Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 3, 2010

Cô Kiều với Phạm Quỳnh – Phạm Thị Nhung

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:35 chiều

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 9 năm 2010.

CÔ KIỀU VỚI PHẠM QUỲNH

Giáo sư Phạm Thị Nhung

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới đây là một số đoạn chúng tôi trích trong bài thuyết trình của Giáo sư Phạm Thị Nhung với nhan đề trên, đọc trong lễ Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20/12/1992, đồng thời ra mắt tác phẩm Phạm Quỳnh – Tuyển tập và di cảo do An Tiêm xuất bản tại Pháp.

Bà Phạm Thị Nhung tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn và Cử nhân Văn khoa, niên khóa 1958-1961. Năm 1978 tốt nghiệp bằng Âm học và Ngữ học (Diplôme de Phonétique et de Linguistique) tại Đại học Sorbonne – Paris. Trước 30/4/1975, bà là giáo sư giảng dạy môn Văn chương ở trường Nữ Trung học Gia Long và trường Régina Mundi-Sài Gòn.

Ngoài một số sách giáo khoa Việt văn Tú tài 1 và Tú tài 2 xuất bản tại Sài Gòn trước 1975, mới đây bà đã xuất bản thêm:

–          Truyện Kiều và tuổi trẻ viết chung với Gs Lê Hữu Mục và Ds Đặng Quốc Cơ (1998).

–          Tiếng nói Đoàn Thị Điểm trong Chinh phụ ngâm khúc viết chung với Gs Lê Hữu Mục (2001).

—o0o—

Năm 1992, tính ra đúng một trăm năm ngày sinh cụ Phạm Quỳnh, một học giả uyên bác, xuất sắc Pháp văn, tinh thông Hán tự. Gần hai mươi năm hoạt động trên trường văn trận bút, cùng trên diễn đàn ngôn luận, cụ đã nuôi được một tinh thần quốc gia cho dân tộc, và có công lớn trong việc đắp xây nền tảng cho văn học mới nước nhà hồi đầu thế kỷ XX.

Để tưởng niệm học giả Phạm Quỳnh, ngày 20 tháng 12 năm 1992 tại vùng Paris, một số rất đông thân hữu cùng gia quyến cụ Phạm Quỳnh đã long trọng làm lễ kỷ niệm đệ nhất bách chu niên ngày sinh của cụ.

Tôi rất hân hạnh được mời tham dự với một bài thuyết trình. Tôi đã nhận lời ngay, vì tự coi đó là bổn phận của một nhà giáo, đã từng dạy Việt văn nhiều năm tại quê nhà ; mặc dầu sau biến cố 1975, tôi đã tự ý về hưu non, đến lúc ấy đã trên mười bảy năm. Tôi cũng phải thú thực rằng sau khi nhận lời rồi thì lòng không khỏi băn khoăn lo lắng, vì biết nói gì đây trong một ngày lễ kỷ niệm đầy ý nghiã này : trăm năm mới có một lần!

Rất may một hôm, tôi được một bà bạn sốt sắng dẫn đi Yerres, tới thăm thư viện của bà Phạm thị Ngoạn, tức nữ sĩ Liên Trang, con gái của cố học giả Phạm Quỳnh, xem có cần tài liệu gì về ông cụ để bà Ngoạn cung cấp, vì tủ sách của bà có đầy đủ bộ Nam Phong, từ số đầu đến số chót, cùng nhiều tài liệu khác nữa.

Hôm đó tôi đã được bà Ngoạn giới thiệu một cuốn sổ tay nhỏ ghi năm 1922 của cụ Phạm Quỳnh. Trong đó, khoảng thời gian cụ Quỳnh du thuyết ở Paris, tôi đọc được mấy hàng chữ ghi vắn tắt những cuộc gặp gỡ giữa cụ với một số nhân vật cách mạng Việt Nam đang hoạt động tại Pháp như:

Juillet – 13 Jeudi : ăn cơm an-nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)

Một trang khác :

Juillet – 16 Dimanche : ở nhà Trường, Ái Quốc và Truyền đến chơi.

Ngoài ra trong sổ tay còn ghi những cuộc tiếp xúc của cụ Phạm Quỳnh với một số chính khách và nhà báo. Tôi đoán họ là những người mà cụ Phạm Quỳnh đã nhờ vận động cho các buổi diễn thuyết dự tính được thành tựu.

Sau đó, bà Ngoạn còn giới thiệu tập di cảo của cụ Phạm Quỳnh, dầy bốn mươi tám trang vở học trò, ngoài bìa có hai dòng chữ lớn :

Hoa-Đường Tùy Bút

Kiến Văn Cảm Tưởng

Cả hai quyển này mầu giấy đã vàng úa (gần nửa thế kỷ rồi còn gì!). Tôi giở xem, đến gần trang cuối, thấy đề tựa “Cô Kiều với tôi “, thì thầm nghĩ ngay là bài này chắc ông cụ dốc hết bầu tâm sự đây, rồi vội vàng đọc một mạch … mới có ba trang giấy đã hết … bài viết còn dang dở, tôi ngẩn ngơ tiếc nuối.

Bà Ngoạn kể :”Trong tình cảnh gia biến bối rối, cha và chồng bị bắt đem đi vì lý do mời lên họp ở toà Khâm rồi không thấy về, lành dữ chưa biết ra sao. Nhà cửa bị lục soát, sau đó các phòng ốc của toà nhà chính đều bị niêm phong, cả đại gia đình bị dồn vào ở trong ba gian nhà nhỏ thuộc khu phụ cận … Chẳng còn nhớ khi nào và trong hoàn cảnh nào tôi đã tìm thấy được hai kỷ vật quí báu này của ông cụ, ở trang chót có cái bút Waterman còn chặn ngang trên trang giấy viết dở.” (Xin đọc ba trang thủ bút của Phạm Quỳnh kèm theo bài này)

“Tâm sự thầy tôi khi trẻ giữ để bụng, lúc về chiều lại muốn thoát ra cho nhẹ, thì oan nghiệt của số phận đã bắt thác phải mang theo !” (Thầy tôi, bài của Phạm thị Hoàn (con gái thứ của học giả Phạm Quỳnh), đăng trong Ái Hữu số 115, tháng 6 năm 1992, xuất bản tại Paris).

Đấy là lý do đã đưa tôi đến quyết định chọn đề tài “Cô Kiều với Phạm Quỳnh” để thuyết trình trong buổi đại lễ này.

Tôi muốn lật lại chồng sách báo cũ, tìm vào chính những bài viết, những lá thư hay những câu trả lời trong các cuộc phỏng vấn của học giả Phạm Quỳnh, cùng dựa vào những lời phê bình của một số giáo sư, một số phê bình gia, tiểu thuyết gia và một số độc giả về cả hai phương diện hoạt động văn hoá lẫn chính trị của họ Phạm, đặc biệt là những lời khen chê quanh vụ án Truyện Kiều, cộng thêm với sự nhận xét của riêng mình, tôi thử giải thích xem đâu là những cảnh ngộ trớ trêu, đâu là nỗi lòng ưu uất của học giả Phạm Quỳnh, trong suốt cuộc đời hoạt động không ngừng, từ thời tráng niên đến lúc về ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường, khiến họ Phạm đã có ý xem mình là kẻ “một hội một thuyền” với cô Kiều.

I. “Cô Kiều với tôi”

Mở đầu cho bài nói chuyện “Cô Kiều với Phạm Quỳnh”, tôi xin được giới thiệu và phân tích bài tản văn “Cô Kiều với tôi ” của học giả Phạm Quỳnh.

Đây là bài tuỳ bút thứ mười một trong tập di cảo Hoa Đường Tuỳ Bút – Kiến Văn Cảm Tưởng mà Phạm Quỳnh – cựu Thượng thư bộ Lại, kiêm Ngự tiền văn phòng đổng lý của vua Bảo Đại – đã thực hiện sau biến cố Nhật đảo chánh Pháp (tháng 3 năm 1945), khi ông rút lui khỏi chính trường về ở ẩn tại biệt thự Hoa-Đường, bên bờ con sông đào Phú Cam, thuộc vùng An Cựu, sát ngay thành phố Huế.

Đặc biệt đây là bài văn cuối cùng của học giả Phạm Quỳnh, bài văn viết còn dang dở trước khi ông bị một nhóm người cách mạng bắt đi ngày 23-8-1945, rồi hạ sát sau đó vài tuần (Tài liệu Introduction au Nam Phong, Phạm thị Ngoạn, Extrait du Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, Nouvelle série, Tome XLVIII, Nos 2 et 3, 2ème et 3ème trimestres 1973, page 209).

1) Phạm Quỳnh muốn xác nhận bốn câu thơ mào đầu, nói về tình cảnh của cô Kiều khi ra tu ở Quan Âm Các, đã phản ảnh tâm sự của chính ông từ khi rời khỏi chính phủ lui về cuộc sống ẩn dật. Phạm Quỳnh viết :

“Nàng từ lánh gót vườn hoa

Đường gần rừng tiá, đường xa bụi hồng.

Nhân duyên đâu nữa mà mong

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thời thôi …”

“Sao mà Truyện Kiều có lắm câu thiết tha, thấm thiá như vậy! Tưởng giá tự mình than thở cũng than thở như thế mà thôi. Mà bất cứ câu nào đoạn nào, hễ ngẫu nhiên thích hợp là có cái âm hưởng lạ lùng như vậy … “

2) Phạm Quỳnh là người có một tâm hồn nghệ sĩ, lãng mạn, và một trái tim đa cảm, rất dễ xúc động.

Ta hãy nghe ông kể : “Hồi tưởng từ thuở nhỏ, mỗi khi nghe đọc một câu thơ Kiều, dù chưa hiểu nghiã, đã thấy cái âm hưởng lạ lùng, nó vang động trong lòng. Rồi từ đó cứ văng vẳng luôn bên tai, càng ngày càng tha thiết, thấm thía, có khi âm thầm não nuột như tiếng gọi xa xăm của một âm hồn tri kỷ tự chín suối đưa lên.”

Làm sao một cậu bé chưa hiểu được gì về ý nghĩa của câu thơ Kiều mà đã bị cái âm hưởng, cái nhạc điệu của câu thơ quyến rũ, ám ảnh đến thế ? Nếu tìm hiểu tiểu sử Phạm Quỳnh ta sẽ bớt ngạc nhiên.

Cậu bé Phạm Quỳnh chào đời được chín tháng thì mẹ khuất bóng, được chín tuổi thì cha cũng qua đời.

Ta hẳn biết trong cuộc sống của đứa trẻ, không gì bất hạnh hơn là thiếu vắng tình âu yếm ngọt ngào, thiếu bàn tay nâng giấc vỗ về của người mẹ; ca dao chẳng đã có câu :

Con ở với bà, bà không có vú,

Con ở với chú, chú là đàn ông.

đủ biết không ai có thể thay mẹ được!

Đã vậy, nếu lại mất cả cha thì dù có được sống đầy đủ vật chất, đứa bé vẫn cảm thấy hụt hẫng, mất nơi nương tựa về tinh thần, làm sao có thể sống hồn nhiên vô tư lự, hay yêu đời như những đứa trẻ bình thường khác ? Ca dao cũng đã có câu tả cảnh ngộ đáng thương này như sau :

Có cha có mẹ thì hơn,

Không cha không mẹ như đờn đứt dây!

Đờn đã đứt dây thì làm sao còn lên tiếng ca hát được nữa!

Trong thời thơ ấu, Phạm Quỳnh đã bị mồ côi cả mẹ lẫn cha, lại không anh chị em nên dù được bà nội thương yêu, cậu bé nhiều khi vẫn cảm thấy buồn tủi, cô đơn ; giữa lúc đó, vô tình nghe đọc một câu thơ Kiều (bà nội đọc Kiều, hay tiếng một bà mẹ trẻ đang hát Kiều ru con từ hàng xóm vẳng sang ?), bản tính vốn đa cảm, dễ xúc động nên cái âm hưởng đặc biệt “véo von, réo rắt mà nhịp nhàng” đến lạ lùng, kỳ diệu của câu thơ lục bát Kiều kia đã có sức tác động mãnh liệt vào tâm hồn Phạm Quỳnh, nó vuốt ve, vỗ về, an ủi được cõi lòng bơ vơ buổn tủi của cậu.

Rồi từ đó những câu thơ Kiều trở thành nhu cầu cho đời sống tâm linh của Phạm Quỳnh, nó “cứ văng vẳng bên tai, càng ngày càng thiết tha, thấm thiá “, “như tiếng gọi xa xăm của một âm hồn tri kỷ tự chín suối đưa lên.”

Theo với thời gian, Phạm Quỳnh càng trưởng thành, vào đời càng gặp nhiều éo le, oan trái, ông càng hiểu rõ ý nghiã thâm trầm, thắm thiết của những câu thơ Kiều hơn ; để rồi cũng từ đó, cô Kiều, nhân vật chính trong kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, linh hồn của những câu thơ Kiều càng trở nên gắn bó, bất ly phân với ông. Phạm Quỳnh cảm cô Kiều đến tưởng như cô “sống luôn luôn bên mình, hầu như chi phối cả đời tình cảm của mình, đoán định cả cuộc thân thế của mình.”

Như thế, vô hình trung, Phạm Quỳnh đã xem định mệnh cô Kiều như định mệnh của chính ông.

3) Ngoài ra, Phạm Quỳnh còn cho ta biết, ông là người thứ nhất đem đối chiếu thân thế cô Kiều với thân thế Nguyễn Du mà nhận ra rằng :”Đoạn trường tân thanh là lời than vô cùng cảm động, vô hạn thiết tha của một văn sĩ có tài đau lòng vì cuộc đời ngang ngửa.”

4) Còn đối với Truyện Kiều, Phạm Quỳnh vì có cái tâm lý là người cùng cảnh ngộ với tác giả và người trong truyện nên ông đã phổ hết tình cảm vào đấy, cùng để nó bay bổng theo với tâm hồn lãng mạn của ông. Ông viết :”Lãng mạn cho đến đem cả chủ nghĩa quốc gia căn cứ vào Truyện Kiều ! Cho tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn ta thời tuyệt phẩm là Truyện Kiều, trước sau chỉ có Truyện Kiều, may có Truyện Kiều, đáng quí báu vô cùng. Cho nên năm 1924, lần đầu tiên kỷ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu :

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…”

Và theo Phạm Quỳnh, câu đó chẳng phải là một lời vọng ngôn. Ông dẫn chứng : “Năm 1933, một văn sĩ Pháp nói về nước Ba Tư làm lễ kỷ niệm thập bách chu niên thi hào Firdousi, tác giả sách Shahnameh (Đế vương lục), là một kiệt tác bằng tiếng Ba Tư, nhờ sách đó mà tiếng Ba Tư còn lưu truyền vang qua mấy mươi đời bị Ả Rập đô hộ …”

Có điều nên nói thêm, trong bản ngã của Phạm Quỳnh, khuynh hướng nghệ sĩ lãng mạn, đa cảm như đã được giới thiệu ở trên, chỉ là một khiá cạnh của cuộc sống, vì ngoài nó, còn có một khuynh hướng thứ hai, chủ về lý trí, mãnh liệt hơn, sẽ được nói ở phần sau.

Tóm lại, qua mấy đoạn trong bài tùy bút “Cô Kiều với tôi” của học giả Phạm Quỳnh, chúng ta hẳn thấy, đây mới chỉ là những câu mở đầu của họ Phạm, nói tới các lẽ về tâm lý, về tình cảm đã đưa đến sự gắn bó giữa ông và cô Kiều ; Còn vì những lý do nào khiến Phạm Quỳnh có ý xem ông là kẻ “một hội một thuyền” với cô Kiều, thì ông ta chẳng bao giờ còn cơ hội để biện giải.

Đây chính là phần mà tôi sẽ cố gắng thử trình bày trong bài thuyết trình này.

II. Những Lý Do Nào Đã Khiến Học Giả Phạm Quỳnh Có Ý Xem Ông Là Kẻ “Một Hội Một Thuyền” Với Cô Kiều

Muốn cho vấn đề được sáng tỏ, chúng ta phải ngược dòng thời gian, đi lại từ đầu, nghiã là phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, sau đó, tìm hiểu thân thế, chí hướng, hành trạng và sự nghiệp của học giả Phạm Quỳnh, để có thể rút ra được một phần nào những nét tương đồng về tình cảnh giữa Phạm Quỳnh và cô Kiều, đã khiến họ Phạm muốn mượn cảnh ngộ éo le cùng tâm sự bi thương của nhân vật này đễ giãi bày nỗi niềm ưu uất của ông.

1) Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.

Năm 1856, thực dân Pháp bắt đầu bắn phá các đồn lũy ở cửa bể Đà Nẵng, sau liên tiếp đánh chiếm ba tỉnh miền đông (1862), rồi ba tỉnh miền tây Nam Kỳ (1867). Gần hai mươi năm sau, Pháp lại công phá thành Hà Nội (1882), tiến chiếm các tỉnh Bắc Việt và Trung Việt (1883-1884), rồi uy hiếp triều đình Huế. Để bảo vệ quê hương xứ sở, quan quân của ta ở khắp các chiến tuyến đã chống giặc quyết liệt. Biết bao anh hùng nghiã sĩ đã vị quốc vong thân mà nước vẫn không giữ được. Cuối cùng, triều đình đã phải chấp thuận nhượng hẳn đất Nam Kỳ cho Pháp (Hoà ước 1874), và công nhận quyền bảo hộ của họ trên toàn cõi Việt Nam (Hoà ước 1884).

“Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu.” (Văn tế Tướng quân Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu) nên các cuộc nổi dậy, tự động lập chiến khu võ trang chống Pháp của quân dân ta vẫn liên tiếp xẩy ra. Nhưng vì tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch quá, nên nửa sau thế kỷ XIX, các tổ chức kháng chiến đã đi dần đến chỗ suy tàn.

Các vị vua tham gia kháng chiến đã bị đi đầy biệt xứ, các nhà ái quốc thì người trốn ra hải ngoại, kẻ tuẫn tiết, người bị chém bêu đầu, kẻ bị sát hại hay bị tù đầy hết cả.

Sau khi đã đè bẹp ta bằng võ lực, Pháp bắt đầu tính chuyện bình định, đặt nền móng cho cuộc đô hộ lâu dài. Hoà ước 1884 đã mất hết ý nghĩa vì thực quyền Pháp đã nắm hết, vua tôi triều đình Huế chỉ còn hư vị.

Trước thảm trạng ấy, những ai là kẻ quốc sĩ tất không đành lòng chỉ biết thở than hay tính chuyện lui về ở ẩn để giữ tiết tháo cho riêng mình, mà ngày đêm đã lao tâm khổ trí, cố tìm cho ra một giải pháp để cứu nước.

Giữa lúc đó, tiếng vang về cuộc chính biến 1897 ở Trung Quốc, tiếp theo là cuộc trỗi dậy của Nhật sau vụ chiến thắng Nga (1905), nhất là các tân thư của Nhật, Trung Hoa được lén lút truyền vào nước ta (truyền bá những tư tưởng dân chủ, cách mạng của Tây phương), đã làm cho kẻ sĩ nước ta giật mình thức tỉnh, tự hiểu ra rằng ta chưa thể đương đầu với Pháp bằng vũ lực được, mà muốn dân tộc sớm thoát khỏi cảnh nô vong thì từ nay ta phải cương quyết từ bỏ cái học u mê, từ chương cũ, và cấp thiết phải canh tân xã hội và học thuật theo Tây phương. Do đó phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và Duy Tân của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời.

Phong trào của các cụ được dân chúng khắp ba kỳ hưởng ứng nồng nhiệt ; nhiều tỉnh đã lập chi nhánh hoạt động. Chính phủ bảo hộ nhận thấy Đông Kinh Nghĩa Thục đã trở thành một phong trào ái quốc và cách mạng, nên vội rút giấy phép năm 1908, và khủng bố nhân viên nhà trường.

Nhân vụ lính Pháp bị đầu độc ở Hà Nội (27-6-1908), và dân chúng nổi lên biểu tình kháng sưu thuế tại nhiều nơi ở miền Trung, Pháp lấy cớ các cụ xúi giục nên bắt hết các nhà lãnh đạo, làm án rồi đầy đi Côn đảo, như cụ Lương văn Can, người khởi xướng Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội … hay các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế ở miền Trung …

Chính trong hoàn cảnh lịch sử đen tối ấy của dân tộc, Phạm Quỳnh đã sinh ra và lớn lên.

2) Thân Thế, Chí Hướng, Hành Trạng và Sự Nghiệp của Học Giả Phạm Quỳnh

2.1 Thuở Học Trò (1892-1908)

Phạm Quỳnh, bút hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, Lương Ngọc ; sinh năm 1892 ; người làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương ; thuộc dòng dõi Nho gia khí tiết, đạo hạnh. Cha, ông, và kể cả tổ tiên nữa, đã mấy đời đều là những người văn học, chỉ theo nghề giáo, sống cuộc đời cần cù, thanh bạch.

Phạm Quỳnh mồ côi sớm, may nhờ được bà nội nuôi dạy và cho ăn học ở Hà Nội. Hết bậc tiểu học (12 tuổi), Phạm Quỳnh vào học trường Trung học Bảo hộ. Ngay từ thuở học trò trung học ấy, Phạm Quỳnh đã tỏ ra là người chín chắn, có nghị lực và có ý thức về bổn phận của mình – Làm người An Nam là phải tập làm văn An Nam. “Tôi thuở nhỏ ham mê chữ tây lắm, khi ở nhà trường ra đã “tuy toe” làm thơ, làm văn tây rồi … nhưng đương ham mê như thế mà phẫn nhiên miễn cưỡng lại được, chợt tỉnh lại được mà tự nghĩ rằng văn mình nếu mình không tập thời có ngày lụn bại … Tôi ví như người nghiện văn tây mà tự mình bắt buộc … chỉ vì một chút khốn tâm, khốn tâm về văn quốc ngữ, chỉ vì một chút hi vọng, hi vọng có ngày mình cũng làm văn được như người.” (Làm Văn, Nam Phong số 67, tháng 1-1923).

2.2 Thời Làm Việc Tại Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Êxtrême-Orient) (1908-1917)

Lớn khôn đôi chút, Phạm Quỳnh đã biết coi sự học là một nghĩa vụ mà đặt cho nó một mục đích chính đáng, cao thượng. Ông kể :”Từ khi khôn lớn biết nghĩ đến giờ chỉ nuôi một cái chí trong lòng, là đối với nhà làm thế nào nối được nghiệp ông cha, đắp được cái nền “sĩ phong” cho xứng đáng … đối với nước làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh táo, để mong cho quốc văn được sáng sủa … không dám đem cái chí nguyện mà hi sinh cho sự giầu sang.” (Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, Nam Phong số 90, 12-1924).

Nhưng muốn thực hiện cái chí ấy thì phải vươn lên, “học cho rộng, biết cho nhiều”, “tham bác cả đông tây kim cổ”, và “học không ngừng” vì “có học có biết mới làm nên”. Còn cái học của nhà trường bấy giờ chỉ đủ cho người ta giựt được mảnh bằng kiếm sống, hay giành được chút địa vị trong xã hội mà thôi.

Thấu triệt được cái lẽ cao quí của sự học như thế, Phạm Quỳnh quyết tâm lo trau dồi thêm kiến thức.

Rất may, sau khi tốt nghiệp trường Bảo hộ (1908), Phạm Quỳnh xin được vào làm việc tại thư viện trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ, liên tiếp gần mười năm trời (1908-1917). Sống giữa một rừng sách, Phạm Quỳnh tha hồ mà đọc, mà học hỏi.

Nhưng khi đọc sách thì một vấn đề khó khăn lại xẩy ra :

Đọc sách viết bằng chữ Pháp, đối với Phạm Quỳnh tất nhiên là dễ dàng rồi, vì đó là sở trường của ông ; chẳng vì tài Pháp văn ông đã giựt được chức “thủ khoa tây” trong kỳ thi Diplôme đầu tiên mở tại Bắc Kỳ đó sao ? Nhưng còn những sách viết bằng Hán tự không lẽ lại bó tay, vì vốn liếng chữ Hán của Phạm Quỳnh lúc ấy bất quá “chỉ viết nổi hai chữ tên, còn thời mù mịt cả … Kỳ thi có một bài Hán tự dịch ra chữ tây, dịch “giỏi” đến nỗi chấm được nửa điểm (1/2). Đáng thì phải “0”, hỏng “toẹt” không được đỗ … ” (Pháp Du Hành Trình Nhật Ký).

Đây là thử thách thứ hai mà họ Phạm sẽ phải vượt qua. Nhờ vào trí thông minh hiếm có, lại nhờ ở sự quyết tâm gắng gỏi gia công học tập trong mấy năm liền, cuối cùng Phạm Quỳnh đã sở đắc được một vốn Hán học vững vàng. Nó giúp cho ông không những tham khảo học hỏi thêm được nhiều điều về học thuật cùng những tư tưởng, triết lý thâm sâu hay cao thượng của Á Đông, nó còn giúp ông thấu rõ những cái hay, cái đẹp của tổ tiên mà hướng về nguồn cội.

Trong thời gian này, khi Đông Dương tạp chí ra đời (1913), Phạm Quỳnh đã tìm thấy ở ông Nguyễn văn Vĩnh một “đồng chí” trong tôn chỉ – phổ biến quốc ngữ – xây dựng quốc văn – và mở mang dân trí để phụng sự dân tộc.

Do đó Phạm Quỳnh đã hợp tác chặt chẽ với Đông Dương Tạp Chí bằng những bài biên dịch thiên về đường tư tưởng. “Ngay trong mấy số đầu Đông Dương Tạp Chí ông (Phạm Quỳnh) đã dịch những đoạn văn của Renan, Bossuet, Pascal … là những nhà văn lớn về tư tưởng và lý thuyết. Ngay từ bấy giờ (1913) giọng văn ông đã chín chắn khác thường” (Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, Thăng Long tái bản, Sài Gòn 1960). Như thế đủ rõ lúc này Phạm Quỳnh viết văn đã nhằm đến mục đích nâng cao dân trí, và cố luyện cho quốc văn được vững vàng, tinh xảo.

Ngoài ra, Phạm Quỳnh còn viết cho Đông Kinh Nghĩa Thục “những bài biên khảo có tính cách thuần văn chương, bộc lộ cái băn khoăn của một nhà văn hoá trẻ tuổi trước sự xung đột, kình địch giữa hai thế hệ già với trẻ …” (Thanh Lãng, Trường hợp Phạm Quỳnh, Văn Học, 1963).

Lại cũng trong thời gian làm việc tại trường Bác Cổ, nhiều lúc có dịp nói chuyện với ông Tuyết Trang Trần Văn Ngoạn, Phạm Quỳnh thường đem những vấn đề liên quan đến việc nước, việc nhà, việc quan, việc học ra nghị luận sôi nổi. “Ông biết tôi là người nhiệt thành, và cũng có bụng yêu : mỗi lần nói đến sự tương lai nước nhà, ông có ý muốn nghe hơn chuyện khác. Tôi vốn ít tuổi hơn ông, trong lời nghị luận không khỏi đường đột mạnh bạo, mỗi lần ông cứ để cho nói, mà xem ra lắm khi cũng cảm cái lòng thành của người bạn trẻ. Ông không cười sự nóng nẩy, mà thường ông lại khen cái bụng ngay.” (Viếng ông Tuyết Trang, ThượngChi Văn Tập, tập III ).

Những điều này chứng tỏ ngay từ thuở làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ, chàng thanh niên mới lớn Phạm Quỳnh đã rõ ra là một kẻ sĩ có tâm huyết với vận mệnh quốc gia, dân tộc ; đã từng thao thức nhiều đến những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước. Nhưng thay vì bi quan, yếm thế, Phạm Quỳnh như đã dự kiến được những giải pháp có thể canh cải, giải quyết được hoàn cảnh bế tắc về chính trị, cùng những xung đột tư tưởng về học thuật, luân lý Âu Á, mới cũ đang làm xáo trộn xã hội nước nhà bấy giờ, mà lòng háo hức nên biện luận sôi nổi, thuyết phục hăng say, gây được niềm tin yêu, hứng thú khi nghe chuyện của người bạn cùng sở.

Như đã được giới thiệu ở phần trên, trong bản ngã Phạm Quỳnh, ngoài khuynh hướng lãng mạn chủ về tình cảm, còn có một khuynh hướng thứ hai chủ về lý trí rất mãnh liệt. Nó được tạo nên trước tiên do sự giáo dục theo luân lý Nho-gia, truyền thống của gia đình (bà nội là đại diện), nó cũng là truyền thống văn hoá xã hội ta từ bao nhiêu thế kỷ nay, lấy trung, hiếu, nhân, nghiã, lễ, trí, tín làm phương châm cho cuộc sống mà thời đại Phạm Quỳnh vẫn còn được nhiều người xem trọng và duy trì.

Thêm vào đó, đến tuổi đi học, Phạm Quỳnh được theo Tây học, ông lại chịu ảnh hưởng bao nhiêu tư tưởng cao thượng và cũng rất thực tiễn của Tây phương, như tinh thần tự do, bình đẳng, quan niệm về danh dự, về nghĩa vụ làm người … ; cùng thâu thái được bao nhiêu kiến thức về khoa học, văn chương, học thuật của Pháp quốc. Sau nữa, hoàn cảnh vong quốc hiện tại cũng làm nẩy nở, khích động thêm ý thức về bổn phận đối với dân tộc của Phạm Quỳnh. Tất cả, vâng tất cả đó đã tạo cho bản ngã Phạm Quỳnh một khuynh hướng vững vàng thứ hai, chủ về lý trí. Chính khuynh hướng chủ về lý trí này đã lấn lướt khuynh hướng chủ về tình cảm, giành quyền chi phối, điều khiển những suy tư, những hoạt động của Phạm Quỳnh trong cuộc sống.

Hiểu như vậy, ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Phạm Quỳnh còn là một cậu học sinh trung học đã có ý thức về trách nhiệm của mình, khi vừa ra trường đã biết đặt sự học thành một nghĩa vụ, và mong có ngày đem sự học của mình ra giúp nước, giúp đời.

2.3. Những Tháng Năm Làm Báo Nam-Phong (1917-1932)

2.3.1 Lý Do Thành Lập Báo Nam Phong: Năm 1917 phủ Toàn Quyền Pháp, qua đại diện Louis Marty, đề nghị Phạm Quỳnh đứng ra lập một tờ báo quốc văn làm cơ quan tuyên truyền tin tức trong nước.

“Mục đích chính trị cấp thời (là) phục vụ cho việc chiến thắng của Pháp trong trận giặc bấy giờ … Marty cũng nhắm một mục đích lâu dài hơn, là đem cái hay cái đẹp của văn minh Pháp tuyên truyền ra dân chúng dưới khẩu hiệu “khai hoá”, gây một cơ sở vững chắc làm cơ sở tinh thần cho cuộc bảo hộ.”

Trước đề nghị ấy, Phạm Quỳnh nghĩ gì ? Nói một cách khác, đâu là những lý do chính yếu khiến Phạm Quỳnh chấp nhận đứng ra thành lập Nam Phong Tạp Chí ?

Qua bài phỏng vấn của Đào Hùng trên báo Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn ngày 18-6-1931, Phạm Quỳnh cho biết : “Tôi sở dĩ nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn.” (Tài liệu Phạm Thế Ngũ, Lịch Sử Văn Học Việt Nam, q.III, Phạm Thế xuất bản 1965, in lần thứ 3, Phạm Ngũ Lão 1972)

Và qua một số bài của Phạm Quỳnh đăng rải rác trên Nam Phong, ta dần dần phanh phui thêm được những lý do khác đã đưa ông tới quyết định chấp nhận hợp tác với Pháp thành lập tờ báo Việt ngữ này.

Thật thế, trong hoàn cảnh quốc phá gia vong bấy giờ, Phạm Quỳnh nhận thấy, Pháp không chỉ đánh bại ta bằng vũ lực, mà còn đang tấn công ta trên mặt trận văn hoá và giáo dục. Cái học cũ nay mai được bãi bỏ, cái học mới mỗi ngày một tràn lấn, các tư tưởng văn hoá tây phương đang được Pháp chủ tâm truyền bá sâu rộng trong đại chúng. Vẫn hay cái học mới ấy, những tư tưởng cấp tiến và thực tiễn của tây phương ấy, bấy giờ rất cần thiết cho ta trên đường văn minh tiến bộ để theo kịp người, các nhà ái quốc chẳng đã nhận thấy như thế, nên nhất trí cổ võ, truyên truyền đó sao ? Nhưng ta cần phải hiểu rằng chính nó cũng đang phá hoại tận gốc rễ ý thức hệ của dân tộc ta, đang làm xáo trộn xã hội ta.

Theo Phạm Quỳnh, nếu “đồng nhân” (nghĩa là mọi người – PT chú) không được đưa đường, chỉ nẻo, thì sẽ dễ dàng đi vào cao trào duy tân một cách hấp tấp, vô ý thức, dần dần sẽ đi đến tình trạng bị “tiêu hồn”, “mất gốc”, “tây hoá”, đúng theo sở ý của thực dân Pháp. Đó mới thập phần nguy hại, vì “xưa kia có mất nước, song hồn hãy còn, mà hồn còn thời nước không đến nỗi mất hẳn, nay có khác là nước mất mà hồn cũng thoi thóp thời nguy hiểm biết dường nào !”

Nhìn thấy trước mắt cả một “xã hội xốc nổi” giao thời Âu Á, cựu tân, bày ra lắm trò lố lăng, “thương phong hoá, bại cương thường”, Phạm Quỳnh không khỏi rùng mình. Ông thầm nhủ :”Vận mệnh là vận mệnh chung cả một nước, mỗi người tất có một phần trong cái vận mệnh ấy … Mỗi người phải tuỳ theo sức, ghé vai mà gánh vác.” Riêng ông :”Đường học mới được thiệp liệp đôi chút, nền nếp xưa chưa đến nỗi xao lãng hẳn, tưởng cũng có một phần việc nhỏ trong cái công lớn lao tô bồi cho tổ quốc” buổi ấy. Phần việc nhỏ đó chính là “đem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời, tìm phương pháp giải quyết cho thoả đáng … chỉ bảo cho đồng nhân biết”. Theo Phạm Quỳnh, “nghĩa vụ đó đủ cao thượng, đủ xứng đáng cho kẻ trí thức nước ta tận tụy mà làm cho trọn.” (Thư Cho Bạn, 1919, Thượng Chi Văn Tập, tập IV).

Sau hết, Phạm Quỳnh còn có một mục đích tối thiết nữa là dùng tờ báo làm phương tiện vận động, xây dựng văn hoá dân tộc, nhằm phát huy chủ nghĩa quốc gia, và gây lấy tinh thần tự lập cho quốc dân để mong có ngày giải phóng cho dân tộc :”Ta phải tìm cách gây lấy một nền tảng văn hoá riêng, tham bác cả hai tinh thần Âu Á … chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn … phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, tìm đường tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được… Xin quốc dân ta nhớ lấy rằng cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hoá …” (Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây, Nam Phong số 84, 1924).

Tóm lại, theo Phạm Quỳnh “cái vốn chung của một nước chính là gồm những công phu riêng của mỗi người” (Nghĩa Vụ Là Gì, 1917). Như thế không nhất thiết đánh giặc, hoạt động cách mạng mới là yêu nước, mà làm văn hoá có lợi cho dân tộc, giúp “cho quốc hồn được tỉnh táo, cho quốc vận được sáng sủa” cũng là yêu nước !!

Nhưng muốn hoạt động thì phải có phương tiện, hơn nữa, ngày nay mọi sinh hoạt của ta đều bị chính quyền bảo hộ kiểm soát gắt gao, hoạt động cách mạng văn hoá ôn hoà như nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục cũng bị Pháp bóp chết. Vả lại, làm văn hoá không phải là một công tác ngắn hạn, nó đòi hỏi ta nhiều cố gắng và sự liên tục lâu dài. Nay tự dưng Pháp trao vào tay ta cái phương tiện cần có ấy để hoạt động, nó lại là cái bóng cho ta núp, sao ta không nắm lấy, lợi dụng nó để phục vụ cho cái lý tưởng hướng dẫn đại chúng và tài bồi cho nền văn hoá nước nhà ?!

Cái chí đã đặt ở việc nước như vậy nên Phạm Quỳnh biết “lấy việc thịnh suy nước nhà làm trọng hơn sự lợi hại cho mình” (Thư Cho Bạn). Thế là Phạm Quỳnh quyết định chấp nhận thành lập Nam Phong Tạp Chí, không quản ngại hợp tác với Pháp, dẫu rằng người sáng lập và bảo trợ cho tờ Nam Phong lại là Louis Marty, trưởng toà chính trị phủ toàn quyền !

Phạm Quỳnh tự nghĩ, nếu mình đem hết cả tâm hồn, sức lực ra làm việc, thung dung mà tựu được cái nghĩa cả kia, thì rồi cũng có ngày tấm lòng son của mình đối với quốc gia dân tộc sẽ được quốc dân và sách sử soi xét thấu.

Khi bắt tay vào việc thực hiện tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh đã phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp và tế nhị.

Về thực tế, đây là một tờ báo của người Pháp lập ra, họ nhắm vào một mục đích rõ rệt là muốn dùng tờ báo, một cơ quan ngôn luận, để phục vụ cho quyền lợi chính trị của họ. Nhưng Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút (về phần Việt ngữ) cùng những người cộng tác với tờ báo Nam Phong có phải họ chỉ biết nhắm mắt phục vụ cho chủ trương ấy không ?

Tất nhiên là không ! Thật vậy, ngay bìa báo, nếu ta để ý nhận xét một chút, ta sẽ thấy có bao sự lủng củng ở bên trong, từ đó ta có thể đoán ra được là đã có sự tranh chấp giữa người Pháp người Việt, nói rõ hơn, là giữa Louis Marty và Phạm Quỳnh. Nhưng cuối cùng mọi chuyện đã được dàn xếp, đôi bên đều phải chấp nhận nhau và cùng muốn lợi dụng nhau để tờ báo được ra đời.

Này nhé, trang nhất bìa báo, trên hàng chữ lớn NAM-PHONG được in đậm nét là mấy hàng chữ nhỏ viết bằng chữ Pháp :

L’Information Francaise

La France Devant Le Monde – Son Rôle Dans La Guerre Des Nations (nghĩa là: Thông tin Pháp trước thế giới, vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh của các nước – PT chú)

Và ở phần cuối bìa báo là hình con gà trống Gaulois nổi bật trước một hình triện tròn, giữa hai vòng là ba chữ : Liberté-Égalité-Fraternité (nghĩa là: Tự do – Bình đẳng – Bác ái –PT chú), biểu tượng và tiêu ngữ của Pháp quốc.

Giở qua bìa báo trang hai, trong phần ghi mục đích báo Nam Phong, ta đọc được những dòng chữ :

“Mục đích của báo Nam Phong là thể hiện cái chủ nghĩa khai hoá của Nhà nước, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, pháp văn, để giúp sự mở mang trí thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái tây, nhất là học thuật, tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn cái quốc tuý của nước Việt Nam ta. Báo Nam Phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An-nam.”

Những dòng chữ này còn được đăng đi đăng lại không ngừng trên nhiều số báo Nam Phong kế tiếp.

Như thế , chủ đích của chính quyền bảo hộ đã được phơi bầy “chình ình” ngay từ số ra mắt của Nam Phong tạp chí rồi.

– Chủ đích cấp thời là lo việc tuyên truyền cho sự thắng lợi của Pháp trong cuộc Âu chiến hiện tại.

– Chủ đích thứ hai là thực hiện chính sách khai hoá, gieo rắc văn minh Thái tây, mà Toàn quyền Albert Sarraut đã đề ra.

Còn về phiá người Việt, trên bìa báo đó đã nói lên được những gì ?

– Dưới hai chữ tên báo NAM-PHONG in lớn, đậm nét, là hàng chữ nhỏ : Văn Học – Khoa Học – Tạp Chí.

Liền đó, về phiá tay phải có ghi một câu danh ngôn của Tổng thống Mỹ Roosevelt bằng cả hai chữ Việt và Pháp :”Có đồng đẳng mới bình đẳng được”, “Il n’y a que ceux qui sont des égaux sont égaux”. Phạm Quỳnh coi đó là một châm ngôn nhắc nhở ông nhắm hoạt động của mình vào việc phổ thông giáo dục, nâng cao dân trí cho bằng người để mong sớm đưa dân tộc đến ngày tự do (Phạm Quỳnh trong Độc Thư Tạp Ký còn chép :”Trong kinh Coran của đạo Hồi có lời tuyên ngôn :”Trong bọn tôi tớ nhà ngươi, có kẻ nào biết làm đơn xin giải phóng thì ngươi xét có xứng đáng nên giải phóng cho nó”. Hết thảy quyền tự do ở đời không phải kẻ làm chủ làm thày muốn hay không muốn cho mà được … Nói rằng biết làm đơn xin thì sẽ xét cho, nghĩa là trước hết phải biết đọc biết viết đã, phải cố gắng cho tới cái địa vị làm người tự do, biết trách nhiệm … biết bổn phận của mình, bấy giờ chí mình đã quyết thì quyền tự do của mình còn ai lấy được nữa.” (Georges Deherme, Thượng Chi Văn Tập, tập II)

Và trong đoạn văn nói về mục đích báo Nam Phong, Phạm Quỳnh ngoài quyết tâm “giúp sự mở mang trí thức”, còn chủ trương “Giữ gìn đạo đức trong quốc dân – bảo tồn cái quốc tuý của người Việt Nam – tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam.”

Rõ ràng đây chỉ là một vài vấn đề văn hoá của người bản xứ, chẳng dính gì đến chính trị cả, nên cuối cùng Louis Marty chấp nhận được. Vả buổi ấy chính quyền bảo hộ chẳng đã cho dân An Nam được quyền làm văn hoá “miễn là không phạm đến chính trị thì tha hồ ngôn luận” là gì ? (Chữ dùng trong bài “Luận về chánh học cùng tà thuyết, Quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du” Ngô Đức Kế, báo Hữu Thanh số 21, ngày 1-9-1924).

Sau này, càng có dịp đọc những bài luận thuyết của Phạm Quỳnh liên quan đến vấn đề quốc văn, quốc học, quốc túy, ta càng hiểu được cái thâm trầm, cái ý nhị của họ Phạm muốn gửi gấm qua mấy câu đơn sơ đó. Phạm Quỳnh muốn nhắn cho độc giả ông biết rằng ông sẽ dùng chúng như một chiến thuật để “bẻ gãy”, để “vô hiệu hoá” cái dã tâm của thực dân muốn truyền bá văn minh tư tưởng học thuật Pháp chẳng phải vì lý tưởng khai hoá “nhân đạo” gì, mà thực ra cốt đưa dân ta đến chỗ bị “đồng hoá” để đời đời làm nô lệ cho họ.

Lại nữa, chính những chi tiết xác định tờ Nam Phong của chính quyền Pháp như vừa được trình bày ở trên, cũng như ở trang hai bìa báo (từ số 20 trở đi), phần giới thiệu những người sáng lập tờ Nam Phong, tên Louis Marty được xếp vào giữa Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (Nguyễn Bá Trác còn là chủ bút phần chữ Nho cho tới khi ông được vời vào Huế làm quan (tháng 9-1919). Kể từ số 27 (9-1919) một mình Phạm Quỳnh lãnh trách nhiệm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong), với cả danh phận “Trưởng toà Chánh trị ở phủ Toàn quyền”, Phạm Quỳnh cũng muốn “lưu ý” độc giả của ông rằng : Đã là báo của chính quyền bảo hộ, thì tất nhiên họ đòi hỏi phải có những bài viết nằm trong chính sách của họ, tuyên truyền ca tụng những cái hay cái đẹp của dân tộc họ, khen lao những việc làm của chính họ. Phạm Quỳnh mong đồng bào sẽ hiểu và thông cảm cho tình cảnh éo le của ông mà đừng chấp nhất đến một số những lời nịnh nọt, tán tụng Pháp trong đó làm chi.

Phạm Quỳnh, một trí thức thông minh, tài hoa, đã phải bôi tro trát trấu ra hợp tác công khai với chính quyền bảo hộ, phải để chính ngòi bút của mình cùng vài ngòi bút khác của Nam Phong viết một số bài “nịnh tây”, hay nói như một số dư luận chống đối bây giờ là “hót tây”, làm “bồi tây”, hay tệ hơn nữa, là phải “đánh đĩ ngòi bút” để phục vụ cho quan thầy bảo hộ, cũng chỉ vì muốn mua chuộc cảm tình, lấy lòng tin của họ cho mình được yên thân lo việc phù thế giáo, cho mình được yên thân hoạt động văn hoá phụng sự dân tộc. Dầu đã được trang bị bằng những lý lẽ cao thượng thế nào chăng nữa, Phạm Quỳnh vẫn không khỏi có nhiều lúc đau lòng, thương thân, nỗi niềm không thể bày tỏ cùng ai. Cuối cùng ông đã tìm thấy ở cô Kiều một niềm an ủi : một người bạn tâm sự, một người đồng cảnh ngộ.

Như chúng ta đã biết, cô Kiều trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là một thiếu nữ thông minh, tài hoa, diễm lệ tuyệt vời ; đã có một mối tình tha thiết với chàng Kim Trọng; chỉ vì gia biến, cô phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền hối lộ cứu cha, và giữ được vẹn toàn cho cả gia đình :

Thà rằng liều một thân con

Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.

để rồi bị họ Mã lừa mà phải đầy đoạ trong kiếp gái lầu xanh.

Những đêm về sáng chợt tỉnh giấc, cô Kiều xiết bao tủi thương cho thân phận hiện tại của mình :

Mặt sao dầy gió dạn sương

Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân.

Đôi khi cô phải gượng sầu làm vui, nhưng vui làm sao được, vì có ai là người san sẻ nỗi niềm tâm sự :

Vui là vui gượng kẻo mà

Ai tri âm đó, mặn mà với ai.

Như thế, qua một cái nhìn đại cương, ta thấy quả đã có sự tương ứng, trùng hợp giữa Phạm Quỳnh và cô Kiều từ giá trị nội tại, cảnh ngộ éo le đến tâm sự cô đơn. Từ đó ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy trong bài “Cô Kiều với tôi” Phạm Quỳnh đã viết những câu như “Cô Kiều đối với tôi có cái thanh khí thâm trầm … có khi âm thầm não nuột như tiếng gọi xa xăm của một âm hồn “tri kỷ” từ chín suối đưa lên … tưởng như người ấy sống luôn bên mình”. Và mới hiểu vì sao trong nhiều đoạn văn viết bất cứ dưới đề mục nào, Phạm Quỳnh cũng thường xen vào một hai câu thơ Kiều, không chỉ để thêm “mặn mà”, thêm “ý nhị”, mà chính vì Phạm Quỳnh muốn cô Kiều luôn luôn hiện diện ở bên ông, để nâng đỡ và chia sớt với ông những nỗi vui, buồn trong cuộc đời.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: