Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 10, 2010

Làng kiến trúc phong cảnh Võng Thị viên ngọc chưa kịp mài sáng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:34 chiều

Blog PhamTon, tuần 3 tháng 12 năm 2010 .

Làng Kiến Trúc Phong Cảnh Võng Thị,

viên ngọc chưa kịp mài sáng

Nhà văn  Xuân Cang

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi blog PhamTon đăng bài Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Thủy – cháu dâu học giả Phạm Quỳnh, là người mở ra ngành kiến trúc phong cảnh ở nước ta của Lê Thọ Bình và Phan Ngọc theo bài trên báo Tuổi Trẻ chủ nhật ra từ 9/1/1995, bấy giờ Làng Kiến Trúc Phong Cảnh mới hoàn thành phần thô, nhiều bạn đọc nghe nói đến kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy và ngôi làng độc đáo này đã viết cho chúng tôi, muốn biết làng ấy khi hoàn thành có diện mạo thế nào.

Chúng tôi may mắn có trong tay bài viết của nhà văn Xuân Cang, người đã đến tận nơi, gặp gỡ tác giả, xem xét kỹ càng làng ấy và thuật lại tỉ mỉ, đầy cảm xúc… Bài này do PGS TS Kiến trúc sư Tôn Thất Đại, người bạn đời của kiến trúc sư phong cảnh đầu tiên của nước ta, gửi cho chúng tôi.

Nhà văn Xuân Cang, còn có bút danh là Anh Xuân, tên khai sinh là Nguyễn Xuân Cang, sinh ngày 25/12/1932, tại Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội. Ông từng là tổng biên tập báo Lao Động, giám đốc nhà xuất bản Lao Động, ủy viên ban thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông có tác phẩm xuất bản từ năm 1960.

Trong cuộc đổi mới của đất nước, Xuân Cang thấy mình  “Viết tự nhiên hơn, tìm thấy mình hơn. Trở về với những yếu tố văn minh phương Đông và những gì của Trời Đất và cuộc đời tạo lập trong số phận, trong nhân cách, yếu tố vô thức để lại dấu vết trong các tác phẩm bắt đầu từ Những ngày thường đã cháy lên (tiểu thuyết, 1987), phiêu du trong sáng tạo, nhưng yên tĩnh hơn trong tâm tư. Nghiệm thấy cái gì viết nhanh, viết một mạch dễ thành công hơn những cái viết ra một cách công phu, khó nhọc.” (Trích Nhà văn Việt Nam hiện đại – Hội Nhà văn VN, trang 87, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn,1997)

*

*  *

Làng kiến trúc phong cảnh, cái tên còn chưa quen tai người Hà Nội. Nhưng nó đã mọc lên từ hai năm nay ở làng Võng Thị – Phường Bưởi – Quận Tây Hồ, óng ánh như một viên ngọc mới trồi lên trên mảnh đất của trí tuệ. Nhưng hãy còn là một viên ngọc chưa kịp mài sáng…

Ngay cạnh chùa Võng Thị nổi tiếng, trên một vuông đất rộng khoảng hơn 5000 mét vuông mọc lên một ngôi làng gồm 26 mái nhà màu ngói đỏ au, nhìn từ trên xuống và từ ngoài vào thì có vẻ chen chúc, bề bộn nhưng có đi vào làng mới thấy trong cái khoảng không gian hạn chế còn lại vẫn tạo ra một cảm giác thoáng đãng, thảnh thơi, thư giãn, mà lại ấm áp một không khí làng quê vừa cổ kính vừa tân thời, vừa cho ta thấy mình đang ở giữa đô thị lại như đang sống ở một chốn quê xa. Tạo ra được cảm giác phải nói là kỳ diệu và quý hiếm ấy, là nhờ ở cái khoa học – nghệ thuật kiến trúc mang tên kiến trúc phong cảnh, một loại khoa học kiến trúc còn mới mẻ ở nước ta. Nguyễn Thị Thanh Thủy đứng đầu nhóm tác giả ngôi làng nói trên, cũng là một trong những kiến trúc sư chuyên đề phong cảnh đầu tiên của nước ta. Chị là chủ nhiệm một đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KC11-11 mang tên: Tổ chức, quản lý môi trường cảnh quan đô thị. Trong nội dung đề tài có chương trình thực nghiệm gồm công trình xây dựng: Vườn thực nghiệm Trà Hoa Viên ( Lạc Trung quận Tây Hồ, Hà Nội). Hệ thống biển báo, quảng cáo, ký, tín hiệu trên trục đường Tràng Thi – Cửa Nam – Điện Biên Phủ – Hà Nội. Làng kiến trúc phong cảnh (KTPC) Võng Thị ra đời từ đó.

Một cái làng nhỏ. Hai mươi sáu ngôi nhà hai tầng. Diện tích như nhau (bình quân mặt bằng 80 mét vuông), cấu trúc cơ bản giống nhau, hình thức bên ngoài thì có khác nhau tùy theo địa hình nhưng về nguyên tắc phải theo một ý đồ thiết kế chung. Những ngôi nhà đó tách biệt nhau bởi những đường biên là giải cây trồng hoặc đường đi lại. Tách biệt và khép kín nhưng chúng vẫn gắn bó và gần gũi với nhau trong một quần thể thống nhất và trong một không gian hẹp của đô thị, chính vì thế cái quần thể ấy được gọi là làng. Trong cái làng ấy có dành chỗ cho một ngôi nhà chung được thiết kế theo dáng dấp một cái đình, bên trong là một phòng nhỏ dùng cho việc bảo vệ làng và một phòng họp vừa dùng để triển lãm và lưu niệm, bảo tàng. Ngoài ra còn có một ngôi vườn chung để họp ngoài trời, tiếp khách thân mật riêng, dạo chơi. Tôi gọi là ngôi vườn vì nó là một công trình kiến trúc phong cảnh diễm lệ, tính toán từng chi tiết, từng mét vuông, từng hình ảnh từng kết cấu trang trí và sử dụng. Làng có một con đường chung đủ cho một xe ô tô con đi (kể cả xe cứu hỏa), dẫn đến từng cửa nhà một cách hợp lý, khi cần thì con đường ấy biến thành sân liên hoan cưới hoặc sân chơi cho trẻ em (rước đèn trung thu chẳng hạn).

Khách đến thăm làng, kể cả những người làng, trước hết bị thu hút đến mê mẩn có lẽ là quần thể cây. Có đến hàng nghìn cây thuộc 50 loại được nhà kiến trúc phong cảnh Thanh Thủy tuyển chọn đưa về làng, sắp xếp lớp lang cho từng khung cảnh, cho từng hành lang, từng ngôi nhà, từng mép viền quanh hàng rào, từng lối đi, từng ô đất trống… Trước hết để cho ra một làng Việt thì phải có những cây bóng mát như đa, đề, si, vừa nhập làng đã xứng đáng được các cây xung quanh gọi là cụ. Có những nhóm cau khác nhau như cau vua, cau bụi, cau ăn trầu, cau cọ lợn (tên dân gian, loại cau thấp có chùm quả sệ xuống cọ vào lưng lợn). Những cây cau vua tuyệt đẹp có bầu cây  phía dưới phình ra tạo dáng sang trọng và uy nghi. Có những loại hoa cho hương thơm vào các thời điểm khác nhau trong ngày như nguyệt quế, dạ hương, ngâu, mộc, sói… Có những cây vừa cho bóng mát vừa cho hoa thơm như ngọc lan, lan tua, hoàng lan, sữa. Có những giàn hoa leo như giấy, đai vàng, tầm xuân. Có hoa viên như cẩm tú mai, thanh táo. Có các loại cây có thân và lá cho màu sắc khác nhau ở bên cạnh nhau để tô điểm cho nhau như long não có màu sáng, huyết dụ màu đỏ, hồng đông (còn gọi là trạng nguyên) cho lá non màu đỏ vào mùa khô hanh, tai tượng, mừng quân màu sẫm…

Quần thể cây nói trên được sắp xếp theo những quy luật được trình bày trong công trình nghiên cứu khoa học, nhằm đạt những yêu cầu về cải thiện môi trường, tâm lý học, thẩm mỹ, giải trí… làm sao cho mỗi ngôi nhà có một cảnh quan khác nhau, mỗi đoạn đường đi, một góc vườn đều cho một vẻ đẹp khác nhau, người đi dạo trong làng có thể nhìn ngắm không chán mắt, mà lại không gây cảm giác căng thẳng vì luôn phải để ý những cái mới lạ.

Đi trong khung cảnh ấy, dễ dàng thấy toát lên tư tưởng của nhà kiến trúc: tạo nên một cái làng Việt, gắn bó và cởi mở, con người dễ làm quen với nhau, thân thương nhau, hòa hợp nhau trong một cộng đồng làng xóm, dễ chịu và thư giãn, vừa hiện đại và tiếp nối những nếp xưa và thành truyền thống.

Trong một vùng đô thị đang đổi mới, cái mới mọc lên hằng ngày nhộn nhịp, ồ ạt, ngổn ngang, xô bồ, đầy những tín hiệu báo động về môi trường thì cái làng nhỏ này giống như viên ngọc óng ánh, đầy sức khêu gợi, chào mời.

Xây dựng một công trình thực nghiệm như thế này rõ ràng là hết sức tốn kém. Kiến trúc sư Nguyễn Thị Thanh Thủy cho biết: Số tiền Nhà nước cấp làm đề tài chỉ đủ làm luận án khoa học trên văn bản giấy tờ. Muốn có một làng thực nghiệm thực sự có sức thuyết phục theo kiểu này, chúng tôi phải chào mời các chủ đầu tư, đóng góp số vốn lên đến hàng chục tỷ. Họ phải tình nguyện không xây dựng thêm hoặc bổ sung thêm bất cứ chi tiết nào làm thay đổi cảnh quan so với dự án. Quả thật không có họ, thì không có cái mà anh gọi là… viên ngọc này. Nhưng cũng chính vì vậy mà tôi lâm cảnh khốn khổ trong hơn một năm nay. Nhiều ý kiến ra vào cho rằng chúng tôi đã bầy ra chuyện thực nghiệm này để lợi dụng. Nhưng khoa học là khoa học. Chúng tôi chỉ muốn tạo nên một cái mẫu, rồi từ cái mẫu này, có thể nhân lên thành nhiều làng kiến trúc phong cảnh với cấp độ khác nhau về vốn, về quy mô, tùy theo điều kiện cụ thể. Chúng tôi đã cố gắng thực hiện ý kiến Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi Thủ tướng trực tiếp xem xét bản dự án xây dựng làng: “Tôi mong đây là thí điểm xây dựng một làng vừa mang đầy đủ những nét truyền thống của văn hóa Việt Nam, vừa làm đẹp cảnh quan và môi trường của thủ đô” ( Ý kiến đồng chí Võ Văn Kiệt ngày 1/7/1992).

Tôi đã được đọc bản nhận xét đó, bản nhận xét của một con mắt xanh của người đứng đầu nhà nước, nếu có thể nói như thế. Chỉ tiếc là viên ngọc chưa kịp mài sáng thì đã có nguy co bị vùi. Và nếu nó bị vùi thì chắc chắn là sự mất mát lớn của trí tuệ trong thời đổi mới. (Chúng tôi nhấn mạnh – DT)

X.C.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: