Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 20, 2010

Người yêu quí của đại gia đình Phạm Quỳnh – Phạm Tôn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:44 sáng

Blog PhamTon, tuần  4 tháng 8 năm 2010.

NGƯỜI YÊU QUÍ CỦA ĐẠI GIA ĐÌNH  PHẠM QUỲNH

Phạm Tôn

Người yêu quí của mấy thế hệ trong đại gia đình Phạm Quỳnh là một người cùng tuổi Nhâm Thìn với ông

Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1955, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới từ Khu học xá Trung ương đóng ở Nam Ninh ( Trung Quốc) về nhà bà chị cả Phạm Thị Giá ở Hà Nội. Người đầu tiên ông hỏi thăm là “Anh Hạt”. Sau đó, nhạc sĩ diện bộ đại cán Tôn Trung Sơn mới cứng bằng dạ, đưa cụ đi đến hiệu ảnh, cùng chụp một bức toàn thân; cụ mặc áo dài, khăn đóng chỉnh tề.

Cả đại gia đình Phạm Quỳnh đều quí mến và thương nhớ Anh Hạt – Bác Già, người thân của đại gia đình từ hơn nửa thế kỷ.

Cụ Nguyễn Văn Hạt, sinh năm 1892 tại Đức Triêm, Kim Động, Hưng Yên, là con ông Nguyễn Văn Vương và bà Lê Thị Lan. Cụ sống với gia đình Phạm Quỳnh từ hồi mới ra báo Nam Phong, năm 1917.Và mất ngày 18-2-1972 tại bệnh viện Bạch Mai Hà Nội.

*

*      *

Một tối đi làm về, chủ bút trẻ tuổi của báo Nam Phong bắt gặp trước nhà mình một thanh niên gầy, yếu đang nằm thoi thóp thở nặng nhọc. Ông đưa vào nhà, cùng vợ săn sóc. Hỏi chuyện mới biết hồi ấy ở quê nhà có bệnh dịch lớn, chú em tên là Vi chết đầu tiên, rồi chỉ trong vài tháng, cả nhà cũng lây bệnh mà lần lượt đi theo chú ấy. Còn sót lại một mình Nguyễn Văn Hạt…. Mệt mỏi, đói rét, hoang mang, tinh thần hoảng loạn, anh theo đám bà con cùng quê kéo nhau lên Hà Nội kiếm sống. Rồi mệt lả, nằm ở trước cửa căn nhà nhỏ này tự lúc nào không biết…. Sau mấy ngày nghỉ ngơi ăn uống, anh đã lại sức, Phạm Quỳnh mới hỏi dự định sau này thế nào thì anh Hạt thưa là chưa biết ra sao. Bàn bạc với vợ xong, Phạm Quỳnh đưa anh một món tiền, dẫn đến chỗ tá túc từ thiện của một người quen, rồi bảo mua lạc rang mà bán cũng sống tạm được như bao người khác ở quê ra bấy giờ. Được mấy hôm thì một tối thấy anh Hạt đến nhà, thăm hỏi và biếu một gói lạc rang húng lìu nóng giòn, thơm phức. Vợ chồng Phạm Quỳnh hài lòng và khuyến khích anh cố gắng trong việc làm mới. Còn nhắc, khi nào có khó khăn, cứ đến nhà, sẽ tìm cách giúp… Không ngờ, chỉ hơn tuần sau, anh Hạt đã đến, khóc lóc, nói bị lừa hết cả tiền. Phạm Quỳnh suy nghĩ rồi bảo ngày hôm sau đến nhà sớm để ông dẫn đi làm việc mới. Ông đưa đến tòa soạn Tạp chí Nam Phong, giao cho việc đưa bài vở đến nhà in Đông Kinh của ông Lê Văn Phúc ở gần đó, chỉ cách vài con phố, đi bộ không mất đến 15 phút. Được vài hôm thì nhà in gọi đến báo là bài vở đưa chậm quá. Hỏi  thì ra tuy là đường đi rất gần, nhưng do anh Hạt hay đi lạc đường, nên thường đưa muộn, lỡ kế hoạch của nhà in. Lúc ấy , Phạm Quỳnh mới nhận ra là tuy thật thà như đếm, nhưng bị choáng quá mạnh và kéo dài hàng mấy tháng trời do người thân lần lượt qua đời ngay trước mắt mình, anh không còn minh mẫn và thường đãng trí. Đã giúp thì giúp đến cùng. Thế là Phạm Quỳnh chỉ còn cách đưa anh về nhà mình, làm được việc gì thì làm; mỗi việc, mỗi dặn dò kỹ càng và có gì sai sót, quên làm thì cũng không trách mắng, than phiền gì. Từ đấy, anh Hạt, ông Hạt, rồi cụ Hạt sống với đại gia đình Phạm Quỳnh. Đun nước, pha trà, quét dọn, phơi sách báo và làm những việc vặt khác. Phạm Quỳnh và vợ thường gọi là Anh Hạt, rồi các con Phạm Quỳnh cũng quen gọi là Anh Hạt. Đến các cháu Phạm Quỳnh cũng cứ theo người lớn mà gọi là Anh Hạt, mặc dù đến đời cháu Phạm Quỳnh thì anh đã thành cụ rồi.

Một hôm, sau khi đi họp khu phố về, cụ nói với một cháu ngoại Phạm Quỳnh là muốn từ nay, cả nhà gọi mình là Bác Già. Từ đó, cả nhà gọi cụ là Bác Già thân thiết như gọi Anh Hạt khi xưa

Sau khi Phạm Quỳnh vào Huế, anh Hạt vẫn sống ở nhà số 5 phố Hàng Da Hà Nội, cùng gia đình bà Giá. Năm ấy, bà Giá sinh còn gái đầu lòng. Rồi hai gái nữa và hai trai. Khi bé gái thứ ba, vốn là đứa trẻ khỏe mạnh vui vẻ, mất lúc mới lên sáu, thì anh Hạt khóc rất lâu và đòi đưa bé đến tận nghĩa trang, tự tay lấp đất. Các con bà Giá đều yêu quí anh Hạt, luôn nhờ cái này, xin cái nọ. Đến con trai thứ ba của bà thì anh Hạt thật vất vả. Vì chiến tranh, trường Thăng Long chồng bà dạy phải sơ tán về Ba La Bông Đỏ (Hà Đông). Cả nhà đi theo. Thằng bé cứ khóc suốt đêm, hàng xóm kêu ca, anh Hạt phải đưa bé về với bố, hồi ấy còn làm việc ở Hà Nội để một bà vú em trông nom. Anh Hạt vừa lo cơm nước cho cả nhà, vừa lo dỗ em vốn chưa quen với bà vú. Rồi bà Giá sinh con gái út, đúng lúc đại gia đình gặp cơn biến lớn. Một thân một mình với đàn con nhỏ sáu đứa, lớn nhất mới 13, nhỏ nhất còn ẵm ngửa. Anh Hạt lại một phen vất vả giúp bà. Sau này, tản cư về làng Tràng Cát ( Hà Đông), anh Hạt đi sau, mang đồ đạc nhiều, chỉ lo mất, rốt cuộc đồ không mất nhưng… người thì lại bị lạc! Mươi hôm sau mới tìm về được với gia đình. Cả nhà quá mừng sau những ngày lo và thương. Tản cư chưa yên chỗ thì giặc Pháp đến, lại chạy về Nam Định. Ở được mấy năm thì con gái thứ hai bà Giá bị lao, chỉ còn cách về Hà Nội giặc còn tạm chiếm mới mong sống sót. Anh Hạt lại lẽo đẽo theo bà đưa con gái và hai đứa nhỏ nhất đi. Hai năm sau thì cô gái mất, anh Hạt thương khóc đến mấy ngày, ông càng ngày càng mau nước mắt. Rồi cũng đến ngày gia đình sum họp, ông Hạt ôm chầm lấy mấy đưa con bà Giá đành bỏ lại khi ra Hà Nội. Và khóc rất nhiều, nhưng vui. Moi việc lớn nhỏ trong nhà đều gắn bó với ông, ông thương các con bà Giá như người ruột thịt. Cả nhà cũng không ai nỡ nói nặng với ông một lời…

Ngày tết, giỗ của gia đình, ông đều nhớ kỹ. Từ sáng sớm đã áo the khăn đóng đốt những nén nhang đầu tiên trên bàn thờ, rồi pha trà cúng…Sau khi con gái thứ mất, bà Giá đau buồn quá, tìm nơi an ủi ở Đạo Cao Đài. Ông Hạt cũng theo đạo từ đó…

Khi con trai cả bà Giá được đi học Đại học Bách Khoa, là lúc gia đình đã sa sút lắm rồi. Anh đi dạy kèm tư gia. Còn con trai thứ thì đi bán báo, sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Sáng nào cũng thức dậy từ ba giờ, lén xuống bếp, rang cơm ăn để còn kịp đến chỗ nhận báo lúc bốn giờ. Được hai hôm, đến hôm thứ ba, xuống bếp đã thấy Bác Già nổi lửa rang cơm cho mình rồi. Tối đến, anh lại dạy ông học đọc, học viết… Cô con út bà Giá tình nguyện đi xây dựng miền núi, lên chăn cừu ở nông trường Mộc Châu. Nghe tin cô bị ốm, gia đình định đánh điện lên hỏi thăm nhưng gặp lúc hết sạch cả tiền. Bác Già mở cái hòm gỗ riêng ra tìm tiền đưa cho thì anh cô thấy trên mặt trong nắp hòm có dán mấy bức ảnh chụp hỏng bị người nhà xé và vứt bỏ từ bao giờ. Bác Già quí hóa nâng niu tất cả những gì của gia đình.

Thời chống Mỹ, Hà Nội sơ tán triệt để. Anh con thứ nay làm ngành giao thông được ở lại Hà Nội. Bác Già sống cùng, nhưng ăn cơm tháng ở chợ Hàng Da, vì nhiều hôm anh không về. Những hôm anh về, Bác Già thật vui. Hai bác cháu đi bộ ra khách sạn Phùng Hưng. Đến nơi, anh hỏi bác nhớ chưa, bác đáp nhớ rồi và nói như đọc : “ Anh một bát cháo lòng ba hào, bác một đĩa lòng tám hào, một chén rượu quýt năm hào, không được đòi thêm”, rồi cười hiền hậu

Năm 1972, giáp Tết, trời rét đậm, Bác Già đổ bệnh, phải nằm bệnh viện Bạch Mai. Mọi việc điều trị do bác sĩ Phạm Khuê là con trai Phạm Quỳnh lo. Việc chăm sóc, giặt giũ thì vợ chồng con trai cả bà Giá lo. Con trai út bà hồi ấy mới có người yêu, cả hai cùng đến chăm sóc bác, “thay ca”  vợ chồng anh cả. Con trai thứ vốn yếu, được miễn trực, cùng mẹ lo cái ăn, đồ uống.

Rạng sáng mồng bốn tết giá lạnh, đúng phiên “giao ca”, Bác Già ra đi khi chỉ còn một mình… Hôm sau, bệnh viện báo, gia đình mới biết. Bà Giá và vợ chồng con trai cả đang bàn bạc thì con trai thứ đi làm về nhà biết tin đã quay lại vay tiền công đoàn, đưa ông anh lo tang lễ, rồi đèo mẹ bằng xe đạp đến nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên. Báo tin thì nhạc sĩ nói vừa may có món tiền nhuận bút Hải Phòng gửi cho nên đưa cả cho chị và hẹn sáng hôm sau đến sớm đưa tang. Đến nhà bà Phạm Thị Thức, con gái thứ hai của Phạm Quỳnh, thì bà khóc, nói là năm nay, trường Đại học Y khoa có biếu một “món tiền ăn Tết”, nghĩ mà tủi, vì chồng vừa mất nên mới có món tiền này. Cứ để đấy không tiêu mà định là khi nào ông Hạt đi thì sẽ đưa chị. Sau đó, hai mẹ con bà Giá ghé Thánh Thất Cao Đài rồi ngay về ngay nhà, đóng cửa lại, lập một bàn thờ với hoa, quả mua trên đường về. Nhưng bàn thờ không có ảnh sao được. Bác Già chỉ có ảnh trong chứng minh thư, nhỏ quá; ảnh to hơn thì lại chụp với nhạc sĩ Phạm Tuyên, không dùng được. Năm ấy, chụp lại một bức ảnh là việc không thể được. Con thứ bà nhớ ra là anh cả tài hoa, có lần đã yêu cầu Bác Già ngồi thật nghiêm chỉnh một lúc lâu để vẽ một bức chân dung màu nước. Ai ngờ, bức chân dung màu ấy, nét mặt tươi tắn, sinh động lại thành ảnh thờ. Vừa mở cửa thì bà con khu phố đến viếng. Thật may quá…

Sáng hôm sau, cả gia đình bà Giá và nhạc sĩ Phạm Tuyên đưa tiễn Bác Già về tận nơi an nghỉ  cuối cùng…

Thật ra, căn cứ vào lời khai của người bệnh khi lập hồ sơ là không cha, mẹ, không anh em , vợ con nên bệnh viện Bạch Mai đã lên danh sách mai táng như người vô thừa nhận. Anh con cả báo với bà Giá tin ấy, bà khóc ròng và nói: “ Sao ông ấy lại không có người thân! Cả nhà mình là người thân của ông ấy chứ…” Và tang lễ đã tổ chức với đủ mọi nghi thức, lại còn cúng và cầu siêu ở cả Thánh Thất Cao Đài Hà Nội .

Từ đó, nhà bà Giá và sau này là  các con bà, hằng năm thêm một cái giỗ vào mùng 4 Tết, bàn thờ không bao giờ thiếu rượu, vài món đồ nhắm và ít thuốc lá…

Bao Giờ, Anh Hạt – Bác Già cũng là người yêu quí của cả đại gia đình Phạm Quỳnh.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 4/8/2010.

P.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: