Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 15, 2011

Đôi điều về lòng yêu nước của mấy nhà “Trí thức dấn thân” xứ Huế

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:16 chiều

Blog PhamTon, tuần 4 tháng 4 năm 2011.

ĐÔI ĐIỀU VỀ LÒNG YÊU NƯỚC

CỦA MẤY NHÀ “TRÍ THỨC DẤN THÂN” XỨ HUẾ

GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng

Viện Khoa học Lịch sử Việt Nam*

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài viết của GS Văn Tạo nhan đề trên gồm có: Phần mở đầu, Phần I: Nhà địa lý học Lê Xuân Phương, Phần II: Nhạc sĩ Phạm Tuyên, viết ngày 15/9/2010 và đã đăng trên các tạp chí Mặt Trận (Cơ quan của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) số 87 Xuân Tân Mão 1/2011 và tạp chí Huế Xưa và Nay số 103. Riêng phần I còn đăng trên tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 309, tháng 12/2010, trang 23 với nhan đề Nhà địa lý học Lê Xuân Phùng; phần II, đăng trên tạp chí Người Hà Nội số 10, ra gày 4/3/2011 trang 5, với nhan đề Về lòng yêu nước của nhà “trí thức dấn thân”.

Ở đây, chúng tôi chỉ đăng phần mở đầu và phần II, căn cứ theo www.mattran.org.vn

—o0o—

Trong chuyên đề “Một thế kỷ qua những mẩu chuyện đời”1, tôi đã viết về lòng yêu nước của nhiều nhà trí thức Việt Nam từ cổ đến cận đại, từ Khúc Thừa Dụ đến Nguyễn Thái Học, nhưng chưa viết được bao nhiêu về những nhà Trí thức dấn thân thời hiện đại.

Nói đến các nhà Trí thức dấn thân, ai cũng hiểu rằng: Đó là những trí thức đã dũng cảm gác sang một bên những quyền lợi, hạnh phúc riêng tư, dấn thân vào gian khổ, hy sinh, có khi phải dằn vặt, chịu đựng suốt đời, để cuối cùng giành được niềm tự hào là đã Vì nghĩa lớn của dân tộc tham gia vào sự nghiệp Dựng nước, giữ nước thành công.

Thiết nghĩ, trách nhiệm của sử học hiện đại là phải từng bước làm rõ, biểu dương những tấm lòng yêu nước này, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn; nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước… Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước”2.

Tôi xin tiếp tục viết về lòng yêu nước của hai nhà trí thức mà tôi được gần gũi: Nhà địa lý học Lê Xuân Phương, gốc xứ Thanh và nhạc sĩ Phạm Tuyên, gốc xứ Đông (Hải Dương).

II. Nhạc sĩ Phạm Tuyên

Từ lâu, tôi muốn viết về đại gia đình học giả Phạm Quỳnh – Nhà văn hoá quê tôi. Nhưng cũng mãi tới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là tới Đại hội Người cao tuổi Trung ương, tôi mới có dịp gặp Giáo sư Phạm Khuê, khi ông mời tôi tham gia Đoàn Chủ tịch Đại hội cùng với ông và Giáo sư Vũ Khiêu, nữ Giáo sư Lê Thi. Ngồi bên ông tôi đã tâm sự với ông đôi điều về quê hương, gia đình. Ít năm sau, cũng là vì sự nghiệp sử học nhằm theo đuổi “Công minh lịch sử và công bằng xã hội” mà tôi đã viết về: “Phạm Quỳnh – chủ bút báo Nam Phong, ngự tiền văn phòng của Bảo Đại”. Bài này được đăng trên tạp chí Khoa học và ứng dụng, Hải Dương, số 2-2005. Tôi sao chụp trực tiếp gửi tới nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên ngày 16-5-2005 và nhận được thư trả lời của Phạm Tuyên ngày 10-4-2006, với mấy dòng mở đầu chân thành: “Xin cám ơn bài báo của anh về chủ bút báo Nam Phong, đã khơi dậy sự quan tâm của dư luận, công chúng rất khát khao sự công minh lịch sử…”. Tôi thông tin với anh là ngày 20-6-2006, tạp chí Tia sáng và ngày 10-7-2006, tạp chí Khoa học và Tổ quốc đã đăng bài đó của tôi… Khi tôi đến 53 Ngyễn Du để nhận báo biếu, thì gặp một cộng tác viên của báo vui cười nói với tôi: “Cảm ơn anh đã cho nổ một phát pháo đầu tiên khai thông cho việc làm sáng tỏ sự kiện lịch sử này…”.

Từ đó tới nay, chúng tôi trao đổi nhiều thông tin, tư liệu mới. Càng đọc, tôi càng thấy quý mến lòng yêu nước của đại gia đình này. Dù là ở cương vị nào, ở trong hay ngoài nước, các con, cháu chắt, nội hay ngoại của học giả Phạm Quỳnh đều hướng về Tổ quốc và cống hiến trong phạm vi có thể. Tiêu biểu là nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Phạm Tuyên khi mới 15 tuổi, đã mất cha trong một trường hợp còn bí ẩn. Tin từ gia đình chỉ được biết là hai bà chị ruột của anh, đã được Bác Hồ cho gặp. Bác Hồ nói: “Rất tiếc là việc đã lỡ mất rồi”. Bác khuyên nhủ: “Cụ Phạm là người của lịch sử, hãy để lịch sử sau này đánh giá lại, các con cháu cứ yên tâm đi theo cách mạng”5.

Với Phạm Tuyên và gia đình thì đây là lời dặn dò ghi lòng, tạc dạ. Ở Phạm Tuyên: “Hận lòng lắng xuống, để nhiệt tình yêu nước dâng cao”. Anh quyết tâm đi vào kháng chiến với cuộc đời binh nghiệp gắn với âm nhạc.

Đầu năm 1950, tốt nghiệp Trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa 5, một khóa học đầy khó khăn, thử thách. Phạm Tuyên được điều về làm đại đội trưởng Đại đội 3 trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Tại đây, tiếp theo ca khúc Vào lục quân sáng tác từ Trường Lục quân, Phạm Tuyên cho ra đời một chùm ca khúc mới: Em vào thiếu sinh quân, Lớp học ở rừng… Sự nghiệp âm nhạc gắn với cuộc đời binh nghiệp bắt đầu từ đây với những nét đặc sắc của nó. Ngay cả khi có người kích động gọi anh là “tặc tử”, “bất hiếu tử” thì nhiệt tình yêu nước ở anh vẫn dâng cao.

Nhiều báo chí đã ca ngợi anh. Báo Tiền Phong viết: “Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác hơn 600 ca khúc (trong đó hơn 1/3 là sáng tác cho thiếu nhi). Có những ca khúc đánh dấu một thời điểm lịch sử, một thời khắc thiêng liêng, một sự kiện trọng đại, một chiến dịch lớn lao, như những bài Chiếc gậy Trường Sơn, Miền Nam anh dũng và bất khuất (hợp xướng), Con kênh ta đào, Từ làng Sen, Như có Bác trong ngày đại thắng… Riêng ca khúc Chiến đấu vì độc lập, tự do được sáng tác trong đêm đầu tiên của ngày xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, năm 1979. Đây là ca khúc mở đầu cho một dòng nhạc xuất xứ từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc, với những bài rất hay, như: Gửi em ở cuối sông Hồng, Tình yêu trên dòng sông quan họ… Vì thế có người nói những ca khúc của Phạm Tuyên là một Biên niên sử bằng âm nhạc.6

Tuần báo Hải Dương, Xuân Kỷ Sửu (2009) viết: “Chính những năm tháng chống Mỹ đầy gian khổ, hy sinh, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác ra những ca khúc cách mạng trữ tình, những bài hát ca ngợi Đảng và Bác Hồ kính yêu: Đảng đã cho tôi sáng mắt, sáng lòng; Đảng đã cho ta cả một mùa xuân; Từ làng Sen; Chiếc gậy Trường Sơn; Thành phố mười mùa hoa. Riêng bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác đúng vào đêm 28-4-1975, sau khi nghe phi công Nguyễn Thành Trung ném bom vào dinh Độc Lập. Bài hát đã đưa anh lên đỉnh vinh quang của dòng âm nhạc ngợi ca cách mạng. Với anh, tình yêu đất nước nồng nàn, sự biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu chính là nguồn cảm hứng lớn lao để anh sáng tác những ca khúc đi vào lịch sử cách mạng của dân tộc, sống cùng năm tháng7. Chính vì vậy mà trong giới nghệ thuật, có người coi Phạm Tuyên là một trong những nhạc sĩ viết về Đảng hay nhất.

Một câu hỏi đặt ra là “Làm thế nào tác giả lại viết được hay như vậy?” Phạm Tuyên trả lời: “Tôi viết những bài này vào những năm 60 thế kỷ XX, khi đất nước có nguyện vọng thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm xua đi màn đêm tối tăm, đau khổ… Những đảng viên xung quanh tôi xung phong đi vào những nơi gian khổ nhất, ác liệt nhất. Vì vậy, lúc nào tôi cũng nghĩ làm sao đóng góp được nhiều nhất cho sự nghiệp chung. Muốn vậy phải có chỗ đứng trong quần chúng. Thực tế, tình cảm của mọi người đối với âm nhạc của tôi đã động viên tôi nhiều lắm, nó giúp tôi gác sang một bên những đau đớn, mất mát…”8.

Nhiều văn nghệ sĩ đã thông cảm với những đau đớn, mất mát của anh. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, trong lời bạt cho tập nhạc Cánh én tuổi thơ của Phạm Tuyên đã viết: “Cuộc đời Phạm Tuyên là một kho tiểu thuyết bề bộn với rất nhiều cung bậc. Có thể tóm tắt bằng hai câu thơ xuất thần của Phạm Tiến Duật, một trong những thính giả rất yêu nhạc của Phạm Tuyên:

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng,

Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay”9.

Phạm Tuyên luôn bày tỏ niềm vui và niềm tin về sự cởi mở của giới nghiên cứu trong việc nhìn nhận, đánh giá lại các nhân vật lịch sử với mong muốn được chứng kiến một sự giải tỏa về thân phụ và gia đình mình.

Thực tế, trong cuộc đấu tranh anh hùng, bất khuất giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, giai cấp vô sản đã chiến đấu để:

Được thì thế giới vui chung,

Mất thì chỉ mất cái gông trên đầu.

Trí thức dấn thân cũng có được, có mất. Sử học cần quan tâm làm rõ, nhất là trong khi đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế tri thức để tiến vào văn minh trí tuệ.

V.T.

———————————–

  1. Từ tuổi lục tuần (1986) trở đi, tôi đã có hoài bão noi gương “Tư Mã”, viết về “Những mẩu chuyện đời theo dòng lịch sử”. Một số bài đã được công bố trên các sách: Sử học và hiện thực, tập I, II, III hoặc in trên báo chí Trung ương và địa phương, như chuyện viết về họ Khúc, về Nguyễn Thái Học, về nhà Mạc, về họ Trịnh, về Tự Lực văn đoàn, về chủ bút báo Nam Phong Phạm Quỳnh. Tất cả đã đưa lại hiệu quả đáng khích lệ. Nhờ có các cuộc Hội thảo khoa học tiếp theo mà các nhân vật lịch sử đó đã được làm sáng tỏ thêm, các khu lưu niệm đã được xây dựng như: Đền thờ các Tiên chúa họ Khúc ở Ninh Giang, Hải Dương; Dương Kinh nhà Mạc ở Kiến Thụy, Hải Phòng; “Nhà khách văn chương” của Tự Lực văn đoàn ở Cẩm Giàng, Hải Dương; Những cống hiến về văn hoá của Phạm Quỳnh đang được làm sáng tỏ…
  2. “Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, 3-1951”. Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb ST, 1960, tr.366, 367.
  3. Lê Xuân Phương (chủ biên), Nguyễn Việt, Hướng Tân (cộng tác viên), Sơ thảo Địa lý Việt Nam, Nxb Văn Sử Địa, H, 1957, tr.148.

* Gọi đúng tên cầu là Trường Tiền (BBT).

  1. Lê Xuân Phương (và các cộng tác viên), Sđd, tr.148.
  2. Còn một số lời truyền đạt khác, có nội dung tương tự. Trên đây là nội dung mà tôi (Văn Tạo) tiếp nhận được từ đồng chí Cù Huy Cận, nhân dịp trao đổi với đồng chí ấy trong cuộc Hội thảo về Biên niên lịch sử Chính phủ, tổ chức tại Hạ Long, năm 2001.
  3. Thanh Tùng, “Đất nước trọn niềm vui”, báo Tiền Phong, cuối tháng 4-2010, tr.4.
  4. 9. Hà Cừ – Đinh Thành, “Trò chuyện với nhạc sĩ Phạm Tuyên”. Báo Hải Dương, Xuân Kỷ Sửu, 2009, tr.25.
  5. Trần Mỹ Hiền, “Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Giải thưởng lớn nhất là có chỗ đứng trong quần chúng”. An ninh thế giới, số 958 ngày 15-5-2001.

* GS. Sử học (Hà Nội).

About these ads

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS cho phản hồi của bài viết này. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

The Rubric Theme. Blog at WordPress.com.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 26 other followers

%d bloggers like this: