Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 7, 2011

Trao đổi ý kiến với tác giả Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:36 chiều

Blog PhamTon, tuần 3 tháng 4 năm 2011.

Trao đổi ý kiến với tác giả Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam

THƯỢNG CHI – HỒNG NHÂN – PHẠM QUỲNH

Hương Giang

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên tạp chí Huế Xưa và Nay năm 2004. Xin giới thiệu với bạn đọc tham khảo.

—o0o—

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Nguyễn Q.Thắng – Nguyễn Bá Thế biên soạn, Huỳnh Lứa đọc duyệt, hiệu đính, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội in năm 1992, đã nộp lưu chiểu tháng 5 năm 1992. Trang 749-750, về Phạm Quỳnh, từ điển viết: “Phạm Quỳnh (năm Thìn 1892 – Ất Dậu 1945), nhà văn, nhà chính trị, hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, sinh ngày 17/12/1892 tại Hà Nội, nguyên quán làng Thượng Hồng Phủ Bình Giang, tỉnh Hảỉ Dương. Ông tốt nghiệp trường Thông Ngôn năm 1902, được bổ làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Ông có tài học, nhưng lại cộng tác chặt chẽ với thực dân Pháp về văn học và chính trị. Do đó, năm 1917 ông được Louis Marty (Giám đốc Chính trị kiêm Trưởng Mật thám Đông Dương) cho ra tờ Nam Phong, ông giữ chân chủ nhiệm kiêm chủ bút, làm cơ quan tuyên truyền về học thuật chính trị cho Pháp tại Đông Dương.

Năm 1932, ông được Pháp cử giữ chức Ngự tiền văn phòng vua Bảo Dại, rồi Thượng thư Bộ Học, Bộ Lại. Hoạn lộ của ông lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với quan lại thực dân.

Ông sáng tác văn học khá nhiều, đủ thể loại, nhất là nghiên cứu và dịch thuật. Hầu hết tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong, sau được in lại trong bộ Nam Phong Tùng Thư Thượng Chi văn tập (hơn ngàn trang).

Đương thời, Phạm Quỳnh từng bị các nhà cách mạng yêu nước, nhà văn hóa chân chính (Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi) lên án về việc Phạm tán dương Truyện Kiều với ý đồ đen tối và có tính thậm xưng.

Ngày 23/8/1945, Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi”.

Về những ý kiến này của hai tác giả biên soạn và người đọc duyệt, hiệu đính trong thời gian, không gian chính trị những năm 1990-1992 còn có thể trao đổi thêm nhiều vấn đề, bước đầu nên tập trung vào mấy điểm chính.

Về vai trò, vị trí và đóng góp của Thượng Chi với Nam Phong và nền văn học nước nhà, Sách Phạm Quỳnh, luận giải văn học và triết học của tác giả Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn, giới thiệu, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin cùng Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây in, xuất bản nộp lưu chiểu quý 2 năm 2003 đã đề cập tới. Trong lời giới thiệu, tác giả viết: “Phạm Quỳnh là con mắt của Nam Phong, số 1 ra đời ngày 1 tháng 7 năm 1917, tồn tại được 17 năm”. Nam Phong đã chủ trương “tỏ thuật tư tưởng Âu Tây (quốc tế hóa) nhưng vẫn không quên cái quốc túy trong nước (dân tộc hóa). (…)Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khiếm khuyết của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông – Tây. Muốn hiểu những vấn đề của đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý Trần cho đến nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề xã hội Âu – Tây và cả học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ La Hy, chỉ đọc kỹ Nam Phong có thể hiểu được”. (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, quyển 1, trang 127, NXB Vĩnh Thịnh, Hà Nội, 1951).

Nam Phong tạp chí được rực rỡ như thế cũng vì người chủ trương là một nhà văn, học vấn đã uyên bác, lại có biệt tài, có lịch duyệt. Thật thế, Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt về bất cứ một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào mà ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy. Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn” (Chúng tôi nhân mạnh – H.G.) (Vũ Ngọc Phan, Sách đã dẫn).

Khảo sát một số bài của Thượng Chi trên Nam Phong, ta thấy ý kiến của ông. “Ai đó đã từng vào xem nhà bảo tàng của Trường Bác Cổ Hà Nội, tất trông thấy ở gian trưng bày đồ cổ Việt Nam… cổ kính mà trang nghiêm, bóng bảy mà chải chuốt, nước men, nét bút chẳng kém gì sứ Tàu… Cớ sao… nay không thấy ai chế, không thấy đâu có nữa… Cớ sao mà cái kỹ nghệ quý báu của ông cha ấy… không còn di tích nữa”. (Bài Văn quốc ngữ, 1917). “Làm người Việt Nam phải nên yêu, nên quý tiếng nước mình. Phải đặt quốc văn của mình lên trên chữ Tây, chữ Tàu. Nhưng yêu quí tiếng nước mình không phải là ruồng bỏ tiếng nước ngoài…làm cho tiếng quốc âm chính của mình giàu có thêm lên”. (Bài Chữ Nho với văn quốc ngữ, 1918).

Về hoạn lộ bước đường làm quan của Phạm Quỳnh cao nhất là Thượng thư Bộ Học, Bộ Lại. Bộ Học là bộ của Nam triều lo việc học hành cho con dân Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Bộ Lại là bộ xem xét việc thăng quan chức, bổ nhiệm quan chức cho chính phủ Nam triều. Thực ra hai “cái bộ” này, quyền hành chẳng có gì. Việc học đã có Nha học chính Đông Dương xếp chương trình, in sách dạy học, tổ chức thi… Bổ nhiệm quan chức (bù nhìn) cho triều đình Huế chỉ là việc ký tiếp theo những điều mà Khâm sứ, Toàn quyền đã quyết định.

Phạm Quỳnh không làm (hay không được tín nhiệm bổ nhiệm) làm thượng thư bộ khác ví dụ Bộ Hình? Có thể Louis Marty cũng thấy ông thượng thư này “say mê văn học, văn hóa” hơn là làm quan tòa xét các án hình sự cướp bóc, án chính trị cộng sản. Cũng có thể Phạm Quỳnh thấy “cái chất” của mình không hợp với công việc ấy mà từ chối chăng?

Trước ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, có nhiều tổng đốc, án sát, thượng thư trực tiếp tham gia những vụ lùng bắt cộng sản, tra tấn tù chính trị. Khi nước nhà được độc lập, theo chính sách khoan dung, đại hòa hợp, đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh – nếu ai còn sống vào thời điểm đó – họ đều được hưởng quyền lợi như một công dân, có người còn được trọng dụng. Và không ít người trong họ, cả con cháu họ hàng đã đi theo Cụ Hồ, theo Chính phủ; theo Đảng, có những đóng góp nhất định cho Tổ quốc.

Trước Tháng Tám năm 1945, dường như lường trước được cơn bão táp cách mạng sẽ có thể làm điều gì đó cho những thân cây bất hạnh, Bác Hồ đã viết trên tờ Việt Nam Độc Lập số 172 ra ngày 21/8/1943, ký bút danh là B.V. như sau:

“Chúng ta phải nhớ rằng lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, người làm thợ, làm buôn, người làm cho Tây, người đi lính cho Tây” (Chúng tôi xin nhấn mạnh – H.G.) Phạm Quỳnh không đi lính cho Tây theo nghĩa đen – cũng là thành phần Bác Hồ chủ trương đoàn kết trong “lực lượng chúng ta”. Phạm Quỳnh và có thể một số cán bộ địa phương không / chưa có điều kiện đọc những lời nói “chí thánh” (theo ý của một nhà báo Pháp) ấy của Bác, nên đã không may mắn tồn tại trong bão tố.

Còn về Truyện Kiều? Ngày 8 tháng 9 năm 1924 nhân ngày giỗ của Nguyễn Du (10 tháng 3 âm lịch) Ban Văn học Hội Khai Trí đã tổ chức lễ kỷ niệm; trong buổi lễ, Phạm Quỳnh có đọc bài “diễn thuyết” bằng tiếng Việt. Bài này sau đó được đăng trên Nam Phong số 86. Sau khi ca ngợi công lao của Nguyễn Du với nền văn học nước nhà qua tác phẩm Truyện Kiều, Phạm Quỳnh có nhận định “Thử nói cổ kim Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm được sâu và rộng được như thế chưa? Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều là ta có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc 10-20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn đều thuộc lòng và đều biết hay cả.

“Như vậy Truyện Kiều không những đối với văn hóa nước nhà, mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý”. Và ông kết luận “Thề rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài”. Lời thề ấy của Phạm Quỳnh đối với Nguyễn Du “thác là thể phách còn là tinh anh” ngõ hầu tiên sinh “ngậm cười chín suối” vẫn còn thơm lây” cách đây 80 năm, dù không nói được là một lời tiên đoán cũng nên được coi là một nhận định táo bạo, sáng suốt. Nếu như ngày nay, có bao nhiêu học giả trên thế giới đã dịch Truyện Kiều ra tiếng mẹ đẻ của mình, say sưa đọc Truyện Kiều, cảm thông số mệnh đau khổ của nàng Kiều và Nguyễn Du đã được coi như danh nhân văn hóa thế giới, ta cũng có thể hiểu thêm được Phạm Quỳnh[1].

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam viết “Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó xử bắn ở làng Hiền Sĩ vào ngày 23/8/1945”. Ngày 23/8/1945 là ngày cướp chính quyền ở Huế; Phạm Quỳnh mới bị bắt, chưa bị sát hại. Hãy đọc bài Ra biển, dụ bắt sĩ quan Pháp định đổ bộ lên bãi biển Thuận An của Thiếu tướng Võ Quang Hồ, in trong sách Giải phóng quân Huế 1945 NXB Lao Động, Hà Nội 1999. Tác giả viết “Giải phóng quân Thuận Hóa được thành lập. Có tin tàu Pháp xuất hiện ở cửa biển Thuận An… không còn nhớ rõ ai giao nhiệm vụ…Anh Huyên cùng tôi, đem theo một tiểu đội có đủ vũ khí. Trên bãi biển, đồng bào tập trung rất đông, cách bờ khoảng hai cây số có một chiếc tàu khá lớn… Mũi thuyền ta cập sát boong tàu địch. Tôi nhảy lên nói to “Mời các ông lên bờ gặp đại biểu chính quyền chúng tôi”… Tên quan ba chỉ huy xưng là Cô Lê … nhưng anh em nhận ra nó tên thật là Giắc-cơ-manh, quan hai, cứ buổi sáng hàng ngày nó đi mô tô đến trường Khải Định làm việc với mấy tên đánh moóc trong xe thông tin…Chúng tôi xích nó lại, giải nó về Huế”.

Trong bài này, theo chúng tôi được biết có một đoạn (có thể là NXB lược bỏ) viết như sau: “Khi tiếp xúc với bọn sĩ quan Pháp định đổ bộ lên bãi biển Thuận An, chúng luôn mồm hỏi “Phạm Quỳnh, Phạm Quỳnh ở đâu?”.[2]

Rõ ràng là, về phía địch, trong quân sự, việc yêu cầu biết tình hình một người ở phía khác là một điều tối kỵ, đem hậu quả khôn lường cho cả hai phía.

Về phần “các lực lượng yêu nước”, thực sự là một bộ phận của “Giải phóng quân Huế mới thành lập với đa số là anh em sinh viên, tinh thần cách mạng rất cao, ý chí chiến đấu hy sinh cho Tổ quốc rất kiên định. Tuy nhiên việc thống nhất tổ chức, chỉ huy, liên lạc với cấp trên, với Hà Nội, với Chính phủ, với Cụ Hồ trong điều kiện ngày đầu tiên ấy chưa/có thể là không tiến hành được. Theo pháp luật của bất cứ một quốc gia nào việc xét xử là phải qua nhiều cấp và tòa án là người quy tội.

Trong lịch sử cách mạng nước ta, nhất là trong thời gian trước cách mạng, cũng đã không phải không có các vụ việc không xét xử dù chỉ là ở một cơ sở Đảng – mà đã xử lý nghi can- có thể đúng, có thể sai, có thể tội nhẹ chứ không nặng… Tuy chính quyền ở Huế đã thành lập trong ngày một toán quân Pháp định đổ bộ lên Huế, định “liên lạc” với Phạm Quỳnh, nhưng toàn bộ bộ máy Nhà nước đang còn quá non nót, tựa như một con trăn mới lột da, đang chờ thời gian để hoàn thiện… Đó là thực tế lịch sử. Cũng có thể đặt ra nhiều chữ “NẾU”. Nhưng những chữ “NẾU” ấy cũng chỉ là ảo tưởng, ảo ảnh. Cũng không nên suy nghĩ không tốt về ai. Trong cơn bão lớn của thiên nhiên, nhiều cây nhỏ -như cây sậy- rạp mình trước cuồng phong mà không chết. Trong lúc đó nhiều cây to, cao không được… cây lớn khác, vật lớn khác che chở lại bị bật gốc… nhưng những mầm rễ còn lại của cây vẫn phát triển lên, không vì cơn bão cũ mà không đem lại màu xanh có ích cho mình, cho đời, cho cả cánh rừng.

Đánh giá Thượng Chi, Hồng Nhân về mặt đóng góp, công lao với nền văn học, văn hóa nước nhà, chúng ta đã có thể có một kết luận – mong rằng sẽ được thống nhất hóa.

Còn đánh giá về một Phạm Quỳnh trong bối cảnh lịch sử đời ông, trong hoạt động “làm việc cho Tây”, trong sự không có được may mắn như nhiều người cùng hoàn cảnh, cảnh ngộ, có người còn gay gắt hơn, nên chăng cần tiếp tục làm rõ và cũng nên có một ý kiến tổng kết.

Thế kỷ XX đã qua. Những con người của “ngày hội quần chúng tháng 8 năm 1945”cũng sắp sửa lên đường về với lịch sử trong đầu thế kỷ XXI này. Phải chăng trong sâu thẳm tình cảm bao dung, nhân ái, cảm thông và cả công bằng… trong xu thế đã thành thực tế “đại hòa hợp”, những vấn đề gì còn day dứt trong ta cũng nên giải thoát?

Để cho lịch sử, cho bản thân thế hệ này và các thế hệ mai sau, những con người chứng nhân lịch sử có được một lời cuối cùng của lịch sử, đúng, sai, may mắn, bất hạnh, sớm muộn, vội vàng… Để cho tất cả chúng ta đều được thanh thản. Những người đã có biết trong việc này, đã ra đi, được “đóng góp ý kiến” và kể cả những ai quan tâm đến tâm linh nhân đạo của con người.

H.G.


[1] Nguyễn Du mất năm Canh Thìn 1820 và có câu than “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (ba trăm năm sau có ai khóc Tố Như không). Thế mà chỉ có hơn 100 năm sau đã có Phạm Quỳnh là một trong những người bằng văn bản khóc Nguyễn Du

[2] Có thể đây là một trong những nguyên trực tiếp dẫn đến cái chết của Phạm Quỳnh. Và cũng còn những nguyên nhân khác chưa được công bố, chưa được làm rõ về Phạm Quỳnh chăng?

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: