Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 18, 2009

Phụ Lục

Filed under: Người Nặng Lòng — phamquynh @ 12:48 chiều

PHỤ LỤC


VỀ NGÀY VÀ NĂM SINH CỦA PHẠM QUỲNH

Phạm Thị Ngoạn (con gái thứ bốn trong tám con gái của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp)

CÓ BA “THUYẾT” VỀ GIẤY KHAI SINH

Trong tạp chí Văn học (Sài Gòn tháng 10 năm 1972, trang 7) Phan Kim Thịnh có kể lại một cuộc tiếp xúc với bà Phạm Thị Hảo, chị ruột tác giả. Theo ông và căn cứ theo giấy thế vì khai sinh thì Phạm Quỳnh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1892. Thực ra trong gia đình tôi có ba thuyết về giấy khai sinh. Sự kiện bất nhất là do trước đây, ngày sinh không được khai ngay, khiến sau đó mọi chi tiết đều căn cứ vào giấy “thế vì khai sinh” thiết lập nhờ các chứng nhân. Có một điều hiển nhiên mà chúng tôi là con, còn nhớ rõ: cha mẹ chúng tôi sinh cùng một năm và năm đó là năm nhâm thìn.

Phạm Trọng Nhân (cháu gọi Phạm Quỳnh bằng chú, anh họ bà Phạm Thị Ngoạn, định cư và mất tại Pháp – người dịch cuốn sách của bà Ngoạn Introduction au Nam Phong ra tiếng Việt)

PHẠM QUỲNH SINH VÀO NGÀY 30 THÁNG 1 NĂM 1893

Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Etudes interdisciplinaires sur le Viet Nam Sài Gòn 1974, cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở Triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho Phạm Quỳnh và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30 tháng 1 năm 1893. Theo tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh thì “thuyết” sau này đúng hơn cả, vì cũng là một năm nhâm thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (cũng do Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2 tháng 2 năm 1892)

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993, trang 60


VÀI Ý KIẾN CỦA NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI VỀ

PHẠM QUỲNH

Phan Thị Minh (tức Lê Thị Kinh, cháu ngoại Phan Chu Trinh, nguyên đại sứ Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Luxembourg)

GHI LẠI TẶNG CHỊ NGOẠN VÀ CHỊ HOÀN

Tôi là Lê Thị Kinh tức là Phan Thị Minh, trước khi đi qua Paris tôi có gặp ông Sơn Tùng là một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử đồng thời là thương binh loại nặng (co rút cả hai tay) đã vui lòng kể cho tôi một số chuyện ông được nghe qua cụ Đào Nhật Vinh (tức Bùi Di, tức Bùi Lâm) ngày xưa đã gần gũi cụ Hồ thời kỳ cụ Hồ còn tên là Tất Thành đi làm trên tàu thủy (cùng đi với nhau từ Argentine đến Terre de feu, được Tất Thành dạy học chữ quốc ngữ). Sau ông này về làm adjudant ở bệnh viện Val de Grâce, hay đến 6 Villa des Gobelins gặp Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường (hai ông nghè ta và tây) và Nguyễn Ái Quốc…

Ông Đào Nhật Vinh kể lại: lúc đó ông Chu Đình Xương và ông Lê Giản (bấy giờ là Tổng giám đốc Nha Công an Trung ương – PT ghi chú) đưa bản án đề nghị “xử tử Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh” thì cụ Hồ đã bác (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Ông Vinh ỷ thế là chỗ thân tình đã chạy vào phản đối: “Anh nhân đạo kiểu gì vậy? Sao anh lại tha những tên có nợ máu với nhân dân và những tên đã chống phá cách mạng?”

hinh-15

Cụ Hồ đã trả lời nghiêm nghị: “Đây là văn phòng Chủ tịch nước chớ không phải là sàn tàu đâu mà chú xồn xồn lên như vậy. Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới, tôi quyết định như vậy là đúng…” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra, vào gặp cụ Hồ và báo “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi” thì cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… đó không phải là người xấu!” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Tôi đi nghiên cứu ở Archives d’Outre Mer ở Aix-en-Provence có thấy được một số báo cáo của agents của mật thám Pháp báo là đầu tháng 5-1922 có một cuộc gặp của cụ Phan Châu Trinh với cụ Phạm Quỳnh và ông Nguyễn Văn Vĩnh mà nó không ghi được nội dung, chỉ nghe được ông Vĩnh kể lại nhưng chúng không tin và có tin hai người này (Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh – PT ghi chú) có gặp ông Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) tại Paris hoặc ở Tours nhưng nó không ghi được nội dung. (Đó là năm 1922 khi hai người qua dự đấu xảo thuộc địa tại Marseille). Sau đó ông Nguyễn Văn Vĩnh ở lại mấy tháng, được ông Phan Văn Trường đưa đi Mayence, Berlin, Vienne rồi mới trở về Pháp và về Việt Nam.

Paris 20-1-1994

Phan Thị Minh

Bản viết tay của bà Phan Thị Minh tại Paris 20-1-1994 gửi tặng các bà Phạm Thị Ngoạn và Phạm Thị Hoàn định cư tại Pháp.


Nguyễn Vạn An (nhà báo, đại diện nhóm Tri Tân)

Khi danh vọng về chiều

TÔI ĐÃ GẶP PHẠM QUỲNH Ở BIỆT THỰ HOA ĐƯỜNG

Sau cuộc biến chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945 (Nhật đảo chính Pháp – PT ghi chú), mọi phương tiện giao thông giữa Trung Nam Bắc hoàn toàn trở ngại vì những cuộc giội bom tàn phá của Đồng Minh. Tôi lặn lội từ Hanoi trở vô Nam, bằng đủ mọi cách: đi thuyền, xe hơi, xe lửa, xe kéo và đi bộ nữa để mãi tới tháng sáu tôi mới ghé được kinh thành Huế giữa lúc ông Trần Trọng Kim đang chấp quyền Thủ tướng Nam Triều, và cũng giữa một ngày kinh thành Huế cũng đang bị bom đạn tơi bời.

Không hề bỏ lỡ một dịp tốt để gặp gỡ các chánh khách lúc đó đang là những người của thời cuộc, tôi vinh dự được gặp hầu hết từ ông Tổng trưởng Nội các đến các ông Bộ trưởng có mặt tại kinh thành, và luôn cả những nhân vật có danh ở Huế.

Bài này tôi nói riêng về cuộc gặp gỡ cụ Phạm Quỳnh

Nói đến nhà đại học giả ấy, lẽ tất nhiên chẳng cần nửa lời giới thiệu, đồng bào toàn quốc ai nấy đều biết.

Sau cuộc “đảo lộn” Nội các Nam Triều, Cụ Phạm Quỳnh về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường là biệt thự riêng của cụ ở An Cựu, sát ngay thủ đô

Nghe nói Cụ “bế môn” không tiếp khách từ hơn một tháng nay. Tôi vẫn không nản lòng, gắng đến cho bằng được, vì tôi tin ở lời giới thiệu của cụ Nguyễn Văn Tố và nhóm Tri Tân mà tôi là đại diện

Sau khi cánh danh thiếp được trao qua cánh cửa sắt, tôi được mời vô phòng khách. Phạm Tiên sinh trịnh trọng trong bộ quốc phục màu đen vui vẻ niềm nở tiếp tôi và không quên nói:

– Thật ra đã hơn một tháng nay, tôi không hề tiếp khách, nhưng coi tấm danh thiếp biết ông là một “đồng nghiệp” (quá vinh dự cho tôi!) ở Bắc mới vào nên thành thực vui vẻ muốn được hầu tiếp để biết tin tức các bạn tôi ở Hanoi và tình hình ở Bắc ra sao…

Đã gần mười năm trời, tôi mới lại được gặp Cụ Phạm lần này là lần thứ hai. Bây giờ coi Cụ mập mạp bệ vệ quan cách hơn xưa nhiều

Trong hương trà sen, câu chuyện trở nên đầm ấm thân mật. Với nét mặt hình như phảng phất một vẻ buồn nhẹ nhàng, ẩn kín một tâm sự riêng, với một giọng nói đều đều, tự nhiên và hấp dẫn như nói chuyện với một người thân của mình, Cụ tỏ ra lấy làm tiếc rằng đã bỏ cuộc đời cầm bút của mình mà quay ra làm quan

Tôi hỏi: “Tôi muốn biết cảm tưởng của Cụ đối với tân Nội các hiện thời?”

Cụ đáp: “Nội các hiện thời toàn là những người có tài có chí, nhất là Trần đại nhân thật là một người trong sạch liêm khiết mà chúng ta có thể tin cậy được. Trước khi đứng ra thành lập nội các, Cụ Trần cũng có đến thăm tôi và tôi cũng bày tỏ thành thực những quan điểm của tôi cho Cụ biết và những trở lực mà chúng tôi đã phải vượt qua.”

– Chúng tôi muốn biết rồi đây Cụ có hoạt động về chánh trị nữa không, hay trở về với văn học giới?

– Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan (Chúng tôi nhấn mạnh – PT), vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng.

Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực.

Ông tính coi, một nhà văn bạch đinh như tôi, vụt một cái nhảy lên cái ghế danh vọng của triều đình thì tránh sao được những đố kị và ngộ nhận. Cảnh ngộ của tôi lúc ra làm quan thật phù hợp với hai câu:

Phấn Vua Lê trang điểm ấy là duyên

Tay Chúa Trịnh cầm quyền âu cũng nợ…

“Hồi tôi ra chấp chánh, ông cố Toàn quyền Pasquier nói với tôi rằng: “Nhà vua là một người hoàn toàn Âu hoá, phải có một người bán tân bán cựu ra làm cái cầu ở giữa để giúp nhà vua.” Mà cái cầu ấy, người ta đã chọn tôi. Nhưng tôi có làm được cái gì đâu! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Hồi sang Pháp, tôi có vận động để bên Chánh phủ Pháp thi hành đúng Hiệp ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam Triều trên thực tế. Tôi đã giãi bày rất nhiều với ông Mandel (Bộ trưởng Thuộc địa). Nhưng việc đó cũng không thành.

Suốt một đời, tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Hiện thời tôi cần phải nghỉ tĩnh dưỡng trong ít lâu rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học. Tôi tin tưởng rằng Quốc văn của ta sau này sẽ tiến triển mạnh mẽ lắm. Một phần nó được hấp thụ nền cổ học Trung Hoa, một phần khác nó được ảnh hưởng rất mạnh trong nền học mới.

“…Tương lai nước ta sau này là do ở chữ Quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này…”

Trong câu chuyện vui vẻ, hết chuyện này qua chuyện khác, với một giọng đều đều và hùng biện, ông không hề đợi tôi hỏi mà nói thao thao không ngừng.

Phạm tiên sinh vẫn tiếp:

Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái, học hỏi thêm được “nhân tình thế thái”rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa

“Hiện thời chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử mà một nền văn hoá mới phải được tạo lập. Tất cả nhân tài phải được dung nạp và trọng dụng. Phải tạo cho họ có trường sở để thi thố phát triển tài năng của mình. Đôn đốc họ bất cứ trong trường hợp nào họ cũng phải đặt mình trong cái nghĩa lớn. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Trong nền văn hoá chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nẩy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng đã chẳng ra làm việc để tìm ra được một Tổ quốc mà phụng sự là gì!

“Tôi còn nhớ trong một bức thư gửi cho ông Paul Reynaud (hồi đó là Bộ trưởng Thuộc địa) có đoạn này:

“…Chúng tôi đang đi tìm Tổ quốc mà không thấy Tổ quốc ở đâu. Thưa Ngài Bộ trưởng, Tổ quốc ấy đối với chúng tôi nhất định không phải là nước Pháp. Lời nói đó, xin ngài đừng mếch lòng. Nó không hề có cái ý bất lương gì cả. Chính nó là tiêu biểu của sự thực đích xác. Người Việt Nam không thể coi nước Pháp làm Tổ quốc được, vì trước đã có Tổ quốc của mình rồi, mà cái Tổ quốc đó nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến pháp thế nào cho cái quan niệm quốc gia của chúng tôi được phát triển, cho chúng tôi cũng được làm cái đời dân của một Quốc gia xứng đáng…”

Cụ Phạm vẫn tiếp:

– Thật vậy, trong trường hợp nào chúng ta cũng phải đặt Quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy. Cá nhân không có nghĩa và cũng không có sức mạnh gì cả. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Câu chuyện Cụ Phạm càng nói càng thấy nồng nhiệt. Có nhiều đoạn mà chúng tôi thấy không cần và cũng không tiện viết ra đây. Nhân bàn về văn chương Việt Nam và nói đến cuốn Kiều, Cụ Phạm Quỳnh có nói một câu lý thú rằng: Truyện Kiều là một thánh thơ Quốc âm. Truyện Kiều còn, nước ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

Trước khi chia tay, Cụ Phạm có kí tên tặng tôi một bức ảnh làm kỷ niệm mà tôi còn trang trọng giữ làm một lưu vật chót của một đại văn hào đã có công rất nhiều trong công cuộc xây dựng nền tảng văn học Việt Nam

Đăt mình hẳn ra ngoài lề chánh trị và chánh kiến, viết bài này tôi chỉ làm cái việc của một cây viết hoàn toàn khách quan với mục đích “Ghi chép” không hơn không kém

Bài đăng ở báo Tin Điển ngày 23-3-1952


Cụ Nguyễn Văn Bồng (kỹ sư, cựu cố vấn văn hoá Hội Chấn hưng Quốc gia Việt Nam dưới chế độ cũ)

KHÔNG PHẢI LÀ VIỆT MINH GIẾT CỤ PHẠM QUỲNH

Tháng 7-1993, con trai Phạm Quỳnh đến Đà Lạt, có ghé thăm cụ Nguyễn Văn Bồng là người thời trẻ từng nhiều năm giúp việc Phạm Quỳnh, suốt đời coi Phạm Quỳnh là “ông thầy”, là “ân nhân” của mình. Trong ngôi nhà số 2 đường Nguyễn Công Trứ, ấp Hà Đông, cụ Bồng đã chín mươi tuổi sôi nổi khẳng định: “Không phải là Việt Minh giết Cụ Phạm Quỳnh, mà chính con cháu cụ Nguyễn Hữu Bài đã tìm được cơ hội khử Phạm Quỳnh để trả thù cho cha, ông về vụ “Năm cụ khi không rớt cái ình, / Đất bằng sấm dậy giữa Thần Kinh / Bài không đeo nữa xin dâng lại…” Nguyễn Hữu Bài cùng bốn thượng thư bị bãi chức sau khi Cụ nhà vào Triều nên họ cho là Cụ bợ tây về cưỡi cổ triều đình, đuổi mấy thượng thư già về như đuổi lợn. Sau con cháu cụ Bài tham gia Việt Minh, nhân có cơ hội, khử Cụ luôn.

hinh-22

Tôi biết là do nhà tôi có ơn với cụ Bài. Ông nội tôi là em ruột Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp, đã lấy Nguyễn Hữu Bài từ ký lục toà khâm về làm thông ngôn cho vua Thành Thái, từ đấy vào triều đình. Cho nên gia đình cụ Bài coi tôi như con cháu trong nhà. Vì thế, sau Cách mạng tháng 8, tôi từ Đà Lạt về Huế, gặp nhau, nhân nói chuyện về Cụ nhà, tôi mới nghe được con cháu cụ Bài khoe với nhau là chính họ đã nhân cơ hội lập kế giết chết Cụ nhàF[1]F. Cụ Bồng chính là người đã đưa dân Bắc vào Đà Lạt trồng rau, lập nên ấp Hà Đông, là một nhân vật nổi tiếng ở Đà Lạt. Cụ từng tốt nghiệp ban canh nông đại học Paris và là cố vấn văn hoá Hội Chấn hưng Quốc gia Việt Nam hồi chế độ cũ


Cụ Vương Hồng Sển (nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá)

NGƯỜI ĐÁNG LÀM THẦY: PHẠM QUỲNH

hinh-32

Bút tích nhà văn hoá Vương Hồng Sển đề tặng sách cho Phạm Tuyên ngày 9-12-1993
CON CHÁU PHẠM QUỲNH VIẾT VỀ ÔNG

Phạm Trọng Nhân (cháu gọi Phạm Quỳnh bằng chú, định cư và mất tại Pháp)

MỘT CHÚT CẢM TƯỞNG

của người dịch

Lần đầu tiên – mà cũng là lần chót – tôi gặp nhà văn Phạm Quỳnh khoảng cuối năm 1942

Tôi cùng phái đoàn sinh viên Trường Đại học Hà Nội đáp hoả xa xuyên Đông Dương vào Sài Gòn viếng thăm Hội Chợ. Thầy tôi căn dặn:

Lượt về, nếu có thể được, con ghé Huế mấy ngày thăm Chú Thím. Chú Quỳnh đối với Thầy không phải chỉ có họ mà còn là tri âm, văn hữu…

Nhưng trước đó… tôi cũng thường được gặp Chú tôi mỗi khi nhà có giỗ. Hoặc đôi khi khác nhân ngày nghỉ lễ, khiển muộn tiêu sầu, Chú tôi ghé thăm Ông Nội tôi và Thầy tôi. Có những lần, một bữa cơm thanh đạm được cao hứng dọn ra. Các người lớn say sưa bàn luận về những vấn đề hay danh từ cao xa nào đó, mà tôi mới mười, mười hai tuổi còn bé nên không thể hiểu…Và thời gian lặng lẽ trôi…Sau này Chú vô Huế. Nhưng mỗi khi ra Hà Nội, Chú vẫn thường đi lại gặp gỡ họ hàng, nhất là Ông Nội tôi, vì ngành tôi là ngành trưởng. Những cuộc viếng thăm đi lại như vậy không hoàn toàn vì lí do xã giao hình thức. Tuy còn nhỏ dại, tôi vẫn có thể ức đoán được như vậy. Vì mặc dầu thời gian ngắn ngủi, mà Chú tôi vẫn có dịp để cùng với Ông Nội tôi và Thầy tôi trao đổi ý kiến về nhân sinh thế sự, và đôi khi khác, còn xướng hoạ văn thơ. Những tài liệu hay bút tích này, rất tiếc vì chiến tranh nên đã thất lạc hết.

Tôi trở lại cuộc gặp gỡ tại Huế, cuối năm 1942

Mặc dầu cử chỉ hồn nhiên, ngôn từ cởi mở nhưng có lúc Chú lại bỗng dưng trầm lặng suy tư, như dòng sông Hương lờ lững chảy. Hình như Chú suy nghĩ nhiều lắm thì phải. Về văn chương, về chánh trị, hay về cả văn chương và chánh trị?

Một buổi đêm đã khuya. Trời không lạnh. Nơi thư phòng tại biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, thuộc làng An Cựu, gần kinh thành Huế, tôi ngồi ghế kề gần bàn giấy. Ông Chú Phạm Quỳnh đi lại, đầu đội mũ ni, mình bận áo dài đen, hai bàn tay thu trong túi áo, vừa đi vừa kể chuyện. Tôi hỏi Chú lạnh lắm sao? Chú sờ vào cái tai mũ, điều chỉnh lại đôi mục kỉnh, rồi cười mỉm, nói rất nhẹ nhàng:

Mũ ni che tai… cái mũ này có đượm một ý nghĩa, tượng trưng một triết lý…

Chú còn bình luận thêm, thoạt nghe tưởng như câu chuyện tuỳ hứng không liên tục:

– Bất cứ làm việc gì trên đời, cũng phải giữ cho trọn vẹn cái cá tính và phẩm cách của mình…Chỉ có đáng trọng mới được trọng (Pour être respecté, il faut être respectable…)

Đêm đó, tôi được nói chuyện với nhà văn Phạm Quỳnh. Hay đúng ra tôi được nghe nhà văn Phạm Quỳnh nói. Rất nhiều. Rất lâu. Rất dài. Tôi tuy còn là sinh viên, chưa ra trường, chưa vào đời, nhưng đã bắt đầu phần nào biết thưởng thức văn thơ, và phần nào bắt đầu thắc mắc về thế sự

Cũng khoảng cuối năm 1942, tại Huế, không hiểu nhân câu chuyện gì, nhà văn Phạm Quỳnh đã tâm sự với tôi:

Úi chào! Thượng thư của một quốc gia bị trị, rồi ra có nghĩa lý gì…Ví như có để lại chút gì sau này, ấy chính là trong lĩnh vực văn chương…

Nếu như vậy, thì ngày nay, nhà văn Phạm Quỳnh phần nào đã có thể ngậm cười nơi chín suối…

Tôi nhận lãnh công tác (dịch cuốn Introduction au Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn, em họ – PT ghi chú) với rất nhiều cố gắng, nhưng đồng thời phải nói thêm: với rất nhiều liều lĩnh. Có nhiều vị giàu khả năng uy tín hơn tôi, có thể làm công việc này nhanh hơn, hay hơn…Tiềm tàng và xuất phát từ nơi tôi chỉ có một động lực khả dĩ giải thích lòng sốt sắng và chứng minh sự liều lĩnh đó.

Tôi không dám dịch cuốn sách nhân danh là một học giả. Vốn dĩ mến phục nhà văn Phạm Quỳnh, tôi lại là người trong họ, do đó có nhiều kỉ niệm chung. Đối với tôi Nam Phong chẳng khác nào một ngôi đền cổ. Ngôi đền có lẽ không nguy nga lắm, nhưng là ngôi đền nhà, một ngôi đền quen thuộc và cũng được nhiều người biết đến. Tôi đến ngôi đền, hay đúng ra trở lại ngôi đền, như cùng với một số người thân đi hành hương vậy. Tôi sắm sửa hành trang và lễ vật với rất nhiều khiêm cung và thành kính…

Tâm hồn tôi như thoát tục. Và tôi trân trọng gửi những trang này đến quý liệt vị xa gần…

Sài Gòn ngày 17 tháng 12 năm 1973

Sao chép lại tại Paris chủ nhật 12 tháng 5, 1991

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn. Bản dịch Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993


Phạm Thị Ngoạn (con gái thứ tư trong tám con gái của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp)

CHỦ NHIỆM KIÊM CHỦ BÚT PHẠM QUỲNH

Gia đình…từ biệt làng Lương Ngọc để lên Hà Nội lập nghiệp. Và Phạm Quỳnh đã ra đời, khôn lớn và học hành tại Hà Nội.

Suốt đời nhà văn này vẫn có tính dè dặt và có thể nói là rất kín đáo, tự ý lựa chọn một nếp sống thu mình trong khuôn khổ gia đình. Ngay từ hồi tuổi trẻ người đã sớm tạo nên một loại “tháp ngà” để sống riêng biệt, sự kiện trái ngược đối với một người mà sau này lịch sử sẽ xô đẩy vào đời sống chánh trị, có liên qua đến vận mệnh quốc gia, đảm nhiệm những chức vụ trong các hội đồng và sau hết trở nên Thượng thư Triều đình Huế

Mâu thuẫn này – nếu đây quả là mâu thuẫn – được giảng giải bằng luật di kế và gánh nặng của trách nhiệm gia đình. Nhưng tuy không mong đợi mà Phạm Quỳnh đã được đền bù thoả đáng, vì chính trong khung cảnh gia đình êm ấm mà ông được mãn nguyện về tình cảm

Ngay từ buổi thiếu thời, ông đã phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt. Pham Quỳnh gần như không có mẹ, vì người mất đi khi con mới được chín tháng. Sau đó, khi ông chín tuổi, lại đến cha từ trần. Nhờ bà nội mà Phạm Quỳnh côi cút được biết thế nào là tình thương trong gia đình, cùng là cắp sách theo đòi sự học.

Dù nói hay viết, mà nhất là viết, Phạm Quỳnh rất dè dặt bộc lộ tâm tình. Tuy nhiên, đôi khi ông cũng đã nhắc tới một số kỉ niệm buổi ấu thời, thật hồn nhiên giản dị.

Trong cuốn Pháp du hành trình nhật ký, ông tâm sự như sau:

“Hỏi đến lịch sử của riêng mình, mình cũng lấy lòng thành thực mà đáp; kể những lúc lênh đênh cơ khổ buổi thiếu thời, nhờ bà nội nuôi đi học. Từ khi khôn lớn biết nghĩ tới giờ chỉ nuôi một cái chí trong lòng là đối với nhà làm thế nào nối được nghiệp của ông cha, đáp được cái nền “sĩ phong” cho xứng đáng (…),đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh tao, để mong quốc vận được sáng sủa (…) không dám đem cái chí nguyện mà hi sinh cho sự giàu sang…”

Về đời học sinh và những thành tích đầu tiên trên đường học vấn cũng như về cuộc đời công chức, Pháp du hành trình nhật ký đã cho ta biết

“Bấy giờ mới tốt nghiệp ở trường Bảo Hộ ra (…) mình đỗ đầu đang khét tiếng là “Cậu thủ khoa tây”! Thậm chí có người nói: “Lương Ngọc có đất thật, thi chữ tây mà cũng đỗ thủ khoa!” (…) Hồi bấy giờ mới đặt ra thi Diplôme trong dân gian còn lấy làm trọng lắm, trọng hơn là thi cao đẳng bấy giờ…”

Những lời tâm sự đó rất ít khi được kí thác trong các tác phẩm. Phạm Quỳnh còn cho ta biết ông đã học chữ nho, kiên trì và lao khổ tới mực nào:

“Mình bấy giờ còn nhỏ dại quá (…) lại thật thà hiền lành, đến nỗi anh em đặt tên là “Anh lý nhà quê!” Thủ khoa tây mà chữ nho chỉ biết viết được hai chữ tên, còn thì mịt mù cả. Kỳ thi có một bài Hán tự dịch ra chữ tây, dịch giỏi đến nỗi chấm được một nửa điểm (1/2)! Đáng thì phải 0, hỏng “toẹt” không được đỗ vì dịch sai cả, làm hẳn một bài chữ tây khác không giống gì nguyên văn chữ Hán cả (…) Sau ngày vào làm việc ở Bác Cổ, gia công học Hán tự trong mấy năm”

Khi trở nên Thượng thư Bộ Học, ông đã tuyên bố như sau, nhân một cuộc phỏng vấn:

“Nghề này vốn là tổ nghiệp của nhà tôi; chính tôi cũng đã từng dạy học ở trường Đại học Hà Nội. Thân phụ tôi, các cụ tôi đời trước đều là nhà nho dạy học cả. Cho nên nay tôi ra chủ trương Bộ Học chẳng qua cũng chỉ là nối lại nghiệp nhà mấy mươi đời làm thầy dạy học” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong, số 189)

Mới hai mươi lăm tuổi, ông đã có chín năm thâm niên trong ngạch Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ

Kể từ năm 1914, theo đề nghị của Phủ Toàn quyền, ông phụ trách thêm một công tác mới: cùng với Nguyễn Bá Trác, phiên dịch cuốn Lịch sử chiến tranh của Hanotaux đã xuất bản tại Pháp, nhằm hướng về các độc giả Trung Hoa. Thật là mâu thuẫn của số mệnh nếu chúng ta nhớ lại lời tự thú của Phạm Quỳnh là cho đến năm 1908, ông rất “dốt” chữ nho.

Ông đã trở nên một nhà báo “có hạng”, một văn sĩ thời danh, nhờ ở những bài đăng trong Đông Dương tạp chí từ năm 1913

Trông bề ngoài, Phạm Quỳnh có vẻ mặt cương nghị. Cận thị tử nhỏ, ông không hề rời cặp kính trắng đã trở nên mật thiết. Trước khi có dịp qua Pháp, cho đến năm 1922, ông vẫn trung thành với cái búi tó củ hành giấu trong vành khăn nhiễu. Ông tồn cổ ngay cả với chi tiết nhỏ nhặt này cũng như về y phục: một chiếc áo đen khuy cài nghiêm chỉnh, một chiếc quần trắng ủi thật thẳng. Lưng hơi còng (lưng “tôm”) toàn thể cho ta một cảm tưởng diêm dúa, nghiêm trang, có thể nói là hơi lãnh đạm. Ông cao một thước bảy ba, vai rộng. Nhà thơ Mai Nhạc đã mô tả như sau:

Vai không rộng lắm, sức không dài

Đem tấm lòng văn gánh việc đời

Gót đạp đất,

Đầu đội trời.

Giương mắt mà coi,

Đẹp là ai?

Xấu là ai?

Câu khôn câu dại chứa đầy tai…

(“Đề tấm ảnh ông P.Q” Nam Phong số 100, trang 183)

Và gần đây nữa, một tấm hình được thực hiện nhờ nét bút của kí giả Vân Bình Phạm Văn Bính, trong tuần báo Đời:

“Cụ Phạm Quỳnh là một học giả hào hoa phong nhã. Cụ người dong dỏng cao, nước da trắng xanh, lúc nào cũng mang một cặp kính trắng, đạo mạo như một nhà giáo sư triết học.Cụ ăn mặc chải chuốt lịch sự; mỗi câu chuyện cụ nói ra đều đượm vẻ văn hoa bóng bảy. Nhiều người gặp cụ lần đầu tưởng cụ kiêu ngạo khinh người. Nhưng khi gần cụ lại thấy cụ dễ dãi nói chuỵên có duyên, trung thực và chân thành.

“Khi cụ còn là một chủ báo, tôi thấy hằng ngày cụ đi bộ từ số 5 Hàng Da ra bờ hồ Hoàn Kiếm, làm việc tại trụ sở Khai Trí Tiến Đức. Cụ đi làm giản dị như một viên thư kí đi làm ở một công sở, đều đặn, đúng giờ, chăm chỉ.

“Khi cụ được vua Bảo Đại triệu vào Huế làm Ngự tiền văn phòng và Thượng thư Bộ Giáo dục, cụ cũng không đổi phương làm việc. Vẫn cần mẫn siêng năng, vẫn chu đáo như khi còn làm chủ báo” (Vân Bình Phạm Văn Bính: Hai quái kiệt của làng báo Bắc Việt, báo Đời số 33, ngày 21-5-1970, Sài Gòn)

Đào Hùng nhà phóng viên Phụ Nữ Tân Văn Sài Gòn năm 1931, ra Bắc phỏng vấn chủ bút Nam Phong cũng cho ta biết thêm một vài nét về hình dung và tính nết Phạm Quỳnh:

“Phạm tiên sinh…dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều có ý tứ gìn giữ, tỏ ra một người có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo một cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn luôn trên cửa miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự đại mà thường thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…” (Đào Hùng: Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn, 18-6-1931)

Người ta đã nói đã viết rằng Phạm Quỳnh “kín đáo”, hay có vẻ mặt “kín đáo”. Ngay trong Nam Phong số 168, phần phụ trương Pháp văn, độc giả có thể thưởng thức đoạn văn sau đây trong bài tường thuật về một phiên họp của Đại Hội Đồng Kinh Tế và Tài Chính Đông Dương. Tác giả là một nhà báo Pháp:

“Phạm Quỳnh mà văn hoá và tài năng làm vinh dự cho giống nòi đã là một chiến lược gia cho buổi tranh luận. Theo dõi phản ứng trong hội nghị một cách thiệt tài tình, ông làm chủ buổi hội, điều khiển buổi họp mà lại cho ta có cảm tưởng như ông chỉ là người ngoại cuộc. Kỹ thuật của ông tế nhị cũng như vẻ mặt ông kín đáo, đã tỏ ra rất hiệu nghiệm” (La question des alcools au Grand Conseil, Revue “Indochine”, Sài Gòn, Nam Phong số 168, tháng giêng năm 1932, phụ trương Pháp văn trang 14)

Thực ra, vỗn dĩ và nhất là từ năm 1917, học giả Phạm Quỳnh đã kiên trì nuôi dưỡng đức tính trầm lặng đó. Ông là một thanh niên Khổng học, dòng dõi nho phong, ông quan niệm có bổn phận trung thành với tập quán cổ truyền. Nhưng một khi đã lên tiếng, đã chấp nhận đối thoại, ông trở nên hùng biện, qua sức hấp dẫn của đề tài, qua giọng nói cao thấp, nhịp câu nhanh chậm, lại qua lập luận bắt nguồn từ cả một tấm lòng giàu nhiệt thành, đầy xúc cảm và say sưa biết chừng nào đối với một vài loại sự kiện hay tư tưởng. Bằng chứng là đoạn văn sau đây của kí giả René Lays:

“Ngài tiếp đón chúng tôi một cách rất nhã nhặn. Chúng tôi bèn đánh bạo hỏi ngài có muốn tuyên bố gì cho các độc giả của báo Impartial không. Quan Thượng thư Phạm Quỳnh vốn tính ôn hoà nho nhã, liền bảo chúng tôi rằng xin tuỳ ý phỏng vấn, ngài sẽ tường tận trả lời (…) Quan Thượng thư tủm tỉm cười, đáp lại rằng: “Tôi cám ơn ông đã có bụng yêu mừng như vậy. Tôi lấy làm cảm động, vì là lời mừng của một bạn đồng nghiệp cũ, vì tôi đây cũng đã từng viết trong các báo. Ngày nay, vì địa vị, vì chức vụ, không thể viết được nữa, nhưng nghề làm báo thực là một nghề có hứng thú làm ai đã làm qua, vẫn giữ như vết in trong tâm não, không bao giờ phai được…” (Chánh trị ở Huế – Nam Phong số 189, tháng 8 năm 1933)

Phạm Quỳnh không phải là con người vô cảm giác, nhưng ông đã khéo chế ngự cảm giác đó vào khuôn phép. Và lẽ dĩ nhiên khía cạnh này của cá tính – nghĩa là ý chí cương quyết chế ngự cảm giác – đã ảnh hưởng rất nhiều tới quan niệm của ông trên lãnh vực văn chương và xã hội.

Khi còn thanh niên, ông đã có dịp bàn về “ý chí kỉ luật” này trong bài “Làm văn”. Và ông kể lại mặc dầu say sưa trước sức cám dỗ của Pháp văn, ông đã cương quyết từ bỏ tham vọng phù phiếm Pháp văn để hoàn toàn quay về với tiếng mẹ đẻ.

“Vào khoảng mười năm về trước mà xướng ra làm văn quốc ngữ tưởng cũng là liều mà bạo thật…Thầy không có, tuổi còn trẻ, học còn ít, thế mà dám hăm hở làm văn, phỏng có liều không? Nhưng liều mà cũng bạo, bạo là thế này: một bên các thầy tây học lãnh đạm, một bên các cụ khủng khỉnh, thế mà dám không nho, không tây, giở nghề quốc ngữ lơ láo một mình, chẳng ai thiết đến, tưởng không bạo cũng là gan. Nhưng gan nhất là tự mình miễn cưỡng với mình. Tôi từ thuở nhỏ ham mê chữ tây lắm (…) Nhưng đương ham mê như thế mà phấn nhiên miễn cưỡng lại được, chợt tỉnh lại mà tự nghĩ rằng: “Làm thằng An Nam mà không tập làm văn An Nam, lại học văn tây, cho dẫu hay tám vạn cũng không bằng người ta được, mà phí công vô ích (…) Tôi cũng ví như người nghiện văn tây mà tự mình bắt buộc (…) là chỉ vì một chút khốn tâm, khốn tâm về văn quốc ngữ, chỉ vì một chút hi vọng, hi vọng có một ngày người mình cũng làm văn được như người” (Làm văn – Nam Phong số 67, tháng 1 năm 1923, trang 19)

Trong thời gian làm Thượng thư, Phạm Quỳnh thường có dịp tiếp phóng viên các báo đàn bà (tỉ dụ: tuần báo Phụ nữ thời đàm) muốn phỏng vấn về cuộc đời tình cảm hay các cuộc “phiêu lưu” của ông, Câu trả lời của Phạm Quỳnh thời đó: “Đời tình cảm của tôi là một con số không” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) đã làm nhiều người rất lấy làm lạ, trong khi ông chỉ muốn ngụ ý ông không có tình cảm nào khác hơn là gia đình (Lẽ dĩ nhiên câu trả lời đó không có ý nghĩa là Phạm Quỳnh vô tình hay chủ trương không có cảm xúc… Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi xin kể vài giai thoại sau đây:

“Phạm Quỳnh đôi khi cùng với bạn bè, cũng có lúc tới các ca lâu tửu điếm thưởng thức hát ả đào. Theo tập quán cho phép, người ta hỏi ông có chấm một cô đào nào không. Ông trả lời: “Tôi có con sớm quá, khiến khi các đào nương còn ít tuổi đến với tôi, tự nhiên tôi liên tưởng đến các con gái tôi, và vì vậy nên không bị cám dỗ”. Tuy vậy, ông rất là ưa ca và nhạc. Khi đã làm Thượng thư ở Huế, ông hân hoan mỗi khi tiếp đón các nhân vật hay ký giả từ Hà Nội, Sài Gòn hay cả từ Paris tới, được dịp tổ chức những buổi họp mặt văn nghệ rất bình dân, ngồi cùng chiếu với các đào nương hay nhạc công chuyên nghiệp. Đó là những buổi họp mặt đặc biệt, không thể lấy gì mà so sánh hay đánh giá. Nhưng trong đời sống thường ngày, Phạm Quỳnh giản dị đến mức có thể gọi là nôm na, không đòi hỏi gì hơn là được ru ngủ bằng một chiếc máy hát với mấy cái đĩa ca nhạc quen thuộc. Khi còn ở Hà Nội, thị hiếu chính của ông là sưu tầm những đồ sứ Giang Tây cổ. Vào Huế, ông khám phá ra vẻ đẹp nên thơ của các cổ y Trung Quốc, làm bằng lụa Tàu hay gấm dệt. Ông mua rồi đưa may thành áo dài xếp trong tủ.

“Ông không có sức khoẻ; do đó phải dùng thuốc luôn và kiêng khem thận trọng. Ông đau bao tử nên chỉ ăn được cơm nếp; quanh năm và cứ mỗi hai giờ phải uống hai thìa thuốc than chiêu bằng nước trà; ông không uống rượu vang, rượu mạnh, mà cũng không hút thuốc lá. Trái lại, ông nghiện trà Tàu, và khi có dịp, thú vui của ông là từ tốn nhắp chén nước thơm để ngâm nga mấy câu Đường thi. Ông không thích chơi bài, đánh bạc, tuy nhiên, sau cùng ở Huế, ông cũng học đánh “mà chược”. Trước hết là để khỏi mang tiếng lập dị khi vào yết kiến đức Từ Cung và sau nữa là để cùng với gia đình tiêu khiển trong mùa mưa. Tất cả lòng thương mến ông đã dành cho gia đình. Tôi rất cảm động khi nhớ lại những buổi họp mặt gia đình, các con quây quần xung quanh cha, nhân dịp nhà có giỗ và cha tôi ôn lại tiểu sử các bậc tiền nhân đã qua đời, hay nhắc lại một vài kỉ niệm liên quan đến đại gia đình”). Trách nhiệm gia đình đó ngày thêm đè nặng lên vai ông, người con một, mồ côi từ nhỏ, đã vậy còn lập gia đình sớm và đông con. Ông không thể hi sinh, xao lãng con, vì vậy không thể làm khác những gì ông đã làm. Nói tóm lại, ông chỉ có thể chủ trương cải cách, mà không thể là một nhà cách mạng…

Ngay từ năm 1917, lúc Nam Phong mới chào đời, niềm tin của ông đã rõ rệt. Ông tin tưởng nhận lãnh một sứ mệnh. Tất cả niềm tin mãnh liệt đó là di sản ông được thừa hưởng là do bản tính, có thể nói là do bối cảnh trong đó ông đã sống đời côi cút cô đơn. Về một vài khía cạnh nào đó, “cô đơn” dường như là một trong số các yếu tố chánh mà ta phải lưu ý khi phân tích thái độ, hành động và toàn thể sanh hoạt của ông, thuần nhất và bất khả phân, cho đến khi ông vĩnh biệt cõi đời. Ông không muốn cô đơn. Ông không tìm cô đơn nhưng định mệnh đã muốn ông phải là một thanh niên cô đơn, để sau này trở nên một chủ gia đình cô đơn mặc dầu sống giữa các người thân mến. Ông sẽ tiếp tục đời sống cô đơn đó, nhưng nhờ văn chương mà gặp bạn tri âm.

Và như vậy, Nam Phong ra đời. Đối với Phạm Quỳnh, tạp chí trở thành một phương tiện khả dĩ giải thoát ông khỏi vòng vây của cô đơn. Cũng như lịch sử cổ kim đã từng chứng tỏ khía cạnh này của nghề làm báo. Giữa các độc giả và Phạm Quỳnh, một sợi dây thường xuyên cảm thông được tạo nên dưới hình thức một cuộc đối thoại (kể từ số 26 tháng 4 năm 1919, Nam Phong đã đặt ra mục “Thư cho người bạn”). Ông nhận thấy mỗi cuộc bút chiến đã dạy cho ông biết phải làm thế nào để truyền bá tư tưởng và truyền cảm tâm tư.

Có thể nói Nam Phong chẳng khác nào một trường học, quy tụ một số môn sinh. Trong môn phái đó, một tiếng nói Việt Nam tiến bộ được rèn luyện, một nền văn hóa canh tân được chủ trương. Ít hay nhiều, một biên tập viên là một giáo sư, mỗi độc giả là một học sinh hay phụ giáo, có nhiệm vụ truyền bá sau khi đã thấm nhuần “lời đẹp”… “Lời đẹp” đó phù hợp với tập quán chỉ chấp nhận những bài viết nhằm mục đích giáo huấn hay đạo lý. Chúng ta cần chú ý đến tánh cách đặc biệt này của văn chương Việt Nam và Trung Hoa.

Trọn đời Phạm Quỳnh không hề sáng tác một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết. Mặc dù tự học về chữ nho, ông lại rất khắt khe trong việc áp dụng những khuôn phép cổ truyền, hơn các vị khoa bảng xuất thân từ các kỳ thi hương thi hội. Ông không chấp thuận “nghệ thuật vì du hí”, mà cũng không tán thành “nghệ thuật vì nghệ thuật”. Phần khác do văn hoá Pháp đào tạo, ông không chủ trương một nền văn chương sáo ngữ, chứa đầy những dẫn văn hay hình bóng mượn trong lịch sử Trung Hoa và Việt Nam. Tác luyện một nền văn hóa mới thuần tuý Việt Nam, rèn luyện sao cho tiếng nói của đất nước có đủ khả năng diễn tả những tư tưởng mới và những kiến thức mới, đó là tôn chỉ giáo huấn mà Phạm Quỳnh đã lựa chọn và thực hành, nhờ tạp chí Nam Phong. Ông sẽ rất thẳng tay đối với tất cả những người mà ông cho là “tài tử”, làm phí thì giờ của độc giả bằng những sáng tác giải trí, kể cả giải trí bằng cách tự thoát ly trong phạm vi nghệ thuật thuần tuý.

Vì bất đồng ý kiến về điểm này, một số văn hữu cộng tác buổi đầu đã ra đi; các vị này, trong số có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, và sau này có Trương Dân và Mân Châu, chủ trương đứng bên lề truyền thống Khổng học để có thể tạo nên một nếp sống phóng khoáng

Và như vậy, Phạm Quỳnh thản nhiên tiếp tục tiến hành dồn hết tâm trí vào công cuộc hướng dẫn văn chương Việt Nam tới các đề tài mà ông cho là nghiêm chỉnh. Ông sáng suốt viết những dòng sau đây trích trong Nam Phong số Tết năm 1918 (năm Mậu Ngọ) là số Tết duy nhất đặc biệt phát hành nhân dịp Tết và cũng là ông tổ của các số Tết của các báo chí sau này (Chúng tôi nhấn mạnh – PT)

“Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân. Trong thế giới dễ không có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui; vui ngày Tết là cái vui dễ truyền nhiễm vậy

“Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến lối văn tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế; đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự “thực” hơn sự “phiếm”. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ như hội Tân Xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gảy khúc đàn sai nhịp vậy

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cản chung của xã hội trong buổi đầu xuân năm mới, giời ấm khí hoà, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại không muốn trái với chữ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này (…)

“Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm ái, truyền vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết đươc…” (số Tết báo Nam Phong, Tết Mậu Ngọ 1918)

Đó là những nét chính yếu về Phạm Quỳnh trong những năm đầu của tạp chí Nam Phong. Lẽ dĩ nhiên trong tương lai, thời gian và các biến cố sẽ đem lại những nét bổ túc không kém quan trọng

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn. Bản dịch Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993


Phạm Thị Hoàn (con gái thứ năm trong tám con gái của Phạm Quỳnh, định cư tại Pháp)

THẦY TÔI

Từ ngày lọt lòng đến năm lên bốn, tôi đã sống những ngày tháng êm lặng trong một khung cảnh gia đình yên hàn vô sự, bên Thầy Me và các anh các chị. Yên hàn vô sự đến mức quãng đời đó không ghi lại trong tâm khảm tôi một chút kỉ niệm nào!

Năm tôi lên năm, một sự kiện quan trọng đã thay đổi dòng đời của cả gia đình. Thầy tôi vào Huế làm việc và toàn thể gia đình đều rời Hà Nội đi theo.

Từ đó, cuốn “băng” kí ức trong tôi đã lần lượt ghi dấu những chặng đường nặng vết kỉ niệm, từ thời thơ ấu đến ngày nay.

Kỉ niệm đầu tiên là ngày nhập học trường Đồng Khánh, sau một tháng đến Huế. Ngày đó, theo trí nhớ của tôi, chắc chắn không phải là ngày khai trường, vì các “trò” trong lớp tôi, tức là lớp năm, toàn là một đám “ma cũ” cả. Họ gọi nhau “Tụi bây ơi, trò mới tụi bây ạ” rồi xúm quanh tôi, kẻ thì yên lặng “chiêm ngưỡng”, kẻ thì gợi chuyện, líu la líu lô giọng Huế tôi không hiểu kịp: “Ra chơi ù mọi với tụi tui không?” “Có biết chơi tàu bay không?” “Hay là chơi thẻ?”. Từng đó trò chơi các bạn mới đề nghị, tôi đều lắc đầu, vì không hiểu gì cả! Tôi nghe bàn tán: “Ngó bộ ngờ ngơ dữ!”

Trống đánh tan học buổi sáng, ai nấy đều sắp hàng lấy nón ra về. Thấy tôi vẫn “ngờ ngơ”, vài cô bé thương hại đến hỏi: “Rứa ba mạ trò có tới đón trò không?”. Tôi cũng chả hiểu gì, và vẫn “ngờ ngơ”, nước mắt chảy ròng, tìm chả thấy bóng dáng hai chị đâu để chạy theo hầu thoát cảnh hỏi cung này. Một cô bé tiến lại gần, giọng dịu dàng: “Rứa trò có hiểu “ba mạ” là chi không?”. Tôi lắc đầu, thì cô ta thở dài, tự nói “Hèn chi!” Và quay lại tôi giải nghĩa: “Ba mạ là cha mẹ mình. Rứa trò kêu ba mạ trò là chi?”. “Là Thầy Me”. Thế là cả bọn rũ ra cười và tôi lại được nghe giải thích: “Thầy là thầy giáo dạy học mình, đâu có sanh ra mình mà mình kêu thế cha mình được…”.Vừa lúc đó hai chị tôi ở lớp nhất và lớp nhì ra, đến đón tôi cùng về. Thấy tôi không được vui, hai chị yên chí là lần đầu tiên đi học trường, hẳn là nhớ nhà, nhưng đâu có hiểu được nông nỗi khổ tâm của tôi.

Trong đầu tôi cứ lẩn vẩn câu hỏi: “Tại sao tôi lại gọi cha tôi bằng Thầy?”. Bạn nói: “Thầy dạy mình chứ không sanh ra mình”, thật là chí lí. Thêm đó, tôi nhận thấy gọi “cha mẹ” bằng “ba mạ” nghe dễ thương hơn, thấy có sự thân mật gần gũi hơn, thấy “tân tiến” hơn chữ “Thầy”, nghe nghiêm khắc xa vời quá.

Về đến nhà, tôi chạy tìm ngay bác tài Mai để kể nỗi thắc mắc của tôi. Bác tài Mai là người vẫn đưa đón Thầy tôi đi làm và là người bạn độc nhất của tôi những ngày mới bước chân đến nhà Hậu Bổ ở Huế. Bác Mai ôm tôi vào lòng, vừa vuốt tóc tôi vừa nói: “Đừng có lo, có phải ai cũng gọi “cha” là “ba” mô, “ba” là bắt chước Tây đó; tui đây, tui kêu cha bằng “chú”, vợ tui kêu cha bằng “dượng””. Từ ngày đó tôi yên tâm, vì gọi cha bằng chú hay bằng dượng thì cũng “tức cười” như gọi cha bằng Thầy vậy.

Nhưng lớn lên, tôi càng nghiệm thấy không từ nào có thể đẹp và ý nghĩa bằng chữ “Thầy” khi áp dụng cho cha tôi. Chữ “Thầy” là hình ảnh sống động của cha tôi với các tính từ: chững chạc, mực thước, ôn hoà, ân cần, đôn hậu,…Và từ ngày khôn lớn, tôi đã suy tôn cha tôi qua chữ “Thầy” đáng kính và đáng mến đó.

Thầy tôi thờ chủ nghĩa “Trung Dung” nên giáo huấn con cái trong một khuôn khổ không nghiêm khắc như các cụ thời đó. Chứng cớ là tôi đã ra ngoài khuôn khổ xưa mà xưng với Thầy Me tôi là “em” chứ không xưng “con”. Còn nhớ trưa mùa hè năm ấy, khi “người ta đến đón” Thầy tôi đi, tôi còn chạy theo Người, nói với: “Thầy ơi, em lên gác lấy Magnésie Bismurée cho Thầy nhé”. Và được Thầy tôi quay lại dịu dàng nói: “Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”. Ngày nay, ngồi viết lại dòng này, nước mắt tôi chan hoà thương cho mình lúc gia biến còn có phản ứng che chở cho cha và thương cho cha đã ngây thơ tin chiều sẽ trở về.

Thầy tôi dạy dỗ các con không theo lề lối xưa “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Vì chúng tôi không bao giờ bị ăn roi. Và cái “ngọt” cái “bùi” thì cũng quá thầm kín, chứ không lộ liễu như tôi đây, mỗi tối con trai tôi lên chúc mẹ ngủ ngon vẫn được nghe mẹ nựng: “Mẹ yêu em lắm, mẹ quý em lắm, em có biết không?”. Tôi nhận thấy Thầy tôi rất công bằng, mười ba người con, không hề thiên vị thương con nào hơn. Vào Huế, tôi có thêm ba em, hai gái một trai. Tôi nhận thấy chiều nào đi làm về, Thầy tôi cũng xuống ngay nhà ngang thăm em bé, đặt em bé xuống giường, lấy hai tay vuốt từ đùi xuống chân, hoặc nắn hai cánh ta trở ngược lên vai, vừa vuốt vừa nựng: “Vươn vai chóng nhớn, vươn vai chóng nhớn”. Tôi được chứng kiến Thầy tôi “tỏ tình” với các em bé nên cũng yên trí là các anh chị tôi và tôi cũng đều đã được chăm sóc như vậy.

Thầy tôi khuất núi, tôi mới tìm đọc đến sự nghịêp văn chương của Người. Thật là muộn màng đáng tiếc! Nhưng từ lâu tôi vẫn tự hỏi sao trong lúc sinh thời, Thầy tôi không bao giờ nói về mình với các con? Người ưu tư gì, Người khát vọng gì, Người tranh đấu gì, tư tưởng của người được người đương thời ủng hộ hay chống đối?… Thầy tôi chỉ chăm lo cho các con học hành tấn tới, dìu dắt các con sống trong một gia phong nền nếp. Thậm chí đến tạp chí Nam Phong hay các bài diễn văn của Thầy tôi, tôi cũng không được nghe Thầy tôi nói đến bao giờ!

Viết đến đây, một kỉ niệm “cười ra nước mắt” đã sống lại trong ký ức tôi: năm đó, tôi học đệ tam, trong giờ Pháp văn bà Sogny giảng một đoạn trong quyển Tuyển Tập của Pujarniscle: bài “La Poésie Annamite” (Thơ ca An Nam). Bà gọi tôi đọc nửa đoạn đầu, rồi bảo tôi cho ý chính đoạn đó cùng phê bình văn. Tôi còn nhớ câu đầu “Nous voguions lentement sur la Rivière des Parfums…” (Chúng tôi chèo thuyền từ từ trên sông Hương…) và kế tiếp là tả cảnh tả tình hay quá, lời văn nhẹ nhàng, lại có chút lẳng lơ lãng mạn khi tả giọng cô lái đò đưa câu hò mái đẩy, tiếng lanh lảnh vang trong tịch mịch. Tôi thao thao bất tuyệt nói cảm tưởng và hết lời khen tác giả. Bà Sogny chắc phải lấy làm lạ sự “mẹ hát con khen hay” của tôi. Sau khi tôi dứt lời, bà hỏi ngay: “Chắc hẳn trò biết tác giả bài này chứ?”. Không chút ngần ngại, tôi thản nhiên trả lời: “Thưa không”. Bà trợn tròn xoe đôi mắt dưới cặp kính dày: “Thật à, trò không biết thật à?”. Sau lưng tôi, các bạn khúc khích cười và nhắc tôi: “Của Ông Cụ mi đó”. Tôi chột dạ, lật qua trang sau thì quả nhiên chữ Phạm Quỳnh nổi bật ở cuối trang sách! Nào tôi có hay đâu, có bao giờ Thầy tôi bảo tôi đọc tác phẩm của Người đâu! Ai đó đọc đến dòng này chắc cũng ngạc nhiên không kém bà Sogny và các bạn đồng lớp của tôi thời đó.

Ngày nay, ngược dòng thời gian, thấy thương Cha vô cùng. Lúc nào cũng cô đơn, vượt cạn một mình, không tâm sự cùng ai. Âu đó cũng là thái độ của người tự trọng, biết lãnh trọn trách nhiệm, những nỗi ưu tư lo lắng một mình mình biết một mình mình hay, gánh vác mọi việc không hề muốn cho vợ con phải bận tâm. Tội thương! Cả đến lúc vô cùng đớn đau phải lìa đời, cũng một mình chịu đựng, mười ba người con mà không có được một mảnh khăn xô khóc cha! Con sông Bồ, ngọn núi Hắc Thú là mảnh đất Việt cuối cùng đã tiễn đưa cha tôi qua thế giới bên kia, một đêm thu lạnh năm Ất Dậu, dưới không độ tình người…

Thương cha đứt ruột!

Tôi không bao giờ thấy Thầy tôi ca thán giận hờn, hoặc bộc lộ sự vui mừng quá mức. Tôi biết thầy tôi vui những lúc người rung đùi ngâm thơ trước ấm trà độc ẩm hoặc đem Nhị Độ Mai, Kim Vân Kiều ra đọc cho Me tôi nghe. Hay vui hơn nữa, thì gợi ý Me tôi họp mạt chược. Còn những lúc buồn lo hay bất mãn chuỵên gì, tôi đoán là những lúc Thầy tôi nói bác tài Mai đưa xe lên chùa Vạn Phước. Trên đó, Sư Cụ luôn luôn để sẵn ngoài hành lang chánh điện một cái ghế xích đu. Thầy tôi thường nghỉ ở đó, tìm di dưỡng tinh thần trong giọng trầm nhẹ của lời kinh hoà tiếng mõ đều đều của khoá kinh chiều. Và như thế đến tối mịt mới về.

Tôi được diễm phúc có nhiều kỉ niệm với thầy tôi. Các chị đi ở riêng sớm, mấy em sau còn nhỏ lúc thầy tôi bị nạn, sát tôi trên dưới là hai trai, nên chỉ có tôi là con gái đúng tuổi để sai vặt: tôi chuyên cắt móng tay cho Thầy tôi và mỗi lần như vậy, Thầy tôi lai nói đùa: “Thầy là một nhà nho để móng tay ngắn”. Riêng câu đó cũng chứng tỏ Thầy tôi luôn dung hoà cái xưa và cái nay. Trong xã hội xưa, quan niệm về thứ bực bốn giới sĩ nông công thương thật bất di bất dịch, nhưng Thầy tôi đã không câu nệ trật tự xưa mà chấp nhận anh cả tôi vào Nam mở tiệm cơm. Hồi đó cũng có lắm kẻ dị nghị: “Sao Ông Cụ lại để ông con cả lấy nghề của chú ba Tàu?” Tôi có nhiệm vụ vặn đĩa hát cho Thầy tôi nghe khi người nghỉ trưa. Không biết tôi lúc đó có thấy hay hay không, chỉ nhớ như in là buồn ngủ quá mà không dám ngủ, vì đĩa hát cổ, máy hát cổ, luôn luôn phải thay kim, thay đĩa, lên giây cót…Nhưng những điệu Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, hò mái nhì mái đẩy… và những bản ca trù, hát nói, chèo cổ, Kiều lẩy, Tần cung oán…đã in trong tiềm thức tôi, khiến lớn lên tôi càng mê những giai điệu cổ điển đó, nhất là trong thời gian sống xa quê hương…

Công việc thứ ba của tôi là đọc sách, cứ hai ngày đọc một quyển dày! Thầy tôi quả là một “mọt sách”. Cả một thư viện gồm sách Việt, Pháp và Hán văn có giá trị, đã bị đem ra bán cân ngoài chợ sau khi chúng tôi phải rời căn nhà yêu thương ở An Cựu ra Hà Nội!

Thầy tôi không hề tâm sự với ai. Đó là điều chúng tôi nhận thấy trong những năm sống bên Người.

Nhưng tôi đã lầm.

Năm 1942, anh họ tôi Phạm Trọng Nhân có dịp đến thăm Thầy tôi ở Huế. Chuyện trò giữa chú cháu có bề xúc tích hơn giữa cha con và qua câu chuyện cái mũ ni anh Nhân tôi kể lại, Thầy tôi đã để lộ tâm trạng thầm kín khi chỉ cái mũ ni bằng len đang đội và nói với anh họ tôi: “Thời buổi này, đội cái mũ ni che tai vừa ấm vừa yên”. Đó là tâm sự rồi!…

Cách đây non bốn mươi năm, chúng tôi có được đọc một bức thư Thầy tôi viết cho một người bạn Pháp vào cuối năm 1933, tức là một năm sau khi rời toà báo Nam Phong vào Huế. Đại khái Thầy tôi nói: Tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời, giao thời giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đóng gây nên và do đó đã sai lầm tận gốc và một trật tự mới, trong tương lai sẽ kính trọng phẩm giá con người hơn, nhưng sự kiện này không thể tạo lập ra được trong chốc lát. Vì thế, tôi cố gắng dung hoà những mâu thuẫn đó để giúp sức vào một sự tiến hoá khôn khéo đưa đến một tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi bị va chạm vào sự hiểu lầm của người đời (Chúng tôi nhấn mạnh – PT). Vì thế cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi, đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương! Đó là tâm sự rồi!… Đọc qua bức thư, tôi hiểu Thầy tôi hơn, thương Thầy tôi hơn, kính phục Thầy tôi bội phần: tiên đoán được tính cách bi thảm của cuộc dấn thân mà vẫn dấn thân!…

Trong một cuộc phỏng vấn Thầy tôi vào tháng 6 năm 1945 do nhà báo Nguyễn Vạn An ghi dưới nhan đề Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, Thầy tôi tiết lộ: “Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái” rất nhiều. Ngày nay trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào phong phú hơn xưa” … “Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay, không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở”… “Trong nền văn hóa chúng ta đang vun quén tạo lập, phải làm nảy nở được mầm tư tưởng quốc gia. Chúng ta đã chẳng làm việc để tìm cho được một Tổ quốc mà phụng sự là gì?”… Đó là tâm sự rồi!… Nhưng, nỗi niềm tâm sự thầm kín nhất, Thầy tôi đã giãi bày trên ngót năm mươi trang giấy học trò, gom dưới nhan đề Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tùy bút. Quyển vở này ngẫu nhiên gia đình tìm thấy trên bàn viết của Thầy tôi, mở ở trang chót, có cái bút Waterman còn chặn ngang trang giấy viết dở bài cuối tựa Cô Kiều với tôi. “Cô Kiều với tôi” là niềm tâm sự mới thoát trên giấy trắng mực đen, nhưng, than ôi, ngàn kiếp mãi mãi còn dang dở…

Năm mươi trang giấy học trò đã được nghe Thầy tôi thủ thỉ niềm tâm sự của con tim chán chường với Nhân tình thế thái, với Con người hiểm độc, hay Anh chàng khoác lác. Trong những ngày hè nóng nực của Ất Dậu năm đó mà đọc Keyserling, thuật Keyserling, theo Thầy tôi nói, thì quyết không phải là một tiêu khiển. Thầy tôi đã đọc, đã thuật Tư tưởng Keyserling và ghi cảm tưởng là “Để kỉ niệm mấy ngày nóng nực lạ thường, giữa lúc thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi những đường kia nỗi nọ xa gần…” Thần trí bâng khuâng, lan man nghĩ ngợi đã dẫn người đến với Lão Hoa Đường, để tiếc “phận nho quèn” mà không biết như Lão Hoa Đường “quyết chí ẩn dật” để giữ lấy tiết tháo thanh cao. Và lan man nữa đến tìm an ủi nơi cụ Tiên Điền Nguyễn Du, cảm như đây là người cùng hội cùng thuyền! Còn tâm sự gì nữa qua cô Kiều? Thầy tôi khi trẻ giữ để bụng, lúc về chiều lại muốn thoát ra cho nhẹ, thì oan nghiệt của số phận đã bắt thác phải mang theo!

Còn Thầy tôi?

Thầy tôi đã phải ra đi

Trước mắt tôi! …

Bất lực, tôi cúi đầu chịu oan khiên của định mệnh

…Để đánh dấu một trăm năm sinh nhật của Thầy tôi, tôi mạo muội ghi chép vài kỉ niệm nho nhỏ gắn liền thầy tôi với tôi.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi dám cầm bút “viết thư” tâm sự với các “bạn” chưa được quen biết.

Nhưng, chỉ cần nghĩ là “bạn” cũng đã cảm thấy sự khoan dung và thông cảm rồi!

Tôi xin thành thật cám ơn người “bạn” đã đọc đến những dòng này

Trích Thầy Tôi, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6-1992, Paris, Pháp


Phạm Thị Giá (con gái cả của Phạm Quỳnh (1913-2000) sinh sống và mất tại Việt Nam)

1. THƯ GỬI EM GÁI (14-9-1992)

…Nghĩ thật đau xót, mấy chục năm trời con cháu không viếng thăm mộ Thầy được. Nay đông đảo con cháu được về chùa Vạn Phước thăm mộ Thầy và làm lễ thật thoả lòng mong ước mà vong linh Thầy cũng thoả mãn.

Chị đọc hồi ký em kể những ngày thơ ấu em được ở gần Thầy làm chị xúc động và nhớ lại những ngày chị còn ở Hàng Da gần gũi Thầy nhiều, vì khi đó các em còn nhỏ dại… Tất cả những sự việc đã qua như một cuốn phim quay lại trong đầu óc chị… Gia đình nhà ta con độc cháu đàn. Thầy mình anh trên em dưới không có ai. Ngày giỗ chỉ có họ hàng tụ họp lại đông đủ. Các bà các cụ cứ nói: “Nhà đông con, nên cho cháu gái lớn nó ở nhà trông nom các em đỡ mẹ. Con gái học như thế cũng là đủ rồi”. Năm ấy chị mới mười bốn tuổi học trường Brieux. Bà đốc và bà trợ giáo là người Pháp, còn các cô giáo người mình. Có học cả Hán văn và thêu thùa nữa. Nghe các cụ nói vậy nên Thầy Me cũng đồng lòng cho chị nghỉ học; khi ấy chị mới học Cours Supérieur (lớp nhất – PT ghi chú) và từ đấy chị lo chăm sóc việc nhà đỡ Me. Me sinh em Khuê, em Tuyên đều có chị đưa đi hộ sinh.

Con nhà nho nhưng sinh hoạt theo cách Âu Tây. Các con đi học về là phải rửa tay ở một chậu nước để sẵn với xà phòng trước khi ăn cơm…Năm Thầy sang Pháp ba tháng (1922 – PT ghi chú) là năm sinh chị Ngoạn. Thầy có gửi ảnh cho Me và đề: “Tặng hiền thê, ở nhà”. Nhà có gửi ảnh Thầy bế chị Ngoạn sang, sau chị ốm đau luôn ai cũng bảo tại gửi ảnh đi xa cho nên mới hay đau ốm…Chị còn nhớ một buổi tối Thầy diễn thuyết về Truyện Kiều ở Hội Khai Trí Tiến Đức, người đến nghe rất đông, toàn những người trí thức, yêu văn chương Truyện Kiều. Có mấy cô giáo của chị cũng đi nghe. Thầy mặc quốc phục, áo dài đen, khăn đóng, đeo kính trắng, khuôn mặt rất nghiêm trang và nói thật có duyên, lại tươi tỉnh, ai cũng thích. Nói xong họ vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt…

Chị nhớ Thầy hay đọc một bài thơ mà chị thích nên vẫn ghi nhớ

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

Xuân nhật ngưng trang thượng Thúy Lâu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu!

(Tạm dịch:

Buồng khuê thiếu phụ không sầu

Ngày xuân đứng tựa trên lầu ngắm xuân

Nhác trông nhành liễu xanh rì

Chàng ơi! Tham ấn phong hầu làm chi!)

Gia đình nền nếp, nuôi dạy con cái với một nền giáo dục không quá phong kiến và cũng không buông thả.

…Thầy Me đồng tuổi Nhâm Thìn nên rất quý hoá chiều chuộng nhau, suốt cuộc đời không có chuyện gì xích mích. Me rất chiều Thầy, Thầy ngồi ăn Me ngồi bên gắp các món ăn mời Thầy.

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Giá từ Bạc Liêu gửi cho em gái định cư ở Pháp (ngà y 14-9-1992)


2. THƯ GỬI CON TRAI (25-5-1988)

Mấy hôm nay, cả me, dì và bác cả gái (tức Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức – hai con gái lớn và con dâu trưởng của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) họp nhau lại cố nhớ xem có chuyện gì thuộc về ông thì góp ý cho nhau.

…Cụ nuôi ông ăn học, đến năm ông mười sáu tuổi thì thi Diplôme (tức trung học phổ thông – PT ghi chú) đỗ thủ khoa nên được nhà trường thưởng cho rất nhiều sách, ông phải thuê một xe cút kít chở sách về còn ông thì đi bộ theo sau.

…Sau này ông có chủ trương về giáo dục bắt buộc các học trò tiểu học phải thi sơ học yếu lược cho am hiểu chữ quốc ngữ và lịch sử nước nhà. Sau đỗ yếu lược mới được thi Certificat (tốt nghiệp tiểu học – PT ghi chú). Thời đó me và dì đều phải đi thi sơ học yếu lược. Khi ấy cũng có một số người phản đối, nói nên để cho thi Certificat ngay, thi sơ học yếu lược mất thời giờ.

…Ông không nghiện một thứ gì. Ông có tiền là chỉ mua sách để nghiên cứu, thứ nào cũng mua toàn bộ như La Grande Encyclopédie (Đại từ điển bách khoa), sau đó thì mua đồ cổ.

…Cái mũ ni bằng len ông thường đội là do bác cả gái đan. Vì ông thường làm việc khuya, ở Huế thời tiết mưa và lạnh nên đội cho ấm.

…Có lần ông tranh luận với một nhà báo Pháp ở báo France Indochine, cứ mỗi kì báo ra là mọi người đổ xô nhau mua để xem, báo bán rất chạy.

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Giá từ Hà Nội gửi cho con trai ở Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 25-5-1988)


3. THƯ GỬI CON TRAI (4-1988)

…Tính ông điềm đạm. Ông thường nói ông không có tuổi thanh niên, lập gia đình sớm, con cháu đông nên không có thú chơi bời như mọi người trẻ khác, chỉ cần cù đọc sách. Ông không bao giờ giận giữ, gắt gỏng với ai dù là con cái hay người làm, lúc nào bực mình lắm chỉ tắc lưỡi thôi. Ông có bệnh đau dạ dày nên không ăn được cơm tẻ mà chỉ dùng cơm nếp, lại ăn rất ít. Những khi mệt nhọc thì dùng cháo nếp hấp cách thuỷ ăn với đường. Ông không rượu chè thuốc lá, chỉ có buổi trưa hoặc tối uống một tách nước trà Ô Long hoặc Thiết Quan Âm, chứ trà Liên Tâm mát, ông uống thì đau bụng. Ông không uống trà chén hạt mít nhỏ như các cụ xưa mà dùng tách to. Ông có một cái bếp đèn cồn và một ấm đun nước nhỏ, mỗi khi me pha trà cho ông thì cho trà vào ấm, nước phải thật sôi, đếm nhẩm đúng từ một đến hai mươi là rót ra tách đã có sẵn hai viên đường…

…Tính ông rất sạch sẽ, quần áo vải trắng mỗi ngày thay một bộ. Quyển sổ biên đồ đưa thợ giặt bao giờ cũng ghi: một quần, một áo dài, một áo cánh, một mùi xoa, cứ đều đặn hằng ngày như vậy.

Ông rất ít bạn bè, bạn thân hầu như không có ai. Anh trên em dưới không có. Họ hàng thì phần lớn là chi trên, chỉ có một chi dưới thôi. Ông làm việc, đọc sách, dịch sách cả ngày ở bàn giấy trên gác. Tối làm đến khuya. Có khi nửa đêm nằm nghĩ ra vấn đề gì là lại ra bàn giấy ngồi viết. Ông dịch sách tiếng nước ngoài mà cứ cầm sách đọc như đọc chính tả cho con viết. Nhiều khi me viết mỏi cả tay, đêm đã khuya mà ông vẫn say mê đọc cho viết.

…Ông chỉ có hai cái thú là đọc sách và ngắm đồ cổ. Ông chắt chiu được đồng nào là mua sách và đồ cổ hết. Sách chất trên các kệ bao nhiêu bậc từ dưới sàn lên đến sát trần nhà, quanh phòng làm việc toàn là sách. Còn dưới nhà, phòng khách thì có các tủ đựng đồ cổ do một ông người Tàu đem lại bán. Ông ta giới thiệu, nói món đồ cổ đó từ đời nảo đời nào, sự tích ra sao rồi đòi bao nhiêu tiền ông mua bấy nhiêu. Có một bức tranh cổ chỉ vài nét vẽ mà rất tinh thần. Tranh này cũ nát lắm, ông đã phải đưa đi bồi tốn mất bao nhiêu tiền rồi treo ở phòng khách. Trên tranh vẽ một ông quan mặc áo khoác có liền mũ đội đầu, người cao, nét mặt nghiêm trang và một người lão bộc cũng mặc áo vải thường, nét mặt có vẻ trung hậu, tay ôm túi đàn, lại có một con hạc đi theo sau. Nét vẽ đơn sơ màu nâu nhạt. Tranh đó ông rất quí, ai không biết, có hỏi thì ông nói: Đó là hình ảnh một ông quan thanh liêm khi xong việc quan, mặc thường phục cùng người hầu già đi du ngoạn. Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao, ông gảy đàn và con hạc múa.

Sau lưng bàn giấy ông ngồi, trên tường là một bức có hai chữ nho lớn: chữ Trung và chữ Hiếu

Tối ông thường ngồi ngắm đồ cổ. Có mấy bức tượng Phật Bà Quan Âm. Một bức cao đến tám mươi xentimet bằng sứ trắng muốt, cổ có đeo một chuỗi san hô đỏ. Trước tượng ông đặt một lư trầm, khói thơm nghi ngút. Ông ngồi ngắm tượng Phật trầm ngâm, thú vị…Càng nghĩ lại càng thương ông, thân cô thế cô, không có vây cánh, không có bạn bè thân thiết, cứ cặm cụi làm một mình cô độc, thẳng biết than thở bàn bạc cùng ai. Con cái cũng chẳng ai biết việc ông làm. Bác cả Giao thì không nói làm gì. Sau này có cậu Bích chú Lãng (tức Nguyễn Tiến Lãng, chồng bà Ngoạn – PT ghi chú) là biết việc ông làm. Cho nên quyển sách mà cô Ngoạn viết (Introduction au Nam Phong – PT ghi chú) là có sự cộng tác của chú Lãng, cô được bằng tiến sĩ văn chương, xem quyển đó thì rõ đủ cả chi tiết

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Giá từ Hà Nội gửi cho con trai ở Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4-1988)


Về việc cải táng di hài Phạm Quỳnh năm 1956

Phạm Tuân (con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, hiện định cư tại Mỹ)

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nới xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

…Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện. Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005


Phạm Thị Hảo (con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh, hiện định cư tại Mỹ)

1. THƯ GỬI CHỊ

…Đọc thư chị, em cảm động và thương chị lắm. Chị em ta sống gần gũi nhau suốt từ ngày em cưới (1942) đến lúc đất nước chia đôi (1954) vui buồn đều có nhau. Sau khi Thầy bị nạn, rồi lúc Me ở Hàng Da với chị, mất ở nhà chị…đều có em bên chị. Lúc em sinh hai cháu gái Mai, Ầm nay đã bốn mươi tuổi, đều có chị đưa đi nhà hộ sinh và nắm tay em khi đau đẻ…làm sao em quên được…Lẽ dĩ nhiên em sẽ nói nhiều đến những ngày cuối năm 1956 em đi lãnh hài cốt Thầy và đưa về chùa Vạn Phước…Em thật có lỗi với chị vì chưa viết trả lời những câu hỏi và kể chuyện công việc thiêng liêng này cho chị, dù chị đã hỏi đến mấy lần. Em không quên đâu, em sẽ chờ lúc tĩnh tâm để viết. Trước kia em đi làm bận rộn, nay về hưu nhàn hơn thì tâm lại chưa tĩnh…Ngày mất thì khi em đi nhận hài cốt, chỉ thấy một nhân chứng nói là “đêm đó trăng lưỡi liềm”

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Hảo từ Washinton DC, Mỹ gửi cho chị ở Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 24-9-1990)


2. THƯ GỬI EM TRAI (7-3-1990)

Nhận được thư em chị mừng lắm, đọc đi đọc lại những dòng chữ thân yêu với những tin tức vui của gia đình ta.

Anh chị em ta “năm con voi và tám nàng tiên” yêu nhau thật thắm thiết, thật là kỳ diệu! Không phải gia đình nào cũng được diễm phúc đó. Sau bao nhiêu năm xa cách, bao biến động, tình ruột thịt lại càng thắm thiết.

…Nay có em sang “nghìn năm một thuở” cũng như năm ngoái khi K. đến, chị cũng không làm sao dứt ra mà đi được. Rất buồn tủi, song các em cũng hiểu chị và yêu thương chị

…Chị rất tiếc không có mặt ở Paris lúc này để ôm em vào lòng và kể cho em cùng các em Ngoạn, Hoàn, Lệ, Viên những chi tiết và những phút đau lòng, lo âu, cảm động khi đi nhận di hài Thầy yêu quí của chúng ta. Ngày giáp Tết, khi ánh bình minh vừa rạng ló, con thuyền đưa cốt Thầy cặp bến chùa Vạn Phước, và chị cùng Miềng (tức Phạm Tuân – PT ghi chú), cô (me chị Bích) dự lễ an táng bên cạnh sư cụ cùng một vài thân hữu ở Huế. Chị không sao quên nổi cái đêm kinh hoảng (27 Tết thì phải) sau khi tìm bới hai ngày dài, rồi nhờ các vị sư cúng các vong tại chỗ, đến mãi tối mịt mới tìm được di hài ba vị (Thầy, cụ Khôi và cậu Huân). Người ta (họ Ngô) đang làm to, mang hai cha con họ Ngô quàn ở một cái rạp thật lớn trang hoàng theo nghi lễ công giáo, lính gác chung quanh, để chờ sáng hôm sau tám giờ tổ chức quốc tang theo lịch trình đã định. Còn chị em mình (chị và Miềng) cùng cô lẽo đẽo đưa di hài Thầy lên đỉnh một ngọn đồi nhỏ. Định ở đó suốt đêm, chờ sáng hôm sau nhà Ngô đưa đám (quốc táng thật to) đi rồi, mình dùng đúng con đường đó (đã được “quét sạch” ) để đưa cha mình về chùa. Song đêm trên đỉnh đồi lãnh lẽo, lủi thủi có ba bà con, văng vẳng nghe tiếng cầu kinh của các đệ tử Thiên Chúa bề tôi nhà Ngô ở dưới chân đồi, chỗ rạp quàn hài cốt nhà Ngô, vừa tủi thân vừa sợ. Miềng lúc đó còn nhỏ (20 tuổi – PT ghi chú) lo sợ, cứ bảo “Thôi, đi về đi!”. Những nhà chức trách nơi đó lại khuyên nên chờ đến sáng, sau đám nhà Ngô hãy đi, kẻo vùng này có tiếng là dữ (cọp beo, “hắc thú”, và …). Sau cùng, chị nhất quyết xin họ cho một cái đò để chở Thầy về ngay đêm đó. Họ khuyên không được, cũng tử tế cho hai thuyền có lính và khí giới đi kèm đò mình. Thế là chiếc tiểu – quan tài nhỏ, qua sông. Suốt đêm đến sáng thì tới bến Vạn Phước. Tờ mờ sáng, lòng đang buồn tủi đau khổ thương cho cha chịu phận hẩm hiu, lại hãnh diện cho mình được thay mười một người con của Thầy Me, đưa Thầy về nơi an nghỉ ngàn năm…Thì trên bến đã thấy sư cụ cùng mấy sư bác, các tiểu chờ sẵn. Em ơi, chị Hảo lúc bấy giờ mừng quá “đi đến nơi về đến chốn” rồi, trông mấy vị tu hành như thấy mấy vị cứu tinh, cảm động nước mắt dào ra không biết nói gì… Chôn cất Thầy xong, chị và Miềng về Sài Gòn, vừa vặn sửa soạn Tết, cúng giao thừa.

Mừng là mọi chuyện êm đẹp, nhưng nửa tháng sau sư cụ lại nói với cô là Thầy về báo mộng, mộ ướt lắm. (Chỗ đất này tốt nhất, đáng ra là dành cho sư cụ, cụ nhường cho Thầy). Thầy nằm trong vũng nước. Cô lại gửi thư về Sài Gòn nói tuỳ chị, cô không dám định đoạt đào lại mộ, chị nói cô cứ làm. Quả nhiên mộ đầy nước…Vì thế mới thỉnh Thầy ra ngoài cửa chùa, chỗ này cũng đẹp đẽ, sạch sẽ như em chắc đã thấy

Trích bản viết tay Thư cụ Phạm Thị Hảo từ Washington DC, Mỹ gửi cho em trai ở Hà Nội (ngày 7-3-1990)


[1] Trích băng ghi âm lời cụ Nguyễn Văn Bồng nói với con trai Phạm Quỳnh tại Đà Lạt tháng 7-1993

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: