Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 31, 2010

Truyện Kiều P2: Lịch sử tác giả

Filed under: Báo — phamquynh @ 11:22 sáng

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 1 năm 2011.

TRUYỆN KIỀU

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ ngót một trăm năm nay, ở nước ta, hầu như không ai nói tới Truyện Kiều mà quên nhắc tới Phạm Quỳnh. Nhất là từ sau 1924, năm diễn ra lễ kỷ niệm lớn nhất nước ta từ xưa tới nay ngày mất đại thi hào Nguyễn Du, với hơn hai nghìn người tham dự tại Hà Nội. Tối ấy, nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh xuất thần thốt lên câu nói bất hủ “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Sau đó, đã nổ ra một cuộc tranh luận lớn về Truyện Kiều, với sự tham gia của những tên tuổi lớn trong cả nước. Đến nỗi, sau này cuộc tranh luận về một tác phẩm văn học đã bị đẩy lên thành một hành động chính trị. Và cuộc tranh luận đã thành một “vụ án”: Vụ án Truyện Kiều, thoát hẳn ra ngoài lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Đến nay, sau gần một phần tư thế kỷ tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, theo tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đang ngày càng có nhiều cách tiếp cận mới dân chủ hơn, công bằng hơn mà cũng thấu tình đạt lý hơn. Và chân lý ngày càng sáng tỏ, trong một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng là quê hương của các danh nhân văn hoá thế giới: đại thi hào Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Thật ra, Phạm Quỳnh quan tâm, yêu mến Truyện Kiều và Nguyễn Du từ lâu rồi. Trong bài văn cuối đời viết còn dở dangvào trưa ngày 23/8/1945 Cô Kiều với tôi, Phạm Quỳnh có kể là ông đã say mê Kiều từ thuở lọt lòng, qua lời ru của mẹ là cô Vũ Thị Đoan, một hậu duệ của dòng thi thư họ Vũ nổi tiếng hay chữ, hiếu học đất Hải Dương. Và bài đầu tiên ông viết về Truyện Kiều, phân tích tìm hiểu Truyện Kiều “theo lối mới” là bài Truyện Kiều, đăng trên Tạp chí Nam Phong số 30, tháng 12 năm 1919, năm ông mới 26 tuổi và Nam Phong ra đời vừa hai năm. Bài dài đến 20 trang báo, gồm bốn phần: 1) Cỗi rễ Truyện Kiều. 2) Lịch sử tác giả. 3) Văn chương Truyện Kiều. 4) Tâm lý cô Kiều.

Để cung cấp cho bạn đọc ngày nay có thêm tư liệu nghiên cứu về Truyện Kiều và Nguyễn Du, cũng như bản thân tác giả Phạm Quỳnh, bắt đầu từ kỳ 1 tháng 1/2011, chúng tôi lần lượt trích đăng bài báo quan trọng này, theo văn bản in trong Phạm Quỳnh – Thượng Chi Văn Tập, Nhà xuất bản Văn học xuất bản tại Hà Nội năm 2006, từ trang 549 đến trang 593.

Sau đây, xin mời các bạn đọc từng phần.

—o0o—

2. Lịch sử tác giả

Đã xét về cỗi rễ truyện Kiều, nay nói đến lịch sử tác giả. Ai cũng biết rằng người đặt truyện Kiều là cụ Tiên Điền Nguyễn Du, làm Lễ bộ tham tri về đời Gia Long, Minh Mệnh. Hành trạng cụ thời trong quốc sử có nói lược qua, nhưng ngoại giả không được biết rõ cả lịch sử thế nào. Mong rằng con cháu cụ ngày nay còn biết được tường về sự trạng cụ, nên đem công bố cho quốc dân hay, vì một người đã có công với quốc văn như cụ thật đáng lưu danh thiên cổ và đáng cho quốc dân sung phụng muôn đời như một ông thánh trong nước vậy. Các nước Âu – Mĩ trọng các văn hào hơn các bậc đế vương, vì cái công nghiệp về tinh thần còn có giá trị quí báu hơn và ảnh hưởng sâu xa hơn là những sự nghiệp nhất thời về chánh trị. Tên vua Louis XIV, Napoléon I có ngày người đời không nhắc đến nữa, mà tên những  danh sĩ như Pascal, Corneille, Racine thời trong thiên hạ còn có người học chữ Pháp, còn có người nói tiếng Pháp, còn có người biết tư tưởng sâu xa, thì còn không bao giờ quên được. Theo lý tưởng cũ thời ở đó có ba cái “bất hủ”: một là lập đức, hai là lập công, ba là lập ngôn; nhưng cứ lịch sử đời xưa đời nay mà chứng, thời có lẽ cái trật tự ấy đảo ngược lại mới là phải, và ở đời này có lẽ lập ngôn là cái kế bất hủ hơn cả. Lập ngôn là gì, là đem cái lý tưởng rất cao của mình, cái cảm tình rất thiết của mình, đem cả tâm hồn tình tính mà chung đúc vào tiếng nói của nước mình, tiếng nói ấy đã kinh qua bao nhiêu đời mới thành, tất cũng sẽ di truyền bao nhiêu đời không mất, vậy thời tiếng nước còn là hồn mình còn, mà hồn mình còn là tiếng không mất, như thế thời lập ngôn chẳng là cái kế trường sinh bất diệt ở đời dư? Lập ngôn chẳng là đem cuộc sinh tồn hữu hạn của một đời người mà đổ lộn vào cuộc sinh tồn vô hạn của một nòi giống, khiến cho mình nhờ nòi giống mà lưu danh mãi mãi, nòi giống cũng nhờ mình mà sống được vô cùng dư? Bao giờ bán đảo Đông Dương này còn có người Việt Nam ở, người Việt Nam còn biết nói tiếng Việt Nam, thì truyện Kiều còn có người đọc, truyện Kiều còn có người đọc thời cái hồn Cụ Tiên Điền còn phảng phất mãi trong sông núi đất Việt Nam không bao giờ mất được! Ôi! Linh hồn bất diệt, linh hồn bất diệt là nghĩa thế nào? Lấy lẽ tôn giáo mà chứng thời huyền viễn quá, người thường không thể hiểu được. Nhưng thiết nghĩ đối với nhà thơ nhà văn thời linh hồn bất diệt tức là cái công trước tác của mình, nếu công ấy đáng giá thời linh hồn mình tất cùng với núi sông, cùng với nòi giống lưu truyền mãi mãi, tưởng cũng có thể gọi là bất diệt được, vì người ta ai cũng là kết quả của một giống, giống mình còn mình cũng còn, mình với giống mình cũng là một, còn có kế  trường sinh nào hơn nữa?

Bởi các lẽ đó mà những nhà văn đã có công với quốc văn như Cụ Tiên Điền, sự trạng nên công bố cho quốc dân biết, một là có biết truyện người làm sách mới hiểu rõ văn chương của người, hai là muốn sùng phụng tiền nhân cho xứng đáng phải biết tâm thuật của tiền nhân thế nào.

Nay không thể khảo cứu được tường tận về lịch sử Cụ Tiên Điền hẵng xin dịch ra đây bài truyện ký vắn tắt của Cụ trong Đại Nam liệt truyện (chính biên), là tập truyện những bậc danh nhân Bản triều, do Sử quán ở kinh đô soạn.

“Nguyễn Du người huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là con quan Xuân quận công nhà Lê Nguyễn Nghiễm, và là em quan tham tụng Nguyễn Khản. Con nhà quyền quí, lại thêm người có văn tài, có khí tiết, không chịu giúp nhà Tây Sơn. Năm đầu Gia Long, được bổ tri phủ Thường Tín, sau mắc bệnh từ. Năm thứ năm được thăng Đông các học sĩ, năm thứ tám bổ ra làm cai bạ Quảng Bình, trị dân có chính tích. Năm thứ 12 thăng Cần chính điện học sĩ, sung chức chính sứ sang tuế cống bên Tàu. Khi về thời thăng Lễ bộ Hữu tham tri. Năm Minh Mệnh nguyên niên, lại có mệnh sang sứ Tàu nữa, nhưng chưa kịp đi thời chết. Đức Thánh tổ Nhân Hoàng đế (đức Minh Mệnh) thương tiếc lắm, ban cho vàng bạc hai mươi lạng, gấm vóc hai cây, táng về rồi lại cho thêm ba trăm quan tiền nữa.

“Dù là người tính khẳng khái tự phụ, mà bề ngoài thời coi ra thuần cẩn. Mỗi lần lên bệ kiến, như sợ hãi không nói ra lời; Hoàng đế thường dụ rằng: Quốc gia dùng người, duy chọn lấy người hiền minh mà thôi, có phân biệt chi kẻ Nam người Bắc. Như nhà ngươi đã được ta tri ngộ, quan tới á khanh, phải nên nói năng để cho xứng chức, há cứ rụt rè sợ hãi mà chỉ biết dạ dạ vâng vâng hay sao?”.

“Làm thơ hay, lại tài về quốc âm, khi đi sứ Thanh về có tập Bắc hành thi tập và tập Thúy Kiều truyện hành thế.

“Du lúc đầu lấy nhà mình là đời đời làm quan với Tiền Lê, gặp Tây Sơn nổi loạn không ra làm việc nữa, chỉ đi ngao du săn bắn, chín mươi chín ngọn núi Hồng Sơn, túc tích đi gần khắp. Sau bị Nhà nước gọi, không thể từ được mới phải ra. Làm quan thường bị chuyết với kẻ thượng ti, uất uất không đắc chí. Kịp đến khi bệnh nặng không chịu uống thuốc, người nhà mó đến chân tay thời lạnh rồi; khi chết cũng không giối giăng điều gì về sau cả.

“Có hai người em: một người tên là Thảng, một người tên là Sóc, hai người đều có tài nghệ nổi danh. Thảng có tài vẽ, viết chữ tốt lắm, trước sung Hàm lâm viện, sau lên Công bộ Thị lang, Sóc thời cũng có tài khéo, vào giữa đời Gia Long làm tới Công bộ kiểm sự rồi làm Giám đốc Vũ Khố”. (Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 20, trang 9).

Lời sử tuy nghiêm trang vắn tắt, nhưng đọc qua bài tiểu truyện trên kia, tưởng cũng đủ đoán được cái tâm sự của Cụ Tiên Điền ta vậy. Xem đó thời biết Cụ có tính trầm uất, làm quan thường không được đắc chí, và trong sự kinh lịch có nhiều nỗi bất bình.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Bởi lòng đau đớn nên cầm bút viết thường thổ lộ ra những giọng thiết tha ai oán, đầy khắp một quyển truyện Kiều. Có lắm câu trong vắt như hạt lụy rơi, não nùng như tiếng quyên gọi, khiến người đọc đến phải ngậm ngùi mà gạt lệ, đủ biết tác giả cũng là một khách đoạn trường và cùng Kiều nhi cũng là một người một thuyền một hội vậy.

Trong sử lại nói: Cụ tính rụt rè và ít hay nói; xưa nay những người không hay biểu lộ tình cảm ra ngoài thường uất súc vào trong, lại càng thêm kịch liệt. Cụ đã có cái thiên bẩm như thế, lại gặp phải đời loạn: vốn giòng bầy tôi cũ triều Lê, lại ở vào giữa Lê triều mạt vận. Tây Sơn dấy lên, nước nhà điên bái, đã hôi tâm thoái chí, không còn mong ra thi thố gì với đời nữa. Kịp đến lúc Nguyễn triều lên kế thống, thời bầy tôi triều truớc thờ chúa triều sau, cảnh ngộ cũng có điều khó xử, mà nỗi lòng không khỏi mối ăn năn, nên trên bị vua quở trách, dưới bị bọn thượng tí khuất nhục. Những tình tiết, những nông nỗi ấy, vào một người đa tình đa cảm, trầm mặc uất phẫn như Cụ, thời tiện thị là những nông nỗi, những tình tiết đoạn trường cả, nên trách chi cái công trình tâm huyết của Cụ là tập truyện Kiều kia, từ đầu chí cuối lại chẳng là một khúc “đoạn trường thanh”! Nhưng cái đau đớn của khách tài tình không phải là đau đớn vô ích: nhờ cái đau đớn của Cụ Nguyễn Du mà trong kho “hương hỏa” của tổ tiên ta để lại, thêm được một hạt trân châu vô giá, đủ bổ cứu cho sự nghèo nàn của giống ta, hạt trân châu ấy là cái áng phong tình kiêm tiết nghĩa của nàng Kiều vậy.

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: