Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 18, 2011

Phạm Quỳnh người canh tân văn hóa làm sống lại hồn nước

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:41 chiều

Blog PhamTon, tuần 4 tháng 2 năm 2011.

 

PHẠM QUỲNH

NGƯỜI CANH TÂN VĂN HÓA LÀM SỐNG LẠI HỒN NƯỚC

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Giáo dục và Thời đại, thứ sáu ngày 30/4/2010 đã đăng bài này trọn một trang 41. Tác giả là Khúc Hà Linh, sinh năm 1946 tại Hải Dương, quê Phạm Quỳnh. Ông từng là hiệu trưởng trường Văn hóa – Nghệ thuật tỉnh Hải Dương. Ông đã xuất bản ba tập thơ, một tập dịch thơ Đường, một truyện lịch sử, một truyện dài, gần đây nhất là tác phẩm Anh em Nguyễn Tường Tam – Nhất Linh, Ánh sáng và bóng tối (2008-2009) và Phạm Quỳnh – Con người và thời gian (2010).

*

*   *

Hiệu là Thượng Chi, bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân, Phạm Quỳnh (…) sinh ra trên đất Hà Thành, nhưng quê quán ông lại là làng Lương Ngọc, (nay thuộc xã Thúc Kháng), huyện Bình Giang, tinh Hải Dương, một làng nổi tiếng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. (…) 9 tuổi, Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đậu thủ khoa Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), 15 tuổi đã đi làm ở Trường Viễn Đông Bác Cổ – Hà Nội.

  • NGỌN GIÓ NƯỚC NAM

Sau thời gian làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ được gần 9 năm, Phạm Quỳnh đứng ra làm chủ bút Nam Phong Tạp chí, khi vừa 24 tuổi. Từ những số đầu tiên, chủ bút Phạm Quỳnh đã tỏ ra một tay lái vững vàng để chèo lái con thuyền Nam Phong đi theo phương hướng của mình đã vạch sẵn. Đó là mở rộng khảo sát các đề tài lịch sử xã hội, văn hóa văn minh Việt Nam và thế giới. Về văn học: đi vào biên khảo, dịch thuật, và giới thiệu sáng tác mới.

Trước khi làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh đã viết cho Đông Dương tạp chí, một tờ báo sang trọng thời ấy. Khi trở thành chủ bút tờ báo riêng, Phạm Quỳnh vẫn không dời công việc sáng tạo. Ông viết nhiều thể loại, với các bút danh khác nhau.

Nói về Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong, giáo sư Huệ Chi cho rằng “Ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn chương cảm hứng”. Quả thế, là người biên khảo, Phạm Quỳnh lần đầu tiên cho người đọc nước ta có khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ và tiểu thuyết nói riêng. Huệ Chi còn xác nhận “ông là người rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương quốc tế, diễn đạt những phạm trù trừu tượng, như tư tưởng, tâm lý, triết học…”. Có lẽ vì thế có người nhận xét ông có dáng một học giả, nhà văn hóa hơn nhà văn. Thế nhưng, văn Phạm Quỳnh đầy chất suy tư, bộc lộ nhân sinh quan, tư tưởng và quan điểm về văn hóa. Ông muốn sống dung hòa cả trên thực tại và chữ nghĩa văn chương. Phạm Quỳnh không ít lần nói ý rằng nếu một dân tộc mới có thì tây hóa cũng được. Nhưng đằng này dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì lên đó cũng được.

Có người tỉ mỉ cho rằng Phạm Quỳnh viết khá tạp, nghĩa là không có công trình to tát, đồ sộ và thuần nhất như người khác. Nhưng khi tổng hợp hàng nghìn bài viết, rồi phân loại như kiểu phân ra thể loại ngày nay, người ta thấy giật mình bởi những vấn đề ông nêu ra bình phẩm, bàn thảo quá xúc tích đến mức uyên bác.

Ông viết tất cả các vấn đề mà ông biết, ông quan tâm. Ông dịch thuật, truyền bá tinh hoa tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đồng thời giới thiệu di sản tinh thần của ông cha phiên âm ra tiếng Việt trong kho sách của Trường Viễn Đông Bác Cổ. Ông nghiên cứu Truyện Kiều, nghiên cứu về văn hóa, giáo dục. Từ chuyện sức khỏe con người, cái ăn cái mặc, đến chuyện thi cử học hành từ trong nước ra ngoài nước. Ông viết từ lịch sử nghề diễn kịch nước Pháp, bàn về hí kịch của Molière, đến triết học Auguste Comte, triết học Bergson. Ông chọn và dịch ra Việt ngữ 132 câu cách ngôn của vua La mã Marc Aurèle (121-181 sau đức Gia Tô giáng sinh). Ông đã chọn lọc một cách có chủ ý rồi dịch những câu cách ngôn không chỉ cho mình mà là cho bạn đọc suy ngẫm. Nói cách khác ông đang truyền bá những tư tưởng hay của văn hóa phương Tây cho người Việt Nam.

  • NHÀ BÁO CÓ HẠNG, VĂN SĨ TÀI DANH

Mặc dù cho đến nay hơn sáu chục năm qua, đã có nhiều tài liệu viết về ông, dù có những bất đồng ý kiến, những tất cả đều ghi nhận, Phạm Quỳnh là người thông tuệ, am tường cả Hán văn, Pháp văn, và chữ quốc ngữ. Ông tiên phong trong quảng bá chữ quốc ngữ và dùng tiếng Việt thay chữ nho và chữ Pháp để viết lý luận, nghiên cứu. Ông biết tiếp thu những cái tốt đẹp của báo chí phương Tây, báo chí Trung Hoa nhưng vẫn giữ được cốt cách văn chương dân tộc. Ông là người chiến đấu không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên phạm vi cả nước; chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ nghĩa quốc gia với thuyết quân chủ lập hiến.

Trong Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn (Lê Sĩ Quý) đã phẩm bình: “Ông là một nhà hiếu cổ thủ cựu, xuất thân ở Tây học mà lại ưa đạo lý Khổng Mạnh, cái triết lý lãng mạn của Lão Trang, cái thi vị của ca dao nơi thôn dã, cái êm đềm của nền văn hóa cũ nước nhà. Ông cho những cái đó là cái gia sản về tinh thần của tiền nhân để lại, ta phải phát huy nó ra, giữ lấy nó làm căn bản cho cái văn minh nước nhà”.

Ngay từ 1913 khi 20 tuổi, Phạm Quỳnh đã viết hàng loạt bài trên Đông Dương tạp chí và được giới học giả đương thời đánh giá là nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh. Đến năm 1917 Phạm Quỳnh đi hẳn vào lĩnh vực văn chương báo chí. Từ năm 1924, dù có làm giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France Indochine… nhưng Phạm Quỳnh vẫn xông xáo trực tiếp viết báo, viết sách. Ông dịch thuật, khảo cứu, chắt lọc tính dân tộc và tiếp thu cái văn minh của phương Tây và đặc biệt đi tiên phong trong thể du ký sinh động, sâu sắc. Đọc lại những bài ký ấy đã cách đây trên dưới chín chục năm nhưng vẫn còn hấp dẫn. Bởi những trang văn không chỉ đầy ắp tính chân thực bộn bề chất liệu đời sống mà ngôn ngữ miêu tả uyển chuyển, phong phú giàu chất suy tư, cùng những quan sát tả cảnh thiên nhiên, khác xa lối văn trước đó khô cứng, khuôn phép lối biền ngẫu… Ông đi về vùng đất phương nam màu mỡ đang sinh thành… lấy tư liệu viết bài và bình phẩm: Một tháng ở Nam Kỳ. Ông vào kinh đô Huế, viết Mười ngày ở Huế. Ông lên Cao Bằng, Lạng Sơn ghi chép cuộc sống vùng biên viễn rừng núi, tràn ngập vẻ đẹp và phong tục nhân gian… Có khi đi thăm đất Phật để rồi cho ra đời tác phẩm Trảy chùa Hương và với đôi mắt tinh tế, nhạy bén luôn phát hiện cái mới, ông có những nhận xét thật sắc sảo. Nhưng câu chữ dùng từ thế kỷ trước, đậm đặc tính tân văn đến thời nay đọc lại vẫn mới. Ông phát hiện ra mặt trái của những nét sinh hoạt trong hành lễ và cảnh báo, bình luận “Người ta đối với thánh thần chẳng khác gì lũ dân ngu xử với bọn quan tham, tưởng cứ lễ lót nhiều là được ơn huệ to”. Sau khi đi Pháp về ông có chùm bài Pháp du hành trình nhật ký, v.v… đăng tải trên tạp chí gây ấn tượng lạ lẫm cho người trong nước. Bằng cách vừa kể, vừa tả có xen vào những đoạn bình luận sắc bén, những bài du ký của Phạm Quỳnh đã tạo ra một sự hấp dẫn, mới lạ trong đời sống văn chương thời bấy giờ.

  • TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ TRUYỆN KIỀU

Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng từ nhỏ, Phạm Quỳnh đã sống trong vòng tay yêu thương của bà nội, rồi khi trưởng thành sống giữa tình yêu của người vợ trẻ gốc nông dân có năng khiếu văn chương bình dân, được nghe nhiều chuyện cổ tích, dân gian, ca dao tục ngữ, lời ăn tiếng nói dân quê, nên Phạm Quỳnh ngấm dần cái vẻ đẹp nét hay của ngữ ngôn dân tộc.

Ngày 21 tháng 4 năm 1921, Hội Trí Tri Hà Nội tổ chức một cuộc sinh hoạt. Phạm Quỳnh đã diễn thuyết về tiếng Việt gây xúc động cử tọa – một điều xưa nay chưa từng có. Ông nói: “Dù học Tây hay Tầu, ta chớ bỏ tiếng Việt là cái tiếng từ lọt lòng ra đã nói. Và đến khi chết vẫn nói. Ta nên nhớ tới câu Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn Với sự uyên thâm trải nghiệm cuộc đời, ông đặt câu hỏi rồi tự trả lời: “Hàng ngàn năm qua người nông dân không biết chữ, vậy họ lấy gì để tả nỗi lòng? Đó là quốc âm, tục ngữ, ca dao, phong dao, là văn chương truyền khẩu. Chính nhờ có tiếng Việt ấy họ mới tìm thấy tình yêu, mới có chuyện ân ái vợ chồng, mới có cảnh âu yếm lứa đôi…”

Năm 1932, tức hơn chục năm sau, ông cho xuất bản cuôn Tục ngữ ca daoNam Phong tùng thư, mà ông là chủ biên. Điều này Phạm Tuyên từng kể rằng đại bộ phận nhờ có người mẹ thông minh, nhớ lại đọc ra cho người cha của mình biên khảo.

Năm 1922, gần tròn ba mươi tuổi, Phạm Quỳnh sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille với tư cách Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Ông có bài diến thuyết rất nổi tiếng trước Ban luân lý chính trị Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Đứng trước các trí thức thượng lưu Pháp, Phạm Quỳnh trong bộ quốc phục, áo dài khăn đóng rất tự tin bước lên khán đài. Phạm Quỳnh đã làm rạng danh quốc thể qua lòng tự tôn tiếng mẹ đẻ.

Là một nhà báo Tây học, thức thời không chịu cổ hủ, ông thích cái mới, xô đẩy cái cũ… Ngay từ năm 1933, nghĩa là chỉ sau một năm ông thôi chèo lái con thuyền tạp chí Nam Phong, thì trong cuốn Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn đã ghi công cho Phạm Quỳnh: “Những công trình về văn học triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thuật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn…”

Từ năm 1941, Phạm Quỳnh từng được giáo sư Dương Quảng Hàm đưa vào một chương trong sách Việt Nam văn học sử yếu trong phần chương trình dành cho năm thứ ba Ban Trung học Việt Nam.

Học giả Phạm Quỳnh, trong con mắt của Vũ Ngọc Phan – tác giả cuốn Nhà văn hiện đại xuất bản năm 1942 – là một người tài năng siêu việt. Vũ Ngọc Phan khi đánh giá về văn khảo cứu của ông đã coi ông là “một người có cái học vừa sâu sắc vừa quảng bác”.

K.H.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: