Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 20, 2010

Phạm Quỳnh, đa cảm đa tình, nặng lòng với quê hương – Khúc Hà Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:43 sáng

Blog PhamTon, tuần 4 tháng 8 năm 2010.

PHẠM QUỲNH

Đa cảm đa tình, nặng lòng với quê hương

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi trích đăng phần lớn bài đăng trên tạp chí Văn nghệ Hải Dương số 93, tháng 3/2010 các trang 16,17,18 và 23.

—o0o—

Phạm Quỳnh (hiệu là Thượng Chi, bút danh Hoa Đường), là con trai duy nhất của ông tú Phạm Hữu Điển và bà Vũ Thị Đoan. Tuy sinh ra trên đất Hà Thành, nhưng quê quán ông lại là làng Hoa Đường (nay là Lương Ngọc) xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng nổi tiếng khoa bảng, có truyền thống hiếu học.

(…)

Con người ấy đa tình, đa cảm và nặng lòng với cố hương…

Thuở bé Phạm Quỳnh yếu ớt, sài đẹn, lên đậu mùa mặt rỗ hoa; chín tháng tuổi, thì mẹ mất, chín tuổi thì mất cha. Bà nội vừa làm bà, vừa làm mẹ nuôi cháu thay người con dâu xấu số của mình. Phạm Quỳnh lớn lên từ những quả táo vườn, những nắm rau tập tàng bòn mót trong chiếc vườn đất làng Tự Tháp (tức phố Hàng Trống bây giờ).

Phạm Quỳnh từ nhỏ đã biết vâng lời, siêng năng, học giỏi. Ban đầu học chữ Hán nhưng không vào, vất vả lắm mới viết được hai chữ tên mình: Phạm Quỳnh. Một lần, nhân ăn giỗ tại nhà thờ họ Vũ, bà nội thắp hương khấn gia tiên cho cháu được theo Tây học để sau này ấm vào thân. Thoạt tiên Phạm Quỳnh học trường tiểu học Pháp – Việt phố Hàng Đào gần nhà, không phải học phí, sau được vào học Pháp văn  ở trường Thông ngôn. Năm 1908 Phạm Quỳnh thi tốt nghiệp, đỗ thủ khoa. Người dân Hà thành trầm trồ khen: Người gốc Hoa Đường có khác, thời nào cũng hay chữ; xưa Nho học đỗ ông nghè, ông bảng, nay Tây học thì lại làm ông phán ông tham… Mà thực, Phạm Quỳnh hầu như tất cả các môn tiếng Pháp đều đạt điểm tuyệt đối.

16 tuổi Phạm Quỳnh đi làm, giữ chân thủ thư và thông ngôn ở Trường Viễn Đông Bác Cổ, cùng thời với Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Bá Trác. Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến công sở làm việc, Phạm Quỳnh thường phải đi qua một cửa hiệu đồng hồ. Không biết đã bao nhiêu lần ngắm nghía chiếc đồng hồ bày trong tủ kính, nhưng không dám nghĩ đến chuyện mua.

Đi làm được hơn một năm, Phạm Quỳnh nghĩ tới chuyện phải lấy vợ sớm để có điều kiện giúp đỡ bà. Chẳng hiều duyên số ra sao, Phạm Quỳnh kết hôn với một thôn nữ, người làng Nhân Vực, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên), một vùng quê văn hiến lâu đời, có làng nghề, làng buôn và nổi tiếng về truyền thống khoa cử.

Thanh niên dòng dõi nho học, tốt nghiệp trường Thông ngôn tây học, nhưng vợ không biết chữ, mới nghe chẳng mấy người tin. Mà thật. Lê Thị Vân con ông ký Lê Văn Hùng, do lề thói cũ, con gái nhà quê không được đi học. Bù lại, bà thông mình và có trí nhớ đặc biệt, chỉ nghe cha kể mà thuộc nhiều truyện nôm, truyện cổ tích. Bà thuộc ca dao tục ngữ, hiều chuyện về trung hiếu tiết nghĩa, ca ngợi vẻ đẹp quê hương… Những câu hát ví, hát đúm, hát quan họ tràn ngập tình yêu đôi lứa, tình yêu làng xóm ruộng vườn cứ bám riết lấy tuổi thanh xuân của bà.

Phạm Quỳnh mồ côi mẹ, từng được nghe bà hát những bài ru con trong những đêm hè, đã thấm sâu vào tâm trí. Giờ đây, những khi ở công sở đi làm về, lại được nghe những lời ca, những câu dân ca giàu tiết tấu giai điệu từ người vợ thảo hiền, Phạm Quỳnh thấy lòng mình thư thái. Những bữa ăn, bên mâm cơm, bà cháu, vợ chồng chuyện trò thân thiết, mời chào, nghe những câu chuyện vợ kể, Phạm Quỳnh càng thấy ngôn ngữ mẹ đẻ thật sống động. Sự phong phú tiếng Việt ngấm dần trong máu thịt Phạm Quỳnh có dịp tuôn trào nơi đầu bút càng làm tăng thêm giá trị văn chương của ông.

Chiếc cầu sắt (Cầu Long Biên) mới xong bắc qua sông Cái, làm cho quê vợ ông như gần lại. Những ngày được nghỉ hoặc có công việc ở quê, Phạm Quỳnh thường đưa vợ về thăm. Phạm Quỳnh bước đi trên con đường làng, hai bên là cánh đồng xanh ngắt lúa ngô, ra đồng thăm cảnh ruộng vườn, chứng kiến người nông dân hát những câu ví, hát giao duyên, hát trống quân, được nghe họ trò chuyện với nhau có pha nhiều dân ca, tục ngữ… Cứ như những giọt mưa thấm dần vào đất, trong tâm hồn ông bao vẻ hay nét đẹp của tiếng Việt đã thấm thía tự lúc nào. Có lẽ vì thế mà trong cuộc đời hoạt động văn hóa của Phạm Quỳnh, những tinh hoa của tiếng mẹ đẻ, của quốc văn vừa phong phú lại có dịp xuất thần?

Lấy nhau năm trước, thì năm sau họ sinh con đầu lòng, đặt tên là Giao. Cha Quỳnh, con Giao là ước mong có gia đình đầm ấm. Hai năm sau lại một bé gái nữa ra đời, đó là Phạm Thị Giá.

Tính ra ông bà đã sinh hạ 16 người con, nhưng bỏ mất ba, còn lại 13 người: 8 gái 5 trai.

Tuy đông con nhưng ông yêu thương tất cả, không hề phân biệt gái trai, lớn bé. Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên thì trong nhà, các con gọi cha mẹ bằng tên âu yếm: thầy, me.

Năm 1922 Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa với tư cách Tổng Thư ký Hội Khai trí tiến đức, ông đã có sáu người con.

Xa quê, mỗi khi đến thăm và ăn cơm nhà bạn, thấy con người khác, ông lại liên tưởng đến con mình. Ông ra hiệu ảnh chụp hình gửi về cho vợ cho con. Đi diễn thuyết, báo chí nước ngoài đã xin đăng bài, còn xin đăng ảnh người thân của ông trên báo, ông cũng không từ chối. Chính vì thế bây giờ gia đình ông mới còn được tấm ảnh cha bế con rất thú vị. Ông nhớ tết trung thu cổ truyền dân tộc; nhớ tới những người con đang tầm tuổi vui chơi nhí nhảnh dưới ánh trăng mát rượi của quê nhà. Bây giờ đọc lại những trang nhật ký mới thấy từ 24 tháng 6 năm 1922 dương lịch, tức là ngày 29 tháng 5 âm lịch, còn cách xa rằm trung thu hai tháng rưỡi, ông đã nhớ đi mua quà, đồ chơi gửi về cho con: “Thứ bảy, 24/6: cơm trưa rồi đi chơi cừa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.”

Năm ấy người con lớn nhất là Phạm Giao mười một tuổi, Phạm Thị Ngoạn nhỏ nhất mới được một năm. Ông nhó những bữa ăn trong gia đình, các con trai ngồi bàn với cha, các con gái ngồi sập với mẹ. Tiếng bát đĩa, muôi thìa va chạm lách cách vui tai, thảng hoặc có lần chúng sơ ý làm vỡ, ông chỉ nhìn mỉm cười độ lượng. Yêu quý con, có lần ông nói vui rằng mình có 5 chú voi và 8 nàng tiên (5 con trai và 8 con gái). Ông cũng có thú riêng là tự tay chăm sóc các con nếu như có thể làm được. Được cha yêu quý, những người con cũng gần gũi với cha. Những đêm viết lách tới khuya, cô con gái lớn thức dậy thấy cha cặm cụi đèn sách, nhẹ nhàng đẩy cửa vào phòng, Phạm Quỳnh âu yếm bảo con chép sách hộ. Rồi ông nằm trên ghế xích đu mở sách ra dịch. Ông dịch và đọc thẳng chẳng cần nháp, giống như một người đọc cho người kia chép lại. Những kỷ niệm ấy các con ông đều ghi nhớ và kể lại với một tấm lòng thành kính. Năm 1932, cô con gái cả ấy lấy chồng rồi sinh cháu gái đầu lòng. Khi ông chuẩn bị vào kinh thành Huế nhận chức quan của triều đình Bảo Đại. Ông có bệnh dạ dày, chỉ ăn thứ mềm như xôi. Bữa ăn bao giờ ông cũng để dành cho con trai một ít giữa đĩa. Người con trai ấy sau này là nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Biệt thư Hoa Đường nằm bên bờ sông An Cựu (Huế) là tổ ấm của Phạm Quỳnh. Một lần đi Quảng Trị, ông mua một ngôi nhà gỗ lớn, tháo dỡ về lắp trong biệt thự làm nơi sinh hoạt của gia đình. Xung quanh nhà gỗ, chạy một hàng hiên tráng xi măng xanh. Tiếp là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Giữa cảnh thiên nhiên thoáng mát, ngôi nhà là nơi sinh hoạt dịu dàng và trong sạch. Ngay phía sau biệt thự là một bến tắm. Một cây sung già ngả sát xuống mặt nước như thể chiếc ô che. Các con ông mỗi người một phòng riêng và độc lập suy nghĩ theo sở thích riêng, ai cũng biết vẽ, và ham đọc sách báo, thơ, văn. Phạm Tuyên người con thứ chín (con trai thì đứng thứ tư) say mê cả ghi ta lẫn phong cầm, sau này suốt đời gắn bó với âm nhạc.

Những sở thích riêng của các con, bao giờ ông cũng tôn trọng, không gò ép. Gia đình ông có một thư viện, có “tờ báo” riêng của gia đình gọi là Gia đình tuần báo. Lại có hẳn một ban nhạc, ai đó cất giọng lên, thì mọi người hòa âm theo. Ông còn mời thầy đến dạy các con, cháu nhỏ học thêm các buổi chiều và buổi tối.

Phạm Quỳnh hành xử trong cuộc sống có nhiều điểm khác người. Các con ông đều tự tìm người mình yêu thương, không hề có cảnh cha mẹ ép đặt, và ông cũng không quá câu nệ phải “môn đăng, hộ đối”. Ông không hề phân biệt các cháu nội cháu ngoại. Ông cho lập quyển số ghi tên từng người con, lúc sinh cân nặng bao nhiêu, bệnh tật thế nào, tính tình, đến khi trưởng thành lấy vợ, chồng là ai, nghĩa là rất tỉ mỉ, y như một bản trích ngang lý lịch vậy.

Vì thế các con một niềm kính yêu cha, khâm phục vì tài năng đức độ. Chỉ kể chuyện người con dâu út Hoàng Hỷ Nguyên, nữ sinh trường Đồng Khánh – Huế (vợ Phạm Tuân) đối với ông cũng thấy. Năm 2000, trong lần giỗ Phạm Quỳnh, con dâu đã viết một bài văn khấn vô cùng xúc động: “đời thầy là cả một cuộc hành trình dở dang, đầy phiêu lưu, gian truân.. Từ thuở tấm bé thầy đã sớm lìa xa bậc sinh thành, lầm lũi đơn độc trong bàn tay nuôi dưỡng bao bọc của bà nội. Tình nội tổ thay cho tình mẫu tử. Thầy đâu được biết thế nào là tuổi thơ. Thần định mạng đã đoạt đi tuổi thơ ngây vô tư lự ở thầy! Thầy miệt mài học tập, ngày thì theo đuổi nền tây học, giữa buổi giao thời Đông Tây… Đêm tối sắp xuống lại vùi đầu vào sách vở thánh hiền”.

Phạm Quỳnh yêu vợ sâu sắc mà kín đáo. Vào thời điểm năm 1909, Phạm Quỳnh đã được Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương Bác Ngữ (École des Langues Orientales). Vậy mà ông đã không đi chỉ vì không muốn xa vợ, khiến cho nhà trường phải cử Phan Văn Trường đi thay…

Người phương Tây thường bình phẩm đàn bà Việt Nam nhuộm răng đen, giữa đôi môi nhỏ nhắn hồng tươi là một màu tối thẫm mỗi khi cười là xấu. Ngược lại, ông cho như thế là đẹp.

Ông khéo léo gợi ý để bà đọc cho nghe những câu ca dao, những lời ca từ các làn điệu quan họ hoặc những câu thơ trong truyện Nôm mà bà thuộc khi còn sống với cha mẹ. Để đáp lại, bà Lê Thị Vân một mực thương quý chồng, với tình cảm nồng nàn, thiết tha của người đàn bà Kinh Bắc.

Bà cùng tuổi Nhâm Thìn với chồng (bà sinh đầu năm, còn ông sinh cuối năm). Tuy không biết chữ, nhưng có trí nhớ tuyệt vời. Khi còn ở Hà Nội, bà từng tham gia làm thủ quỹ cho Hội Tế sinh. Hội mở trại dưỡng lão ở Phúc Yên, giúp các cụ già neo đơn không nơi nương tựa. Nhiều khi đi làm trở về, Phạm Quỳnh lại giúp vợ làm thư ký, ghi chép tiền nong, và chưa bao giờ sai lệch…

Thời ở Hoa Đường, có những buổi chiều mát, một người làng An Cựu bán chè đậu quen thường đến nhà, các con cháu bà xô lại. Họ thi nhau ăn chè, chẳng mấy chốc đã hết cả gánh chè. Người bán hàng vui lắm, quý gia đình ông quan Thượng sao mà giản dị thân tình. Có khi bà cho cả con cháu vào Hoa Đường chơi với các cậu ấm, cô chiêu như người nhà, chẳng mảy may e ngại.

Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình như người nhà. Sau này khi gặp cảnh gia biến, họ vẫn tận tình thủy chung, gắn bó. Ngược lại, con cháu Phạm Quỳnh cũng coi họ như người trong nhà thân quý, tôn trọng. Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, đến mấy chục năm sau có người giúp việc từ trần, gia đình ông vẫn lui tới hương khói chú đáo.

***

Với gia đình vợ, Phạm Quỳnh là chàng rể hiếu thảo, kính yêu cha mẹ và nhường nhịn, chăm lo các em.

Cuối năm 2009, chúng tôi về Nhân Vực, được nghe nhiều mầu chuyện về Phạm Quỳnh và tấm lòng của ông với quê vợ. Sau khi vào Huế làm quan, mùa đông năm Đinh Sửu (1937), với tư cách Ngự tiền Văn phòng, Cơ mật đại thần kiêm Thượng thư Bộ Học, Phạm Quỳnh đi kính lý Bắc Hà đã tranh thủ về thăm quê vợ, làng Nhân Vực. Lần ấy, các bô lão trong làng đã chững kiến việc ông quan Thượng thư cung tiến đình làng một câu đối và bức hoành phi. Đôi câu đối đến nay đã hư hỏng, chỉ còn bức hoành phi sơn son thếp vàng với dòng đại tự: “Thông minh chính trực”. Bên phải bức hoành phi còn rõ dòng chữ Hán chạy dọc: “Bảo Đại Đinh Sửu đông” (tức mùa đông năm Đinh Sửu, niên hiệu Bảo Đại, năm 1937 – KHL chú). Bên trái có 2 dòng: “Tả đại học sĩ lãnh Giáo dục bộ Thượng thư sung Ngự tiền Văn phòng Tổng lý Cơ mật đại thần Phạm Quỳnh bái”. Bức hoành phi của Thượng thư Bộ Học (tương đương Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời nay) có nội hàm thâm thúy: Thông minh và chính trực, đó là ước vọng của trí thức thời nào cũng vậy trên con đường học vấn. Đã qua hơn bảy chục năm, tấm hoành phi vàng son vẫn còn đó. Phạm Quỳnh, một người thật nặng lòng với cố hương.

Tuy di cư đi nơi khác sinh sống, nhưng mảnh đất quê cha đất tổ bao giờ cũng trĩu nặng trong trái tim ông. Phòng làm việc của Phạm Quỳnh luôn treo bức tranh có hai chữ Trung Hiếu, như nhắc ông luôn nhớ bổn phận với Tổ quốc và Gia đình. Ngay từ còn nhỏ, ông có ý thức đặt bàn học tập ở gần gian thờ tổ tiên để luôn nhớ cội nguồn mà phấn đấu vươn lên. Khi dọn nhà từ phố Hàng Trống sang phố Hàng Da, ông cũng mang theo bài vị tổ tiên và kê bàn ghế gần đúng như chỗ cũ.

Làm văn, viết báo, ngoài tên thật, ông còn bút hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường. Mỗi lần cầm bút ký Hoa Đường, dường như ông lại nhớ về nơi nguồn cội, nhớ về cái mảnh đất phong thổ có hơn mười vị tiên hiền đại khoa. Nhớ về tiên liệt đã bỏ máu xương, xây đắp. Ngày vào Huế đem tấc lòng báo đáp ý nguyện mở mang quốc văn, quốc học, ông vẫn đau đáu nghĩ về làng xưa. Với danh phận Thượng thư Bộ Học, và Phạm Quỳnh đã về quê cha đất tổ cho lập trường Tổng sư ngay trên bản quán, mà đến nay người dân Lương Ngọc vẫn nhắc nhớ. Ở kinh thành Huế vàng son, nhưng Phạm Quỳnh vẫn không quên làng Hoa Đường bên sông Cửu An, thuộc phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông đặt tên cho biệt thự của mình bên con sông nhỏ An Cựu là Hoa Đường. Để khuya sớm hằng ngày đi đi về về sống với vợ con, ngước nhìn lên hai chữ thiêng liêng ấy, ông có cảm giác quê hương như ở bên mình. Ông không thể và chẳng bao giờ dám quên mảnh đất tổ tiên. Ở đấy tuy không phải nơi ông chôn rau cắt rốn, nhưng có một phần của thân phụ ông – cụ tú Phạm Hữu Điển, một sợi dây vô hình níu ông lại để không bị lãng quên cội nguồn.

Tháng 3 năm Ất Dậu 1945, Nhật đảo chính Pháp, lập nên chính phủ Trần Trọng Kim, ông không tham gia. Ông nằm trong ngôi biệt thự dịch thơ Đỗ Phủ và viết bút ký. Ông ngẫm nghĩ lại chuyện đời, chuyện thế thái nhân tình. Hình ảnh làng Hoa Đường vẫn hiện lên rất rõ, và vì thế mới có tập Hoa Đường tùy bút – Kiến văn, cảm tưởng.

Đó là những trang viết cuối cùng của ông. Những dòng chữ chắt lọc trong đường đời đầy chông gai, có nụ cười và nước mắt, viết về địa danh Hoa Đường. Khi ấy Phạm Quỳnh nghĩ tới người cha – cụ tú Điển một đời vất vả, nấm mộ còn nằm trên cố hương Hoa Đường. Thế là cha ở Hoa Đường xứ bắc và con đang ở Hoa Đường phương nam. Hai chữ Hoa Đường cứ bám riết lấy cuộc đời Phạm Quỳnh cho đến khi ông về với đất.

K.H.L

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: