Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 1, 2010

Về thuật ngữ tiểu thuyết trên Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:54 chiều

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 10 năm 2010.

VỀ THUẬT NGỮ TIỂU THUYẾT TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

Nguyễn Đức Thuận

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học (Viện Văn học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam ) số 2/2005 của Nghiên cứu sinh Văn học Nguyễn Đức Thuận.

*

* *

Thuật ngữ “Tiểu thuyết” trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời gắn với sự hình thành và phát triển của thể loại tiểu thuyết hiện đại trên Nam phong tạp chí nói riêng và gắn với sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam nói chung. Trong suốt thời gian 17 năm tồn tại, Nam Phong tạp chí đã có công gây dựng nền văn xuôi quốc ngữ của nước nhà, trong đó có việc xây dựng thể loại tiểu thuyết. Nam Phong tạp chí đã dẫn dắt, định hướng và cổ vũ cho các cây bút văn xuôi của nước ta sáng tác đoản thiên tiểu thuyết- truyện ngắn, một thể loại văn học cho đến giai đoạn bấy giờ nền văn học viết bằng chữ quốc ngữ Latinh của nước ta mới ở điểm khởi đầu. Theo thống kê của chúng tôi, qua thời gian 17 năm tồn tại, tạp chí này đã gây dựng và cho ra đời được tới 35 đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, của 17 tác giả[1]. Ở vào thời kỳ bình minh của tiểu thuyết viết bằng quốc ngữ, đó là một sự cố gắng, một thành tựu đáng được ghi nhận!

Từ lâu, tiểu thuyết trên Nam Phong tạp chí đã trở thành đối tượng quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, để tìm hiểu đầy đủ diện mạo của tiểu thuyết trên Nam Phong tạp chí, từ vai trò, vị trí đến quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm nội dung, nghệ thuật, các khuynh hướng của tiểu thuyết trên Nam Phong tạp chí, v.v… chúng tôi nghĩ rằng cần trở lại với tính lịch sử – cụ thể của thuật ngữ “tiểu thuyết” mà chính “bản báo” Nam Phong đã “nhập tịch” (chữ của Lê Thanh)[2] để làm công cụ định hướng sáng tác cho các cây bút viết tiểu thuyết, truyện ngắn ở vào giai đoạn giao thời của văn học nước nhà. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin bước đầu tìm hiểu quá trình hình thành và nội hàm của thuật ngữ “tiểu thuyết” trên Nam Phong tạp chí (1917-1934).

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THUẬT NGỮ TIỂU THUYẾT TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ:

Từ số 2 năm 1917, Nam Phong tạp chí đã nêu rõ: “Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ”, bởi vì “xét hiện tình” nước ta đến giai đoạn bấy giờ tuy “có nước mà không có văn”.[3] “Không có văn” ở đây được hiểu là, cho đến hồi đầu thế kỷ XX, ta vẫn chưa có một thể loại văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ. Vì  vậy, “để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết”[4], Nam Phong đã bắt đầu bằng việc dịch những tiểu thuyết của nước ngoài để các cây bút viết văn xuôi của ta thời bấy giờ có hình mẫu mà “bắt chước”. Mỗi truyện dịch, Nam Phong đều có mấy lời tiểu dẫn có tính chất định hướng về lý thuyết thể loại.

Chính vì thế, ngay ở số 1, số mở đầu, tháng 7 năm 1917, Nam Phong tạp chí đã dịch đăng tiểu thuyết Truyện cái dấu đỏ của De Vigny, và đến số 2, tháng 8 năm 1917, khi dịch Truyện người lính bằng tuyết ( Pháp văn của Georged Esparbés),  dịch giả là ông chủ bút Phạm Quỳnh viết lời dẫn như sau:

Truyện dịch sau này là thuộc về lối đoản thiên tiểu thuyết (Conte nouvelle). Lối ấy cũng là một lối hay trong văn chương Tây, các văn sĩ ta có thể bắt chước mà làm bằng tiếng Nôm, vì lối tiểu thuyết dài thì hiện nay người ta còn chưa đủ tư cách mà khởi hành được”.

Ý kiến trên của ông chủ bút Nam Phong có hai hội dung: một, đó là ông dùng thuật ngữ “đoản thiên tiểu thuyết” mà ông đã dùng Hán văn để thế chỗ cho thuật ngữ của Pháp; hai là, qua việc cho in tiểu thuyết dịch này, ông chủ bút muốn gợi ý cho các văn sĩ nước ta “bắt chước” mà làm theo lối văn đó. Ông biết được rằng tình hình quốc văn của ta hồi đó và khả năng của các văn sĩ ta là “chưa đủ tư cách” để sáng tác “tiểu thuyết dài”.

Đến số 5, tháng 11/1917, Nam Phong tạp chí lại giới thiệu một truyện dịch khác: Tự nguyện góa chồng, tác giả: Paul Ivoi, dịch giả: Phạm Quỳnh. Truyện kể về hai cô gái người Pháp, đặt quyền lợi của quốc gia (nước Pháp) lên trên hạnh phúc cá nhân mình, đã giết chết hai anh chồng người Đức phản bội. Truyện cũng có mấy lời phi lộ của người dịch như sau:

Truyện dịch sau này cũng là thuộc về lối đoản thiên tiểu thuyết, như Truyện người lính bằng tuyết đăng trong số báo thứ hai. Văn chương tuyệt xảo. Nhời văn như có sinh hoạt vận động, cái thảm kịch hiển nhiên như thực, như diễn ra trên sân khấu vậy. Các văn sĩ ta nên kíp mà tập lấy cái lối truyện đoản thiên này. Tức cũng như lối truyện Liêu Trai, nhưng lời văn thành thực, nghĩa truyện thảm thiết biết chừng nào! Văn quốc ngữ quyết là có thể làm được những tiểu thuyết ngắn như thế. Xin cố lên”

Qua mấy lời “bình” về văn chương của Paul Ivoi trong truyện Tự nguyện góa chồng, có thể hiểu rằng, Nam Phong đã xác định thể loại truyện dịch trên là thuộc về lối “đoản thiên tiểu thuyết”, đồng thời muốn gợi ý về “nhời văn” của đoản thiên tiểu thuyết do các cây bút nước ta sáng tác tới đây cũng phải sống động, các tình tiết của truyện cũng phải “như thực, như diễn ra trên sân khấu vậy”. Và để các cây bút viết văn của ta dễ bắt chước, Nam Phong so sánh với “lối truyện Liêu Trai” của Tàu cũng vốn rất gần gũi với văn học của ta. Tuy nhiên, cần lưu ý từ “nhưng” ở câu văn này! Là vì so với “truyện Liêu Trai, “lời văn” của truyện dịch này “thành thực” và “nghĩa truyện thảm thiết” hơn. Gợi ý cho các cây bút sáng tác của ta bấy giờ viết truyện “lời văn thành thực”, Nam Phong đã đi đúng tới cái gốc của sự sáng tác! Và, Nam Phong đã nhiệt tình cổ động các cây bút viết văn quốc ngữ nước ta “xin cố lên”, với niềm tin: “quyết là có thể làm được những tiểu thuyết ngắn như thế”

Đến số 7, tháng 1 năm 1918, xét thấy đã có thể làm được, Nam Phong đã quyết định tổ chức một “Cuộc thi thơ văn của bản báo” (cuộc thi này đã công cáo từ số 5). Trong “Điều lệ về cuộc thi”, ở “Điều 4” Nam Phong có ghi rõ: “Tiểu thuyết phải làm theo lối Âu châu, tự đặt ra, không được dịch hoặc bắt chước chuyện Tàu, chuyện Tây. Phải dùng phép tả thực, không được bịa đặt những việc hoang đường, kì quái. Trọng nhất là tả được cái tâm lý người ta cùng các tình trạng xã hội. Không nên đặt những chuyện có thể phương hại đến luân lý và tôn giáo, hoặc quan hệ đến chính trị”, và “Điều 6”: “Quyển  thi phải gửi trước ngày 30 tháng 6 năm 1918”. “Giải thưởng: tiểu thuyết hay nhất: 60,00đ; nhì 35,00đ; (tr.17)”. Bằng vào những lời ghi trong điều lệ cuộc thi, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:

–          Nam Phong cổ động và hướng các văn sĩ ta sáng tác tiểu thuyết phải “làm theo lối Âu châu” (cụ thể là Pháp).

–          Về phương pháp hay khuynh hướng sáng tác, Nam Phong yêu cầu phải dùng phép “tả thực”.

–          Về đối tượng miêu tả, Nam Phong chủ trương: “tả được cái tâm lý người ta cùng các tình trạng xã hội”.

–          Về nội dung: “Không nên đặt những chuyện có thể phương hại đến luân lý và tôn giáo, hoặc quan hệ đến chính trị”

Như thế là đã rõ! Từ đề tài, khuynh hướng, nội dung và hình thức… của tiểu thuyết, Nam Phong đều có sự hướng đẫn và yêu cầu rất cụ thể. Tiếc thay, cuộc thi này không thành! Nam Phong số 24, tháng 6-1919 ngậm ngùi công bố kết quả như sau: Chi có 4 quyển tiểu thuyết, 2 quyển cẩm nang tham tham gia. Nhưng không ai được giải cả!

Tuy nhiên, dù thất bại, nhưng Nam Phong tạp chí cũng đã bước đầu phát động được trong ý thức các văn sĩ nước ta thời bấy giờ một tinh thần, một ý niệm về một thể loại mới, thể loại “tiểu thuyết” mà cho đến bấy giờ văn đàn quốc ngữ Latinh của nước nhà vẫn mới ở giai đoạn khởi đầu.

Thế rồi, không bao lâu sau, kể từ ngày Nam Phong cổ động các văn sĩ nước ta “xin cố lên”, bắt chước “lối đoản thiên tiểu thuyết” mà Nam Phong đã dịch của Pháp ra tiếng Việt, đến số 10, tháng 1-1918, Nam Phong “hân hoan” với một dòng “tít” to, in đậm: “Tiểu thuyết mới”: “Câu chuyện gia đình” tiểu thuyết đầu tay của nhà giáo Nguyễn Bá Học và cũng là tiểu thuyết bằng văn xuôi quốc ngữ đầu tiên của Nam Phong tạp chí, rồi kế đó là Truyện ông Lý Chắm (Nam Phong tạp chí, số 13, tháng 7-1918, tr.50). Đặc biệt, tới truyện thứ ba ra mắt độc giả nước nhà, truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (Nam Phong tạp chí, số 18, tháng 12-1918), ông chủ bút Phạm Quỳnh đã đăng mấy lời giới thiệu trân trọng sau đây:

Trong học giới báo ta, chắc ai cũng đã biết tên ông Phạm Duy Tốn. Ông là một người rất nhiệt thành với văn quốc ngữ và đã biệt lập ra một lối văn riêng, lấy sự tả chân làm cốt. Mỗi bài văn của ông như một tấm ảnh phản chiếu cái chân tướng như hệt.

Ông tin rằng văn chương đã tả được hết cái cảnh thực là khắc có cái sức cảm động vô cùng, không cần phải nghị luận xa xôi.

Văn chương ta xưa nay thường lấy sự mập mờ, phảng phất làm hay, càng phiêu diêu bao nhiêu, càng huyền diệu bấy nhiêu, nên ít dùng lối tả thực, coi là tầm thường. Nay xét văn học ta, họa học của Thái Tây, phần nhiều lại trọng lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn của ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mắt người ta mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chệ” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay.

Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”

Trong lời giới thiệu khá dài này, ta có thể nhận thấy một điều là, Nam Phong đã cổ vũ rất hăng hái cho tiểu thuyết dùng “lối văn tả thực”. Văn tả thực, theo Nam Phong, sẽ có thể tự nói lên được chủ đề, nội dung của truyện, mà tác giả không cần phải nghị luận xa xôi, không cần “bước vào” truyện để mà phát biểu những lời trữ tình ngoại đề như lối văn trước đây nữa.

Cũng cùng số đó, Nam Phong giới thiệu truyện thứ tư là Cái oan càng nghiệt, mối tình càng to của Hồng Giện, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm. Đoản thiên tiểu thuyết này cũng được ông chủ bút Nam Phong Phạm Quỳnh viết mấy lời giới thiệu như sau:

Đại khái bài này dùng lối tả chân, hoặc tả cảnh, hoặc tả tình, hoặc tả cái cách ăn nói, đứng ngồi của người trong truyện đều vụ lấy cho hệt như thực, hệt như là có việc hiển nhiên. Tuy nhiên, có chỗ còn hơi rậm bút một chút, như những đoạn mấy người than khóc với nhau khí thảm quá. Nhưng đại để, cách dàn bài đã khéo lắm, kể thuật có từng lớp, tình nào hợp cảnh ấy, và có cái ngụ ý cao xa…”

Có thể nói, chính những lời dẫn truyện này, Nam Phong đã làm môt công việc có tính chất lý luận và phê bình, hướng dẫn các văn sĩ ta sáng tác tiểu thuyết theo khuynh hướng tả thực mà Nam Phong đã chủ trương.

Lại một số khác (Nam Phong, số 21, tháng 3-1919), vẫn để cổ động cho lối văn chương tả thực, Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) đã dịch bài Lối tả chân trong văn chương (Bàn về nhà văn Pháp Guy de Maupassant 1850-1893) đăng trên báo. Dưới đây là đoạn nói về ý thức tôn trọng sự tả thực của văn sĩ Guy de Maupassant:

Cái tính hiếu thực của ông đã thành tích, trong khi làm văn ông không dám làm sai sự thực một mảy may, coi sự thực như thánh thần vậy. Ông không biết cái thuật chuyển đích sự thực ra lời văn, coi cái thuật đó như một sự phạm tội với cái đạo tả chân (doctrine réaliste) vậy. Bởi thế, nên những bài đoản thiên của ông khéo lắm, có thể ví như cái cửa sổ mở vào giữa cuộc đời, nhưng mở một lát lại đóng lại ngay…”

Ở một đoạn khác tác giả lại viết: “Ông (Guy de Maupassant) lấy cái tính lãnh đạm , lấy con mắt “khách quan” (objectif) mà bày trần ra cái tiểu thế giới (le petit monde) đó không hề nghị luận thêm một lời nào. Để tùy cái tính chất người đọc, mỗi người kết luận ra thế nào thì kết …”

Những ý kiến trên, trong khi chưa có một bài lý luận nào về loại thể văn học và nhất là ở vào giai đoạn khởi đầu của tiểu thuyết nước ta, có thể xem như những cơ sở lý luận có tính chất hướng đạo, mở lối cho người sáng tác.

Không chỉ riêng ông chủ bút Phạm Quỳnh quan tâm tới công việc này, Vũ Công Nghị khi dịch Cổ Liên nữ sĩ của Nam tước phu nhân Stael cũng có mấy lời cảnh giới các dịch giả trong nước như sau:

Anh em ta ai là người có thể dịch được văn nước ngoài ra quốc văn, thì nên chọn cho cẩn thận những áng văn hoặc có ích cho phong hóa nước nhà, hoặc có bổ cho quốc văn hẵng dịch” (Nam Phong số 61, tháng 7-1922, tr51).

Tất cả các tác giả thời bấy giờ, từ nhiều phương diện trong đời sống văn chương bằng những hành động cụ thể đã cố gắng góp sức mình đặng dựng lên một thể tài mới – thể tài tiểu thuyết, góp phần xây dựng một nền quốc văn mới.

Sắp xếp các ý kiến rải rác qua những lời dẫn truyện ở trên, tập hợp lại một cách hệ thống chúng ta cũng có thể thấy được phần nào mô hình về một thể loại mới – thể loại tiểu thuyết, trên các phương diện mà Nam Phong đã gợi ý cho các cây bút sáng tác noi theo, từ khái niệm thuật ngữ đến đề tài, chủ đề, khuynh hướng sáng tác, cho đến cả “nhời văn”, “nghĩa truyện”

Nhìn nhận một cách tổng quát, trên bình diện tổ chức, trong hơn ba năm ấy (từ tháng 8 năm 1917 đến tháng 1 năm 1921), Nam Phong đã rất chú trọng đến việc cổ động, hướng dẫn (bằng cách dịch các tiểu thuyết Tây làm mẫu), viết những lời dẫn truyện để gợi ý, và cuối cùng là viết bài giới thiệu về thể loại nhằm giúp các văn sĩ nước ta, có một mô hình về thể loại, để tập dượt, để “bắt chước”, làm ra được những tiểu thuyết mới, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn học nước nhà. Thực tiễn, những nhà văn  mở đường của nền tiểu thuyết mới nước ta như: Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Mân Châu, Vũ Miễn Nam… ở thời kì đó đã tiếp nhận được khá nhiều tri thức về lý thuyết thể loại từ những ý kiến mở hướng trên.

VỀ THUẬT NGỮ TIỂU THUYẾT TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ:

Sau này, trên cơ sở những ý kiến đó, ông chủ bút Nam Phong Phạm Quỳnh đã tập hợp lại, viết thành một bài báo có tính chất lý luận lấy nhan đề: Bàn về tiểu thuyết đăng trên Nam Phong số 43, tháng 1-1921. Có thể nói, sau này nhìn lại, mặc dù còn có những hạn chế này nọ về nội dung khoa học, nhưng bài báo đó đã có tác dụng trực tiếp hướng dẫn các văn sĩ nước ta bước đầu có ý niệm về thể loại tiểu thuyết để sáng tác tốt hơn.

Có thể xem đây là một bài viết lý luận về thể loại tiểu thuyết đầu tiên ở nước ta. Bài báo này là sự thể hiện đầy đủ nhất quan niệm của Nam Phong tạp chí về thể loại tiểu thuyết, từ đó chi phối việc sáng tác của các văn sĩ cũng như việc biên tập nội dung và cho đăng tác phẩm. Trong bài viết này, ông chủ bút Phạm Quỳnh đã có định nghĩa về tiểu thuyết như sau:

Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú”.

Thật ra, định nghĩa này ông chủ bút Nam Phong tạp chí đã dịch thoát từ một định nghĩa về thuật ngữ “tiểu thuyết” trong tự điển Lettré của Pháp như sau:

Tiểu thuyết là “một câu chuyện bịa đặt viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả hoặc mô tả tình cảm, các phong tục, hoặc kể về những sự việc kỳ lạ cốt gây hứng thú cho độc giả” (Une histore peinte écrite en prôse, où l’auteur cherche à exciter l’interêt par la peinture des passions, des moeurs, ou par la singularité des aventures).[5]

Sau định nghĩa đó, Phạm Quỳnh giải thích thích thêm: “Như vậy thời phạm vi của tiểu thuyết rộng lắm: phàm sách thì không phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thơ ca thời là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết có khi lại gồm được cả các lối kia, vì trong một bộ tiểu thuyết cũng có chỗ nghị luận, chỗ khảo cứu, chỗ ngâm vịnh, chỗ khuyên răn, cứ nghĩa hai chữ “tiểu thuyết” trong sách Tàu thời lại rộng lắm nữa, phàm sách gì không phải là “chính thư” (nghĩa là sách để học như kinh, truyện, sử…) đều là tiểu thuyết cả, nhưng tiểu thuyết đây tức là tạp thuyết, có khác với nghĩa tiểu thuyết bây giờ…”. Và ông chốt lại: “Nói tóm lại thời tiểu thuyết là một truyện bịa đặt mà có thú vị”, “tiểu thuyết khéo bày đặt những truyện vui truyện lạ cho ai nấy phải mê”.

Khi bàn về việc xây dựng kết cấu và nhân vật, Phạm Quỳnh cho rằng “phần cốt yếu trong phép làm tiểu thuyết là sự kết cấu”, và ông nhấn mạnh “phàm kết cấu ra một truyện, phải có hai phần, một là nhân vật, hai là tình tiết, nghĩa là người và việc”. Ông cho rằng, khi viết truyện “Bấy nhiêu việc đều phải khuynh hướng về một nơi trung tâm điểm, là cái phần then chốt, cái khu nữu (tức cái nút thắt – PT chú) trong truyện (le noeud de l’action ou de l’intrigue), tức là cho mọi việc dấu cả vào đấy, “chỗ thắt nút”, để rồi cởi gỡ về sau… Còn về nhân vật, tác giả, Bàn về tiểu thuyết đã có những yêu cầu khá chi tiết và cụ thể: “kết cấu các nhân vật trong tiểu thuyết, bao giờ cũng phải căn cứ ở cái tính thông thường của loài người”, “các nhân vật trong tiểu thuyết phải có sinh hoạt như người thường, cử động như người thật, chớ không thể như cái tượng gỗ hay là hình bù nhìn được… Đại khái người trong tiểu thuyết phải tả thế nào cho thành những “mô dạng” (des types),  nghĩa là mỗi người có thể làm biểu hiệu cho một hạng người trong xã hội, mà mỗi người lại vẫn có một tính cách riêng, tức là nhân vật kết cấu ra phải có một phần phổ thông giống với nhiều người, và một phần đặc biệt riêng của một người vậy”.

Bàn về “các lối hành văn”, tác giả viết: “văn tiểu thuyết chính là văn tự sự, tự sự nghĩa là văn kể chuyện”, và “trong một bộ tiểu thuyết không có lối văn gì là không dùng đến”. Ông có ý chê lối văn Tàu, lối văn mà nhiều cây bút viết văn của nước ta hồi đó còn ảnh hưởng nặng nề, là lối văn “chép sử”, lối văn “không đảo ngược”, lối văn “đường thẳng”, không khỏi “cái buồn một giọng”. Ông cổ động các cây bút sáng tác của nước ta thời bấy giờ nên bắt chước lối văn Tây, vì “văn Tây có cái vẻ đột ngột tự nhiên, kể chuyện gì nói ngay vào việc, có ý lanh lẹ hoạt bát, vì cứ theo cái điệu trong truyện mà khi hoãn khi gấp, khi gần khi xa…bao giờ cũng là in với nghĩa truyện…”. Đặc biệt, theo tác giả, văn Tây đặc sắc nhất là: “đương dùng lối tự sự lại biết khéo tham bác các lối tả cảnh tả tình…”. Cuối cùng, tác giả bài viết đã đề cập đến vấn đề cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật “người nào nói theo tính cách riêng của người ấy”, “mỗi câu nói là một nét bút tả cái tâm tính một người vậy”.

Có thể nói, tất cả những công việc, từ vấn đề nghiên cứu phổ biến lý thuyết, mang tính chất hướng dẫn xác định mô hình thể loại cho đến những việc mang tính chất “bếp núc” của việc sáng tác một “tiểu thuyết” như thế nào, tác giả Bàn về tiểu thuyết cũng đã “bàn” khá kỹ!

Trong bài viết này, Phạm Quỳnh còn dựa vào “ý nghĩa mà chia ra” làm nhiều loại tiểu thuyết, như: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết về triết học, tiểu thuyết về xã hội, tiểu thuyết về tâm lí,…gọi tổng danh là “lý luận tiểu thuyết” (roman à thèses). Dựa vào “hình thức” mà chia thời có: tiểu thuyết tự sự, tiểu thuyết bằng thư trát vãng lai, nghĩa là theo thể viết thư, tiểu thuyết bằng nhật ký, bằng tự truyện… Lại có lối tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết lí tưởng, tiểu thuyết ngụ ngôn, tiểu thuyết cảm hoài… Sau cùng, ông dựa vào “tính chất” các tiểu thuyết mà phân ra làm ba loại: tiểu thuyết ngôn tình (romans passionnels), tiểu thuyết tả thực (romans de moeurs), tiểu thuyết truyền kì (romans d’aventures). Trong ba loại tiểu thuyết này, tiểu thuyết ngôn tình “là loại thịnh hành hơn cả”, “tiểu thuyết đời nào, nước nào cũng là thiên tả về ái tình nhiều lắm, và nhất là tiểu thuyết của các nước Âu Mỹ đời nay lại dành cho ái tình một cái địa vị rất là to lớn”. Ông cho rằng: “nhà tiểu thuyết không tất nhiên là phải đồng thanh nối gót với nhà luân lý, nhà đạo đức; song có điều rằng nói chuyện tình mà chỉ thiên ý tả cái trạng thái thô bỉ của tình nhiều hơn là cái tinh thần cao thượng của tình, thời không khỏi không hại cho phong tục, cho xã hội, cho phụ nữ, cho thanh niên…”. Ông cảnh báo các cây bút sáng tác tiểu thuyết của nước ta chớ nên làm theo cái thứ tiểu thuyết ấy: “đương lúc lối tiểu thuyết còn phôi thai ở nước ta, hoặc có người thấy những tiểu thuyết ngôn tình của Tây hay mà muốn bắt chước thật cũng rất nên răn vậy”.

Thiết nghĩ, so với lý thuyết về thể loại và nhân vật sau này, những ý kiến của tác giả Bàn về tiểu thuyết từ ngày ấy cũng không khác nhau là mấy! Ở vào thời điểm bấy giờ, “bàn về tiểu thuyết” như thế, kể cũng đã là xác đáng!

Khi phân biệt giữa “đoản thiên”, “trung thiên” và “trường thiên” tiểu thuyết, tác giả Bàn về tiểu thuyết cho rằng, những loại “Tiểu thuyết ngôn tình” (“trong có nói chuyện tình”), “Tiểu thuyết tả thực” (“tiểu thuyết về phong tục” – romans de moeurs), “nghĩa là cốt tả cái tình trạng trong xã hội” và “Tiểu thuyết truyền kỳ” (“chép những chuyện lạ, không phải hằng ngày trông thấy”) đều được cọi là những “trường thiên tiểu thuyết, nghĩa là những truyện dài cả”. Tác giá nói thêm: “đem in thành sách, khổ giấy trung bình, thường phải dùng hơn hai trăm đến ba trăm trang…”. Thực ra, sự phân biệt này là chưa thỏa đáng. Tác giả Bàn về tiểu thuyết đã dựa vào tính chất của đề tài và dung lượng vật chất của tác phẩm mà phân chia là chưa đủ. Căn cứ chủ yếu phải là ở qui mô phản ánh cuộc sống, qui mô xây dựng nhân vật và hệ thống các nhân vật của tác phẩm.

Ở đoạn tiếp theo, tác giả viết: “Nhưng ngoài các lối ấy có một lối gọi là “đoản thiên tiểu thuyết” (nouvelle) nghĩa là tiểu thuyết ngắn, thể thức cũng như thường, chỉ có ngắn hơn mà thôi, lại có lời gọi là chí dị hay là nhàn đàm tiểu thuyết (cote, Nhật Bản gọi là “lưu li ngữ”) cũng là một thể tiểu thuyết ngắn, nhưng thường thuật những chuyện hư không tưởng tượng, hoặc hoạt kê khoi hài, cốt lấy ý tứ thanh thoát, lời văn nhẹ nhàng, cũng có một đôi khi ngụ ngôn, khuyến giới…”

Vào thời kỳ bấy giờ, khi lý luận về thể loại văn học ở nước ta đang còn là những trang giấy trắng thì các thuật ngữ, khái niệm mà Phạm Quỳnh vay mượn hoặc dịch ra từ tiếng nước ngoài để sử dụng tất nhiên là còn thiếu tính chính xác, khoa học, chặt chẽ. Đã phải dịch thuật ngữ Tây lại còn phải dùng từ Hán Việt để diễn đạt, như thế tác giả cũng đã có một sự cố gắng lớn. Mặc dù còn có những điều phải bàn thêm nữa, nhưng về cơ bản các thuật ngữ “đoản thiên tiểu thuyết”, “trung thiên tiểu thuyết”, “trường thiên tiểu thuyết”, tương ứng với thuật ngữ “truyện ngắn”, truyện vừa”, “tiểu thuyết” mà chúng ta sử dụng hiện nay. Thuật ngữ “Đoản thiên tiểu thuyết” đã được Nam Phong đặt thành một mục riêng, mục “Tiểu thuyết”, là một trong tám mục thường kỳ của tạp chí, được dùng từ năm 1917 cho đến mãi năm 1933. Từ số 197, tháng 5 năm 1934 trở đi cho đến khi đình bản (12-1934), Nam Phong tạp chí mới đổi tên mục này là “Truyện ngắn”.

Lâu nay, nhiều người nghiên cứu giai đoạn văn học này vẫn thường dùng thuật ngữ “Truyện ngắn” để gọi tên cho những “Đoản thiên tiểu thuyết” trên Nam Phong tạp chí. Dùng như thế chỉ nhằm mục đích làm cho “tiện” và dễ gọi mà thôi! Thực ra, Nam Phong tạp chí đã sử dụng thuật ngữ “Đoản thiên tiểu thuyết” (hay đảo lại là “Tiểu thuyết đoản thiên”), rồi sau này là “Truyện ngắn” như đã nêu trên là có ý thức rõ rệt. Thể loại này không hẳn đồng nhất với thể loại truyện ngắn. Chính trong Lý luận văn học của Gulaiép, về loại hình tự sự, tác giả cũng đã chia làm 8 loại nhỏ: Trường ca tự sự (anh hùng ca), Trường ca, Trờng ca tự sự trữ tình, Tiểu thuyết, Truyện vừa, Truyện ngắn, Tiểu thuyết đoản thiên, Ký. Như vậy, “Tiểu thuyết đoản thiên” với tư cách là một thể loại, nó có tính chất độc lập. Khái niệm về thể loại này, Gulaiép viết: “Tiểu thuyết đoản thiên cũng thuộc hình thức tự sự loại nhỏ (tiếng Italy nouvella-tin tức). Không có những dấu hiệu rõ ràng phân ranh giới giữa nó và truyện ngắn. Song các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một loạt nét đặc thù của nó trong cấu trúc, bộc lộ rõ rệt nhất trong thời kỳ đầu phát sinh và phát triển của thể loại tiểu thuyết đoản thiên”[6]. Theo tác giả thì thể loại này xuất hiện rõ vào thời đại Phục Hưng. “Nó hình thành trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa nhân văn châu Âu, khi còn chưa có những hiện tượng khủng hoảng dẫn tới nảy sinh tiểu thuyết và bi kịch”. Rõ ràng “Tiểu thuyết đoản thiên” có nguồn gốc lịch sử của nó. “Nó mang theo một thái độ mới đối với hình thái phong kiến của cuộc sống, đối với đạo đức trung cổ”.

Nói tóm lại, nếu như “Tiểu thuyết đoản thiên” với tư cách là một thể loại có nguồn gốc lịch sử và những đặc điểm thể loại riêng biệt như ý kiến của Gulaiép ở trên, đem đối chiếu với việc sử dụng thuật ngữ  và thực tiễn sáng tác của Nam Phong, chúng ta có thể kết luận rằng: chính thuật ngữ này là thuật ngữ chính xác để Nam Phong, gọi tên cho những truyện đăng trên Nam phong tạp chí từ số 10, tháng 1-1928 đến số 179, tháng 12-1932. Từ năm 1933 đến tháng 12-1934 (đình bản), Nam Phong tạp chí dùng thuật ngữ “Truyện ngắn” là đúng với thể loại của những sáng tác tiếp đó (như các truyện ngắn Ông phó Xe, Bức ảnh phóng đại, Vì đâu nên nỗi…).

Và nếu như quả là thuật ngữ “Tiểu thuyết đoản thiên” mà Nam Phong tạp chí và một số báo chí, tạp chí khác cùng thời đã sử dụng nói chung là đúng và được các nhà nghiên cứu chấp nhận, thì chúng tôi nghĩ rằng: Nam Phong tạp chí đã du nhập thể loại “Tiểu thuyết đoản thiên” (Nouvella) vốn có từ nguồn gốc phương Tây vào Việt Nam vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh văn học nước nhà đang trên con đường hiện đại hóa, và Nam Phong đã nhiệt tình cổ động các văn sĩ nước ta sáng tác theo thể loại ấy. Như vậy, tiểu thuyết đoản thiên có thể được coi là tiền thân của thể loại truyện ngắn ngày nay.

Đến đây, lịch sử thể loại tự sự ở nước ta có một thể loại là “Tiểu thuyết đoản thiên” xuất hiện vào cuối những năm 1910 và những năm 20 của thế kỷ XX, rồi sau này nó được thay thế bằng “Truyện ngắn” vào những năm 30 của thể kỷ. Thực tế những đoản thiên tiểu thuyết của Nam Phong tạp chí trong giai đoạn bấy giờ đã in rất rõ dấu ấn đặc điểm của thể loại này, (Bác nghiện – Vũ Miễn Nam, Câu chuyện nhà sư– Nguyễn Bá Học, Truyện cô Phụng– Đoàn Ngọc Bích, Duyên kỳ ngộ một chị hàng hoa – Nguyễn Ngọc Thiều, Tình xưa – Nguyễn Tiến Lãng…).

Nhưng lại cũng có một số truyện nằm ở ranh giới giữa tiểu thuyết “đoản thiên” và “truyện ngắn”, như Sống chết mặc bay– Phạm Duy Tốn, Một cánh hoa chìm-Nguyễn Văn Cơ, Giọt lệ hồng lâu – Hoàng Ngọc Phách…).

Nhìn lại tính lịch sử của thuật ngữ “tiểu thuyết” mà Nam Phong đã sử dụng như trên, lại căn cứ vào ý kiến của tác giả Bàn về tiểu thuyết, chúng ta vẫn nên dùng thuật ngữ “tiểu thuyết” khi tiếp cận với các “tiểu thuyết đoản thiên”, “tiểu thuyết trường thiên” đã in trên Nam Phong tạp chí trong thời gian 15 năm của “cái thuở ban đầu” (1917-1932) của nó. Hai năm cuối, từ tháng 1 năm 1932 đến tháng 12 năm 1934, Nam Phong mới đổi tên gọi “Đoản thiên tiểu thuyết” là “Truyện ngắn”, là phù hợp tính chất và đặc điểm của thể loại này từ đó về sau.

Hà Nội, 1984-Hải Phòng, 2004.

N.Đ.T.


[1] Theo Nguyễn Khắc Xuyên. Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong NXB Thuận Hóa, Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002, tr381-384, tác giả sách này đã thống kê 17 năm Nam Phong tạp chí đã cho đăng tới 73 truyện ngắn, tiểu thuyết của 37 tác giả. Có lẽ tiêu chí xác định tiểu thuyết trên Nam Phong khác với sự thống kê phân loại của chúng tôi và tác giả Lại Văn Hùng (Truyện ngắn Nam Phong (tuyển), NXB KHXH – Viện Văn học, 1989) là: chỉ thống kê những tiểu thuyết truyện ngắn “viết bằng chữ quốc ngữ”

[2] Lê Thanh: Nghiên cứu và phê bình văn học, NXB Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002, tr462.

[3] Phạm Quỳnh: Văn quốc ngữ, Nam Phong tạp chí (Văn học Khoa học tạp chí), số 2, tháng 8 năm 1917, Đông kinh ấn quán, Ïnprimerie Tonkinoise 14-16, Rue du Coton, Hà Nội.

[4] Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại, Tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr82.

[5] Trích lại của Doãn Quốc Sĩ, trong Văn học và tiểu thuyết, tr128. Cũng trong sách này, Doãn Quốc Sĩ còn nêu thêm ba định nghĩa nữa của Hoa Kỳ, Anh, Pháp để tham khảo.

[6] Gulaiép: Lý luận văn học, NXB Đại học Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982, tr260-261.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: