Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 30, 2010

Phạm Quỳnh, 30 năm chìm nổi

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:30 chiều

Blog PhamTon, tuần 3 tháng 10 năm 2010.

PHẠM QUỲNH, 30 NĂM CHÌM NỔI

Gs. Phạm Thị Nhung

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bài thuyết trình nhan đề Cô Kiều với Phạm Quỳnh của Gs Phạm Thị Nhung đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20-12-1992. Nhan đề là của chúng tôi

*

*  *

Phạm Quỳnh hồi tưởng lại suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ thời làm báo Đông Dương (1913), nhất là từ thời đứng chủ trương báo Nam Phong (1917), rồi dấn thân vào đường hoạn lộ cho tới ngày về ẩn, tính ra có trên ba mươi năm.

Suốt ba mươi năm ấy, vì lý tưởng phụng sự quốc gia dân tộc như các nhà Nho ta xưa, Phạm Quỳnh muốn đem tâm huyết, trí thức của mình để phù thế giáo và xây dựng một nền học mới cho nước nhà, những mong phát huy chủ nghĩa quốc gia, cùng gây được tinh thần độc lập, tự cường cho dân tộc, có vậy dân ta sẽ không còn bị những tư tưởng, những phong trào ngoại lai chi phối, khuynh đảo, mới mong có ngày giải phóng được quê hương, đưa nước nhà đến chỗ độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn.

Như thế mục đích hoạt động văn hoá của Phạm Quỳnh là nhằm ở tương la i, ở việc xây dựng cái gốc quốc gia cho bền vững, nên nhiều người cấp thời đã không nhìn ra. Ngay cả việc ông đề nghị giải pháp quân chủ lập hiến, Pháp Việt đề huề cũng là muốn cứu vãn cái tình hình chính trị rối ren bấy giờ, chứ không nhất thiết là cứ phải theo giải pháp đó mãi, như ông đã từng giải thích trong bài Bàn Về Cái Tinh Thần Lập Quốc ( Nam Phong số 164, 1931) : “Chính trị không có định sách, tùy tình thế, tùy cơ hội mỗi lúc mà thay đổi phương châm, mà di chuyển kế hoạch”.

Còn việc ra làm quan ư ? Chẳng qua chỉ là một bổn phận như ông đã từng xác định trên báo Nam Phong số 160 trong phần phụ trương tiếng Pháp, hồi tháng 3-1931 : “Nếu những ý tưởng của tôi đề nghị, một ngày nào có cơ hội thực hiện và người ta mời tôi, thì tôi coi như có bổn phận phải chấp nhận” (Serai-je ministre? (tức Tôi sẽ là thượng thư? – PT chú))

Nhưng những lý tưởng phụng quốc ấy của Phạm Quỳnh nhiều người vì lý do này hay lý do khác, mà phần lớn là đã chịu ảnh hưởng quan niệm “chính trị đạo lý” của xã hội đương thời, nên đã không hiểu hay cố tình không hiểu, khiến cho ông phải chịu biết bao nhiêu ngộ nhận, oan ức, khó nỗi giãi bày.

Từ những oan ức nhỏ như việc vận động trong bao nhiêu năm “Tiếng Việt mới có cái địa vị hẳn hoi trong quốc dân giáo dục”, cũng bị nhiều người phản đối, nào là “quốc ngữ không cần học, học bao nhiêu là chậm mất thì giờ học chữ Pháp bấy nhiêu.” (Ông Phan Chu Trinh Với Chữ Quốc Ngữ, Thời Đàm, Nam Phong số 95).

Nào là : “Ông Phạm Quỳnh chủ truơng lấy quốc ngữ làm cơ quan cho bậc tiểu học là ngăn trở sự học của con em trong nước !.. .” Ngày nay thời chính các ông tai mắt trong hàng trí thức Nam kỳ cũng công nhiên yêu cầu cho chữ quốc ngữ như thế, thời đủ biết các ông đã hiểu rõ rồi !.. .” (Thời Đàm, Nam Phong số 120, 1927).

Như chuyện nhiều người nhất thiết gán cho Phạm Quỳnh việc đề xướng đưa Truyện Kiều vào học đường. Thực sự là do ban cải cách giáo dục quyết định. Họ chọn một số tác phẩm có giá trị như Gia Huấn Ca, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai và nhất là Truyện Kiều … để dạy vào giờ Việt ngữ trong chương trình trung học Pháp Việt. Chương trình còn chép ở phần Công báo trên Đông Dương tạp chí, số 77, ngày 5-11-1914. (Lịch Sử Văn Học Việt Nam, Phạm Thế Ngũ)

Đến các oan ức lớn như có một số người đổ riệt cho Phạm Quỳnh tuyên truyền Truyện Kiều cốt để mê hoặc quốc dân, như một thứ thuốc ma túy làm cho người bấy giờ sa vào sự ăn chơi dâm ô trác táng .. . cùng với bao nhiêu công trình làm văn hoá khác của Phạm Quỳnh cũng đều bị ghép cho tội làm văn hoá trong chính sách ngu dân và làm cho người Việt quên đấu tranh chính trị của thực dân Pháp. Họ cố tình buộc Phạm Quỳnh vào cái án “phản quốc, vì đồng loã với xâm lăng và phục vụ xâm lăng !” (Chữ của Phạm Quỳnh trong Thư Gửi Ông Giám Đốc).

May mắn thay, ngôn từ, văn nghiệp của Phạm Quỳnh đã, đang và còn tiếp tục “nói rầm lên” (chữ của Thanh Lãng trong bài Trường Hợp Phạm Quỳnh, Văn Học, 1963) đã giúp Phạm Quỳnh làm sáng tỏ vấn đề, để đồng bào tận thấy ông đã không làm văn hoá theo xu hướng ác hại của Pháp, mà trái lại, đã giúp ích rất nhiều cho người dân trong việc mở mang kiến thức trên đường văn minh tiến bộ mà vẫn bảo tồn được bản sắc tốt đẹp của nòi giống ; và đã làm cho quốc dân phải luôn luôn nhớ đến chính trị, từ ý thức được cảnh ngộ hèn yếu, đen tối hiện tại của đất nước để phải tự phấn, tự cường, nuôi lấy một tinh thần quốc gia làm lý tưởng phụng quốc, giải phóng cho dân tộc.

Lại còn cái oan này nữa : người ta cho rằng tất cả sự nghiệp viết lách để phụng sự văn hoá dân tộc của Phạm Quỳnh, cũng như kế sách “Quân chủ Lập hiến” của ông chẳng qua chỉ để Phạm Quỳnh mua lấy danh vọng, ở ngôi cao mà hưởng phú quí.

Có thật không ?

Nếu Phạm Quỳnh ham làm quan để “vinh thân phì gia” thì ngay từ khi vừa giựt được chức thủ khoa kỳ thi Diplôme đầu tiên ở Bắc Kỳ, ông đã nộp đơn xin học bổng du học Pháp quốc, theo ban Bản Xứ Trường Thuộc Địa (Section Indigène, Ecole Coloniale) rồi, khốn thay Phạm Quỳnh lại là người có lý tưởng về việc phụng sự văn hoá cho dân tộc :” .. . bẩm sinh ra vẫn có cái tính hay biết sướng khổ vì một cái lý tưởng. Tưởng giá nghèo khó đói rét cũng có thể chịu được, mà trong lòng, trong trí không có một cái lý tưởng, một cái chủ nghĩa đích đáng để làm trụ cột cho sự tư tưởng hành vi của mình thời khổ không biết dường nào. Nói thế không phải là đem tâm lý riêng mà phô bày cho thiên hạ đâu. Thiên hạ nào có biết chi ! Nhưng nói thế là để tỏ rằng đối với cái vấn đề văn hoá này thành thực và sốt sắng là dường nào” (Bàn Phiếm Về Văn Hoá Đông Tây, Nam Phong số 84, 1924). Vì thế, đối với Phạm Quỳnh, ra làm quan chẳng qua chỉ vì nghĩa vụ cấp thời, nếu không muốn nói là một sự hy sinh :”Nếu theo sở thích cá nhân và xu hướng tự nhiên của tôi, tôi (Phạm Quỳnh) đã quyết định chẳng bao giờ rời khỏi cái tháp ngà của tôi.” (Serai-Je Ministre?)

Sau nữa, chính cuộc sống cần mẫn, bình dị của Phạm Quỳnh trong thời gian làm quan tại Huế cũng đã trả lời được điều đó.

Qua nhận xét cũa ông Phạm văn Bính :”Khi cụ còn là một ông chủ báo, tôi thấy hằng ngày cụ đi bộ từ số 5 Hàng Da ra bờ hồ Hoàn Kiếm, làm việc tại trụ sở Khai Trí Tiến Đức. Cụ đi làm giản dị như một viên thư ký đi làm ở một công sở, đều đặn, đúng giờ, chăm chỉ.

“Khi cụ được vua Bảo Đại triệu vào Huế làm Ngự tiền Văn phòng và Thượng Thư Bộ Quốc gia Giáo dục, cụ cũng không đổi phương cách làm việc. Vẫn cần mẫn siêng năng. Vẫn chu đáo như khi cụ làm chủ báo” (Hai Quái Kiệt Của Làng Báo Bắc Việt, Vân Bình Phạm văn Bính, báo Đời, số 33, 1970, Sài Gòn).

Qua lời tâm sự của cô tiểu thư Phạm thị Hoàn, con quan Thượng Thư Bộ Lại Phạm Quỳnh :”Chỉ có tôi là con gái ‘đúng tuổi’ để sai vặt, tôi chuyên cắt móng tay cho thầy .. . Tôi có nhiệm vụ vặn đĩa hát cho thầy nghe khi người nghỉ trưa. Tôi không biết lúc đó có thấy hay hay không, chỉ nhớ như in là buồn ngủ mà không dám ngủ, vì đĩa hát cổ, máy hát cổ, luôn luôn phải thay kim, thay đĩa, lên dây cót .. .

“Công việc thứ ba của tôi là dọc sách, cứ hai ngày dọc một quyển dầy ! Thầy tôi quả là một con mọt sách”.

“.. . Tôi biết thầy tôi vui mừng những lúc ngồi ngâm thơ trước ấm trà độc ẩm, hoặc đem truyện Nhị Độ Mai, Kim Vân Kiều ra đọc cho mẹ tôi nghe. Hay vui hơn nữa thì gợi ý mẹ tôi họp mạt-chược. Còn những lúc buồn lo hay bất mãn chuyện gì, tôi đoán là những lúc thầy tôi nói bác tài Mai đưa xe lên chùa Vạn Phước. Trên đó, sư cụ luôn luôn để sẵn ngoài hành lang chánh điện một cái xích-đu. Thầy tôi thường nghỉ đó, tìm di dưỡng tinh thần. Và như thế đến tối mịt mới về” (Thầy Tôi, Phạm thị Hoàn, Ái Hữu số 115, 1992).

Còn giải pháp “Quân Chủ Lập Hiến” không được thi hành, dầu Phạm Quỳnh đã hết sức vận động, nào có phải lỗi tại ông – mà bị các ông quan thực dân hứa hẹn quá nhiều và cuối cùng chính họ đã phản bội.

Phạm Quỳnh quá cay đắng, tự hỏi “Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời ! Là cớ làm sao vậy ? ‘Chữ tài liền với chữ tai một vần’? Lại cớ sao người có sắc cũng như người có tài ‘Vô duyên là phận hồng nhan đã đành’?” (Vô Duyên, trong di cảo Hoa Đường Tùy Bút)

Từ đó Phạm Quỳnh nhận thấy cô Kiều đã có chung một số phận không may như ông. Quả thế, trong suốt cuộc đời lưu lạc của Kiều, cô lúc nào cũng cố vươn lên để được sống thanh cao; ở mọi hoàn cảnh, cô đều cố bám vào một người, những mong họ giúp cô thoát khỏi cảnh đời ô trọc, bấp bênh này.

Và cô Kiều đã nhận được rất nhiều lời hứa hẹn:

– Từ lời hứa của Mã Giám Sinh :

Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao

Mai sau dầu có thế nào

Kìa gương nhật nguyệt, nọ đao quỉ thần.

– Lời hứa của Sở Khanh :

Nàng đà biết đến ta chăng

Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi

– Lời hứa của Thúc Sinh :

Trăm điều hãy cứ trông vào một ta

Đã gần chi ngại đường xa

Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều.

Nhưng cô Kiều cuối cùng đã bị hết sự phản bội này đến sự phản bội khác, để đến nỗi phải chìm đắm trong bao cảnh ngộ oan ức :”Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần“.

– Lại đến chuyện Tổng đốc Hồ Tôn Hiến dụ hàng để rồi đánh lừa khiến Từ Hải phải thác oan. Người ta cũng cho rằng vì Kiều:

Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu nên đã xui Từ Hải ra hàng. Nay triều đình giết được Từ, họ kể là cô cũng có một phần công.

Oan ôi ! Cô đã có công trong việc giết Từ Hải, một người chồng anh hùng, một người tri kỷ, đồng thời cũng là một người ân nghĩa của cô ư ?

Thật là :

Oan kia theo mãi với tình

Một mình mình biết, một mình mình hay.

Người ta hỏi Kiều muốn thưởng công gì ? Cô yêu cầu được chôn cất Từ Hải cho tử tế, còn riêng cô chỉ xin một điều khiêm tốn nhất, nhưng cũng thiết tha nhất, là được trở lại quê hương :

Thân tàn được thấy gốc phần là may.

Đến thế cũng không xong !

Sau khi bắt ép Kiều thị yến dưới màn trong tiệc khao quân, họ Hồ lại gán nàng cho tên thổ quan, đưa thốc xuống thuyền đem đi : đau đớn ê chề quá, tuyệt vọng sâu xa quá. Kiều chỉ còn biết lấy cái chết để trút nợ đời.

Thôi thì một thác cho rồi

Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông.

Nguyễn Du đã không thể cầm lòng trước bao nỗi oan khiên của Kiều, mà phải than rằng :

Thương thay cũng một kiếp người

Hại thay mang lấy sắc tài làm chi

Những là oan khổ lưu li

Chờ cho hết kiếp còn gì là thân !

Nay chúng ta trở lại bốn câu thơ mở đầu trong bài tùy bút Cô Kiều Với Tôi của Phạm Quỳnh để xem ông muốn gửi gấm tâm sự gì ở đây ?

Nàng từ lánh gót vườn hoa

Dường gần rừng tiá, dường xa bụi hồng

Nhân duyên đâu nữa mà mong

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thời thôi .. .

Từ ngày về ở ẩn tại biệt thự Hoa đường, Phạm Quỳnh cảm thấy cuộc đời mình cũng được yên tĩnh, lòng mình cũng được nhẹ nhàng, thanh thản, đã xa hẳn được rồi cuộc sống đầy bão táp, sóng gió ngoài đời.

Nàng từ lánh gót vườn hoa

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng

Con đường chính trị của Phạm Quỳnh đã hoàn toàn thất bại và ông cũng đã quá chán chường, hối hận. Qua bài phỏng vấn của ký giả Nguyễn Vạn An hồi tháng 6-1945 tại Huế, Phạm Quỳnh tâm sự :

Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trên mực đen giấy trắng.

“Nhưng trong những hoàn cảnh khó khăn tôi mới cảm thấy mình không làm được gì hết. Đổi lại, tôi còn bị ngờ vực.”

Như thế đã rõ từ nay Phạm Quỳnh sẽ không bao giờ còn dám tơ tưởng tới những hoạt động chính trị nữa.
Và khi tự vấn lương tâm (là vị quan toà sáng suốt nhất, nghiêm khắc nhất), Phạm Quỳnh thấy mình không chút hổ thẹn, ông đã làm trọn được cái nghĩa vụ của một người cầm bút xây dựng văn hoá dân tộc trong buổi giao thời khó khăn này.

Nhân duyên đâu nữa mà mong

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi

Và để hướng tới tương lai, Phạm Quỳnh quyết tâm trở lại nghiệp viết văn của mình :

Suốt một đời, tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở .. .” (Truyện Kiều  Một Lợi Khí Tri Vận Của Nguyễn Triều, Vũ Quốc Thúc, Làng Văn, số 25, tháng 9-1986).

Phạm Quỳnh say sưa nghĩ đến tương lai :

Hiện thời chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử mà một nền văn hoá mới phải được tạo lập. Tất cả nhân tài phải được dung nạp và trọng dụng.

Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này “…( Tôi Đã Gập Phạm Quỳnh Ở Biệt Thự Hoa Đường, Nguyễn Vạn An, báo Tin Điển, 23-03-1952 )

*

*  *

Nếu những lời dẫn giải của tôi là đúng thì qua một cái nhìn tổng quát, ta thấy quả là tình cảnh của học giả Phạm Quỳnh đã có nhiều điểm tương đồng với cảnh tình cô Kiều của Nguyễn Du, từ đó ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Phạm Quỳnh xem cô Kiều như kẻ “một hội một thuyền” với mình, và đã muốn đem thân thế long đong, cùng tâm sự bi thiết của cô để giãi bày cho cảnh ngộ éo le cùng nỗi niềm u uất bấy nay của mình.

Và để kết thúc cho bài nói chuyện Cô Kiều Với Phạm Quỳnh, tôi muốn mượn lời bài Tổng thuyết của vua Minh Mạng đề vào tập thơ Thanh Tâm Tài Nhân do quan đại thần Hà Tôn Quyền soạn năm 1830 :

“Ôi ! Tài với tai, tình sinh ra cảnh. Tài tình rất mực thường gặp cảnh đoạn trường. Hiếu nghĩa đủ đường, có thể làm gương nghìn thuở. Nếu bàn không đúng lý, hồn nơi cỏ biếc sao khỏi mang oan ? Nếu chẳng xét tình, người dưới suối vàng hẳn là cười khẩy !”

Theo ý giáo sư Vũ Quốc Thúc, bài tổng luận này không khác chi bản án kết thúc một vụ tranh tụng về luân lý, đạo đức của cô Kiều đã xẩy ra trong giới quan trường đối với cô Kiều trong Thanh Tâm Tài Nhân cũng như đối với cô Kiều trong Đoạn Trường Tâm Thanh của Nguyễn Du. (Truyện Kiều Một Lợi Khí Trí Vận Của Nguyễn Triều, Vũ Quốc Thúc, Làng Văn, số 25, tháng 9-1986).

Phần cô Kiều thế là xong, còn Phạm Quỳnh thì sao ?

Không kể bao nhiêu bài biên dịch, luận thuyết của Phạm Quỳnh đăng trên báo Đông dương Tạp chí (1913-1917), chỉ nhìn vào mấy trăm số Nam Phong từ 1917 đến 1934 (sau một số bài từ 1928-1931 được sưu tập in thành bộ Nam Phong Tùng Thư và một số bài khác từ 1917-1922 được in thành năm cuốn Thượng Chi Văn Tập) ta phải công nhận sự nghiệp của Phạm Quỳnh đối với văn nghệ mới và nền văn học mới Việt Nam thật là to tát.

Sự nghiệp ấy trải rộng trên nhiều địa hạt, gây được ảnh hưởng tốt đẹp cùng đem lại nhiều bổ ích cho quốc dân, đã được rất đông các nhà phê bình văn học xưa nay phân tích và ca ngợi. Tôi xin được miễn kể lại, mà chỉ thêm một câu rằng công nghiệp ấy cũng như di cảo của Phạm Quỳnh để lại (ngoài Hoa Đường Tùy Bút, còn tập Tuyển Dịch Thơ Đỗ Phủ , gia đình học giả Phạm Quỳnh vừa được bà sương phụ Đông Hồ, tức nữ sĩ Mộng Tuyết trao hoàn nhân dịp bà sang Pháp) đã soi sáng cho tâm hồn trong sáng và cao quí của ông.
Nhưng còn việc Phạm Quỳnh ra làm quan thì phải giải thích thế nào ? Phán xét thế nào ? Nay xin mượn (lại mượn) mấy câu trong cuốn Đời Viết Văn Của Tôi của tiểu thuyết gia nổi tiếng Nguyễn Công Hoan để trả lời cho câu hỏi này.

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nhớ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết “trực trị”. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam như ở Nam Kỳ, không phải qua vua người Nam, thì dân được hưởng chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết “lập hiến”. Người Pháp nên thi hành đúng hiệp ước 1884, chỉ đóng vai bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy.

Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn là biết mấy thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món tiền này to hơn lương thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để lấy danh nghiã chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại hiệp ước 1884.

Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị, chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền, là một anh kép hát, nổi tiếng về bông-lơn, đã vì giữ tín nhiệm với khán giả mà phải lên sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cả vào cái buổi tối mà cha của anh đương hấp hối.”

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: