Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 23, 2010

Văn học trong đời sống báo chí – xuất bản từ nửa sau thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon, tuần 5 tháng 10 năm 2010.

 

VĂN HỌC TRONG ĐỜI SỐNG BÁO CHÍ – XUẤT BẢN

từ nửa sau thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX

Giáo sư Phong Lê

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau đây là các đoạn trích trong bài cùng tên đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học (Việt Văn học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam) số 8/2006 của Giáo sư Phong Lê, Viện Văn học.

Phong Lê, tên khai sinh là Lê Phong Sừ, sinh ngày 10/11/1938 tại quê gốc Sơn Trà Hương Sơn Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1960 ngành ngữ văn. Từ 1960 đến nay là cán bộ nghiên cứu của Viện Văn học. Ông đã viết và chủ biên khoảng 30 công trình lý luận và nghiên cứu về văn học Việt Nam thế kỷ XX (tính đến 1997). Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, giáo sư ngữ văn, hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ 1979.

Suy nghĩ về nghề của ông là: “Lời là bạc. Im lặng là vàng” (Theo một phương ngôn Pháp).

—o0o—

 

(…)Là tờ báo Quốc ngữ đầu tiên, và chịu ảnh hưởng của phong cách báo chí phương Tây, Gia Định báo rất cần một lượng bài vở có gắn bó và tìm tòi về sự thật, nên ngày 28/1/1870, báo có thông tri yêu cầu về việc gửi bài, với nội dung như sau:

“ Quan Lại bộ Thương thơ gửi lời cùng thầy thông ngôn, thầy giáo tập đặng hay: nay việc làm Gia Định báo tại Sài Gòn ở một chỗ nên không có lẽ mà biết cho hết các việc mới lại các nơi trong 6 tỉnh mà làm ra cho thiên hạ coi, nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay là nửa tháng viết những chuyện mình biết tại chỗ, tại xứ mình ở như:

–          chuyện ăn cướp ăn trộm

–          bệnh hoạn tai nạn

–          sự rủi ro, cọp bắt cá sấu ăn

–          cháy chợ cháy nhà

–          mùa màng thế nào

–          tại sở nghề nào thạnh, vân vân…

Nói tắt một lời là những chuyện mới lạ đáng đem vô nhựt trình cho người ta biết. Viết rồi thì phải đề mà gởi về cho Gia Định báo Chánh tổng tài ở Chợ Quán. Gởi tờ làm vậy thì khỏi tốn tiền miễn là ngoài bì như vậy thì thôi: Monsieur le Directeur de l’intérieur Service du Gia Định báo – Sài Gòn.

Quyền Lại bộ Thượng thơ ký

L.Laugier”

Chánh tổng tài Trương Vĩnh Ký còn có lời giải thích thêm trong cùng số báo:

“Xin các thày chớ quên đề ngày, để chỗ cho hẳn hoi. Phép làm chuyện phải kể lại chỗ nào? Ngày nào, tháng nào? Nhơn cớ làm sao? Ban đầu làm sao? Khúc giữa thế nào? Sau hết ra việc gì? Lợi hay hại, may hay rủi, vân vân…”

Xem thế, có thể hiểu: để tờ báo có người đọc, rất cần những chuyện thời sự, và càng là các chuyện kỳ lạ, giật gân thì càng hay. Lối miêu tả phải rất chi tiết, tỉ mỉ, để cho người đọc tin. Để không quan liêu, xa cách với hiện thực. Và cũng có thể là để chính quyền thực dân nắm bắt, theo dõi các diễn biến bất an của thời cuộc.

Hẳn chắc tình hình bài vở gửi đến là không lạc quan, bởi số người quen viết chắc là rất ít, Gia Định báo rút lại chỉ là một tờ công báo, để thông tin các chủ trương của chính quyền.

Tờ báo thứ hai ra mắt ở Nam Bộ là tờ báo tư nhân có tên là Phan Yên báo. Phan Yên là cổ danh của thành Gia Định cũ. Phan Yên báo ấn hành từ 1899, ra được 8 số thì bị cấm, bởi loạt bài có nội dung yêu nước: Bàn cân Archimède của Cuồng Sỹ.

(…)

Khoảng 1907-1908 có cuộc thi tiểu thuyết trên Lục tỉnh tân văn, với yêu cầu:

“lấy trí riêng của mình mà đặt ra một câu chuyện tuỳ theo nhân vật phong tục trong xứ, dường như truyện có thật vậy”; với độ dài “chừng 50 tờ giấy”; với bố cục gồm 3 phần:

“- Thứ nhất: gầy đầu, căn ngươn, lý lịch, kiết cấu, vân vân…

–    Thứ nhì: ân oán, sanh sự, buông lung, trần ai, lưu lạc, vân vân…

–    Thứ ba: cha con, vợ chồng hoà hiệp, ân báo ân, oán báo oán, vân vân…”

Về nội dung: “Trong cuộc đời phải đem hết các việc quan, hôn, tang, tế, thầy thuốc, thày chùa, thày pháp, vân vân… Tốt khen, xấu chê. Phải có can trường, luân lý, nhơn duyên, thiện ác…

Không đặng dùng việc dị đoan, hễ chết mà còn muốn sống lại thì nhờ thuốc hay, thầy giỏi, chớ nói đến quỷ thần; còn muốn phạt thì đau bịnh mà chết, hoặc lôi đả, súng xạ, gươm máy, vân vân…”

10 năm sau, Nam Phong tạp chí tổ chức Cuộc thi thơ văn…; với Điều lệ cuộc thi đăng trên số 7, tháng 1-1918: “Tiểu thuyết phải làm theo lối Âu châu, tự đặt ra, không được dịch hoặc bắt chước chuyện Tàu, chuyện Tây. Phải dùng phép tả thực, không được bịa đặt những chuyện hoang đường, kỳ quái. Trọng nhất là tả được cái tâm lý người ta cùng các tình trạng xã hội. Không nên đặt những chuyện có thể phương hại đến luân lý và tôn giáo, hoặc quan hệ đến chính trị”. Hạn gửi bài là 30/6/1918. Nhưng có lẽ do thời gian quá ngắn, nên số tác phẩm tham gia chỉ có 4 cuốn; và không ai được giải.

(…)

Đông Dương tạp chí ra số đầu ngày 15/5/1913 do F.H.Schneider làm Chủ nhiệm, Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ bút; có từ 16 đến 24 trang, tập hợp được các cây bút cựu học và tân học nổi tiếng nhất hồi bấy giờ như Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Hữu Tiến… để chuyên lo cả hai phía học thuật và dịch thuật Đông Tây. Ở số đầu Đông Dương tạp chí có phụ đề: Edition spéciale du “Lục tỉnh tân văn”, par Tonkin et l’Annam – có nghĩa: Đông Dương tạp chí là sự tiếp tục của Lục tỉnh tân văn trên địa bàn Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Cũng có nghĩa tờ báo ra đời trong chủ trương của chính quyền thuộc địa nhằm xoa dịu, ngăn cản phong trào yêu nước tưởng đã bị dập tắt vào những năm 1908-1909, nhưng vẫn còn nhiều âm ỷ chưa yên.

(…)

Có thể nói trong 4 năm tồn tại Đông Dương tạp chí, hoạt động báo chí trong gắn bó với văn chương học thuật đã chuyển dần sự phong phú và sôi nổi của nó ra địa bàn Hà Nội, sau một thời khá dài ngót 50 năm khởi động và chuẩn bị ở địa bàn Nam Bộ; để từ 1917 trở đi đã có thể dứt khoát bước vào một thời kỳ mới với vai trò của Tạp chí Nam Phong. Sau Đông Dương tạp chí, Nam Phong là tờ báo được chờ đón và sớm có công chúng rộng rãi vượt ra khỏi giới hạn Bắc Kỳ, Trung Kỳ, để rồi lại chuyển dần vào Nam Kỳ, qua sự tiếp nhận của một lớp trí thức ở phía Nam, như Đông Hồ, Trúc Hà, Nguyễn Văn Kiêm, Mộng Tuyết… trong nhóm Trí Đức học xã. Và, tiếp tục sau Nam Phong, cho đến cuối những năm 20, đầu 30, một số báo chí ở Nam Kỳ như Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn… cũng có hoàn cảnh mở rộng dần công chúng ra phía Bắc, do sự phát triển của đội ngũ làm báo và viết báo trên cả ba kỳ; do sự thông thương Nam Bắc, ngoài đường bộ đã có thêm đường sắt, chạy từng chặng, cho đến 1936 thì có đường xuyên Việt.

(…)

Trong  mối giao lưu Bắc – Nam ngày càng mật thiết, và với sự khánh thành con đường sắt xuyên Việt vào năm 1936, các báo Trung Bắc tân văn, Nam Phong tạp chí và An Nam tạp chí ở Bắc Kỳ…, Phụ nữ tân văn, Thần chung ở Nam kỳ… đều có thể nhanh chóng đến tay bạn đọc trên cả ba miền…

(…)

Vậy là sau hơn nửa thế kỷ ra đời – tính từ Gia Định báo, đến cuối những năm 20 thế kỷ XX, văn học mới thật sự có đất đai rộng rãi cho sự hiện diện của nó trên các mặt báo, gồm thơ –theo các thể cổ, và lục bát; và truyện, gồm truyện ngắn, truyện nhiều kỳ, phóng tác, dịch thuật, nghị luận, khảo cứu, phê bình… với vai trò chuẩn bị là Đông Dương tạp chí và đạt được sự phong phú, đa dạng của nó trên Nam Phong.

(…)

Một lịch sử văn xuôi Quốc ngữ hướng tới tiểu thuyết được bắt đầu từ Kiếp phong trần của Trương Vĩnh Ký, Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, rồi ngắt quãng hơn 20 năm, cho đến 1910 với các bộ  Phan Yên ngoại sử, Hoàng Tố Oanh hàm oan, Hà Hương phong nguyệt… Thế nhưng phải đến 1921 mới có một định nghĩa về tiểu thuyết đầu tiên trên Nam Phong tạp chí số 43, của Phạm Quỳnh:

“Nay cứ lý hội các tính cách chung của tiểu thuyết đời nay thì có thể giải nghĩa tiểu thuyết như thế này: Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ, tích kỳ đủ làm cho người đọc hứng thú”.

Kể từ định nghĩa này, tiểu thuyết rồi sẽ xuất hiện với mật độ khá đậm trên cả ba miền, vào những năm 20, bởi sự ưa chuộng của công chúng rộng rãi. Tiểu thuyết – được gắn kèm với các định danh: tả chân, tâm lý, ái tình, trinh thám, phiêu lưu, lịch sử, dã sử… làm nên diện mạo hấp dẫn của nó, trước khi đi tới sự quy tụ thành hai giòng chính là cả chân và lãng mạn, chi phối văn đàn những năm 30.

Nếu có thể chia giai đoạn cho mối quan hệ báo chí – văn học ở chặng đầu của tiến trình hiện đại hoá, thì giai đoạn 1 được kết thúc vào cuối Thế chiến lần thứ nhất với vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đông Dương tạp chí; và giai đoạn 2 là những năm 20 với các đóng góp quan trọng của tạp chí Nam Phong.

Những năm 20, Nam Phong tạp chí, hơn tất cả các báo khác, là nơi đăng tải với số lượng nhiều hơn cả những truyện ngắn của nhiều tác giả, trong đó có người sự nghiệp viết được bắt đầu từ Nam Phong. Trong 17 năm tồn tại, kể từ tháng 7/1917 cho đến ngày 16/12/1934, gồm 210 số, Nam Phong tạp chí đã đăng 84 truyện của một số người rồi sẽ trở thành những tên tuổi quen thuộc, trong giai đoạn 1930-1945.

Hai người có công khởi động nền truyện ngắn hiện đại là Nguyễn Bá học và Phạm Duy Tốn đều mất sớm. Nguyễn Bá Học mất năm 1921, thọ 64 tuổi, để lại 9 truyện; Phạm Duy Tốn mất năm 1927, thọ 44 tuổi, để lại 3 truyện. Giá họ sống lâu thêm, chắc con đường văn chương của họ còn có nhiều đóng góp mới cho ta bàn.

Nam Phong tạp chí còn cho đăng tải, lối feuilleton tiểu thuyết Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật trên suốt 11 kỳ báo, từ số 103 – tháng 3-1926 đến số 111- tháng 1-1927. Và tiểu thuyết Đời súng đạn của Tùng Toàn trong 9 kỳ báo, từ số 197 đến số 210 – năm 1934.

Là tờ báo vừa thông tin vừa khảo cứu, vừa văn chương vừa học thuật, Nam Phong tạp chí mở khá nhiều chuyên mục: Luận thuyết, Văn học bình luận, Triết học bình luận, Khoa học bình luận, Văn uyển, Tạp trở, Thời đàm… nhờ đó mà có sức chuyển tải một khối lượng bài vở lớn và phong phú hơn bất cứ báo nào cùng thời. Theo nhận xét của Thiếu Sơn: “Gần hai chục năm nay không biết Tạp chí Nam Phong có giúp được chút gì cho sự giữ gìn đạo đức trong dân gian không thì tôi không biết. Chứ thực tình nó đã giúp được sự mở mang tri thức trong quốc dân nhiều lắm”. Và Đào Duy Anh, trong hôi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, viết năm 1972, có đoạn: “Tôi tự học văn học Việt Nam và biết viết Quốc văn, phải nói thực một phần không ít là nhờ chuyên đọc Tạp chí Nam Phong. Trong khi dạy học ở Đồng Hới, đồng thời với việc học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất định, tôi không bỏ việc nghiên cứu Quốc văn và Hán văn, vẫn lấy Tạp chí Nam Phong làm công cụ chính.”

(…)

Cùng với Nam Phong tạp chí, nhiều tờ báo khác trên cả ba miền Bắc Trung Nam hồi này cũng đã là nơi đăng tải các sáng tác văn chương, chủ yếu là thơ và truyện. Nếu thơ, hầu hết đều hướng tới cái buồn sầu thời đại, theo các thể cổ hoặc lục bát quen thuộc, trừ một số bài theo lối từ khúc của Trần Tuấn Khải, Tản Đà có ý nghĩa báo hiệu sự tự do hoá câu thơ, thì văn xuôi lại bao gồm nhiều xu hướng sáng tác với sự xuất hiện của nhiều gương mặt mới.

(…)

Nhìn lại các sáng tác văn xuôi được đăng báo và ấn hành trong những năm 20 thấy việc xác định thể loại ở buổi đầu còn khá tuỳ tiện. Rất nhiều sáng tác được ghi là tiểu thuyết chỉ khoảng vài chục trang, trong khi một đoản thiên tiểu thuyết như Truyện một người du học sinh An Nam đăng trọn một kỳ Nam Phong số 90 (12-1928) dài đến 48 trang.

(…) ký trong buổi đầu hình thành đã tự xác định được các giới hạn của nó với sự khởi đầu là du ký. Riêng trên 210 số Nam Phong đã có đến 127 bài du ký, trong đó bài có độ dài nhiều kỳ là Mười ngày ở Huế đăng từ giữa 1918 đến đầu 1919; và Pháp du hành trình ký dài 28 kỳ, từ số 58 (4/1922) đến số 100 (11-1925). Cả hai đều của Phạm Quỳnh. Vài năm sau là bài ký tâm tình khóc chồng: Linh Phượng ký của Tương Phố (Nam Phong số 128-1928) và Giọt lệ thu khóc vợ của Đông Hồ (Nam Phong số 132-1928)…

(…)

Nhìn lai lịch sử báo chí, tính tử Gia Định báo cho đến Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí; rồi từ Nam Phong tạp chí mà đến Phong Hoá, Ngày Nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tao Đàn, Tri Tân, Thanh Nghị… tay thấy càng về sau báo chí càng có công thúc đẩy văn chương – học thuật hướng vào mục tiêu hiện đại hoá. Xem cách đánh giá của các học giả Thiếu Sơn, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh… thì thấy đó là những tờ báo gây hứng thú và có tác động trực tiếp đến các giới trí thức, trong đó có không ít người mong muốn đi tìm một bậc thầy cho sự trau dồi học vấn, hoặc đi tìm con đường lập nghiệp cho mình là sáng tác văn chương, học thuật.

Kể cả những trí thức cách mạng như Trường Chinh, Trần Huy Liệu, Xuân Thuỷ… cũng có người tìm thấy được trong sự phát triển của báo chí, những kiểu mẫu, những tấm gương để noi theo. Trên một bài viết của Thép Mới có tên Sống động một sự nghiệp đăng trên Nhân Dân, số ra ngày 10/3/1991, có đoạn viết như sau:

“ Trong lần làm việc với anh chị em Toà soạn báo Cờ Giải Phóng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp trời cờ đỏ sao vàng ngày 27/8/1945, ngồi trên bộ xa lông bọc nhung vàng của nhà tên Erhord – nguyên Giám đốc chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương, anh Trường Chinh đã nói một câu đầy hoài bão:

1917: Nam Phong

1932: Phong Hoá, Ngày Nay

1945: Cờ Giải Phóng

Có thể nghĩ, với nhận xét này, Trường Chinh quả đã từng là một độc giả đáng vị nể của đời sống báo chí trước 1945.

Có báo chí, xuất bản tất phải có các ông chủ báo, chủ xuất bản. Nhà nước thực dân hoàn toàn khoán việc này cho các tổ chức- tư nhân. Ngoài việc trợ cấp tiền hoặc cho người đứng tên trong một số tờ báo quan trọng, chính quyền thực dân triệt để sử dụng chế độ kiểm duyệt rất nghiệt, trừ một vài năm có nới lỏng vào thời Mặt trận Dân chủ. Riêng trong phạm vi văn chương, chính quyền thực dân vẫn để một số kẽ hở cho sự tự do phê phán xã hội, miễn là không động đến “ông tây”. Còn về nghiên cứu, học thuật thì được phép,.. tự do, miễn là đừng động đến những vấn đê có liên quan đến sự an nguy của thể chế hiện hành. Lợi dụng sự “sao nhãng” của chính quyền thực dân, giới học giả trước 1945 đã tranh thủ viết được nhiều công trình có giá trị về lịch sử, văn hoá, văn chương, học thuật. Trừ văn học cách mạng tuyệt đối bị cấm đoán, các xu hướng văn học khác, kể cả văn học hiện thực phê phán vẫn có đất để tồn tại và phát triển trong đời sống báo chí, xuất bản công khai, do các tổ chức hoặc tư nhân đảm nhiệm. Bốn gương mặt tiêu biểu trong số đó là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Phạm Quỳnh (1892-1945), Vũ Đình Long(1896-1960) và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1906-1963); cả bốn đều đã để lại một sự nghiệp báo chí và văn chương – học thuật có giá trị.

P.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: