Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 11, 2010

Lời bình phẩm về “Mấy Bài Diễn Thuyết Ở Paris” – Sérénus

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:51 chiều

Blog PhamTon, tuần 3 tháng 6 năm 2010.

LỜI BÌNH PHẨM VỀ SÁCH MẤY BÀI DIỄN THUYẾT Ở PARIS[*]

Sérénus

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bản dịch của Phạm Quỳnh đăng trên Tạp chí Nam Phong số 75 tháng 9 năm 1923 trên các trang 32-38. Kèm bên là nguyên văn tiếng Pháp của Sérénus.

—o0o—

Tôi chưa được cái danh dự biết ông Phạm Quỳnh, cách mấy bữa nay tôi mới tình cờ mở xem một quyển sách nhỏ đề là “Mấy bài diễn thuyết ở Paris, – tháng năm – tháng bảy năm 1922 – có dịch ra quốc ngữ”; nói rằng mở xem thì cũng chưa đúng hẳn, vì tôi không có mở xem ngay, bởi vì tính tôi vốn lười, xưa nay vốn không ham đọc những sách diễn thuyết (mà không phải là vô cớ), giá không đọc thấy ở ngoài bìa những tên mấy bài diễn thuyết thì chắc hẳn cũng không mở ra xem làm gì. Coi mấy cái nhan đề ấy, tôi lấy làm hứng thú lắm, xin kể ra như sau này:

  1. Nói về sự tiến hóa về trí thức và tinh thần của người An Nam.
  2. Nói về thi ca nước Nam
  3. Nói về sự tiến hóa tiếng An Nam
  4. Nói về một vấn đề dân tộc giáo dục.
  5. Nói về sự tiến hóa dân An Nam và cái nhiệm vụ của Hội Khai trí.

Bấy giờ tôi mới mở sách ra xem; mới đọc mấy dòng đầu đã lấy làm lạ thấy lời văn thật là đắc thể mà lại hoa mĩ nữa. Đây là tôi nói lời văn tây, chứ tôi xin thú thật là tôi chưa học tiếng An Nam. Hình thức câu văn, tôi đã lấy làm thích, xem dến cái thể tài bài diễn thuyết, lời lẽ sáng sủa, kết cấu khôn khéo, giọng nói thành thực, tôi lại lấy làm ưa nữa. Phải đọc lại những bài diễn thuyết của các bậc danh sư như ông Jules Lemaître, ông Emile Boutroux, mới thấy gồm được bấy nhiêu cái tư cách đặc biệt như thế: vừa minh bạch mà lại vừa uẩn súc, vừa phong thú mà lại vừa thâm trầm, vừa thành thực khảng khái mà lại vừa khéo léo khôn ngoan.

Tôi đương đọc, phải dừng lại mấy giây đồng hồ, mã ngẫm nghĩ về cái sự lạ này: người này là một bậc đại trí nước An Nam, sao mà giống với các bậc đại trí nước Pháp ta như thế? Cứ thực thì hết thảy người ta, dù là sinh ra ở Tây phương hay ở Đông thổ, cũng là “cùng một nhân tâm ấy, há có thiên lý nào”. Bởi thế nên Đông phương với Tây phương càng quen biết nhau, càng thân yêu nhau, càng học lẫn nhau, thời càng có ích lợi. Cái trí thức ông Phạm Quỳnh cũng là đồng thể với tri thức những bậc thượng lưu nhân vật ở bên ta: phàm trí thức không có riêng của một nước nào; một bậc đại trí về mĩ thuật, về văn học của nước ta, ảnh hưởng tới khắp cả các phương trên mặt đất; một bậc đại trí của nước Nam cũng có sức cảm được những người ở tận đất Bretagne hay đất Provence, – mà cả đến người ở kinh thành Paris nữa, – cũng như là cảm những kẻ trí thức ở Nam Định hay ở Hải Dương vậy… Nói tóm lại thời tôi đọc quyển sách của ông Phạm Quỳnh, càng đọc càng thấy hứng thú, không dứt một lúc nào, – đọc xong rồi thời thấy hiểu rõ về vô số những vấn đề quan hệ mà từ khi sang bên Đông – Pháp đến giờ tôi vẫn băn khoăn chưa giải được. Tôi đã từng hỏi nhiều lần những người đã ở thuộc địa lâu năm, những người tôi tưởng là biết hơn tôi, sành hơn tôi. Nhưng nghe các ông ấy trả lời, ít khi tôi được mãn ý; tôi phảng phất biết rằng các ông ấy lầm; và nhiều khi cũng rõ rằng các ông ấy chẳng biết gì mấy tí.

Tôi có hỏi một ông rằng: “Thôi nói rút lại thì người An Nam họ xét mình thế nào? Họ mong gì ở mình? Họ chịu cái quyền bảo hộ của mình thế nào?”, thì ông ấy trả lời rằng: “Nó chịu mình là vì nó không làm gì được, chứ ngoài mặt tử tế mà trong lòng nó ghét mình ngon; nó mạnh ra thì nó đánh đuổi mình đi hết.”-Tôi nói: “Ông nói thế thì cũng buồn nhỉ. Thế mà tôi sang đây, vẫn rắp bụng muốn giao thiệp với những người danh giá trong bản xứ.” – “Ấy chớ có nên tin họ!”

Cứ như lời những người khuyên bậy ấy, thời giống An Nam thật không có một tính tốt gì, và cách thật thà của họ để kiếm tiền ấy, chẳng qua là cách biển, cách “xoáy” mà thôi.

Tôi lại hỏi:

–          Thế văn chương An Nam thế nào?

–          Chẳng có gì cả. Vận văn, tản văn, tuyệt nhiên không có gì hết, chỉ có mấy cuốn sách mơ hồ phỏng chép của người Tàu, với ít câu ca câu hát cỏn con, chẳng có lý thú gì.

–          Thật thế à?

–          Thật chứ.

–          Tiếc quá! Thế mà tôi định bụng học tiếng An Nam.

–          Có học cũng phí mất thì giờ!

–          Nhưng mà chính người họ, họ có nói được, có hiểu được tiếng ta không?

–          Không, chúng nó hiểu sao được, nói sao được, có biết tí gì cũng là học thuộc lòng mà nhớ, rồi lại lắp lại như con yểng mà thôi; vân vân…

Ấy đại khái những câu trả lời như thế cả, tôi có thể kể ra vô cùng. Than ôi! biết bao nhiêu người Pháp, kể cả những người có sẵn lòng tốt với dân An Nam, không hiểu một tí gì về lịch sử, tinh thần, về cái sức tư tưởng suy nghĩ, về sự hi vọng về đường chính trị của người nước Nam!

Bấy nhiêu những điều ấy, phàm người ở thuộc địa “có ý thức” cần phải biết đến, nay cứ đọc ngay sách ông Phạm Quỳnh là biết hết, mà biết một cách vui vẻ và chắc chắn. Được biết cái ý kiến thành thực của một người An Nam về cái vấn đề tiến hóa dân nước Nam về đường tinh thần trí thức từ ngày nước Pháp đặt bảo hộ đến giờ, chẳng là một sự hay ư? Vì thuộc về vấn đề ấy, ta cũng nên tự xét ta có điều gì phải ăn năn, phải hối hận không? Có phải ta đã làm cho cả một dân tộc phải dời bỏ một cái văn hóa đã phục tòng trong mấy mươi đời không? Chính ta đây, có cái thanh khí gì với người Á Đông này, đủ ảnh hưởng mà biến hóa được tâm hồn thần trí người ta không? Đọc sách ông Phạm Quỳnh, thấy được yên lòng: ta biết rằng cái cổ học của người Tàu, cái học cũ bằng chữ nho, thật đã nặng nề cho dân An Nam như một cái ách vậy, làm cho mất cả cái tính cách cố hữu đi. Nhưng may sao (đây là tôi trích hẳn lời của tác giả), “nước Pháp lại sang kịp để giúp sức cho sự phản đối với cái cổ học áp ức ấy, và nước Pháp là một nước có lịch sử quảng đại, có văn hóa hợp với nhân đạo, có cái “lý tưởng chủ nghĩa” bàng bạc khắp mọi nơi, khiến cho đến những việc làm vụ lợi cũng phảng phất có cái khí vị nhân nghĩa, nhờ nước Pháp mà sẽ gây ra một cuộc tiến hóa mới, tôi chắc rằng sau này có ảnh hưởng tốt cho dân tộc chúng tôi”.

Nhưng mà cứ xét mấy câu vừa trích đó, hoặc có người không biết cho là những lời siểm nịnh tán tụng nước Pháp, mà tôi đây muốn lược thuật một quyển sách chỉ rặt những câu phỉnh hót như thế, chẳng cũng là khờ lắm dư? Không phải thế đâu. Những lời phán đoán của ông Phạm Quỳnh là có chứng cớ chắc chắn cả; ông dẫu có khen cái chính thể bảo hộ của nước Pháp, là biết mà khen, chứ không phải hèn mà nịnh. Tuy có khen cái công nghiệp của nước ta ở Đông Pháp này, nhưng cũng hiểu rõ rằng tựu trung còn có điều nguy hiểm, sự khó khăn… Tuy có cám ơn người bảo hộ nước mình, nhưng điều gì nên khuyên răn cũng biết khuyên răn, nên chỉ bảo cũng biết chỉ bảo.

Tỏ ra cho biết rằng tuy người An Nam đã thoát ly được cái ách người Tàu, nhưng cũng không nên nhất đán làm cho mất hẳn những điều cương thường đạo lý ở trong chữ nho, là cổ điển của nước Nam từ xưa đến nay; ví như một cái cây, muốn cho sinh hoa kết quả, không nên làm cho bật rễ lên, phải bón sới đất, phải sén cắt cành, mà chiết mà ghép cho khéo. Ta có cái nghĩa vụ cao thượng phải giúp cho dân An Nam càng ngày càng thấu rõ cái quốc tuý của mình, quốc túy ấy tuy phải giam hãm trong cái cổ học của người Tàu bấy lâu mà không đến nỗi héo hắt hẳn, đã từng xuất hiện ra một lối văn chương cũng lạ, như những câu ca dao rất phong thú kia, và như quyển truyện Kiều nọ, thật là một bộ Mireille của người Việt Nam vậy. Không những thế, dân An Nam không một mong ta giải phóng về đường ấy mà thôi. Ông Phạm Quỳnh cho ta được cái danh dự tin rằng ta không đến nỗi phản bội cái tinh thần nghĩa hiệp, cái chủ nghĩa quảng đại là gốc lịch sử của nước ta, ông tin rằng ta không có cái chủ ý muốn nô lệ những dân ta bảo hộ.

Nói tóm lại thời sách ấy hay lắm, có ích lắm. Tỏ cho ta biết một người tính tình cao thượng, bụng dạ chân thành, lại tỏ cho biết cái hồn tính của cả một dân tộc nữa. Bày rõ những cái lẽ thâm trầm nó khiến cho người Pháp người Nam có thể thân yêu nhau được, – lẽ ấy nhiều người Pháp ở thuộc địa còn không ngờ tới, tiếc thay! Sách ấy làm cho ta vừa có thể tự cao, lại vừa biết đem lòng tôn trọng cái lịch sử đã hai mươi thế kỷ của một dân tộc có trí khôn, có bụng khá. Sách ấy là quyển kinh nhật tụng của người Pháp ở thuộc địa vậy.

Sérénus

(France – Indochine, 1er Septembre 1923)


[*] Báo France Indochine là một tờ báo tây có giá trị ở Bắc Kỳ, mới rồi có đăng một bài xã thuyết ký là Sérénus (số 1/9/1923-PT chú), nghe đâu là biệt hiệu của một quan giáo tây có danh giá ở Hà Nội. Bài ấy bình phẩm quyển  Mấy bài diễn thuyết ở Paris của tôi, có nhiều lời quá khen, tôi tự xét thật không xứng đáng chút nào. Tôi cũng ngần ngại không muốn lục đăng bài ấy ra đây, nhưng nghĩ rằng lời khen của một vị quí quan ấy không là khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam ta, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công đồng lãm. Người quí quốc đã có người yêu trọng người nước ta như thế, không cho là một “dân tộc trẻ con” nữa, mà cho là cũng có người có tư cách xứng đáng, có thể sánh vai giao tiếp được với mình (…) kẻ tri thức trong nước ta, chắc ai cũng lấy làm mong mỏi vậy. Về phần riêng tôi, thì tôi xin có lời thành thực cám ơn vị quí quan nào chưa từng biết tôi bao giờ mà có bụng yêu tôi như thế, quá khen tôi bằng những lời vàng ngọc quí hóa như thế. P.Q

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: