Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 12, 2011

Đặt vấn đề với ông Nguyễn Văn Trung về văn học và chính trị (phần 2)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:43 chiều

Blog PhamTon, tuần 3 tháng 5 năm 2011.

ĐẶT VẤN ĐỀ VỚI ÔNG NGUYỄN VĂN TRUNG

VỀ VĂN HỌC VÀ CHÍNH TRỊ

Ái Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài báo này của bạn Ái Linh đăng trên mục Nói hay Đừng của báo Tự Do (Sài Gòn) từ ngày 11/11 đến ngày 2/12 năm 1962.

Chúng tôi đăng lại trên blog để bạn đọc quan tâm đến văn học nước nhà rộng đường tham khảo về một vấn đề lớn từng xảy ra trong những năm 1930 và dư âm còn kéo dài mãi đến những năm 60 thế kỷ trước và xem ra còn đến cả những năm đầu thế kỷ 21 của chúng ta nữa.

Vì bài khá dài, chúng tôi chia làm nhiều phần và đặt nhan đề cho từng phần đó.

—-o0o—-

Phần 2: “Chân lý mới” của ông Nguyễn Văn Trung

Nay ông Nguyễn Văn Trung cho rằng: “ý kiến của hầu hết những nhà văn học đã đề cập đến vấn đề, đều đã cho thấy sự kiện tranh luận như một hiện tượng mà không thấy thực chất của nó. Và bởi vì không thấy thực chất cho nên đã nhầm lẫn trong việc tìm hiểu sự kiện”.

Ông quả quyết: “Chính vì không nhìn thấy “tính chất chính trị” của nội vụ nên các nhà phê bình văn học đã phê bình sai lệch ngay trên lãnh vực văn học.” Ông Nguyễn Văn Trung nhận định: Vụ án Truyện Kiều giữa Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế, Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng “thực chất là một cuộc tranh đấu chính trị trên lãnh vực văn học”.

Như thế đã rõ là ông Nguyễn Văn Trung phủ nhận các ý kiến về trước và nêu lên một giả thuyết theo quan điểm mới của ông. Chúng tôi xin sốt sắng chờ đợi được ông cho thấy những chứng minh cụ thể chính xác để vạch rõ “chân lý mới” đó.

Ông nêu lên giả thuyết rằng người Pháp nhận xét cần phải có một “chính sách bình định về văn hóa để đánh lạc tinh thần yêu nước của thanh niên Việt Nam”.

Ông lại giả thuyết: “Rất có thể lúc đó, các nhà ái quốc cũng nghĩ đến một sự di chuyển cuộc tranh đấu chính trị vào lãnh vực văn học, nghĩa là cũng muốn dùng văn học làm lợi khí tranh đấu chính trị.”

Ông cho rằng lý do ra đời của Nam Phong tạp chí nằm trong chính sách văn hóa đó: “Tờ Nam Phong ra đời, Marty chủ nhiệm, Phạm Quỳnh chủ bút”

Chúng tôi xin thưa lại về một chi tiết có thể khiến độc giả ngộ nhận: Ngay từ số Nam Phong đầu tiên, tháng 7/1917, chúng tôi đã thấy đề rõ Directeur Rédacteur en Chef (Chủ nhiệm kiêm chủ bút – PT chú): Phạm Quỳnh. Louis Marty chỉ là một trong hai sáng lập viên (fondateurs): Louis Marty và Nguyễn Bá Trác. Ngày ấy viên toàn quyền mới là Albert Sarraut, cựu Bộ trưởng Giáo dục Pháp, sang nhậm chức, Phạm Quỳnh nắm lấy thời cơ vận động xin được Albert Sarraut chấp nhận cho ra báo Nam Phong.

Chúng tôi có thể tin (dựa theo tình cảm của người dân một nước mới được độc lập đối với nước đã đô hộ mình) như ông Nguyễn Văn Trung nói về “chính sách bình định văn hóa” của người Pháp hồi ấy được lắm, nhưng vẫn phải nhận rằng ông không giúp chúng tôi một tài liệu nào làm chứng cứ xác thực về chính sách đó. Vả chăng, dù một người Pháp có tên trong ban sáng lập, chưa đủ lý kết án Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp, Phạm Quỳnh “nhận tiền làm báo”.

Sự thực phải được là sự thực. Phàm xử án công bằng phải có chứng cớ hẳn hoi, trái lại nếu không, án ấy không còn giá trị gì nữa.

Người Pháp chiếm Việt Nam, lúc đầu nhằm mục tiêu thông thương với Hoa Nam trước nhất. Nhưng thời gian sau đó, mục tiêu khai thác lại là chánh yếu. Mục tiêu ấy định đoạt chính sách giáo dục của Pháp: đào tạo một lớp người để thu dụng vì nhu cầu mới không còn phải chỉ cần thông ngôn như trước nữa. Do đó nghị định Toàn Quyền ngày 8/7/1917 thành lập một Tòa Đại Học Tổng Cục (Direction de l’Enseignement Supérieur) mà đặc điểm là không có trường Văn Khoa, bởi chính sách chỉ nhằm đào tạo những chuyên viên phục vụ trong cơ cấu khai thác.

Sau đó nghị định Toàn Quyền ngày 22/12/1917 ấn định thể lệ mới cho việc học, việc thi trên toàn quốc. Ta thấy rõ chính sách văn hóa của người Pháp không phải đơn giản nhằm lập ra một tờ báo để hy vọng đầu độc tinh thần người Việt, thực ra chính sách ấy vụ vào giáo dục.

Báo Nam Phong số 3 (1917), Phạm Quỳnh viết một bài luận thuyết nhan đề Trường Đại Học, ông nhận xét về tình trạng chậm tiến của nước ta và căn nguyên sâu xa của tình trạng ấy rồi nêu lên: “Phải xét cho tường mới biết được ngày nay nên học thế nào cho phải đường? Quyết là nên theo đường thực nghiệp mà kíp học tập lấy nghệ thuật yếu cần cho sự sinh hoạt của người ta trong thế giới bây giờ.”

Tuy nhiên, ông cho rằng Trường Đại Học chưa đề cập đến sự bồi dưỡng tinh thần con người, đào luyện phần “văn” để cho “văn” và “chất” được “ban ban”.

Ông đòi người ta phải chú trọng cả về phương diện “Nhân bản” và “Dân tộc” trong chương trình giáo dục “Truyền thụ cho cái học thức còn chưa đủ, cốt nhất là phải luyện tập cho thành người”.

Đối với lối tổ chức giáo dục của người Pháp, nhất thiết dùng tiếng Pháp dạy trong các lớp, ta hãy nghe Phạm Quỳnh kêu gọi:

Các bạn ơi, con cá nó sống về nước mà nước ta sống về nước ta. Làm cho tiếng ta sống được là phận sự anh em ta. Vậy anh em phải gắng lên, vì hiện nay tuy có điều mừng (quốc văn tiến triển) mà cũng còn phải lo, vì thiên hạ còn có kẻ làm án tiếng An Nam, kết cho cái tội nghèo, nghèo khốn, nghèo nàn, nghèo cho đến nỗi không đủ mà dạy được trẻ con nhà quê, phải lấy chữ Tây dạy thế nào. Gần đây tối có vận động trong báo Tây – vì báo ta vô hiệu – để xin lấy chữ Quốc ngữ dạy các trường tiểu học và cho thi tốt nghiệp tiểu học bằng quốc ngữ: người ta lấy cái tội nghèo của tiếng An Nam mà phản đối lại.

Tiếng An Nam có quá nghèo không? Anh em ta phải phá cho ra cái nghi án thiên cổ đó… Về phần riêng tôi thời từ buổi khôn lớn, biết tư tưởng đến giờ, tôi đã tự nguyện hi sinh cho quốc văn… (Nam Phong số 46 năm 1921).”

Ngày nay thì chúng ta đã tiến tới việc đòi chuyển ngữ tiếng Việt ở bậc đại học, trên đường tiến bộ, sau hơn trước là lẽ tất nhiên. Nhưng phải nhìn nhận rằng vào buổi đó, đòi dạy tiếng Việt cho bậc tiểu học, đã tỏ ra Phạm Quỳnh có hoài bão rất xa ở tương lai.

Chúng tôi không muốn nói đến cái lối lập luận của ông Nguyễn Văn Trung nói có một chiều, thiên lệch hay không, việc đó độc giả sáng suốt hơn chúng tôi, hẳn đã thẩm định. Chúng tôi chỉ muốn “Trả cho César cái gì của César”. Nhận thấy không đồng ý với những phán đoán của ông Nguyễn Văn Trung về Phạm Quỳnh, chúng tôi xin thưa lại ít lời và dẫn chứng có hơi nhiều là để mong độc giả rõ tấm lòng chúng tôi trung thực, không hề dám giải nghĩa sự kiện theo tư ý vậy.

Đối với ông Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, chúng tôi nếu có biện minh cho ông Phạm Quỳnh thì việc đó không nghĩa là chúng tôi phủ nhận cuộc đời cách mạng của các công. Chúng tôi không bác bỏ cái cực đoan này để lại đi đến một cái cực đoan khác. Không thể có một định kiến quá đơn giản là trong hai phe, hễ đã thấy phe này “ái quốc” là có ngay kết luận phe kia “phản quốc”.

Ông Nguyễn Văn Trung đưa ra bài Khái niệm về văn minh học thuật nước Pháp của Phạm Quỳnh, lấy đó như một bằng chứng Phạm Quỳnh đã theo Pháp, đề cao chế độ thực dân.

Chúng tôi nhận thấy, Phạm Quỳnh là một học giả chuyên biên khảo và dịch thuật, bài nói trên đó ông lược dịch và bàn thêm nhân đọc một cuốn sách nhan đề La civilisation française (Văn minh nước Pháp – PT chú) của Victor Giraud, cũng như các bài biên dịch về Văn minh nước Nhật, Văn minh nước Mỹ cùng văn minh thế giới, Chủ nghĩa Pha-xi nước Ý, Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới, Nước Ai Cập mới, Hồn chủng tộc, lịch sử và học thuyết của Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Descartes, v.v…  ông Phạm Quỳnh đều đứng trên cương vị một học giả mà viết. Vả chăng, ông đã nói rõ ràng:

Lấy đất của người ta mà nô lệ, bắt chước người ta là phi nhân đạo…” (Nam Phong, số 1 tháng 7/1917).

Thiết tưởng nên phân tích  kỹ để thấy ra đúng “cái điều Phạm Quỳnh muốn nói” ta đã quá rõ những tai hại của việc thường gọi là “đoạn chương chủ nghĩa” (Cắt lấy một câu trong toàn chương, cốt cho đúng ý mình muốn nói – PT chú).

Nếu ông Trung cứ nhất định bảo rằng Phạm Quỳnh cộng tác với Pháp và không tìm thấy một tài liệu nào để chứng tỏ Phạm Quỳnh chỉ cộng tác với Pháp để lợi dụng Pháp; chúng tôi xin mời ông cùng trước đèn giở lại 210 tập Nam Phong để phân tích, phê bình xem, ta sẽ thấy qua 17 năm (Thật ra, Phạm Quỳnh chỉ làm báo Nam Phong 15 năm, 2 năm cuối do Nguyễn Tiến Lãng phụ trách – PT chú) chủ trương báo ấy, Phạm Quỳnh đã gây được những ảnh hưởng gì.

Thiết tưởng đây là một bằng chứng công khai, hiển tường đó rồi.

Lấy một ví dụ, ngày nay chúng ta (thời chính quyền Sài Gòn – PT chú) đang ca ngợi lý thuyết nhân vị, lý thuyết ấy ở nước ta được xây dựng bắt gốc từ Khổng Giáo và học thuyết Mạnh Tử hợp với tư tưởng dân chủ ví von coi “dân vi quí”. Trong nhiều năm, thử hỏi những bài khảo tường tận về Khổng giáo và liên tiếp đăng tải trọn bộ Mạnh Tử Quốc văn giải thích, Luận ngữ Quốc văn giải thích, Việt Nam tổ quốc túy ngôn…báo Nam Phong hẳn đã gây ảnh hưởng có lẽ không đến nỗi đầu độc quốc dân đấy chứ? Ấy là chưa kể tới những công trình của Hội Khai Trí Tiến Đức do Phạm Quỳnh sáng lập, hẳn không ai gán cho cái tội làm chính trị theo Pháp?

Căn cứ vào những giả thuyết thiếu vững vàng đó, ông Nguyễn Văn Trung nhận định về vấn đề Phạm Quỳnh ca tụng Truyện Kiều:

Ý nghĩa chính trị của việc suy tôn là: thanh niên đọc Truyện Kiều đi, thưởng thức văn chương Kiều đi, đừng nghĩ đến chính trị, lòng yêu nước”. Và : “Ông Ngô Đức Kế nhà nho yêu nước, bất hợp tác, chống Pháp, bị đi tù Côn Lôn, nhận thấy chính sách thâm độc của chính quyền bảo hộ qua hành động của Phạm Quỳnh, thẳng thắn lên tiếng phản đối, tố cáo, đả kích thủ đoạn chính trị nấp dưới hình thức văn hóa suy tôn Truyện Kiều…”

Chúng tôi cũng như mọi người Việt Nam, đều biết rằng ông Ngô Đức Kế ái quốc, chống Pháp… Nhưng đó không phải là bằng chứng để quả quyết giải thích lý do ông Kế bài bác Truyện Kiều theo như ý kiến riêng của ông Trung. Thân thế ông Kế không hề mâu thuẫn với con người đạo đức ở ông và chính là con người đạo đức ấy với những tiêu chuẩn bắt nguồn từ Đạo Khổng, đã lên tiếng kết án cái luân lý Truyện Kiều như chúng ta thấy: ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi…

Ai cũng nhận thấy rõ rệt rằng ông Ngô Đức Kế bài bác Kiều là bởi ông chê cái tính cách, theo ông, vô luân lý của nó. Là một nhà nho, với quan niệm văn dĩ tải đạo, cũng như các cụ xưa, ông cho Truyện Kiều làm thương luân bại lý, chính ông bày tỏ: “Ngày trước, các cụ tiền bối thường cấm con em xem Truyện Kiều: trong xã hội ai hay đọc Truyện Kiều nghêu ngao, thì cho là kẻ đàng điếm”.

Ông Huỳnh Thúc Kháng sau này phản đối ông Phạm Quỳnh là bởi ông tin tưởng: “nếu được một người “đạo đức hẹp hòi” như ông Ngô Đức Kế thì không khác gì cột đá giữ giòng sông lở, ngọn đuốc trong khoảng đêm trường, có công với thế đạo nhân tâm không phải là ít vì cái mãnh lực của ông đủ kéo được biết bao nhiêu kẻ sa hầm sạt hố kia”.

Vậy thì, sáu năm sau bài của ông Kế, ông Huỳnh Thúc Kháng cũng lại bài bác Truyện Kiều theo quan điểm của các cụ tiền bối, không có gì chứng tỏ các ông “tố cáo Phạm Quỳnh” như ông Trung đã nói.

Từ trước khi Pháp sang, Việt Nam đã có câu:

“Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”

là bởi theo ý các cụ, truyện Phan Trần nêu gương không tốt cho thanh niên và Truyện Kiều nêu gương không tốt cho phụ nữ. Ông Nguyễn Văn Trung có bảo rằng hai câu ấy cũng để cảnh tỉnh quốc dân trước “mưu mô hiểm độc của thực dân Pháp” không?

Khi phê bình văn chương nghệ thuật, ta cần nhất thiết tránh cái thiên lệch của chính trị. Đã đành, ta phải xét tới các điều kiện lịch sử, thời đại, v.v… nhưng phải nhìn nhận sự kiện y như nó đã xẩy ra chứ không theo tưởng tượng dựa vào định kiến nào đó. Chúng ta còn lạ gì cái quá khích nặng nề ảnh hưởng chính trị trong lối phê bình văn học của một Nguyễn Bách Khoa!!!

Bàn về vụ án Kiều này, chúng tôi thấy Linh mục Thanh Lãng đã nhận xét đúng đắn khi viết:

Những băn khoăn nhiều khi đến bi đát của một thế hệ tuy thái độ có khác nhau mà cũng cảm thông trong một lo lắng đó là cố giữ lấy một tinh thần dân tộc trong khi chúng ta đã mất chủ quyền về đường chính trị. Đó là một thế hệ gồm toàn những người, mới cũng như cũ nặng tình cổ điển, nặng những giá trị nhân bản truyền thống”. (Thế kỷ hai mươi số 2 trang 50). Về lời thề của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”, ông Trung cho rằng: “Sự thực khẩu hiệu đó là từ miệng ông Quỳnh cái loa của thực dân, chỉ có ý nghĩa như một mánh khóe chánh trị và thực chất của nó là ngụy biện.”

Rồi đưa ra một suy luận đơn giản: “Con người Phạm Quỳnh cộng tác với Pháp một cách khách quan tức là công nhận sự mất nước, làm sao còn có thể nói tới lòng yêu nước và tự coi như là một người cổ võ lòng yêu nước bằng văn học?”

Chúng tôi thấy trong ba đức tính: NHÂN, THÀNH, TRÍ cần có của một nhà phê bình, đến đây, tác giả Văn học và Chính trị đã tỏ ra không đủ hai đức: NHÂN, THÀNH.

Than ôi! đã không nhân, không thành thì cái trí để làm gì? để thêm khéo phô bày cái “chẳng nhân” và “chẳng thành” ư?

A.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: