Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 25, 2009

Con người hiểm độc – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 9:12 sáng

Blog PhamTon, tuần thứ 4 tháng 9 năm 2009

KVCT

—–

—–

—–

BÀI SỐ 7 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

7.- CON NGƯỜI HIỂM ĐỘC

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

—–

Ai nói đến người đó cũng phê bình một câu: con người hiểm độc…

Vậy thời cái con người hiểm độc ấy nó thế nào? Có thể tả được bức tranh tâm lý về con người ấy, bằng nét vẽ phác họa, đủ cai quát (Bao quát toàn bộ – PT chú) mà hình dung được một nhân vật chung trong xã hội, không mang tiếng là ám chỉ một cá nhân đặc biệt nào, có thể vẽ được bức tranh phá bút như thế không?

Chắc rằng một bức vẽ “trừu tượng” như vậy, thời không thể đậm đà rõ rệt như bức tranh tả thực, chụp ảnh được con người ấy ra, cho ai cũng có thể chỉ mặt gọi tên được.

Nhưng mà nói chung hơn nói riêng. Vả lại tâm lý cá nhân, dù đặc biệt thế nào, rút lại cũng qui nạp ở mấy nét vẽ lớn, là hình dung thiên cổ của lòng người.

Vậy thử nhân một cá nhân đặc biệt mà tổng quát hóa thành một mô dạng phổ thống (Như: phổ thông – PT chú), dù có thiếu mầu đậm đà, mà có lẽ được thêm vẻ triết-lý.

Trái với lời sách nho ta dạy, con người ấy tính nó vốn ác. Nó ác cũng như con rắn độc, sẵn chứa trong mình một bầu nọc độc, gần gụi hay đụng chạm với ai, phải châm chích được vào người ta một vài giọt độc mới nghe.

Dạ ớt ngâm như vậy, mà miệng lại thơn thớt, cho nên độc mà hiểm. Độc tất hiểm, mà hiểm thường độc. Độc có hiểm mới dễ hại người.

Nghe con người ấy nói năng, thì ngọt ngào hết sức, dễ thương vô cùng. Tưởng không còn ai thành thiệt thân thiết bằng. Nhưng chớ có nhẹ dạ mà vội tin. Nhất là chớ có thật thà mà chuyện trò thân mật, đến thổ lộ can trường. Nguy, tối nguy! Vì câu chuyện, thân tình hay thực tình ấy, ngay sớm mai sẽ truyền đến những nơi không cần phải nghe, mà tẩm thêm mấy giọt nọc độc. Hoặc bị phóng đại, hoặc bị ác-hóa (Làm cho xấu đi – PT chú), mà nghiễm nhiên thành một mối nghi ngờ, ghen-ghét, oán-giận, căm-hờn giữa những người trước kia không có chuyện gì với nhau cả. Giữa những người vốn có hiềm khích với nhau, thời cố nhiên thành một cớ chiến tranh kịch liệt.

Vì miệng thơn thớt, tất mỏng môi hay hớt. Nhưng hớt đây là hớt hiểm hớt độc, không phải hớt cho có chuyện vui chơi. Vì đặc tính con người ấy là có làm hại được người ta mới sướng, như con rắn độc có nhả được nọc độc mới nhẹ mình. Vậy chuyện chỗ nọ hớt sang chỗ kia, chuyện người này mách cho người nọ, nhiều khi không có gì cũng bằng không kết cấu lên thành chuyện mà tuyên truyền đi nữa, không phải là để lấy công với người, không phải là để lấy tiếng thông thạo, bao giờ cũng có cái ác ý hại người.

Đối với con người ấy, bao giờ cũng phải đề phòng luôn luôn, không nên một giây phút nào ngộ hoặc (Nghi lầm, lừa dối – PT chú) vì cái thái độ mềm mỏng dễ thương.

Nó mang sẵn bầu nọc độc, phải nhả được mới yên thân, nên nó đã gian, nó lại ngoan, hết sức kiều mị để cám dỗ người.

Nhưng mà Tạo-vật cho con hổ mang bầu nọc độc để làm khí giới mà tự vệ. Chớ Tạo-vật cho con người ấy bầu nọc độc để làm gì?

Vẫn biết rằng người ta không phải là thánh nhân cả, không thể lấy thiện mà trả ác, nhiều khi cũng phải lấy ác mà trả ác. Nhưng mà con người ấy không phải làm ác để trả thù, không phải nhả độc để tự vệ; con người ấy làm ác để sướng mình, nhả độc để tự khoái. Con người ấy làm ác khống, nhả độc chơi!

Phàm hành vi động tác không có mục đích duy kỷ duy lợi, mà chỉ có mục đích du-khoái (Vui sướng – PT chú) mà thôi, thời là thuộc về phạm vi mĩ thuật vậy. Họa-sĩ vẽ bức tranh đẹp, nhạc-sĩ gẩy khúc đàn hay, trước khi nghĩ đến cầu lợi, cốt để vui tai sướng mắt mình đã.

Con người nọ làm ác để mà chơi, làm ác để cho sướng, có lẽ cũng là một nhà mĩ-thuật chăng? Nó là một nghệ sĩ trong cái thuật làm ác, trong cái nghề quấy hôi bôi nhọ người đời. Có lẽ thế chăng? Nếu không thì sao nó độc ác một cách tự nhiên, một cách dễ dàng, một cách khinh khí (Nhẹ nhàng – PT chú) khoái hoạt (Khoan khoái, thích thú – PT chú) như vậy? Tựa hồ như bản tâm, bản tính, thiên-lương, thiên-năng của nó, là chung đúc cả vào một chữ ác. “Con cá sống về nước”, con người đó sống về ác. Ác là cái không khí tự nhiên cho nó sống; chỉ trong không khí đó nó mới phát-triển được tài năng, vẫy-vùng, bay nhẩy và như nhà mĩ-thuật nọ, tạo nên được những tác phẩm tuyệt luân (Thuộc vào loại giỏi nhất, xuất sắc nhất – PT chú).

Con người lạ lùng, mà con người nguy hiểm thay!

Con nguoi hiem doc

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Tháng Chín 11, 2009

Văn học, Chính trị – Phạm Quỳnh

Filed under: Hoa Đường Tùy Bút - Kiến Văn, Cảm Tưởng I — phamquynh @ 3:38 sáng

Blog PhamTon, tuần thứ 2 tháng 9 năm 2009

KVCT

—–

—–

—–

—–

—–

BÀI SỐ 4 TRONG 11 BÀI CUỐI ĐỜI

CỦA THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH:

4.- VĂN HỌC, CHÍNH TRỊ

Phạm Quỳnh

(Mùa hạ năm 1945)

——-

Cố Tổng thống Wilson nước Mỹ là người đã có một địa vị tối quan trọng hồi Âu chiến lần thứ nhất 1914-1918, đã từng tán dương nhà chánh trị kiêm văn học là một hạng người cao quý, thật xứng đáng ra cầm quyền trị nước. Không nhớ rõ lời lẽ ông nói thế nào, vì đọc được trong một tạp chí nọ đã lâu năm. Nhưng đại khái ông cho rằng nhà chính trị kiêm văn học (ông gọi là litterary politician), là nhà chính trị mà có văn học, là có tư cách hoàn toàn. Chính trị là một nghệ thuật, cần phải lanh lợi, khôn khéo, có thủ đoạn, có mánh khóe, biết châu tuần trong thực tế, biết lợi dụng các cơ hội, thuộc tâm lý người ta, rõ hoàn cảnh xã hội, và thứ nhất là phải có cái linh tính biết dò đón việc xảy ra mà chuẩn bị để đối phó. Ngạn tây thường nói: “Trị nước là liệu trước”. Phải có cái tài dự đoán luôn luôn mới có thể chi phối được thực tế hoặc lợi dụng được thời cơ, mà không bị thời thế cùng thực tế tràn ngập lôi cuốn đi mất. Như vậy thời nhà chánh trị là sống luôn trong thực tế, hằng ngày phải đối phó với những việc xẩy ra, dụng mưu mà ngăn ngừa hay lợi dụng. Như vậy thời chính trị rút lại chẳng qua là một thuật quyền mưu, một trường mánh khóe, người cao thượng nhiều khi bất tiết dúng tay vào. Nhưng chính trị há phải là một phương thuật kinh nghiệm mà thôi? Chính trị cũng có nghĩa lý, phải có nghĩa lý, vì phải có chủ nghĩa, phải có tôn chỉ. Nếu nhà chính trị chỉ hằng ngày châu tuần trong thực tế, mưu tính việc xảy ra thời làm sao mà bồi dưỡng được phần nghĩa lý đó, làm sao mà kiên định được tôn chỉ, làm sao mà triển minh được chủ nghĩa? Giúp cho cái công bồi dưỡng nghĩa lý đó, không gì bằng văn học. Nhà văn học thông kim bác cổ, đạt lý năng văn, hằng ngày tập luyện cái “trí tinh nhuệ” ((Binh sĩ) luyện tập rất tinh thông, sắc sảo – PT chú), khác với cái “trí khúc chiết” ((Lời biện thuyết) rất kỹ càng, nhiều manh mối – PT chú) của nhà khoa học, rất là có thể đem nghĩa lý cống hiến cho chính trị, khiến cho bồi bổ được chỗ khuyết hám (còn thiếu thốn, chưa được bằng lòng – PT chú). Vì chính trị với văn học không phải là khoa học; chính trị với văn học là nghệ thuật; chính trị là nghệ thuật về thực tế, văn học là nghệ thuật về nghĩa lý, thực tế không thể rời nghĩa lý được, cũng như thực hành phải có suy lý vậy. Nói tóm lại thời văn học giúp cho nhà chính trị suy nghĩ về công việc mình, mà suy nghĩ bằng trí tinh nhuệ, theo phép nghệ thuật, không phải bằng trí khúc chiết, theo phép khoa học vậy. Cho nên nhà chính trị mà có kiêm văn học là đủ tư cách hoàn toàn. Phàm nhà chính trị xứng đáng phải có màu mè văn học mới được.

Không dám chắc rằng Wilson lý luận đúng như thế, nhưng ý nghĩa đại khái như vậy.

Thuyết của Wilson không phải là không có lý, và không phải chỉ có lý thuộc về chính trị mà thôi. Văn học là cái học tô điểm cho người ta, khiến cho con người ta có văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà thêm ra. Như vậy thời không những nhà chính trị có văn học là hay, mà nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhà chuyên môn nào có văn học cũng là tốt cả, vì con người văn vẻ tốt đẹp, sắc sảo mặn mà làm nghề chi mà không xuất sắc, làm nghề gì mà không tăng giá trị cho nghề mình? Duy có lẽ đối với nhà chánh trị, văn học có cần hơn: nhà chính trị muốn chi phối thực tế, lợi dụng thời cơ, chế ngự quần chúng, điều khiển trị loạn, cần phải thông kim bác cổ, đạt lý năng văn hơn người thường. Nghiệm thay một điều như sau: trong thế giới ngày nay, không có một nhà chính trị trứ danh nào là không có tài hùng biện.

Vậy thời nhà chính trị kiêm văn học, không biết đã có tư cách hoàn toàn chưa, nhưng nếu quả có tài năng, thời tài năng ấy nhờ văn học chắc được cường hóa (Làm cho mạnh mẽ lên – PT chú), thâm hóa (Làm cho sâu sắc hơn – PT chú) thêm lên.

Như vậy thời ý kiến của Wilson cũng là đúng với sự thực, hợp với lẽ phải vậy.

Nay phản thuyết lại mà nói nhà văn học kiêm chính trị: nhà văn học mà làm chính trị thì thế nào. Vấn đề thay đổi hẳn. Nếu nhà văn học vốn sẵn có tài chính trị, chỉ vì chưa có dịp mà chưa làm chính trị, thì cái “ca” cũng giống như trên không khác gì. Nếu nhà văn học bản sắc là văn học mà ngẫu nhĩ (Như: Ngẫu nhiên – PT chú) làm chánh trị, thời lại khác hẳn. Đó là một sự thí nghiệm mà thành công hay thất bại không thể quyết đoán được. Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc (Nơi hang tối – PT chú), không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được.

Vả lại hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau.

Âu Dương Tu là một văn hào đời Tống, lại giữ chức “tham tri chính sự” ở triều, sau bất tương hợp với thủ tướng Vương An Thạch mà về hưu. Tống sử chép rằng hồi làm quan, các học giả trong nước trọng tiếng văn hào, thường xin ra mắt. Ông vui vẻ tiếp chuyện, nhưng không hề nói đến chuyện văn chương bao giờ, chỉ bàn về việc quan mà thôi. Ông nói: “Văn chương chì dùng để nhuận thân, chính sự mới có thể trạch vật.”

“Nhuận thân”, đó là mục đích của văn học; “trạch vật”, đó là mục đích của chính trị, hai đàng vốn khác nhau.

Âu Dương Tu chính là cái “ca” nhà văn học kiêm chính trị. Tuy thời đại ấy, chính trị với văn học không cách biệt nhau lắm như bây giờ, và tuy tự ông trong lời nói trên kia, cũng có ý trọng “trạch vật” hơn “nhuận thân”, nhưng xem ra ông làm chính trị cũng không lợi gì, thì hà tất đã vội coi thường cái thuật “nhuận thân” là cái sở trường của mình?…

Van hoc chinh tri

Bản thảo viết tay Hoa Đường Tùy Bút- Kiến Văn, Cảm Tưởng I của Phạm Quỳnh

P.Q.

Phản hồi về đường Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:27 sáng

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 9 năm 2009

Phản hồi từ bạn đọc

NGHỊ ĐỊNH SỐ:31/KH CỦA ĐÔ TRƯỞNG SÀI GÒN: ĐƯỜNG SỐ 54 TỪ BẾN LÒ GỐM TỚI ĐƯỜNG LÊ QUANG HIỄN DÀI 900m RỘNG 8m MANG TÊN MỚI LÀ ĐƯỜNG PHẠM QUỲNH.

Phạm Tôn

Mấy tháng trước chúng tôi có nêu trên blog này câu hỏi Sài Gòn từng có một đường phố mang tên Phạm Quỳnh? Và kết thúc bằng câu: “Chúng tôi nêu lên đây, mong được bạn nào biết mách giùm. Xin đa tạ”.

Hôm nay, chúng tôi vui mừng báo quý bạn đọc biết là đã có người cung cấp một căn cứ không thể chối cãi là con đường đó là có thật. Một bạn đọc nữ là Phạm Thị Trâm, ở địa chỉ 14917 Village Gate Drive Silver Spring, MD 20906 – 1964, USA. Điện thoại: 001- 301-460.6171 đã sưu tầm và có nhã ý gửi cho chúng tôi bản Nghị định của Đô trưởng Sài Gòn Số:31/KH đại tá Đỗ Kiến Nhiều, ký tại Sài Gòn ngày 10 tháng 1 năm 1972. Trong đó, “Điều 2- Các đường sá dướt đây, nay được mang tên như sau: (…) Đường số 54: từ bến Lò Gốm tới đường Lê Quang Hiễn, dài 900m, rộng 8m, mang tên mới là đường Phạm Quỳnh (…).”

Đại Úy cảnh sát Vũ Đình Thọ, Sở Cảnh sát Lưu thông, TL Chánh sự vụ Sở Cảnh sát Lưu thông, Chủ sự Phòng Tổng vụ ký văn bản, Sài Gòn, ngày 13 tháng 1 năm 1972 Số: 450/CSTĐ/S5/P1/B1, “Sao y gởi quý ông

–         Chủ sự phòng

–          Liên đội trưởng

–          Trung tâm trưởng

–          Trưởng đội

“Để phổ biến đến thuộc viên am tường tên đường mới, hầu hướng dẫn dân chúng. Riêng phòng Nghiên-Kế cho sửa lại tên đường mới trên bản đồ”

Duong Pham Quynh 1

(…)

Duong Pham Quynh 2

(…)

Duong Pham Quynh 3

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cả gia đình bạn Phạm Thị Trâm, đã có lòng với blog chúng tôi, giúp làm sáng tỏ một sự thật hiển nhiên đã bị quên lãng từ mấy chục năm nay. Xin kính chúc bạn và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và tiếp tục là bạn đọc trung thành của blog chúng tôi, luôn sẵn lòng đóng góp ý kiến, tư liệu giúp blog chúng ta ngày càng tìm hiểu sâu rộng hơn về học giả Thượng Chi Phạm Quỳnh mà chúng ta hằng yêu mến, kính trọng và xót thương cho số phận oan nghiệt của ông.

Thành phố Hồ Chí Minh, 18.8.2009

P.T.

Tháng Chín 4, 2009

Hoa Đường Tùy Bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:22 sáng

Blog PhamTon, tuần thứ 1 tháng 9 năm 2009

HOA ĐƯỜNG TÙY BÚT –

KIẾN VĂN, CẢM TƯỞNG I

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi đã đưa bài số 6 Chuyện một đêm một ngày lên blog tuần thứ 3 tháng 8, như đã hẹn từ nay chúng tôi sẽ lần lượt đưa nốt 10 bài còn lại trong số 11 bài văn cuối đời Phạm Quỳnh viết mùa hè năm 1945 tại biệt thư Hoa Đường.

Sau ngày 23/8/1945, Phạm Quỳnh bị bắt tại biệt thự Hoa Đường ở Huế, thì tất cả sách vở tài liệu liên quan đến chính trị và văn học đều bị lục xét và phần lớn bị tịch thu. May mắn là còn sót lại một quyển vở học trò trên bàn làm việc của ông, đặt ngang sẵn cây bút máy Waterman để chiều viết tiếp. Đó là tập Hoa Đường tùy bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I, với bài cuối cùng Cô Kiều và tôi viết còn dở dang.

Như vậy là sau gần 30 năm lăn lộn trên trường văn học (1917-1932) và chính trịKien van cam tuong_mat truoc(revised) (1932-1945), chắc chắn ông đã phải đối đầu với nhiều sự tình éo le, gây cấn, cho nên trong những trang viết cuối cùng này ta thấy những điều ông nói đến như Thế thái nhân tình, Văn học và Chính trị, Muốn sống, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác, Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường… đều gần như là những lời tâm sự ông rút từ ruột gan mình muốn thổ lộ, nhắn gửi với người đời sau. Đây là bản thảo đầu tiên ông viết chỉ để mình đọc, chưa phải để đưa đi in. Tên bản thảo có ghi rõ số I, tức ý ông sẽ còn viết nhiều tập như thế nữa. Chỉ đọc qua tên một số bài như trên, chúng ta đã thấy ngay đây là một tập tạp văn, kiểu tạp văn Lỗ Tấn, mà ta biết từ nay ông quyết định sẽ viết liên tiếp nhiều tập. Nhưng chẳng may, ngay tập I mỏng cũng chưa hoàn thành, vẻn vẹn chỉ có 47 trang giấy học trò, cho nên chưa thể đoán định được ông định hướng chủ yếu về đề tài gì. Sau khi ông mất khá lâu, nhân kỷ niệm 100 năm sinh, con gái ông là bà Phạm Thị Hoàn ở Paris đã công bố 10 bài vào năm 1992, trong phần II của tập sách kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh (1892-1992) Tuyển tập và Di cảo. Loại ra một bài Chuyện một đêm một ngày mà bà cho chỉ là những trang nhật ký, ghi lại những sự việc cần nhớ, để sau này dùng, chứ hoàn toàn không có tính chất nghệ thuật gì. Sau này, em trai bà là ông Phạm Tuân đã cho in toàn văn bài Chuyện một đêm một ngày này trong tập Giải oan lập một đàng tràng do Tâm Nguyện phát hành, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ năm 2001. Bản Tuyển tập và Di cảo này in tại Pháp, tại nhà xuất bản An Tiêm, cả công nhân lẫn người sửa bài đều không phải là những người chuyên làm về văn học tiếng Việt, người duyệt lại là bà Phạm Thị Hoàn, lúc ấy tuổi cũng đã cao, cho nên có nhiều sai sót trong chữ nghĩa in sai, hoặc thiếu, hoặc thừa so với bản thảo Phạm Quỳnh viết chỉ để mình đọc. Chúng tôi may mắn có trong tay bản sao chụp toàn bộ 11 bài ấy, cho nên lần này công bố trên blog, chúng tôi cố gắng bám sát bản viết tay của Phạm Quỳnh mà không dùng những bài đã đăng trong Tuyển tập và Di cảo mong tránh được những sai sót đã mắc. Vì thế cũng xin báo để các bạn đã có sách Tuyển tập và Di cảo nên căn cứ vào các bài đăng trên blog của chúng tôi để rà soát lại bài có trong sách của mình.  Riêng bài số 11 Cô Kiều với tôi viết dở dang, chỉ có 3 trang, chúng tôi đăng toàn văn bằng chữ Phạm Quỳnh viết để bạn đọc trực tiếp đọc. Đó cũng là một cách tưởng nhớ người xưa

Đồng chí Trường Chinh viết báo Nam Phong – Nguyễn Trung

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:01 sáng

Blog PhamTon, tuần thứ 1 tháng 9 năm 2009

Nhân đọc bài Đồng chí Trường Chinh viết báo Nam Phong của Nguyễn Thúc Chuyên, trên tạp chí Huế Xưa & Nay số 86

ĐỒNG CHÍ TRƯỜNG CHINH VIẾT BÁO NAM PHONG?

Nguyễn Trung

Là một người yêu mến đến mức sùng bái Thượng Chi Phạm Quỳnh, tôi sung sướng đến ngỡ ngàng khi đọc trong mục Thông tin tư liệu trên tạp chí Huế Xưa & Nay số 86 bài báo Đồng chí Trường Chinh viết báo Nam Phong của tác giả Nguyễn Thúc Chuyên (Hội Khuyến học tỉnh Thừa Thiên Huế). Tôi cầm bài báo dài 5 trang khổ lớn và đọc liền một mạch, trong đó giới thiệu kỹ càng một bài báo có nhan đề Hy long – Di thặng, dật sử một nhà Nho nước Nam: Cụ Đặng Xuân Bảng, tự Hy Long. Bài này là bài thứ V của tác giả Đặng Nguyên Khu.

truong chinhNhưng càng đọc, tôi càng phân vân.

Khi đọc đến đoạn tác giả viết: “Khi tôi đọc nội dung 11 trang từ chương XIII đến chương XV của bài báo, dù tên lót là “Nguyên” thì tôi khẳng định đích xác đây là bài báo của Đặng Xuân Khu, có bí danh lúc hoạt động cách mạng là Trường Chinh (còn vì sao đổi tên lót thì chưa “giải mã” được, có thể là tên lúc học Cao đẳng Thương mại).”

Thấy tác giả khẳng định chắc như đinh đóng cột, vậy mà không hề có lấy một căn cứ nào, tôi liền đọc phần cuối bài viết:

“Tài liệu tham khảo:

–          Nam Phong tạp chí số 136, tháng 5 năm 1929

–          Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Văn Hóa (in lần thứ 5), Hà Nội, 1999.”

Như vậy là chỉ có một tư liệu cách đây 80 năm, đáng là tư liệu gốc. Còn tư liệu kia, mới cách đây 10 năm, chưa biết độ tin cậy đến mức nào. Tôi tra cứu Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây tái bản lần 2, năm 2002, thì thấy bài này đăng từ số 132 – tháng 8/1928 đến số 140 – tháng 7/1929, vừa tròn một năm. Tổng số trang của bài lên tới 109. Đến đây, nảy ra vấn đề: Đồng chí Trường Chinh gia nhập Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên năm 1927, năm 1929 lại đang tham gia vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, tất nhiên là đang sống bất hợp pháp, hoạt động bí mật làm sao có thời giờ để viết một bài dài như thế và cộng tác với một tờ báo mà ai cũng biết là do chính quyền thực dân bảo trợ. Trong thời gian dài đến một năm (nào là gừi bài, nhận báo, ký nhận tiền nhuận bút, v.v…). Đó là những việc không thể xảy ra, không thể có trong cuộc sống hiện thực, chỉ có trong tưởng tượng của người viết.

Tôi lại càng phân vân hơn khi đọc những dòng sau:

“Những “thiên bút ký chương hồi” này, theo tôi đồng chí Trường Chinh đã dựa vào những ghi chép của ông nội còn lưu lại sau khi cụ Bảng qua đời (1910); và ông đã dựa vào những tư liệu đó mà viết ra rồi gửi đăng báo.

“Nội dung các bài báo của ông mang đậm nét lịch sử văn học, lời văn có chỗ như thể văn phú, xen lẫn biền ngẫu và thơ; bố cục, kết cấu bài báo ông viết giống như một thiên tiểu thuyết chương hồi của Tam Quốc Chí; có đoạn như một “kịch bản” của sân khấu tuồng, (…) có những cảnh (scène) tác giả đưa vào những câu lục bát có thể chuyển thành hát điệu “cách”, điệu “ai”, điệu “tẩu mã”… trong các vai tuồng.

Năm 1929 ấy, đồng chí Trường Chinh mới 22 tuổi, ông từng bị đuổi học ở Nam Định vì đã tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh, năm 1927 ông theo học trường Cao đẳng Thương mại Hà Nội. Liệu một trí thức cách mạng , đang hoạt động bí mật cho những mục đích lớn lao, lại đã học trường Pháp, đang là sinh viên cao đẳng có thể để thì giờ sáng tác một tác phẩm nghệ thuật cổ lỗ như thế? Văn Trường Chinh là văn chính luận giản dị, mạnh mẽ, đanh thép, sắc bén là điều ai cũng biết một khi được đọc bất cứ tác phẩm nào của đồng chí. Đó là điều hoàn toàn không thể thấy ở 109 trang viết này, với lối văn biền ngẫu, thể văn phú và thơ theo kiểu tiểu thuyết chương hồi của tiểu thuyết Tàu xưa! Đến mức này, tôi chỉ còn cách tự mình tìm ra sự thật, tận gốc. Chúng tôi đã xin gặp một người họ Đặng, quê làng Hành Thiện là làng của đồng chí Trường Chinh, hiện là một nhà khoa học có uy tín lớn ở nước ta. Ông là viện sĩ, tiến sĩ và đang làm chủ nhiệm một ủy ban trong Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước ta, nhờ ông giúp cho hiểu rõ ngọn ngành. Sau một thời gian, ông viện sĩ chi họ Đặng Vũ này cho biết trong dịp họp mặt đầu xuân năm Kỷ Sửu 2009 vừa qua của các vị lão thành cách mạng làng Hành Thiện tỉnh Nam Định, ông đã hỏi các cụ cao niên, thì không một ai biết có lúc nào đồng chí Trường Chinh đã lấy tên là Đặng Nguyên Khu cả. Hơn nữa, tại sao trong lúc hoạt động bí mật, làm nhiệm vụ vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng mà đồng chí lại có thể sơ suất đến mức viết báo công khai, với bút danh Đặng Nguyên Khu gần giống với tên thật của đồng chí là Đặng Xuân Khu.

Chúng tôi rất cảm ơn tấm lòng thành của tác giả Nguyễn Thúc Chuyên đối với học giả Phạm Quỳnh mà chúng ta cùng quý mến. Và nhân đây, xin giới thiệu với ông cả một kho tư liệu phong phú và mỗi ngày một phong phú thêm về Thượng Chi – Phạm Quỳnh kính yêu của chúng ta. Đó là địa chỉ sau: https://phamquynh.wordpress.com

Mong còn được dịp tiếp xúc giao lưu với ông.

8.2009

N.T.

Cùng bạn đọc (tháng 9)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:56 sáng

Cung ban doc (tuan 1 thang 9)

Blog tại WordPress.com.