Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 15, 2010

Phạm Quỳnh và hoạt động chính trị

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:07 sáng

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 10 năm 2010.

PHẠM QUỲNH VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ

Gs. Phạm Thị Nhung

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bài thuyết trình nhan đề Cô Kiều với Phạm Quỳnh của Gs Phạm Thị Nhung đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20-12-1992. Nhan đề là của chúng tôi

*

*  *

1. THUYẾT QUÂN CHỦ LẬP HIẾN

Trong những tháng năm khó khăn về chính trị của đất nước, Phạm Quỳnh đã không biết làm gì hơn là chỉ hoạt động văn hoá. Dầu vậy mỗi khi nghĩ đến thời thế thì Phạm Quỳnh lại không cam lòng, ông đã mượn lời Lương Khải Siêu trong bài Tam Thập Tự Thuật mà than rằng :”Than ôi ! Tuổi đã ba mươi, sở chí, sở sự, trăm phần chưa được một phần, chỉ ngày ngày làm nô lệ cho câu văn, nói mép ngoài miệng, chẳng ích gì cho thời thế. Thường ngày nghĩ đến thật thấy tủi thẹn. Tự xét cái tài lực với cái địa vị của mình bây giờ, ngoài việc đó cũng không biết làm gì để cho tròn cái trách nhiệm quốc dân trong muôn một .. .. .. Sau này muốn báo ơn quốc dân, chưa biết thế nào, mỗi lần nghĩ tới không từng thấy kinh tâm động phách, ức tác không biết nói sao vậy.” (Làm Văn, Nam Phong, số 67, 1923).

Nhưng cũng “từ năm 1923 trở đi, khi ở Pháp về, Phạm Quỳnh thấy mình đã có nhiều uy tín trong dư luận, Nam Phong không còn là một cơ quan hợp tác có giọng nịnh hót chính quyền bảo hộ nữa, mà đã hướng dần sang một chiều tương đối độc lập. Sự nghị luận của Nam Phong chuyên hẳn sang chính trị : khảo về chính đảng (số 102), đảng Xã Hội nước Pháp, Lịch Sử học thuyết Tôn Văn (số 98), học thuyết Rousseau, Montesquieu, Voltaire (số 105) (Lịch Sử Văn Học Việt Nam, Phạm Thế Ngũ). Ngay bìa báo, cũng đã thấy có nhiều biến đổi để tiến dần đến hình thức Việt hoá.

Từ số 34, tháng 4-1920, dấu triện của hội Khai Trí Tiến Đức được thế vào chỗ hình con gà trống Gaulois. Từ số 39, tháng 9-1920, những dòng chữ Pháp trên bảng hiệu Nam Phong cũng đã biến hết (Introduction au Nam Phong,. Phạm Thị Ngoạn)

Năm 1925, bao nhiêu biến cố chính trị dồn dập xẩy ra : ông Phan Chu Trinh về nước, ông Phan Bội Châu bị bắt làm án rồi được tha, việc chính phủ Pháp cử ông Varenne, một nhà chính trị thuộc đảng Xã Hội sang làm toàn quyền. Theo Phạm Quỳnh “Ba việc ấy gây một không khí tốt cho sự vận động chính trị.” (Thời Đàm, Nam Phong, số 105, 1926).

Trong phần phụ bản bằng Pháp văn, Nam Phong, số 109, 1926, Phạm Quỳnh viết bài Chính Trị và Hành Chánh, ông lên tiếng cảnh cáo chính phủ bảo hộ nếu không sớm giúp Việt Nam tự trị, có thể sẽ đưa tới một hậu quả thảm khốc :

“như mọi người Việt Nam, tôi yêu quê hương tôi và mơ ước cho đất nước tôi có một tương lai thịnh vượng và độc lập. Tôi không nghĩ rằng đó là một cái tội khi mơ ước như vậy, và cầu mong tha thiết tới ngày người Việt Nam chúng tôi tự điều khiển lấy vận mệnh tổ quốc của mình. Nếu người Pháp không giúp chúng tôi sớm đến được cái ngày đó – mà chính là vai trò của những người bảo hộ và giáo dục – thì họ không thể trách chúng tôi sẽ dồn mọi nỗ lực của mình để đạt bằng được mục đích này. Đó chính là cái lý tưởng mà chúng tôi phải đi tới.”

Năm 1928, Toàn quyền Varenne về nước, Ông P. Pasquier lên thay, đàn áp mạnh phong trào hội kín, cốt yếu là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái thất bại. Đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng biết bao đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng phải lên đoạn đầu đài. Phạm Quỳnh, trước biến cố này, trên báo France-Indochine ngày 14 tháng 3 năm 1930, trong Bài Học Về Thời Cuộc, viết “Có một cái Việt Nam quốc dân chủ nghĩa, có thật chớ không nói mơ màng đâu, có nó cũng là lẽ chánh đáng, thế mà từ hồi đó đến giờ, người ta không để ý đến. Aáy là một điều lầm, không những bây giờ mới có mà xưa nay vẫn có. Người nước chúng tôi vốn có cái tình yêu nước rất là mặn nồng hăng hái.

“Cứ đọc lịch sử thì biết, bao nhiêu phen bị Tàu cai trị mà dân nổi lên như lửa dậy dầu sôi, nhờ vậy mà vua chúa chúng tôi ngày trước khôi phục được non sông, tạo lập được cơ đồ và thống nhất được toàn quốc nữa”.

Tháng 6 năm 1930, trên báo Nam Phong số 151, đồng thời trên báo France-Indochine (tháng 5 và 6) Phạm Quỳnh cho đăng bài Vấn Đề Lập Hiến Cho Nước Nam.

Ông cho biết :”Nhân những biến động xẩy ra trong cõi Đông Dương từ tháng 2 đến giờ, người lưu tâm đến cho rằng chính trị xứ này cần phải sửa đổi, song chưa ai rõ nên sửa đổi như thế nào. Dư luận người Tây cũng phàn nàn người An Nam chỉ tỏ ý bất bình về chính trị mà Không hề nói rõ bất bình những điều gì và nên cải cách thế nào cho vừa ý.”

Do đấy Phạm Quỳnh theo chính sách “trung dung” của Không-Tử, đề nghị một giải pháp “cải cách” mà ông coi là đắc sách nhất, vừa giành lại được chủ quyền, thống nhất được Bắc Trung Kỳ, mà không làm xáo trộn xã hội. Đó là thiết lập một chế độ “quân chủ lập hiến”. Muốn thi hành thời phải thảo ra một hiến pháp, định rõ quyền vua, quyền dân và quyền của Bảo hộ. Theo đó người Pháp phải trả lại quyền tự trị cho vua tôi Việt Nam và Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Pháp trong một cộng đồng kinh tế chung. Trong bài Câu chuyện lập hiến đăng trên Nam Phong số 173, tháng 6-1932, Phạm Quỳnh giải thích rõ về những lợi ích của giải pháp này như sau :

“Muốn cải cách về chính trị ở Trung Bắc Kỳ .. . theo kế hoạch này chính là gồm hai phần : một là xin với Bảo-Hộ trao trả lại quyền nội trị cho quốc vương, theo đúng nguyên tắc trong điều ước 1884, nghĩa là xin thi hành đúng cái chính sách bảo hộ, mà bỏ hẳn cái chính sách ‘trực trị’ như từ trước tới nay ; hai là xin với quốc vương nhường lại một phần quyền cho quốc dân, mà đặt ra một bên có nội các trách nhiệm, một bên có nghị hội giám sát”.

“Như thế sẽ có 3 lợi ích :

“- Về phương diện tinh thần, nước Nam vẫn còn là nước Nam, vẫn còn lưu tên tuổi trên lịch sử địa dư thế giới .. .
“- Về phương diện xã hội, .. . nay quân chủ lập hiến thời nhất diện giữ được cái nguyên tắc lập quốc và nhân đó duy trì được trật tự trong xã hội, nhất diện gây ra cái chính thể quân dân cộng trị, khiến cho quốc dân cũng được tham dự vào quyền nước, thuận cái phong trào bình dân ngày nay, có thể giữ cho xã hội điều hoà .. .”

“- Về phương diện chính trị .. . lợi ích càng nhiều lắm nữa. Có hiến pháp phân minh thời .. . người có tài, kẻ có chí có một cái trường sở để ra ganh đua mà mưu toan việc nước, hoặc ở nơi chính phủ, hoặc ở nơi nghị trường .. .

“ Bởi các lẽ đó, nên tôi đã nghĩ đi nghĩ lại, cân nhắc kỹ càng, nhất quyết chủ trương cái thuyết Bảo hộ và Lập hiến mà bài xích cái thuyết trực trị cùng kiêm tính”. (Câu Chuyện Lập HiếnThư Cho BạnNam Phong, số 173, 1932).

Tháng 10, năm 1931, Tổng trưởng Thuộc địa Pháp Paul Reynaud sang thăm dò tại chỗ. Phạm Quỳnh gửi cho ông này bản điều trần, trong đó Phạm Quỳnh nhấn mạnh ở bốn điểm, vừa tình vừa lý để người Pháp nếu có đủ khôn ngoan phải hiểu mà thực hiện lời cam kết của Toàn quyền Pasquier :

1. Việt Nam có một lịch sử lập quốc “cạnh tranh chiến đấu trong hai mươi hai thế kỷ mà gây dựng ra một cái tổ quốc thật là xứng đáng với tinh thần của nòi giống.”

2. Lòng ái quốc của người Việt Nam “bắt đầu khôi phục lại và một ngày một mạnh lên .. . nó có một sức mạnh ngầm như sức mạnh của lý tưởng.”

3. Nhắc lại lời hứa của Toàn-quyền Pasquier “quyết giữ y như lời ước cũ, thủy chung tôn trọng chữ ký của nước Pháp .. . đem cái chủ quyền nội trị của nước An Nam mà châm chước với điều ước năm 1884 cho hợp với tân thời .. . vua tân thời (Bảo Đại) về nước .. . tự ngài sẽ kén chọn lấy các quan thượng-thư, sửa đổi quan lại cho hợp thời .. . Bây giờ quan thay mặt nước Pháp sẽ là cố vấn .. .” Nghiã là đúng theo như bản đề nghị quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh.

4. Và cuối cùng Phạm Quỳnh đưa ra lời thỉnh cầu :

“Chúng tôi là một dân tộc đương đi tìm tổ quốc .. . mà người Pháp có thể vì chúng tôi mà khôi phục được là ban cho chúng tôi một hiến pháp .. . Xin ngài ban cho chúng tôi một cái tổ quốc để chúng tôi thờ”.

2. THỜI LÀM QUAN TẠI HUẾ (1932-1945)

Chuyện gì đến đã đến. Tháng 3 năm 1932, vua Bảo Đại về nước, tháng 11 Phạm Quỳnh được triệu vào Kinh. Sau khi Phạm Quỳnh trình bày lập trường, vua Bải Đại rất hợp ý liền bổ ông vào chức Tổng-lý Ngự-tiền Văn Phòng, hàm Thượng thư*. Lúc đó ông vừa bốn mươi tuổi.

Ngày 2 tháng 5 năm 1933, vua Bảo Đại giải tán nội các cũ, lập nội các mới với năm ông thượng thư thuộc phái trí thức tân học trẻ, trong đó có ông Ngô Đình Diệm Thượng thư Bộ Lại, và Phạm Quỳnh Thượng thư Bộ Giáo Dục.

“Ngày 10 tháng 12 năm 1932, vua Bảo Đại công bố một đạo dụ loan báo ý định cầm quyền dưới hình thức quân chủ lập hiến và cải tổ lại ngành quan lại, ngành quốc gia giáo dục và ngành tư pháp .. . Dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Tương lai có nhiều hứa hẹn tốt đẹp .. . nhưng họ (người Pháp) chống đối ngầm mọi cố gắng về cải cách .. . nên nỗ lực của mình hoàn toàn tê liệt.” *

Ông Ngô Đình Diệm bất mãn, từ nhiệm một cách “rùm beng” (démissionner bruyammant)** ngay từ tháng 9 …

Còn Phạm Quỳnh thì sao ?

Vốn bản tính trầm tĩnh, cẩn trọng nên Phạm Quỳnh có một thái độ ôn hoà (“modéré dans son comportement“)**, huống chi ông là một nhà nho còn nặng nghĩa vua tôi (“il s’estimait lié à l’empereur par les liens moraux” ** ( ** Phạm Quỳnh, Rénovateur de la langue vietnamienne (tức là Phạm Quỳnh, người đổi mới tiếng Việt – PT chú), Bernard Le Calloc’h, Văn Hóa, số 3, Aout 1992 ), thế nên nay nhà vua đã phán xét “Thời gian chưa tới. Đành phải đợi, không thiếu gì cơ hội sau này” * ( * Con Rồng Việt Nam, Bảo Đại, Nguyễn Phước tộc xb 1990 ), Phạm Quỳnh không thể không nghe theo.

Riêng Phạm Quỳnh cũng nghĩ đó là điều bắt buộc phải chấp nhận trong hoàn cảnh này. Phạm Quỳnh còn có một nhược điểm là con người “bản tính tình cảm”, khiến ông không nỡ bỏ nhà vua đang lúc khó khăn.

Lại nữa, theo Phạm Quỳnh dù sao ở lại triều đình Huế lúc này cũng có lợi cho dân tộc hơn, vì những đòi hỏi cho quyền lợi của nước nhà qua tiếng nói chính thức của triều đình vẫn mạnh hơn là tiếng nói trên giấy trắng mực đen của người dân, huống chi vốn là người “quân tử”, Phạm Quỳnh vẫn tin và vẫn muốn tin vào những lời hứa hẹn được nhắc đi nhắc lại trong bài diễn văn của cựu toàn quyền Albert Sarraut ở Marseille, khi tiễn chân vua Bảo Đại về nước, trước bao nhân vật tai mắt bấy giờ : “Bảo hộ sẽ không phải là một điều dối trá, một sự giả tưởng, nó sẽ không là một trò hề (hypocrisie), nó sẽ được thực hiện. Chúng ta đã có những hiệp ước, chúng ta chẳng những sẽ thi hành, mà còn tôn trọng đúng tinh thần của nó.” (Introduction au Nam Phong, Phạm Thị Ngoạn)

Và còn có một lý do cuối cùng, quan trọng hơn hết, theo Phạm Quỳnh, là người Pháp khôn ngoan sẽ phải nhận ra và thực hiện giải pháp “Quân chủ Lập hiến” của ông, là một giải pháp ôn hoà, tốt đẹp nhất để cứu vãn tình thế chính trị khẩn trương hiện nay ở Việt Nam, nếu họ muốn tránh một cuộc đổ máu thảm khốc sẽ xẩy ra, mà sự thiệt hại ghê gớm cho cả đôi bên không thể lường trước được. Đồng thời đây cũng chính là điều mong mỏi tha thiết nhất của Phạm Quỳnh. Vì thế ông vẫn muốn nấn ná ở lại đợi chờ .. . tìm dịp vận động, thuyết phục người Pháp thêm nữa. Đó là tất cả (?) những lý do vừa lý vừa tình đã khiến cho Phạm Quỳnh chấp nhận ở lại triều đình Huế.

Từ khi chấp nhận ở lại Triều Đình, Phạm Quỳnh đã cố gắng thực hiện tốt nhất những gì nhà vua giao phó, và ông vẫn tiếp tục đeo đuổi việc “yêu cầu chính quyền Pháp thi hành giải pháp quân chủ lập hiến như họ đã hứa” :

– Một mặt ông viết thư nhờ ông Louis Marty, nay đã về hưu ở Pháp, giúp ông vận động cho giải pháp ấy thành tựu. Trong một lá thư gửi cho Louis Marty từ văn phòng Huế, đề ngày 30 tháng 12 năm 1933, Phạm Quỳnh viết :”Tôi tri ân ông đã thông cảm điều đó, và trong phạm vi ảnh hưởng của mình, đã hết lòng tìm cách xúc tiến cho thoả hiệp mà tôi đề cập trên đây sớm tới ngày thành quả.” (Thư gửi ông Giám Đốc, trong Introduction au Nam Phong).

– Tháng 8 năm 1939, Phạm Quỳnh lại tháp tùng vua Bảo Đại sang Pháp “vận động để chính phủ Pháp (Daladier) thi hành đúng Hiệp Ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam Triều trên thực tế”. ‘Phạm Quỳnh đã giãi bày rất nhiều với ông Mandel (Bộ trưởng Thuộc địa), nhưng việc đó đã không thành’ (Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở Biệt Thự Hoa Đường, Nguyễn Vạn An, báo Tin Điển, 23-3-1952).

Song tất cả những cảnh tình éo le trên đây của Phạm Quỳnh nhiều đồng bào đã không chia sẻ : một số độc giả vẫn cảm tình với Phạm Quỳnh qua báo Nam Phong đã thất vọng, vì khi ông vào Huế họ tin tưởng ông sẽ thực hiện được cái giải pháp Lập Hiến, sẽ thi hành được những cải cách tốt đẹp về văn học, giáo dục .. . nhưng tất cả đều chẳng có tăm hơi mà ông vẫn ngồi đó. Từ ngày 3 tháng 9 năm 1942, ông lại được bổ chức Thượng thư Bộ lại, đứng đầu đám quan liêu phong kiến mà họ có nhiều thành kiến không tốt.

Những nhà ái quốc cách mạng dấn thân (như Phan Chu Trinh .. .) thì cho Phạm Quỳnh là “giả ái quốc .. . phần tử cơ hội .. . bắt cá hai tay, được cả công cả lợi và cả danh tiếng nữa” (Mấy Vẻ Mặt Thi Ca Việt Nam, Nguyễn Huệ Chi, nxb Tác Phẩm Mới, Hà Nội, 1983).

Giới báo chí trong nước thường vì ngộ nhận “nên đã có những phản ứng chống đối Phạm Quỳnh gay gắt, nghiệt ngã. Nhẹ nhất là họ đem ông ra làm đầu đề riễu cợt, mua vui cho độc giả như vẽ hình ông đội mũ cánh chuồn bay vô Huế trên báo Phong Hoá, số đặc biệt, 1936, hay đem cái chủ trương “bảo tồn quốc tuý” của ông ra để trêu chọc.

Nặng hơn hết, và làm cho Phạm Quỳnh đau đớn hơn hết, là đã có một số ký giả dựa vào việc Phạm Quỳnh hợp tác với Louis Marty làm báo Nam Phong để chỉ nhìn Phạm Quỳnh qua hoàn cảnh bề ngoài, nói như Đỗ Lăng, là chỉ “xét hành động trong khi chưa thấu triệt cứu cánh, chưa tường tận tâm lý (Thử Nhận Xét Quan Điểm của Nguyễn Văn Trung trong Vụ Án Truyện Kiều, Đỗ Lăng, báo Tự Do ngày 18-10-1962) mà đưa ra những luận điệu phê phán đầy ác ý.

Trong lá thư gửi ông Louis Marty, Phạm Quỳnh tâm sự :”.. . trong thời gian qua, tên hai chúng ta hằng ngày được dính liền với nhau nhân các cuộc bàn luận trong báo chí. Cả hai chúng ta đã bị một bày ký giả ác ý đưa ra làm đầu đề chất vấn để hạ phẩm .. . Một số người không thể tưởng tượng được và không thể hiểu giữa một người Pháp và một người An-nam lại có thể có cảm tình, một thứ cảm tình đồng hoá với tình bạn chân thành và các đương sự không do đó mà phản bội tổ quốc của mình. Một sự kiện như vậy thật quá cao xa với tầm hiểu biết của những người này .. . Là một nhà ái quốc An-nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn : người ta lên án tôi phản bội tổ quốc, vì tôi đồng loã với xâm lăng và phục vụ xâm lăng !”

Phạm Quỳnh chỉ còn biết an ủi bằng “số mệnh đã an bài” và nghĩ rằng “sẽ không bao giờ được người đời hiểu mình” – vì sao ?

“Tôi là người của chuyển tiếp .. . chuyển tiếp giữa Á đông và Âu tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị sản phẩm của xâm lăng và đương nhiên là phải hư hỏng ngay từ nền tảng, và một trật tự mới không thể nhất đán mà thành tựu, khả dĩ biết tôn trọng phẩm cách của con người. Sống giữa đầy những mâu thuẫn đó, với hoài bão thực hiện một chương trình tiến hoá hợp tình, hợp lý khả dĩ đưa đến tình trạng hoà hợp toàn diện. Dĩ nhiên tôi phải đương đầu với những ngộ nhận đủ loại.”

“Tôi tự an ủi vì tin tưởng mãnh liệt ở vai trò cần thiết của mình, vai trò đó hiện nay chỉ mang lại cho tôi những ‘đắng cay’ .. .” (Thư gửi ông Giám đốc, trong Introduction au Nam Phong).

Cuối cùng câu chuyện lập hiến chẳng đi đến đâu, con đường chính trị của Phạm Quỳnh đã hoàn toàn thất bại.

-Đêm mùng 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật hoàng được lệnh đảo chánh và giải giới quân Pháp trên toàn cõi Đông dương. Hôm sau mọi việc xong xuôi, quan đặc sứ Yokoyama vào yết kiến hoàng đế Bảo Đại. Vấn đề độc lập nước Việt Nam được đặt ra. Ngay đêm đó bản tuyên bố độc lập được các cụ Viện Cơ Mật soạn thảo.

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hoà ước 1884, Việt Nam độc lập, ra nhập khối Đại Đông Á, chấm dứt lệ thuộc Pháp. (Nhật Với Thuyết Đại Đông Á, Quân Dân Việt Nam chống Tây Xâm, Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hoà xb, 1971).

Tiếp đó Phạm Quỳnh từ chức, vua Bảo Đại mời ông Trần Trọng Kim đứng lên lập nội các mới.

Sau khi từ giã chính trường, Phạm Quỳnh về ở ẩn tại biệt thự Hoa đường như chúng ta đã biết.

Phải đến khi đã ngoài năm mươi tuổi, tới cái tuổi “tri thiên mệnh” trên đầu tóc đã muối tiêu, trải qua bao nhiêu nỗi cay đắng, ê chề trong cuộc sống, Phạm Quỳnh mới hiểu rõ được người và nhất là hiểu rõ được đâu là giá trị đích thực của mình.

Ông đã phải than rằng :”Sinh vào thời loạn lạc là buổi Á Âu xung đột, mà tự khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi làm sao được thời thế” (Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường, trong di cảo Hoa Đường Tuỳ Bút).

Trước sau gì Phạm Quỳnh cũng chỉ là một văn nhân thuần túy – mà “đã là nhà văn thuần túy thì không nên tham dự chính trị : hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem trưng bày nơi đầu đường góc chợ được” (Văn Học Chính Trị, trong di cảo Hoa Đường Tùy bút).

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: