Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 7, 2011

Bài học lịch sử

Filed under: Truyện và Ký sự — phamquynh @ 2:42 chiều

Blog PhamTon, tuần 3 tháng 4 năm 2011.

Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm Tân Mão (2011)

BÀI HỌC LỊCH SỬ

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày 12/4/2011 này tức ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch là ngày “Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”, cả nước ta sẽ hướng về Đất Tổ để tri ân “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” theo lời Hồ Chủ tịch đã nói với đồng bào, chiến sĩ khi Người thăm Đền Hùng trước ngày giải phóng Thủ Đô Hà Nội năm 1954.

Báo Nhân Dân số ra ngày 4/4/2011 có bài viết “Phú Thọ tích cực chuẩn bị Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2011: Năm Tân Mão – 2011, Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Ðền Hùng do Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức với sự tham gia của các tỉnh: Tuyên Quang, Hòa Bình, Nam Ðịnh, Quảng Ngãi và Ðồng Tháp đại diện cho ba miền: Bắc, Trung, Nam theo Ðề án tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Ðền Hùng hằng năm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của ngày Giỗ Tổ, trong thời gian qua, tỉnh Phú Thọ đã chủ động, tích cực triển khai công tác chuẩn bị về cơ sở vật chất, nội dung các hoạt động phần lễ và phần hội, đồng thời triển khai các phương án bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn để tổ chức thành công Giỗ Tổ Hùng Vương. Trong đó, trọng tâm là chuẩn bị điều kiện vật chất cho nghi lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng được tổ chức tại đền Quốc Tổ Lạc Long Quân, đền Tổ Mẫu Âu Cơ, đền Thượng vào các ngày mồng 5, 6 và 10 tháng 3 âm lịch.” (…)

Ðồng chí Hoàng Dân Mạc, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ cho biết, thời gian tổ chức lễ hội từ mồng 6 đến 10 tháng 3 âm lịch (từ 8 – 12-4-2011). Trong đó, phần lễ tổ chức trong ba ngày là mồng 5, 6 và mồng 10 tháng 3 âm lịch; phần hội được tổ chức năm ngày, từ mồng 6 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch. Nét mới của Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Ðền Hùng năm nay là việc Hội Di sản Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức thực hiện dự án “Trống đồng – Âm vang đất Tổ” với việc dâng 18 trống đồng lên nơi thờ các Vua Hùng, dâng một trống đồng lên Phủ Chủ tịch và một số trống đồng sau khi làm lễ tại Ðền Hùng để nhập linh khí sẽ được đưa đến Ðại sứ quán Việt Nam tại một số nước để tuyên truyền về báu vật thời Hùng Vương, kêu gọi kiều bào ta ở nước ngoài hướng về cội nguồn dân tộc.”

Báo Sài Gòn Giải Phóng, số ra ngày 3/4/2011 đưa tin: “Phục vụ Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2011- Đưa vào sử dụng đền Hạ và đền Giếng: Sáng 2-4, tỉnh Phú Thọ đã làm lễ rước long ngai bài vị thờ các Vua Hùng vào đền Hạ và tượng nhị vị thánh cô (hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa) vào đền Giếng để phục vụ Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2011.

Ông Nguyễn Tiến Khôi, Giám đốc Khu Di tích lịch sử Đền Hùng cho biết, đền Hạ được tôn tạo, tu bổ với kiến trúc cũ hình chữ nhị (gồm nhà tiền tế, hậu cung) và nhà sắp lễ. Đền được làm bằng khung gỗ lim, tường gạch loại tốt, đảm bảo sử dụng lâu dài. Tổng kinh phí trên 18 tỷ đồng do thành phố Hà Nội góp công đức.

Đền Giếng cũng được tu bổ, tôn tạo với kích thước và kiến trúc cũ bằng khung nhà gỗ lim, tường gạch. Kinh phí trên 24 tỷ đồng do nhân dân tỉnh Quảng Ninh góp công đức.

Việc đưa đền Hạ và đền Giếng vào sử dụng dịp Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2011 nhằm phục vụ du khách thập phương về dự lễ và thắp hương tri ân công đức tổ tiên.”

Nhân dịp này, chúng tôi giới thiệu với các bạn một phần bài của Phạm Quỳnh viết năm 1929, trích từ bài Bài học lịch sử, nguyên văn viết bằng tiếng Pháp, qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc, trong sách Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Essais 1922-1932) do Nhà xuất bản Tri Thức – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2007 tại Hà Nội, từ trang 116 đến 121.

—o0o—

Lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục; nó còn khích lệ. Nó làm nguôi ngoai, đem lại sự bình tâm; nó xoa dịu những nôn nóng cũng như những âu lo và cung cấp chỗ dựa cho niềm tin và hy vọng. Giữa những ưu tư nặng nề trước các khó khăn hiện tại, nó đưa lại sự tĩnh tâm thư thái khi thanh thản chiêm nguỡng quá khứ vì dường như ta được tham dự vào sự bất tận của thời gian và vĩnh hằng của muôn vật. Nó là một phương thuốc tuyệt vời chống lại sự nản lòng và bi quan.

Khi ta có được cái may mắn thuộc về một dân tộc có sau lưng mình hai mươi lăm thế kỷ lịch sử, thì trong những lúc thất vọng hay hoài nghi, sẽ là một khích lệ tuyệt diệu nếu biết nhớ lại thiên sử thi anh hùng dài lâu của tổ tiên và rút lấy từ trong các bài học của quá khứ những sức mạnh cần thiết để đối mặt với hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

Phương thuốc chữa bệnh tinh thần bằng cách thả chìm mình trở lại trong quá khứ sâu thẳm của giống nòi để nhận được từ đấy những ngọn nguồn năng lượng và ý chí không ngờ, để được cộng cảm thân thiết với “đất đai và những người đã mất” là bổ ích chẳng gì bằng, và không có liệu pháp nào hơn cách thức ấy để loại bỏ khỏi tâm hồn đôi lúc cái cảm giác chán nản khi ta thấy hoang mang và bất lực trước một sự kiện và bỗng hoài nghi tất cả, chính mình và mọi người khác.

Tôi đã nhiều lần trải qua kinh nghiệm đó và tôi vừa có dịp được trải nghiệm lại những ngày này cùng với các bạn Nam Kỳ và Trung Kỳ (…) qua một cuộc du ngoạn đến đền Cổ Tích.

(…) Ngôi đền này nằm trên một ngọn đồi cây cối rậm rạp cách Phú Thọ khoảng mười ki-lô-mét về phía hạ lưu, thờ đời vua Hồng Bàng thứ nhất, những vị vua nửa truyền thuyết nửa lịch sử, dưới tên gọi là Hùng Vương, đã trị vì từ năm 2879 đến năm 258  trước Công nguyên.

Madrolle[*] viết: “Qua khỏi sông Thao, những cánh đồng rộng vùng châu thổ liền biến mất: nền đất gấp khúc mạnh và con đường sắt phải leo lên bằng cách lượn quanh các sườn dốc đầu tiên ở gần đường phân thủy giữa sông Hồng và sông Thao.

“Về phía bên phải, một dãy đồi gợi lên trong tâm trí người nước Nam những khúc uốn lượn của Con Rồng; đỉnh cuối cùng, Nghĩa Cương, cao hơn cả và phủ đầy rừng, có một Hùng Vương, vị vua cuối cùng của triều đại Hồng Bàng… Nghĩa Cương, thường được gọi là Núi Đền, nằm cách ga Tiên Kiên 3km5 về hướng Đông Bắc. Nó thuộc làng Hy Cương mà tên dân gian gọi là làng Cổ Tích; quả là ở đấy người ta còn lưu giữ ký ức sùng kính về vị thủ lĩnh người nước Nam cuối cùng của nước Văn Lang, đã chết tại đây (năm 258 trước Công nguyên) khi bị các đoàn quân của vua Thục truy đuổi…”.

Đất nước Văn Lang bao gồm toàn bộ vùng Phú Thọ và Việt Trì này, ở đấy có thể nói mỗi làng, mỗi thôn ấp đều còn lưu giữ ký ức về triều đại quốc gia đầu tiên và quả đúng là cái nôi của nước Nam. Chính tại đây năm trăm năm trước Công nguyên, các bộ lạc Giao Chỉ đầu tiên đến từ miền Nam Trung Hoa đã định cư, tập họp nhau lại dưới quyền uy của những vị thủ lĩnh được công nhận và tạo nên cái hạt nhân về sau sẽ trở thành tổ quốc Nam Việt. Vậy nên người nước Nam biết ơn các vị tổ tiên xưa của nòi giống, qua bao nhiêu thế kỷ đã không ngừng cung kính thờ phụng. Có vô số các đền miếu các vị vua Hùng, nhất là ở vùng này nơi cửa ngõ của Châu thổ, nơi ghi dấu giai đoạn đầu tiên trong hành trình thắng lợi của các hậu duệ người Việt trong công cuộc chinh phục toàn Đông Dương.

Trong số đó đền Cổ Tích nổi tiếng hơn cả. Quả nhiên ở đây việc thờ phụng không chỉ mang tính chất địa phương, mà là của cả quốc gia. Từ những thời rất xa xưa, đến ngày đã định, – ngày mồng 10 tháng Ba, – tại đây diễn ra những lễ hội lớn lôi kéo một đám đông đáng kể đến từ khắp nước. Triều đình cử một vị quan, – thường là vị quan tỉnh sở tại, – thay mặt nhà Vua cử hành nghi lễ cúng “các vị tổ tiên của giống nòi”(…)

Vậy nên với tư cách là những kẻ hành hương hơn là những khách du ngoạn, những kẻ hành hương, nếu không “mê đắm”, thì ít ra cũng là đầy ý thức và hăng hái, dưới một màn mưa bụi báo hiệu những trận mưa phùn sẽ đến, các bạn thuộc ba Kỳ chúng tôi đã trèo ba trăm bậc từ chân núi Hy Cương dẫn lên đến ngôi đền và mộ vua nằm trên đỉnh. Như những đứa con đầy lòng hiếu thảo tất cả chúng tôi đã thắp những nén hương truyền thống và cúi lạy trước bàn thờ đặt những bài vị ghi rõ “Bài vị mười tám đời vua Hùng của nước Việt cổ”. Thật cảm động khi được thấy những con người có văn hóa, được đào tạo trong nền giáo dục hiện đại, vốn xa rời các truyền thống quá khứ, nay lại đang thực hiện cái nghi lễ tôn kính, sùng bái truyền thống này trước một tấm bài vị bằng gỗ đối với họ trong giờ phút này là biểu trưng của linh hồn tổ quốc vĩnh hằng.

Mọi người đều thi nhau bình phẩm vô số những câu đối và những bài thơ trang trí các cây cột và các bức vách của ngôi đền, tất cả đều ngợi ca tính cổ xưa đáng tôn kính của giống nòi và niềm vinh quang bất diệt của các vị vua đầu tiên. Khi chúng tôi quyết định ra về, thì trời đã quang, sương mù buổi sáng đã tan và từ trên ngọn núi thiêng có thể nhìn thấy quang cảnh tuyệt vời của toàn vùng chung quanh cho đến chỗ hợp lưu của ba con sông, Sông Thao, Sông Hồng và Sông Đà, hai bên có hai khối núi lớn Ba Vì và Tam Đảo, hai vị thần canh giữ cho vùng Châu thổ, như cách nói ý nhị của Boissière.

Trên chuyến xe trở về Hà Nội, tôi kể lại với các bạn tôi những giai đoạn bành trướng liên tục của giống nòi chúng ta, trong những thế kỷ đầu tiên trước Công nguyên vốn tập họp nhau ở cửa ngõ của Châu thổ Bắc Kỳ, đã dần dần tràn xuống châu thổ, càng lúc càng đổ về phương Nam, và cuối cùng đã chinh phục toàn bộ phần phía Đông và phía Nam bán đảo Đông Dương. Công cuộc “Nam tiến” này quả là sự kiện nổi bật trong lịch sử chúng ta; nó là biểu hiện ý chí, sức sống của dân tộc chúng ta mà những khó khăn không sao kể hết, những cuộc chiến đấu liên miên chống lại những người láng giềng hùng mạnh không thể chặn đứng đà bành trước không gì cưỡng lại được.

Tôi không thể không nhắc lại ở đây kết luận của nhà bác học lớn đã mất Léonard Aurousseau[†] trong một công trình nghiên cứu bậc thầy viết về “Nguồn gốc của người nước Nam”, kết luận nêu bật một cách ngắn gọn đầy ấn tượng các giai đoạn vinh quang của cuộc hành tiến ấy:

“Không một nguyên cớ nào lẽ ra đã có thể đánh gục một quốc gia đang hình thành (các cuộc xâm lược liên miên, ách đô hộ kéo dài suốt mười một thế kỷ) thắng nổi sức sống của người nước Nam. Là những chủ nhân về mặt dân tộc học của những vùng đồng bằng và thung lũng Bắc Kỳ từ thời khởi đầu thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, xã hội phong kiến của họ đã trở nên thịnh vượng ở đấy; rồi những làn sóng người di cư không ngừng nối tiếp của họ tiếp tục tràn về phương Nam và mang đi đến nơi xa nhất những chấn động cuối cùng của xung động mà những người Yuê (Việt) đã tạo nên từ thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Họ đi đến vùng trung nước Nam vào cuối thế kỷ sau đó. Ở đấy các bộ tộc về sau đã tạo nên vương quốc Chàm hùng mạnh đã buộc họ phải dừng lại một thời gian dài.

“Lúc này phần chủ yếu trong nhiệm vụ đã được hoàn thành, nước Nam, trở nên khả thể, chẳng bao lâu đã được hình thành. Những người con của họ sẽ còn giữ được tốc độ từng đạt được như một sức mạnh tiềm tàng và, bằng những cú đấm lặp đi lặp lại, sau nhiều năm dài chinh chiến, cuối cùng đến năm 1471 đã đánh bại đối thủ thuộc nền văn minh Ấn Độ của mình, để tiếp tục lấn sâu hơn nữa về phương Nam, lần lượt tiến đến Qui Nhơn vào cuối thế kỷ XV, đến Sông Cầu năm 1611, Phan Rang năm 1653, Phan Thiết năm 1697, Sài Gòn năm 1698, Hà Tiên năm 1741. Cuối cùng, trong nửa đầu thế kỷ XVIII, người nước Nam đã hoàn thành công cuộc bành trướng của chủng tộc mình bằng cách chiếm toàn bộ vùng Nam Kỳ ngày nay.

“Sau khi đã thiết lập hoàn tất quốc gia của mình như chúng ta thấy ngày nay, người nước Nam dừng lại, với ý thức đã vinh danh những nỗ lực đầu tiên của tổ tiên xưa bên bờ duyên hải Trung Hoa và thỏa mãn vì, sau hai mươi hai thế kỷ chiến đấu, đã lập nên một Tổ quốc xứng đáng với tài năng của chủng tộc mình”.

Một dân tộc đã làm nên một sự nghiệp liên tục suốt hơn hai mươi thế kỷ, chứng tỏ những đức tính tốt đẹp nhất về nghị lực, về sức chịu đựng, về ý chí bền bỉ và kiên định, hẳn còn chưa dừng lại; một số phận vinh quang còn mở ra trước mắt chúng ta (…)

Chúng tôi đã chia tay nhau trong niềm hy vọng đó, phấn khởi vì cuộc du ngoạn thành tâm của chúng tôi lên ngọn núi thiêng đã cho chúng tôi được sống đôi giờ trong niềm cộng cảm với những vị tổ tiên vĩ đại và vì bài học bổ ích rút ra được từ đó.

(1929)

P.Q.


[*] Madrolle là người viết nhiều sách về hướng dẫn du lịch cho chính quyền Đông Dương, như: Indochine du Nord (Bắc Đông Dương) do nhà xuất bản Hachette, Paris xuất bản năm 1923, Indochine du Sud (Nam Đông Dương) … Sách của ông là tài liệu tham khảo tốt cho những người nghiên cứu địa lý, lịch sử. (PT chú)

[†] Léonard Aurouseau, 1888-1929, làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội từ 1911 đến 1929, từ 1926 đến 1929 là giám đốc Trường này. Tác phẩm quan trọng: Văn Miếu Hà Nội (1913), Thuyền “tam bản” là từ Hán?, Giới thiệu Địa lý lịch sử nước Nam, Hà Nội qua lịch sử (1922), Hai báo cáo khai quật khảo cổ ở Quảng Bình (1926). Bạn đọc cần nghiên cứu sâu thêm có thể tham khảo Một thế kỷ nghiên cứu của trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội (TVĐBC, 2000) (BT).

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: