Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 6, 2010

Công minh lịch sử và công bằng xã hội – Gs Văn Tạo

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:10 chiều

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 8 năm 2010.

CÔNG MINH LỊCH SỬ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Gs Văn Tạo

Nguyên viện trưởng

Viện Khoa học Lịch sử Việt Nam

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Gs Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lịch sử Việt Nam đăng trên báo Nhân Dân cuối tuần số 19 (379) ra ngày 5/5/1996 mà giáo sư mới gửi cho Blog PhamTon. Sau đó đã được hàng chục báo và tạp chí trong nước đăng lại, tạo một chuyển biến trong nhận thức không phải chỉ trong giới sử học mà còn rộng rãi trong nhân dân và được sự đồng tình, nhất trí cao.

Riêng giáo sư Văn Tạo đã vận dụng quan điểm này và “làm được nhiều điều bổ ích” như lời ông nói. Cụ thể là:

1)      Làm rõ công lao lịch sử của họ Khúc, nhờ sự nghiệp cải cách hành chính mà giành được quyền tự chủ, mở đầu cho truyền thống cải cách, đổi mới của dân tộc ta.

2)      Giải oan cho họ Mạc với quan điểm “Nhà Mạc không phải là ngụy triều”, đã có cống hiến đáng trân trọng vào lịch sử dân tộc.

3)      Dựng lại công tích của họ Trịnh, đã góp phần tích cực vào việc giữ gìn độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, nổi bật nhất là việc đã thu hồi lại được mỏ đồng Tụ Long và một vùng lãnh thổ cho Tổ quốc.

4)      Làm rõ sự nghiệp đổi mới của Lý Công Uẩn, trọng tâm là “Đổi mới đế đô” để từ đó mà đổi mới mọi mặt của đất nước.

5)      Đánh giá lại con người và công lao của Trần Thủ Độ đối với vương triều Trần cũng như đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc.

6)      Góp phần làm rõ sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly, coi thất bại của nhà Hồ chủ yếu là do ngoại xâm, khẳng định những cống hiến nhất định của cải cách Hồ Quý Ly cho lịch sử dân tộc.

7)      Nhận thức rõ con người và sự nghiệp của Đào Duy Từ, từ chỗ biết “Đổi mới vị thế xã hội” của mình, góp phần “Đổi mới cả xã hội”. Chỉ trong vòng 8 năm đã đưa xã hội Đàng Trong phát triển toàn diện.

8)      Đánh giá đúng cuộc cải cách hành chính của Minh Mệnh – những cống hiến tích cực và những hạn chế lịch sử của nó.

9)      Đánh giá cao những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ, nhất là về “Đổi mới tư duy” – một nhân tố quan trọng trong cải cách, đổi mới.

10)  Khẳng định công lao dựng nước của Phan Thanh Giản cùng những hạn chế lịch sử của ông trong đấu tranh giữ nước.

11)  Khẳng định Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước có xu hướng canh tân, đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới đất nước.

12)  Khôi phục vị trí xã hội và sự nghiệp cứu nước của nhà yêu nước Nguyễn Mậu Kiến, đã bị xử lý sai trong cải cách ruộng đất.

13)  Làm rõ những thành quảsai lầm của cải cách ruộng đất, góp phần vào việc đánh giá nhiệm vụ quan trọng này của Đảng trong tiến trình cách mạng.

14)  Đánh giá đúng cống hiến của Tự lực văn đoàn cho văn học cận đại nước nhà từ khi tổ chức này ra đời cho đến năm 1940 và đề nghị cho dựng lại di tích trụ sở của tổ chức này ở thị trấn Cẩm Giàng, Hải Dương làm nhà lưu niệm.

15)  Khẳng định tội ác của phát xít Nhật – Pháp làm 2 triệu người Việt Nam chết đói năm 1945 nhờ vào kết quả điều tra xã hội học lịch sử có sức thuyết phục.

16)  Công minh phê phán sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản đã biên soạn là quân Nhật vào lục địa châu Á để giải phóng các dân tộc châu Á khỏi ách thực dân da trắng. Thực tế là để xóa nhòa tội ác xâm lược của họ.

17) Góp phần thực hiện “Công minh lịch sử” đối với chủ bút báo Nam Phong: Phạm Quỳnh.

18)  Góp phần làm rõ về “Một góc cuộc đời của nhà Sử học Trần Huy Liệu”

19)  Cảnh báo về nạn Ma-phi-a, góp phần vào nhiệm vụ ổn định xã hội.

*

*  *

Trong lịch sử xã hội, mọi sự nghiệp của các nhân vật lịch sử thường được xã hội đánh giá một cách công minh. Khi chưa có lịch sử thành văn thì nhân dân đánh giá bằng cách truyền miệng. Tới khi có lịch sử thành văn, sự đánh giá đó thường được giao cho các nhà sử học ghi chép lại.

Các triều đại phong kiến trước đây, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, các triều đình thường trao cho các nhà sử học quyền được ghi chép lại lịch sử một cách trung thực để rút ra những bài học cho đời sau, thậm chí cho ngay cả vua quan và thần dân đương đại.

Sử cũ còn ghi: Lê Thánh Tông (một vị vua anh minh, giỏi giang vào bậc nhất trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam) đã tin tưởng trao cho sứ thần Lê Nghĩa (gốc ở Thanh Hà, Hải Dương) trách nhiệm và quyền hạn như vậy. Trong đó, có đặc quyền là ghi về hành động của nhà vua mà vua không được xem.

Một lần, vua sai nội quan đến nói với Lê Nghĩa là: “Vua muốn xem ghi chép hằng ngày từ năm Quang Thuận thứ I (niên hiệu của Lê Thánh Tôn – VT) đến năm thứ 8”. Lê Nghĩa trả lời: “Vua mà xem bút sử, hẳn không phải là việc hay…”. Nội quan nói: “Vua bảo là xem những ghi chép hằng ngày để biết trước đây có lỗi gì còn có thể sửa được”. Lê Nghĩa nói: “Chỉ cần bệ hạ gắng làm điều hay thôi, việc gì phải xem quốc sử.” Nội quan dụ bảo nhiều lần, Nghĩa nói: “Thánh chúa nếu biết sửa bỏ lỗi lầm thì đó là phước lớn vô hạn của xã tắc. Thế dẫu không khuyên can mà cũng là khuyên can”. (Đại Việt Sử ký toàn thư, tập II, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985, trang 427).

Đó là thời phong kiến và dưới triều đại các vua anh minh. Còn triều đại các vua kém anh minh, nhất là các hôn quân thì điều đó khó có thể có được.

Ngày nay, quyền ghi chép đó thuộc về nhân dân, mà dưới ánh sáng của lý luận Mác-Lê-nin thì nhân dân và các nhà sử học chân chính do nhân dân trao trách nhiệm, phải thực hiện cho được tính công minh lịch sử theo đúng tư tưởng Mác-Lê-nin.

Các nhà kinh điển này đã cho chúng ta những mẫu mực trong việc đánh giá sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách công minh.

Trước hết, như Các Mác đã đánh giá sự nghiệp của Na-pô-lê-ông đệ nhất. Khi Na-pô-lê-ông lãnh đạo nhân Pháp đấu tranh giải phóng được nước Pháp, Mác ca ngợi là một vĩ nhân, một anh hùng của dân tộc Pháp. Nhưng sau đó say sưa thắng lợi muốn thực hiện tham vọng bá chủ châu Âu Na-pô-lê-ông đã đưa quân đi xâm lược các nước châu Âu. Nhưng, xâm lược tới Nga đã bị nhân dân Nga đánh cho thua xiểng liểng. Khi thất trận từ Nga trở về thì cả châu Âu lục địa vừa mới bị xâm chiếm đã nổi dậy chống lại, đánh cho tan tành và bắt Na-pô-lê-ông cầm tù ở đảo Sanh-Hê-len. Đến đây, Na-pô-lê-ông đã bị Mác phê phán là một tên xâm lược, kẻ phản bội, bôi nhọ lịch sử nước Pháp…

Còn Lê-nin thì, điển hình là việc đánh giá sự nghiệp khoa học và cách mạng của Plê-kha-nốp. Khi bước vào cách mạng, Plê-kha-nốp đã được Lê-nin đánh giá cao, coi là nhà kinh tế học Mác-xít lỗi lạc, có cống hiến lớn trong việc truyền bá lý luận kinh tế học Mác-xít vào nước Nga. Nhưng về sau, do sai lầm trong nhận thức xã hội và quan điểm cách mạng, đã đứng vào hàng ngũ Men-sê-vích chống lại đường lối Bôn-sê-vích thì Lê-nin đã có lúc phê phán và mệnh danh là tên phản bội Plê-kha-nốp.

Nhưng, theo nguyên tắc công minh lịch sử, cân nhắc giữa công và tội, Lê-nin và các thế hệ cách mạng sau vẫn tôn vinh Plê-kha-nốp, đặt ông đúng ở vị trí lịch sử của ông. Tên ông vẫn được lấy để đặt cho một trường đại học kinh tế lớn nhất Liên Xô xưa là Đại học Plê-kha-nốp, nơi mà nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam ta đã có vinh dự được đào tạo ở đó.

Sử học Việt Nam ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và đi theo tư tưởng khoa học và cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng công minh đánh giá nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử.

Nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này, chúng tôi cũng xin phép được kể một câu chuyện về Bác là: Khi Bác còn là anh Nguyễn, một lần vào xem Bảo tàng Na-pô-lê-ông ở Pa-ri, khi ra có người “xin anh Nguyễn cho biết cảm tưởng”, Bác nói ngắn gọn: “Đây là một vĩ nhân nhưng không tri túc”. Nếu Na-pô-lê-ông tri túc, tức biết đủ, thì đã không tiến hành xâm lược châu Âu và vẫn là một vĩ nhân. Nhưng vì không biết đủ nên đã trở thành kẻ tử tù, thành tên phản bội nhân dân Pháp.

Trong lịch sử thế giới từ đó đến nay vẫn còn có những người không “Tri túc” như thế. Ngày nay, tiếp thu những bài học lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta cũng đã công minh đánh giá lại sự nghiệp của các triều đại mà các sử gia phong kiến coi là Ngụy, là Nhuận, như Ngụy Tây Sơn, Nhuận Hồ, Ngụy Mạc. Chúng ta coi đó là những triều đại đã có cống hiến nhất định cho lịch sử dân tộc. Chúng ta cũng coi trọng những cống hiến của các chúa Nguyễn ở miền Nam nhưng không thể không phê phán tội làm mất nước của nhà Nguyễn. Chúng ta đã đánh giá đúng những đóng góp vào lịch sử dân tộc của Phan Thanh Giản, Phan Châu Trinh nhưng cũng không quên những hạn chế lịch sử, hạn chế giai cấp của các nhân vật lịch sử đó. Chúng ta cũng phân biệt rạch ròi giữa Việt Nam Quốc dân Đảng chân chính yêu nước (thời kỳ 1927 đến tháng 2-1930) với Việt Nam Quốc dân Đảng phản động thời kỳ sau, nhất là từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp.

Ngày nay, trong sự đổi mới, để thực hiện công bằng xã hội một trong 4 mục tiêu cần phấn đấu hiện nay là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Đảng và nhà nước ta cũng thực hiện công minh lịch sử trong việc khen thưởng, đãi ngộ những người có công và thi hành kỷ luật, trừng phạt đích đáng những kẻ có tội. Cả đến cấp bậc Bộ trưởng mà khi phạm sai lầm cũng bị xử lý nghiêm minh.

Làm như vậy không chỉ để thực hiện công bằng xã hội mà còn để đề cao tinh thần trách nhiệm trước dân tộc, trước nhân dân và trước cả lịch sử của mọi chức vụ và quyền hành. Bởi vì lịch sử mà chủ thể của nó là quần chúng nhân dân luôn luôn sáng suốt và công minh.

Nếu trước mắt chúng ta chưa thực hiện được sự công minh đó thì mai kia hay sau này quần chúng nhân dân vẫn cứ làm sáng rõ như chúng ta đã thấy về quá khứ, đối với nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, nhân dân đã thực hiện một cách nghiêm minh.

V.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: