tôi, cũng vì vậy đã có bao nhiêu người tỏa sáng trong những trang tôi đã viết và cả những trang tôi sẽ viết.

Quê hương Việt Nam và nhân dân của bà đã ở trong tâm trí tôi nhiều năm và Pham Quynh Og Den Videre Historie* chính là một tựa đề như sẵn có trong bài thơ thứ 6 mà tôi viết về Việt Nam.

Tôi viết bằng tiếng Đan Mạch, một thứ ngôn ngữ chỉ dành cho 5 triệu người, vì vậy những gì mà tôi viết ra thông thường khó mà được ai biết đến ngoài đất nước Đan Mạch. Vì vậy tôi có phần lúng túng khi được biết là bà lại có thể biết (và do đâu?) về bài thơ của tôi, nhưng tất nhiên tôi đặc biệt vui mừng thấy bà lại có thể biết nó qua một bản dịch mà bà có được qua một trong những người bạn của tôi ở Việt Nam, tôi tin là như thế.

Tho tieng anh Erik StinusTôi đã đến thăm Việt Nam ba lần. Lần đầu là vào dịp kỷ niệm lần thứ 600 nhà thơ Nguyễn Trãi. Vào dịp đó cùng với một số nhà thơ của nhiều nước tôi đã có dịp gặp một số nhà văn và học giả của Việt Nam. Tôi cũng đã gặp Phạm Văn Đồng và Tướng Giáp. Và tôi đã được đọc nhiều sách của Việt Nam qua các bản dịch mà tôi có được. Một trong những sách đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cũng giống như lời tự và bài giới thiệu mà cụ thân sinh của bà đã giới thiệu về tập thơ nhưng cũng có thể do một trong những người dự hội thảo về Nguyễn Trãi đã nói về công trình của Phạm Quỳnh. Tại hội thảo này có nhiều nhân vật nổi tiếng tham gia, trong đó có cả một số người Việt không sống ở Việt Nam mà ở ngoài nước. Một trong số những người đó là một học giả về âm nhạc, ông ấy đã giới thiệu cho tôi về nền âm nhạc cổ điển của Việt Nam.

Nhưng bài thơ tôi lại viết từ sự tưởng tượng của riêng mình mà không hỏi bất cứ một người nào khác. Trong bản trường ca đó bà có thể thấy những trăn trở, những giấc mơ và những niềm hy vọng của tôi qua việc phác thảo những thời điểm rối ren và đầy xao động.

Tôi hoàn thành tác phẩm của tôi trong chuyến thứ hai thăm Việt Nam.

Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với bà và tôi rất vui mừng vì đối với bà nó cũng phản ảnh một chuyện có thật về thân phụ của bà, ít nhất trong một chừng mực nào đó.

Người làm thơ có thể mong mỏi một chút rằng họ có được vài người nghe và hiểu họ. Và chính bà lại là người đã nghe được và điều đó đối với tôi quả thật là nhiều hơn một chút.

Với lời cầu chúc nồng nhiệt nhất của tôi.

Erik Stinus

* Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục

Một thương cảm vượt cả thời gian lẫn không gian!

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:10 chiều

Blog PhamTon năm thứ 6, tuần 4 tháng 7 năm 2014.

 

MỘT THƯƠNG CẢM VƯỢT CẢ THỜI GIAN LẪN KHÔNG GIAN!

Nhà báo Đặng văn Nhâm

(Định cư ở Đan Mạch)

Do một cơ duyên run rủi, chúng tôi có dịp tiếp xúc với bà Phạm Thị Hoàn, một ái nữ của cụ Phạm. Bà Hoàn đã vui lòng cho tôi mượn tấm chân dung kỷ niệm của cụ Phạm, để in vào quyển Lịch Sử Báo Chí Việt Nam do tôi soạn thảo. Sau đó không lâu, tôi đã được ông bà Hoàn cho xem một bài thơ Anh ngữ viết về cụ Phạm, nhan đề: “Pham Quynh and The Story Continued” và kèm theo phía dưới hàng chữ nhỏ hơn: Words about Viet Nam part six… Bài thơ này gồm 10 đoạn, dài đến 377 câu thơ. Tôi đọc lướt qua bài thơ, bị rơi tư ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Tôi ngạc nhiên nhất về nội dung đến tên của tác giả. Tôi hỏi bà Hoàn: -“Xin chị cho biết, trong trường hợp nào chị có bài thơ này?

- “Đây là một bài thơ dịch từ nguyên tác bằng Đan Ngữ, do một thân hữu của gia đình gửi cho, để kỷ niệm!”. Bà Hoàn đáp.

Đúng rồi, cái tên Erik Stinus, viết bằng chữ “K” đúng vị Đan Mạch 100% rồi còn gì nữa! Những ai đã ở Bắc Âu đều nhận ra ngay, Tôi tò mò hỏi xem nguyên bản bằng Đan Ngữ. Bà Hoàn tỏ ý rất tiếc, và cho biết thâm tâm cũng đang ao ước truy tầm. Sau một tiếng thở dài nhẹ, bà Hoàn than:

- “Gia đình đã bỏ ra rất nhiều công phu, từ mấy năm trời nay, và đã nhờ đến nhiều ngươi để truy tầm nguyên tác bằng Đan ngữ, nhưng đều vô vọng”…

Tính hiếu kỳ bị kích thích, tôi sốt sắng đề nghị:

- “ Nếu chị chắc nguyên tác bằng Đan ngữ, tức thị tác giả là người Đan Mạch, vậy sẽ xin cố gắng giúp chị. Hy vọng sẽ có kết quả tốt!” Một thoáng vui hiện lên nét mặt ông (tức nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, cháu nội chí sĩ Lương Văn Can – PT chú) bà Hoàn. Nhưng bà Hoàn còn dè dặt:

-“Chúng tôi đã nhờ nhiều người có thân nhân ở Đan Mạch sưu tầm rồi mà cũng không xong. Người ta nói có thể ông tác giả này là mọt kẻ thân Cộng, vô danh tiểu tốt, nên không tìm ra dấu vết gì trong thư viện. Thậm chí có người vừa nghe chị kể đã vột gạt ngang “Ối, sao mà chị ngây thơ quá?! Đây là trò tuyên truyền của Cộng Sản mà chị còn tốn công chi cho mệt!”

Tôi đáp lời bà Hoàn:

- “Trước hết, căn cứ trên nội dung bài thơ này, chắc chị cũng đồng ý không có gì đáng gọi là tuyên truyền cho Cộng Sản. (…) Vả chăng chúng ta chưa một ai từng quen biết, giao du với tác giả, hay đã đọc những tác phẩm nào khác của ông ta, nên không thể khẳng định với thiên kiến sắn có rằng: ông ta là tay sai của Cộng Sản Việt Nam! Tôi hứa sẽ tìm ra nguyên tác, để so sánh, và tìm ra luôn tác giả để nói chuyện xem sao…”

Nghe nói thế, ông bà Hoàn đã vui lên hẳn, trao cho tôi một bản sao của tập thơ dịch bằng Anh ngữ, và ủy thác tôi công việc tìm. Về Đan Mạch, tôi đã đem chuyện này kể cho cháu gái đầu lòng của tôi, năm nay 40 tuổi, đã nối gót tôi, hiện đang đảm trách lớp dạy Việt Ngữ cho các sinh viên và học viên người Đan trên đại học. Con gái tôi cho biết ngay, ông Erik Stinus vốn là một trong số thân hữu từ lâu, và nói thêm… “…Ông ta từng nói với con là đã biết Ba nhiều qua sách báo. Vậy Ba cứ gọi điện thoại nói chuyện với ông ta. Chắc ông ấy sẽ ngạc nhiên và vui lắm đó!”.

Tôi liền gọi điện thoại cho Erik Stinus. Tác giả đã tiếp chuyện tôi rất niềm nở. Chúng tôi có cảm tưởng như người thân lâu ngày mới gặp lại. Khi nghe tôi ngỏ ý muốn mời đến nhà dùng cơm, để có thì giờ rộng rãi nói thêm về bài thơ viết chuyện Phạm Quỳnh, Erik đã tỏ ra hết sức vui vẻ, nhận lời ngay.

Hôm đó là ngày thứ hai, 28/6/1999, chúng tôi đã hội ngộ và hàn huyên đủ thứ chuyện, từ công việc sáng tác, sinh hoạt văn học, báo chí ở Đan quốc, rồi lần hồi nói đến những sinh hoạt ấy ở Việt Nam. Đặc biệt, hôm đó Erik Stinus đã không quên đem cho tôi hai bản nguyên tác bài thơ dài viết về cái chết (…) của Phạm Quỳnh, một danh sĩ bất tử Việt Nam, nhan đề Pham Quynh og den videre historie, ord om Vietnam for sjette gang.

Erik nói: “Một bản tôi tặng anh, một bản tôi tặng bà Hoàn”. Tôi tò mò hỏi Erik: “Tại sao lại còn thòng thêm câu “Ord om Vietnam, for sjette gang” (viết về Việt Nam, bài thứ sáu)? Erik đáp: “Trước sau tôi đã đến Việt Nam cả thảy 3 lần rồi. Lần chót cách đây 2 năm. Trong thời gian đó tôi đã viết tất cả 6 bài, gồm cả thơ và truyện. Bài này là thứ sáu!” Tôi hỏi: “Erik, anh đã viết về Phạm Quỳnh trước khi đến Việt Nam, hay sau đó?”

- “Trước khi đến Việt Nam, tôi không biết gì về Phạm Quỳnh. Cả ba lần đến Việt Nam tôi đều nhắm mục đích nghiên cứu trên lãnh vực văn học, để viết bài cho một tờ báo ở Cô Ben Hao (Kobenhavn, thủ đô Đan Quốc). Cùng tháp tùng tôi còn có một nữ phóng viên nhiếp ảnh nữa. Cả ba lần ấy, tôi đã tiếp xúc đủ mặt các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở Việt Nam, từ Hà Nội vào Trung, đến Sài Gòn. Họ thuộc đủ mọi thành phần, đủ mọi khuynh hướng, từ những người có chân trong hội Nhà Văn cho đến những người cầm bút độc lập (…) Do đó tôi đã nghe nói đến Phạm Quỳnh…”

Tôi hỏi tiếp: “Vậy nguyên do nào đã khiến anh cảm tác được bài thơ dài đến 377 câu như thế về Phạm Quỳnh?”

Erik nghiêm chỉnh trả lời: “Như anh đã biết muốn làm thơ phải có hứng. Nguồn cảm hứng ấy đã đến với tôi rất mãnh liệt, sau 3 lần đến Việt Nam, lần nào tôi cũng nghe hầu như tất cả các nhà văn, nhà thơ, học giả Việt Nam… đều nhắc đến tên Phạm Quỳnh. Đặc biệt nhất là ai cũng tỏ ra hết sức thành thật thương tiếc cho cái chết của Phạm Quỳnh. Họ cho rằng đó là một sai lầm trầm trọng nhất, đáng tiếc nhất của những người làm cách mạng lúc bấy giờ. Họ nêu giả thiết, nếu Phạm Quỳnh còn sống chắc chắn trong thời gian sau sẽ giúp ích rất nhiều cho dân tộc Việt Nam trên bình diện văn hóa, học thuật… Ông là biểu tượng của thế hệ thanh niên trí thức Việt Nam. Người ta cần phải soi gương cần cù hiếu học của ông!” Ngừng một lát Erik còn chỉ cho tôi đọc thêm một đoạn văn trong phần phụ lục, và nói: “Tôi còn biết Phạm Quỳnh đã nói một câu trở thành danh ngôn mà người Việt Nam nào cũng nhắc đến. Đó là Câu: “Truyện Kiều của Nguyễn Du còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”. Câu này tôi đã dịch ra tiếng Đan: “Saloenge Nguyen Du’s episke digt Kieu levede, ville det Vietnamsiske sprog leve”. Ngoài ra, tôi còn biết thêm, ngày xưa trước khi chết Nguyễn Du đã nói câu: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ thùy nhân khấp Tố như!” (dịch: Ved ikke, om tre hundrede ar efter hvem der ville groede over To Nhu)”. Tôi ngắt lời:

- “Nhưng khác với Nguyễn Du, bây giờ anh thấy Phạm Quỳnh mới chết chưa đầy nửa thế kỷ (bài này viết năm 1999-PT chú) đã có khối người khóc thương rồi.

Đặc biệt trong số còn có cả những người mà ngày xưa các đồng chí của họ đã từng nhúng tay vào cái chết của Phạm Quỳnh. Càng đặc biệt hơn nữa là anh – chính anh đó, Erik Stinus! – một nhà thơ ở tận Bắc Âu xa tít tắp, chẳng liên hệ gì với Phạm Quỳnh, cũng đã làm một bài thơ dài khóc thương Phạm Quỳnh!…”

Nghe tôi nói thế, Erik cười, một cái cười thông cảm. Sau đó tôi lại hỏi thêm:

- “ (…) cái chết của Phạm Quỳnh như thế nào anh có biết không?

-“Dĩ nhiên tôi đã ngạc nhiên và tò mò tỉm hiểu thêm về nguyên nhân cái chết của Phạm Quỳnh (…) Câu chuyện về tiểu sử, tài năng văn học của Phạm Quỳnh, cùng với cái chết (…) đã gây chấn động sâu xa trong tâm hồi tôi, trong tư tưởng tôi, nên khiến tôi cảm tác ra bài thơ này”.

-“Anh đã mất bao nhiêu thì giờ để hoàn tất thi phẩm này?” Tôi hỏi với dụng ý. Erik đáp thành thực: “Mất hơn một tuần lễ! Lúc đó tôi còn ở thành phố Hồ Chí Minh!” Nhờ câu trả lời đó của Erik, tôi biết được rằng: Câu chuyện là cái chết (…) của cụ Phạm đã gây nên một rung động sâu xa mà dư âm lâu dài, bền bỉ đến hơn một tuần lễ trong tâm hồn của nhà thơ Erik Stinus, một người đã đến từ một phương trời Bắc Âu xa lạ, với một hành trang văn hóa, tư tưởng và cảm quan hoàn toàn xa lạ trước dân tộc và đất nước Việt Nam. Cái rung động và nguồn thi hứng đã đến với Erik Stinus không ngắn ngủi như một tia chớp chợt lóe lên trên vòm trời đen thẫm rồi tắt ngấm, mà là cả một nỗi niềm ray rứt sâu xa trong tình nhân loại trên mặt địa cầu.

Sau hơn bốn tiếng đồng hồ ăn uống chuyện trò, chúng tôi thấy đến lúc sắp phải chia tay, Erik đã chụp chung với tôi một tấm hình kỷ niệm ngày tao ngộ, đồng thời chụp riêng một tấm chân dung, mà bên dưới tấm hình Erik còn viết thêm cho bà Hoàn đôi lời chào mừng, để nhờ tôi chuyển đến ông bà Hoàn như một kỷ niệm của người bạn chưa từng gặp mặt. Erik cũng muốn có được địa chỉ của ông bà Hoàn để trực tiếp liên lạc và sau này gửi sách biếu, v.v…

Trước khi ra về Erik Stinus còn cho tôi biết thêm, ông sinh năm 1934, tức kém tôi một tuổi, và ông đã có 4 con cả trai lẫn gái, với nhiều cháu nội ngoại. Hiền nội của ông là một phụ nữ sinh trưởng ở vùng Nam Á, hiện nay là một viên chức của cơ quan UNICEP ở Đan Mạch. Erik Stinus đã đi thăm quê hương nhà vợ nhiều lần, và ông cho biết rằng mỗi lần đến quê vợ ông lại chạnh nghĩ đến đất nước và dân tộc Việt Nam. Tôi chợt hỏi câu cuối cùng:

- “Anh viết về Việt Nam như thế, có nghĩ rằng ở hải ngoại sẽ có người Việt Nam cho rằng anh theo Cộng Sản Việt Nam không?” Erik chợt khựng lại, đầy vẻ ngạc nhiên. Sau một thoáng suy nghĩ, anh đáp:

- “Tôi không hiểu người Việt Nam đó trong đầu họ nghĩ gì. Nhưng anh cứ bảo cho họ biết nên đọc các tác phẩm của tôi, để tìm hiểu tôi, như vậy đàng hoàng hơn, chứ đừng suy diễn, khi chưa biết tôi là ai!”

Tôi nhìn xuống bài thơ anh vừa biếu tôi, thấy ngay câu đầu, đoạn một, những lời tha thiết sau đây:

Det ma vi indromme

Vi handlede forkert mod Pham Quynh

Der pastod at Frankrig var smukt

Som en mand er smuk,

Vietnam som en kvinde.

Vi skulle ikke ha khldt ham forroeger

Pa lobsedlerne og plaketerne…”

Tạm dịch:

Chúng ta phải nhận rằng

Ta đã làm xằng với Phạm Quỳnh

Người đã nhìn ra nước Pháp đẹp trai

Như gã đàn ông hào hoa

Còn nước Việt Nam ví là con gái,

Ta không nên gọi ông người phản bội

Trên những biểu ngữ và truyền đơn hài tội… »

Tôi lại nhìn xuống mấy tác phẩm của ông vừa biếu tôi. Một danh sách liệt kê các tác phẩm của anh đã xuất bản từ năm 1958, đến năm 1998, dài kín hết trang sách, đếm được đến 31 tác phẩm đủ loại. Như thế chưa phải là nhiều, nhưng cũng đủ chứng tỏ Erik Stinus là một nhà văn, nhà thơ « có hạng » của nước Đan Mạch. Mặc dù nước này chỉ là một bán đảo bé tí teo với khoảng 5 triệu dân, nhưng dân tộc hậu duệ của giòng dõi hải tặc Viking này đã đào tạo nên hàng chục nhân tài từng đoạt giải Nobel đủ loại, từ khoa học nguyên tử, y khoa, lý học, hóa học, và văn chương, v.v…

Nhìn tôi đọc, Erik Stinus nói thêm : -« Như anh đã biết, ở nước nào cũng vậy, thơ rất khó tiêu thụ, không một nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền xuất bản thơ cách dễ dàng. Vậy mà tôi đã có cả chục thi tập phát hành rồi đó. Và tôi đã sống bằng ngòi bút của tôi ! »

Tóm lại hôm ấy chúng tôi đề cập đến vụ án thương tâm của cụ Phạm Quỳnh qua nhiều phương diện văn học và chính trị. Cuối cùng chúng tôi đã đi đến một kết luận : « Chỉ có tài năng văn học mới chuyên chở được tên tuổi và tư tưởng con người vượt mọi ranh giới không gian và thời gian, để trở thành Bất Tử trong lòng nhân loại ».

Đó là trường hợp của nhà học giả yêu nước Phạm Quỳnh. Cái chết của ông, quá đỗi bi thương, nhưng không phải là một sự chấm hết. Hết tiệt như những cái chết khác. Ông chết, nhưng vẫn còn để lại một tấm lòng son với sử xanh « Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh ! »

* Bài trích từ sách Giải oan lập một đàn tràng, NXB Tâm Nguyện, In lần I (2001) ở Hoa Kỳ, MD. 20906 USA

Đ.V.N.

(Đan Quốc 3/7/1999)

Tháng Bảy 11, 2014

Tôn Quang Phiệt và vụ án Phạm Quỳnh (năm 1945)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 sáng
Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 7 năm 2014.

Tôn Quang Phiệt và vụ án Phạm Quỳnh (năm 1945)

Kiều Mai Sơn

(Bài thu từ http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa chủ nhật, ngày 29/6/2014. Hai ảnh minh họa do chúng tôi đưa vào bài)

 

Tôn Quang Phiệt [1900 - 1973]

Tôn Quang Phiệt có thời gian hoạt động lâu dài tại Huế và với vai trò quan trọng của mình, ông biết rất rõ về Phạm Quỳnh cũng như những tình tiết cụ thể của câu chuyện bắt giữ và xử tử Phạm Quỳnh trong Cách mạng tháng Tám 1945.

Tôn Quang Phiệt sinh năm Canh Tý (1900) trong một gia đình nhà Nho tại xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Họ Tôn vốn gốc từ Yên Hồ (Đức Thọ – Hà Tĩnh) sau dời đến Võ LiệtTon Quang Phiet. Thân sinh Tôn Quang Phiệt sinh năm 1870, đỗ Tú tài năm 1900, làm nghề dạy học chữ Nho. Khi triều đình bỏ thi cử Hán học, ông chuyển sang buôn gạo vài chuyến rồi làm gỗ trong rừng.

Thuở nhỏ,Tôn Quang Phiệt học chữ Hán ở nhà với cha trong suốt 10 năm. Năm 15 tuổi, ông đi thi hạch và học thêm chữ Hán ở nhà Đốc học là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Năm 1920-1921, Tôn Quang Phiệtvào học bậc Thành chung tại trường Quốc học ở Vinh, do các thầy người Việt Nam như Nguyễn Bá Luân (con rể vua Thành Thái), Lê Thước (giải nguyên Hán học) dạy dỗ, mà Hiệu trưởng là ông Jurugne – người Pháp. Bạn đồng môn với Tôn Quang Phiệt ở trường này có như Đặng Thai Mai, Nguyễn Sỹ Sách, Phạm Thiều, Lê Xuân Phương, Phan Trọng Bình, Ngô Đức Trì…

Năm 1923 , Tôn Quang Phiệt ra Hà Nội học Cao đẳng Sư phạm Đông Dương . Năm1925, ông cùng Đặng Thai Mai, Phạm Thiều… sáng lập tổ chức Việt nam Nghĩa Đoàn , tham gia đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu. Tổ chức này sau đó được thống nhất với Hội Phục việt   của Giải nguyên Lê Văn Huân và Trần Mộng Bạch ở Vinh. Tôn Quang Phiệt được cử làm Hội trưởng Hội Phục Việt. Tháng11 – 1925 Hội Phục Việt đổi tên thành Hội Hưng Nam, rồi cuối cùng là Đảng Tân Việt (1928), một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.Tháng 6 năm1926, Tôn Quang Phiệt cùng Trần Phú, Vương Thúc Oánh… được Lê Duy Điếm dẫn đường sang Trung Quốc gặp các nhân vật trongViệt nam cách mạng đảng. Trên đường đi đến Móng Cái, ông bị Pháp bắt (cùng với Hoàng Tùng) sau đó bị đem về giam tại Hà Nội.

Từ1936 – 1945, Tôn Quang Phiệt tham gia vào Mặt trân dân chủ, dạy học tại trường tư thục Thuận Hóa (Huế) tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ Huế do Hồ Đắc Hàm và Nguyễn Khoa Toàn làm Hội trưởng. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, ông hoạt động trong Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương (mật danh của Thừa Thiên Huế).

Cách mạng Tháng Tám thành công, Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng và Ủy ban Hành chính đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Phác nhanh mấy nét ở trên cho thấy, Tôn Quang Phiệt có thời gian hoạt động lâu dài tại Huế và với vai trò quan trọng của mình, ông biết rất rõ về Phạm Quỳnh cũng như những tình tiết cụ thể của câu chuyện bắt giữ và xử tử Phạm Quỳnh trong Cách mạng tháng Tám 1945.

CUỘC KHỞI NGHĨA Ở HUẾ VÀ THỪA THIÊN

Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thừa Thiên – là tên một bài viết riêng trong cuốn sách Hà Nội – Huế – Sài Gòn tháng 8-1945 của 3 tác giả Minh Tranh – Quốc Quang – Nguyễn Văn Trấn, được Nhà xuất bản Văn hóa phát hành năm 1958. Tác giả bài viết về Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thừa Thiên là Quốc Quang.

Tự đánh giá “Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thừa Thiên có một tầm quan trọng đặc biệt”, tác giả đã phân tích các lẽ quan trọng như sau:

“1. Huế là thủ đô của Trung Kỳ, phạm vi cai trị của vua và của triều đình Huế. Các cơ quan đầu não của Trung Kỳ tập trung ở Huế, như các ngành công chính, thương chính, giáo dục, ngân hàng. Các tỉnh Trung Kỳ nhìn vào Huế là chỗ trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa. Những biến cố xảy ra ở Huế nhất định ảnh hưởng đến cả 13 tỉnh Trung Bộ và cả nước, vì trước khi Pháp chiếm, nước ta gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ mà kinh đô là Huế. Dưới thời Nhật thuộc, chính phủ Trần Trọng Kim cũng tự coi như đã chủ tể cả đất nước, phong khâm sai cho Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Vì thế trước ngày khởi nghĩa các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa Huế cho rằng Huế như đầu con rắn, đánh vào đầu là giết chết cả con rắn; Huế bị đổ thì các tỉnh Trung Kỳ không dựa vào đâu nữa.

2. Huế là nơi nhiều quan lại, nhiều công chức hoặc đang tại chức, hoặc đã về hưu. Trong bọn quan lại về hưu có một số trước đã làm quan to trong triều đình. Bọn này phần lớn tư tưởng rất phản động. Vô hình chung họ thành ra một lực lượng phản cách mạng cần phải để ý. Tuy rằng trong đó có các nhânPham Quynh 1930 viên cấp dưới thì hoặc muốn yên thân, hoặc có cảm tình với cách mạng.

Vì các lẽ trên nên cuộc khởi nghĩa ở Huế rất quan trọng, không những quan trọng vì bản thân Huế mà lại quan trọng đối với Trung Kỳ, đối với toàn quốc nữa”.

Về việc bắt giữ Phạm Quỳnh, Quốc Quang viết trong chương khởi nghĩa ở Thừa Thiên – Huế, như sau:

“Ủy ban khởi nghĩa Thuận Hóa quyết định ngày 23/8/1945 lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

Sở dĩ lấy ngày 23/8 là vì chính phủ Trần Trọng Kim đã quyết định lấy ngày ấy tổ chức mít tinh mừng việc Nhật trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Nam triều. Ủy ban khởi nghĩa định biến cuộc mít tinh ấy thành cuộc biểu tình của nhân dân đánh đổ chính phủ bù nhìn.

Quyết định của Ủy ban khởi nghĩa: “Một mặt huy động một số xe ô tô của thành phố, điều động một ít lực lượng võ trang đi bắt một số Việt gian thân Nhật, thân Pháp đầu sỏ là cha con Ngô Đình Khôi (con là Ngô Đình Huân làm thư ký riêng cho cố vấn tối cao Nhật), Phạm Quỳnh và con rể hắn là Nguyễn Tiến Lãng”.

Cuốn này tuy không viết cụ thể quá trình bắt giữ Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân ra sao, nhưng có một câu quan trọng đáng chú ý: “Việc đi bắt mấy tên Việt gian cũng không xảy ra cản trở gì. Phạm Quỳnh cũng như Ngô Đình Khôi đều ngoan ngoãn theo lệnh đi lên ô tô để vào nhà lao Thừa Thiên chịu tội”.

Dành phần cuối cùng với tên gọi “Một vài nhận xét về cuộc khởi nghĩa ở Huế”, Quốc Quang viết:

Về ưu điểm: “Thái độ khoan hồng của Ủy ban nhân dân cách mạng là cứ để cho họ [những quan lại cũ và công chức trong chính phủ Trần Trọng Kim – KMS chú] tự do mà không bắt bớ giam giữ gì là hợp tình thế. Huế lại là một nơi nhiều quan lại to hoặc tại chức, hoặc đã về hưu, nếu ta có thái độ khe khắt đối với bọn Trần Trọng Kim sẽ làm cho một số đông khác hoang mang, dao động, không lợi cho lúc bấy giờ là lúc mà ta cần có một tình hình ổn định. Vì thế ở Huế lúc bấy giờ chỉ bắt những bọn đầu sỏ thân thân (có lẽ là thân Nhật, đánh máy lầm – PT chú), thân Pháp như Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh bị nhân dân oán ghét nhiều và đang có nguy hại trước mắt mà thôi.

…Về khuyết điểm: “Đối với những tên Việt gian đầu sỏ nhân dân quá oán ghét mà phải xử trí cũng nên có sự tuyên bố tội trạng trước nhân dân trong các báo chí để về sau bọn phản động không thể xuyên tạc được sự thực. Điều đó ta không làm công khai”.

Tác giả Quốc Quang là ai? Đó chính là bút danh của Tôn Quang Phiệt./.

Hà Nội, ngày 14/5/2014

K.M.S.

 * “Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Con trai út bà đã kể lại rằng trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức) chữa bệnh, ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không dính gì vào vụ này, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy”.(Phạm Tôn: Người nặng lòng với nước, Tạp chí Xưa và Nay, số 267, tháng 2/2006)

* “Trong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…”(Phạm Tôn: Người nặng lòng với nước, Tạp chí Xưa và Nay, số 267, tháng 2/2006)

 

Giải thưởng Hồ Chí Minh – Đặng Vũ Hỷ, y đức và tài năng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 7 năm 2014.

GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG VŨ HỶ, Y ĐỨC VÀ TÀI NĂNG

(Bài trên báo Nhân Dân số 26/9/1997)

Hàm Châu

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ sinh ngày 17-3-1910 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một dòng họ khoa bảng lâu đời. Không rõ từ bao giờ đã có câu : Bắc Hà : Hành Thiện, Hoan – Diễn : Quỳnh Đôi. Quả vậy, làng Hành Giao su Dang Vy Hyhiện trên đất bắc cũng như làng Quỳnh Đôi ở vùng Nghệ – Tĩnh là hai làng có nhiều người đỗ đạt cao ở nước ta.

Thời trẻ, chàng trai họ Đặng được học hành chu đáo, đến nơi chốn : học tiểu học ở Nam Định, trung học ở Trường An-be Xa-rô, rồi đại học ở Trường Thuốc. Nhưng, lúc bấy giờ, Trường Thuốc Hà Nội chỉ mới đư­ợc phép đào tạo y sĩ Đông Dương. Những ai muốn có bằng bác sĩ y khoa thì, sau khi học xong năm thứ tư ở Hà Nội, phải sang Pháp học tiếp. Năm 1937, ông tốt nghiệp bác sĩ nội trú các bệnh viện Pa-ri, với bản luận văn La syphilis de l’ovaire (Bệnh giang mai buồng trứng) được Nhà xuất bản Amédée le Grand in bằng tiếng Pháp phát hành ở Pa-ri, tất nhiên với số lượng không nhiều.

Cách mạng Tháng Tám thành công như một biến cố diệu kỳ trong lịch sử dân tộc. Luồng gió mới của thời đại thổi tới, khiến cho không gian giữa mấy bức tường phòng khám bệnh tư bỗng trở nên sao mà chật chội, tù túng quá ! Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ bèn tìm gặp Giáo sư Hồ Đắc Di, người vừa được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao cho làm Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội kiêm Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy. Ngay trong phút đầu gặp mặt, Giáo sư Di đã vui vẻ mời bác sĩ Hỷ tham gia giảng dạy ở Trường Y và làm chủ nhiệm phòng khám ở bệnh viện Đồn Thủy. Bác sĩ trở về nhà, đóng ngay cửa phòng khám bệnh tư để dành hết thời gian và tâm trí cho công việc chung.

Tháng 12-1946, không khí Hà Nội nặng nề, căng thẳng. Bác sĩ Hỷ cùng vợ và người con trai mới sinh được ba tháng là Đặng Vũ Minh vừa tạm lánh về quê Nam Định, thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Không chút đắn đo, ông gia nhập Vệ quốc đoàn, được giao phụ trách trạm quân y tiền phương ở Cổ Lễ.

Về mấy năm bác sĩ Đặng Vũ Hỷ phụ trách Quân y viện khu Hà Nam – Nam Định – Ninh Bình, bác sĩ Phạm Khuê (Nhà giáo nhân dân, con trai Phạm Quỳnh, em vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ – PT chú) kể lại : “Tôi làm việc bên cạnh anh Hỷ. Một điều làm tôi rất cảm phục là, tuy anh ở Pháp lâu, làm chuyên môn chủ yếu, nhưng khi cần, vẫn tổ chức, chỉ huy rất tốt. Năm 1947, giặc Pháp tiến công lên Việt Bắc, đồng thời đánh luôn căn cứ Ninh Bình, tạo thành một gọng kìm rất hiểm. Quân y viện chúng tôi bị đánh. Anh đã chỉ huy đâu ra đấy đơn vị sơ tán vào chân núi Dưỡng Khê, bảo đảm an toàn cho tất cả thương binh, phương tiện, dụng cụ. Bình tĩnh đứng trên một gò cao, anh chỉ tay, nói to và gọn, ra những mệnh lệnh chính xác và cụ thể. Tôi thoáng nghĩ, trí thức nước ta như thế đấy…”

Những năm sau đó, bác sĩ Hỷ công tác tại Trường Y sĩ liên khu III – IV ở Nông Cống (Thanh Hóa). Là bác sĩ chuyên khoa da liễu, nhưng do thiếu người giảng dạy nội khoa, ông đành phải tự học thêm để dạy. Đêm đêm, bên ngọn đèn dầu bấc to, ông ngồi đọc cho vợ chép những bộ sách dày bằng tiếng Pháp (sách mượn, phải trả). Là con gái một cụ thượng thư (tức Phạm Quỳnh – PT chú), thế mà bà trồng chuối, tưới rau, nuôi gà, gánh nước y như một bà mẹ trẻ lam làm ở chốn làng quê.

Năm 1953, Trường Y sĩ liên khu III – IV chuyển lên Việt Bắc, sáp nhập với Trường đại học Y. Bác sĩ Hỷ cùng gia đình lại một phen khăn gói cuốc bộ lên rừng Tuyên Quang gặp “cụ Di, anh Tùng” (Bác sĩ Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng – PT chú).

Năm 1954, trở về Hà Nội, ông mới được làm công việc đúng với chuyên môn sở trường : chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Trường đại học Y – Dược kiêm chủ nhiệm khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai.

Ông tâm sự với bác sĩ Phạm Khuê : “Khi bước chân trở lại Hà Nội, chưa bao giờ tôi cảm thấy vui như thế. Mình đã làm nhiệm vụ với đất nước. Kháng chiến có gian khổ, mất mát, nhưng nếu cần làm lại cuộc đời, mình vẫn sẽ làm lại như vậy“.

Là người ham thích nghiên cứu, ông đọc ngấu nghiến các sách chuyên khảo và tạp chí chuyên ngành mới tìm thấy ở Hà Nội về các bệnh ngoài da và hoa liễu (gọi tắt là da liễu) để cập nhật hóa kiến thức.

Ông liên tiếp biên soạn, xuất bản năm cuốn sách về bệnh phong, bệnh hoa liễu và các bệnh ngoài da khác. Từ năm 1954 đến năm 1972, ông công bố 48 công trình khoa học trên các tạp chí chuyên ngành ở Việt Nam, Pháp, Anh, Đức, Ru-ma-ni…

Ông đặc biệt thương xót những người bị bệnh phong, tìm mọi cách chữa bệnh cho họ, gần gũi an ủi họ.

Bác sĩ Trần Văn Ngoạn, nguyên Giám đốc Trại phong Quy Hòa ở Quy Nhơn (nơi trước kia nhà thơ Hàn Mặc Tử đã từng điều trị) thường nói : “Sở dĩ tôi chọn ngành này là do thầy Hỷ đã khuyên tôi. Thầy nói : Trong xã hội ta, còn rất nhiều thành kiến sai lầm, phi khoa học đối với người mắc bệnh phong. Anh còn trẻ, anh hãy giúp tôi xóa bỏ những thành kiến đó và cứu chữa người bệnh. Tốt nghiệp bác sĩ năm 1961, đã 36 năm rồi, tôi luôn luôn tâm niệm lời thầy”.

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ qua đời ngày 4-10-1972. Ở Trại phong Quy Hòa, các thầy thuốc và bệnh nhân đã dựng tượng để tưởng niệm giáo sư. Dưới chân tượng có khắc dòng chữ : “… Cuộc đời tận tụy vì người bệnh, y đức trong sáng của Giáo sư Đặng Vũ Hỷ để lại những nét sâu đậm trong lòng người mắc bệnh phong và những thầy thuốc chuyên khoa”.

Ông thật xứng đáng được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về hai cuốn sách chuyên khảo, 16 công trình nghiên cứu bệnh phong, bộ giáo trình Bệnh da liễu và 32 công trình nghiên cứu khác.

H.C.

Trang sau »

The Rubric Theme. Blog at WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 26 other followers