Pham Ton’s Blog

Tháng Một 19, 2012

Năm 16 tuổi, Phạm Quỳnh lấy vợ đồng tuổi Nhâm Thìn – Dã Thảo

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 5:52 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần thứ 4 tháng 12 năm 2012.

NĂM 16 TUỔI, PHẠM QUỲNH

LẤY VỢ ĐỒNG TUỔI NHÂM THÌN

Dã Thảo

Làng Thọ Vực, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh có ông ký lục Lê Văn Chấn và bà vợ họ Hoàng, gia đình cũng thường thường bậc trung, nhưng sinh được ba cô con gái da trắng nõn nà, môi đỏ như son, tóc đen nhánh, nổi tiếng xinh đẹp nhất làng. Cô cả, nhà gọi là cô Nhớn, tên Lê Thị Vân. Cô Nhỡ tên là Lê Thị Hợp, cô Bé, tên Lê Thị Mai. Con út là trai, tên Lê Văn Tốn (còn gọi là Xuân).

Một hôm ba cô theo bạn rủ nhau đi xem bói. Thầy bói nói cô Nhớn, bấy giờ 14 tuổi, “số cô vất vả thời trẻ, nhưng về già thì sẽ thành nhất phẩm phu nhân, con cái đầy đàn, trai một cỗ, gái hai cỗ”. Cô Nhỡ thì thầy nói là “số long đong, ly hương biệt quán.” Cô Bé thì “căn quả tu thờ Phật, nếu lấy chồng thì sát đến … 9 đời chồng!”. Ba chị em cười rúc rích. Nhưng, sau này thì cô Nhỡ theo chồng là cựu học sinh Đông Du, phải lẩn tránh, lên sống lẻn lút ở các đồn điền cà phê trên Yên Bái. Cô Út trốn nhà, xin nương nhờ cửa Phật, sau này trở thành vị thượng tọa trụ trì có uy tín của chùa Cầu Bây bên Gia Lâm Hà Nội.

Ông ký lục mất sớm, gánh nặng gia đình dồn cả lên vai bà mẹ và cô Nhớn. Nhà chỉ có mấy sào ruộng, cô Nhớn phải làm thêm hàng xáo, xay lúa giã gạo, làm tương, nuôi lợn, già…Khi giáp hạt thì thường thiếu ăn. Bà mẹ phải lên Hà Nội mượn tạm tiền bà chị cùng cha khác mẹ, thường gọi là bà Nhì lấy chồng họ Phạm, buôn bán ở nhà số 74 phố Hàng Áo, đến vụ gặt thì lại trả.

Mỗi lần ra Hà Nội phải mất một ngày. Những khi ra ăn giỗ, bà mẹ thường dẫn cô Nhớn đi cùng, để biết họ biết hàng, khi cần thì thay mẹ đi. Họ Phạm bên nhà chồng bà Nhì có bốn chi, chi Cụ Lang Hàng Bún là cao nhất, rồi đến chi cụ Nhì, kế đến là các chi ông Tú, ông Cả Giới và ông Hai Kỳ. Chi ông Tú có cậu Phạm Quỳnh. Bấy giờ, Phạm Quỳnh đã tốt nghiệp trường Trung học Bảo Hộ (tức trường Bưởi) và đã đi làm nhân viên phiên dịch ở Trường Viễn Đông Bác Cổ. Phạm Quỳnh vẫn sống với bà nội và cụ Tú (vợ người cho gia đình ông nội Phạm Quỳnh thừa tự). Nhưng cả hai đều đã cao tuổi, lại chăm lo săn sóc mình từ khi lọt lòng, cho đến năm lên 9 không còn cả cha lẫn mẹ, chỉ còn trông vào hai cụ, nên Phạm Quỳnh thương hai cụ lắm, cũng mong có người cùng mình đỡ đần hai cụ lúc tuổi già. Các cụ trong họ thấy đôi trai tài, gái sắc đồng tuổi Nhâm Thìn, vừa tròn 16, nên đều vun vào cho đôi trẻ. Thế là thành mối lương duyên, ai cũng mừng; mừng nhất là hai bà cụ từng vắt kiệt sức tàn nuôi nấng Phạm Quỳnh. Cô Vân sinh đầu năm Thìn, mà Phạm Quỳnh sinh cuối năm, cho nên sau này ông thường nói đùa với các con là “Me hơn thầy một tuổi, cho nên Me bảo gì thầy cũng phải nghe theo…”.

Hai vợ chồng trẻ sống cùng hai cụ bà ở nhà số I phố Hàng Trống và sinh ba con đầu lòng tại đây: Phạm Giao (1911), Phạm Thị Giá (1913) và Phạm Thị Thức (1915). Con trai thì đặt tên theo tên cha: cha là Quỳnh, thì con là Giao. Còn con gái thì đặt cho có tên mà gọi thôi. Con gái đầu, khi sinh ra mình trắng như cọng giá thì gọi là cái Giá. Con thứ cứ ngày ngủ, đêm thức suốt thì gọi là cái Thức. Tiếp đó là Phạm Bích (1919), Phạm Thị Hảo (1920), Phạm Thị Ngoạn (1921), Phạm Thị Bảy (mất lúc sáu tháng), Phạm Khuê (1923), Phạm Thị Chín (mất lúc chín tháng), Phạm Thị Hoàn (1926), Phạm Thị Yến (mất lúc năm tháng), Phạm Tuyên (1930), Phạm Thị Giễm (1932), Phạm Thị Lệ (1934), Phạm Tuân (1936) và Phạm Thị Viên (1938). Như vậy là có ba con gái mất lúc chưa đầy tuổi tôi, cho nên có khi thấy viết trong sách báo là Phạm Quỳnh có 13 con. Đến nay, các ông Phạm Giao, Phạm Bích, Phạm Khuê và các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức, Phạm Thị Ngoạn đã qua đời, chỉ còn bà Phạm Thị Hảo và ông Phạm Tuân định cư ở Mỹ, các bà Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Thị Viên định  cư ở Pháp. Ở trong nước, chỉ còn một mình nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Cô Vân, ở nhà chuyên làm ruộng, xay lúa giã gạo, nuôi lợn, gà…không được đi học cho nên không biết cả chữ Nho lẫn chữ quốc ngữ. Nhưng cô có trí nhớ tuyệt vời, thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và các truyện Nôm, trong đó tất nhiên có Truyện Kiều. Sau này bà đã giúp nhà văn, nhà báo Phạm Quỳnh nhiều trong việc cung cấp cho ông các tư liệu về văn hóa, văn học dân gian. Cho đến thời kháng chiến chống Pháp, có phong trào bình dân học vụ, một đứa cháu ngoại thương bà đã cố hướng dẫn bà ngoại viết cho được cái tên, kẻo ra đường, bị  “thanh niên diệt dốt” bắt đi qua “cổng mù” thì tội quá. Cho nên bà biết viết độc một chữ Vân tên mình. Hồi ông làm báo Nam Phong, bà được làm thủ quĩ cho Hội Tế Sinh của bà Cả Mọc, chuyên làm từ thiện ở Hà Nội và vài tỉnh miền Bắc. Hằng ngày, việc thu chi của hội đều qua tay bà, bà nhớ kỹ,  rồi tối về nói lại cho ông ghi vào hóa đơn, sổ sách, không hề sai bao giờ.

Bà còn có tính kiên quyết, không tiếc cả thân mình khi cần phải hy sinh. Năm 1935, có mang lần thứ 15 được bảy tháng thì bà lên cơn hen nặng. Thường phải thức suốt đêm, ngồi tựa lưng vào con gái thứ mới thở được. Những lúc ấy, cái thai cứ rực lên, rất mệt mỏi. Phạm Quỳnh quá lo lắng, cho mời bác sĩ người Pháp là Piqueman đến khám. Ông ta nói là bệnh nặng lắm, phải cứu lấy người mẹ, kẻo chết cả mẹ lẫn con. Ông lựa lời nói lại với vợ thì bà nói ngay: “Tôi sống thì nó sống, tôi chết nó mới chết, chứ tôi không bao giờ chịu làm cái việc thất đức đó…” Và kể cho ông nghe giấc mộng khi sắp mang thai lần này. Bà đi xe kéo ở thành nội thì có đứa bé mặt trắng môi son cứ chạy theo mà xin cho về nhà. Bà nghĩ đã có 14 con rồi, nên xua tay. Thì đứa bé chạy thật nhanh, rồi nhảy tót lên xe, ngồi ngay vào lòng bà, ôm lấy bà. Tử đấy, Phạm Quỳnh càng lo chăm sóc vợ hơn mà không nhắc gì đến chuyện đó nữa. May mắn thay, bệnh bà thuyên giảm từng ngày và đủ tháng, đủ ngày, bà sinh một trai đúng như trong mộng. Cả nhà đều mừng, cứ gọi là “Chú mình”, sau này gọi trại ra là “chú Miềng”. Và cái tên cưng đó, đến nay (2009) vẫn quen dùng, kể cả hai vợ chồng ông Phạm Tuân cũng vẫn tự xưng như vậy.

Rồi, trưa cái ngày định mệnh 23/8/1945 ấy, có mấy người mặc quân phục đến “mời ông ra làm việc tại trụ sở Ủy ban Khởi Nghĩa Thừa Thiên-Huế”, thì bà cũng có mặt. Thoáng thấy trên cánh tay một người mặc quân phục có đeo cái băng đỏ, bà như có linh cảm là việc chẳng lành, đã hét lên một tiếng thật to rồi ngất đi…Trong khi đó, ông thanh thản thay áo, đi theo họ, để rồi không bao giờ trở về nữa… Nhưng, sau cơn gia biến lớn, chính bà đã thu vén tài sản gia đình còn sót lại, cho bán tất cả sách ở chợ Đông Ba, rồi dẫn cả đoàn con, cháu 14 con người (trong đó có năm trẻ dưới 10 tuổi) từ Huế ra Hà Nội về nhà con gái trưởng. Để rồi cùng tản cư, sống những năm đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

Bà chuyên làm nông nghiệp, giỏi lo toan việc nhà, đặc biệt có tài làm tương Bắc từ nếp và đậu tương rất ngon, ngọt. Cho nên khi tản cư, gia đình thiếu thốn, “thượng thư phu nhân” lại trở về nghề cũ: làm tương, bán cho dân làng.

Bác sỹ Đặng Vũ Hỷ là con rể hiếu thảo, thu xếp cho mẹ vợ và các em cùng nhiều cháu nội ngoại tản cư về làng Vạn Lộc, phủ Xuân Trường, Nam Định, ở nhà cụ Chánh Đoán là người trong họ. Mấy năm tản cư, tiền nong cạn dần, cụ bà lại làm tương, và tương rất ngon, dân làng tìm đến mua nhiều, cụ phải làm hàng chum to mới đủ bán. Nhà có cổng lớn, dẫn vào ngõ trúc rồi mới đến sân to là chỗ cụ bà làm và bán tương. Cậu út Phạm Tuân khéo tay, mài gạch non, viết chữ đỏ ngay trên cổng quét vôi trắng “Ở đây có bán tương ngọt”. Từ đấy, càng nhiều người biết mà đến mua, không phải chỉ trông chờ vào truyền miệng như trước.

Năm ấy, biết vợ nhớ mẹ và em, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ cho người đón cụ và hai em trai, gái út về Thư Điền, Ninh Bình, nơi ông công tác và gia đình đang sống. Cụ bà ra đi, gọi cháu ngoại Tôn Nữ Việt An 15 tuổi lại dặn dò lo việc nhà, còn hàng chục miệng ăn, và đưa ít tiền cho cháu liệu chi tiêu tiết kiệm. Hai tháng sau, cụ về, cháu gái đảm đang đưa lại tiền cho cụ, không thiếu một xu. Lấy làm lạ, cụ hỏi vậy cả nhà lấy gì mà ăn. Thì cháu gái chỉ vào chum tương to đặt gần máng xối nước mưa. Hóa ra tiền bán tương đủ cho cả nhà chi dùng trong suốt thời gian bà ngoại đi vắng. Cụ mở nắp chum xem, thì thấy vẫn còn non nửa. Hỏi ra mới biết, chum tương càng dưới càng mặn, may mà … được nước mưa ở máng xối bắn vào những khi mưa to cho nên nhạt bớt mà tương vẫn ngon ngọt. Lại đã được tín nhiệm, có “thương hiệu” rồi, cho nên rất đông khách vốn lấy tương cà làm gia bản!.

Thế là Phạm Quỳnh mười sáu tuổi đã lấy vợ đồng tuổi Nhâm Thìn, suốt đời sống hòa thuận, nhường nhịn nhau, bổ sung cho nhau mà tạo dựng nên một gia đình hòa hợp hạnh phúc. Cả khi ông không còn nữa, nếp nhà ấy vẫn còn, giản dị, cần cù, chân thành, không hề khệnh khạng quan cách bao giờ như người ngoài dễ lầm tưởng. Con cháu sống ở đâu cũng được nhân dân yêu mến, gần gũi, sẵn lòng giúp đỡ. Đó là cái đức của ông đã lưu lại ánh sáng về sau cho con cháu được nhờ. Đáng quí vậy thay nếp nhà mẫu mực ấy.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8/11/2009.

D.T.

Để lại phản hồi »

Chưa có phản hồi.

RSS cho phản hồi của bài viết này. URL TrackBack

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theme: Rubric. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.