Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 2, 2011

Độc thư cứu quốc (phần 2)

Filed under: Báo — phamquynh @ 5:18 chiều

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 6 năm 2011.

“ĐỘC THƯ CỨU QUỐC”

(Mừng các ông tân khoa trường đại học)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài viết của Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Nam Phong số 36 tháng 6 năm 1920. Bản chúng tôi đăng lại dưới đây lấy trong Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập (Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2006) từ trang 853 đến trang 862.

Do bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần và tự đặt nhan đề để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*     *

PHẦN II: “ĐỘC THƯ QUÂN TỬ”.

Muốn thực hành chí đó cho đạt được mục đích như trên, thời học giả phải gồm những tư cách gì, phải để mình vào địa vị gì, và phải làm trọn những nghĩa vụ gì?

Tư cách một người là gồm những tính hay nết tốt làm cho người ấy xứng đáng nhân cách và hữu dụng với đời. Tư cách một người học hành ở nước ta bây giờ phải cần mẫn, thành thực, đôn đốc, cẩn nghiêm; lại phải có công tâm, biết vị nghĩa; sau hết phải có một quan niệm cao về phẩm giá con người.

Tư cách người ta tuy gốc tự thiên nhiên, vốn trời bẩm thụ, nhưng phần nhiều cũng là bởi người ta tự gây dựng lấy.Cho nên đầu trong tư cách là tính cần lao. Người ta có thân ở đời phải lao động cần cù, kẻ lao động bằng chân tay, người lao động bằng đầu não, ai ai cũng phải cần lao cả. Nỗ lực, lại nỗ lực, cho đến kiệt lực mới thôi, đó là luật của tạo hoá, nghiệp của giống người, không ai tránh được. Trong Thánh thư đạo Gia Tô có một câu Thượng đế bảo ông tổ loài người rằng: “Mày phải đổ mồ hôi nước mắt mới có miếng ăn”, thật là lời vạn cổ châm ngôn cho người ta ở đời. Xét tâm lý người nước mình có cái tính ưa nhàn, cái tính cầu an, thật là hai ác căn phải tiệt đi cho hết. Nói ngay trong bọn học hành, được mấy người sau khi thi đỗ làm nên, sự nghiệp yên ổn rồi, còn ra công học vấn, gắng gỏi trau dồi, cho trí thức rộng thêm, nhân cách hay hơn lên? Thật là ít lắm. Phần nhiều người tốt nghiệp ở nhà trường là tốt nghiệp cả một đời, vì cái công lao động về sau chẳng qua là lao động như cái máy, như cái đồng hồ hằng ngày “tích tắc”, hết vòng lại lên giây, không phải là sự cần lao có ý thức của người biết ma luyện (mài rèn, như rèn giũa – PT chú) tâm thân vậy. Người ta như loài kim rất quí, phải rèn đúc, mài rũa luôn, thời chất nó mới cứng mới mạnh, nếu để không tất rỉ, han mục nát ra vậy. Bạn thiếu niên ta nên gắng gỏi mà ma luyện cho tấm thân quí báu này, để mai sau thành cái lợi khí quốc gia: cùng một mảnh sắt, mà thanh gươm sắc với con dao cùn khác nhau là bởi sao? Là bởi cái công ma luyện vậy. Người ta có ma luyện mới lên người. Tăng Quốc Phiên là bậc danh nhân ở nước Tàu về cuối thế kỷ 19 có nói rằng: “Tôi bẩm sinh là một người rất đần độn: sau có làm nên được chút sự nghiệp thực là nhờ cái công khắc khổ để lệ (mài giũa, rèn luyện – PT chú) suốt một đời”. Người tài năng còn phải khắc khổ mới nên, huống chi là kẻ tầm thường. Chúng ta nên tập trước nhất cái tính nhẫn nại cần lao.

Lao cần khắc khổ để ma luyện cho tâm thân đó là gốc của tư cách. Nhưng cần lao mà không thành thực cũng không nên công chuyện gì. Một người ra công ráng sức chỉ để dối mình lừa người, tự huyễn diệu (khoe khoang – PT chú) mà huyễn diệu người, dụng tâm toàn bằng giả dối, dẫu có thành công cũng không có giá trị. Người ta phải thành thực, thành thực với mình và thành thực với người; có thành thực với mình rồi mới thành thực với người được. Thành thực với mình là giốc một lòng chuyên một dạ trau dồi cho ngày một hay hơn lên, tốt thêm ra, không có cẩu thả, không có dối dá, không có vị danh lợi bên ngoài mà tự mình mờ hoặc mình, đến không biết chân giá trị thế nào, lấy bề ngoài làm sự thực, lấy ảnh hưởng làm chân thân, gắng gỏi theo đuổi những cái không đâu, để cầu danh với đời, thành ra vừa dối người vừa dối cả mình nữa. Xét trong học giả nước ta nhiều người không thành thực như vậy. Sức học còn kém, tài văn tầm thường, nhờ được buổi “nhá nhem”, dư luận còn hồ đồ, chưa biết phân biệt người hay kẻ dở, kẻ giỏi người hèn, tự riêng mình đã tưởng là thánh thần rồi, dưới mắt không còn ai hơn nữa. Cái tinh tự cao tự đại ấy xét cho kỹ chính là bởi không thành thực với mình. Những bậc “tiểu thánh nhân” kia sở dĩ tự mình huyễn diệu mình như thế là bởi không có cái lòng thành thực mà tự lượng tự xét cho biết cái chân giá trị của mình, nên không biết chỗ khuyết mà bổ và tự gây dựng cho tư cách được hoàn toàn. Nhưng cái tính không thành thực ấy không những là hại riêng cho mình không thể tu luyện mà tinh tiến lên được, lại còn hại chung cho nước nữa, vì phàm tự dối mình thành ra dối người, dối người tất người dối lại, hết thảy đều dối lẫn nhau, đều huyễn diệu nhau, gây ra trong xã hội một cái không khí hư nguỵ khi trá, làm trở ngại đường tiến hoá của quốc dân. Nay kẻ học thức trong nước ta phải ra tay mà phá tan cái không khí mờ đục ấy đi, cho cõi học được sáng sủa trong suốt. Nhưng muốn tiệt cái căn tính giả dối phải tập lấy thói quen thành thực. Học giả phải thành thực với mình, thành thực với sự học, thời mới thành thực với nước được. Đã lấy quan niệm quốc gia làm mục đích cho sự học, thời nếu không thành thực về sự học, còn mong ích lợi gì cho nước. Cho nên dối mình tức là dối nước vậy.

Đã cần lao và thành thực, khi ra thi thố với đời, lại phải đôn đốc mới nên sự nghiệp. Đôn đốc cũng là do thành thực mà ra. Có thành thực mới đôn đốc được. Đôn đốc nghĩa là đã rắp theo một mục đích gì, thời tận tâm tận lực mà theo đuổi cho tới nơi, lấy làm cẩn trọng, không dám sai lời. Thường nhận trong thanh niên ta có cái tính khinh bạc, nhiều người trí thức có cái tính hoài nghi và mấy kẻ tự phụ lại có cái tính ngông cuồng. Mấy tính đó hại cho người mình lắm lắm, nhưng tính khinh bạc của thanh niên còn dễ sửa, vì tuổi cao lên tất người thuần lại, nếu là người có tư chất tốt thời cũng dễ khiến cho có lòng đôn đốc tận tâm về nghĩa vụ; đến như tính hoài nghi, tính ngông cuồng thời khó chữa lắm, vì những người có tính ấy lấy làm tự cao, không biết hại cho sự nghiệp biết dường nào. Nhất là tính hoài nghi, thật là một cái tội với nước. Ở đời chỉ có hai đường: một là đời người đáng sống, đời người đã đáng sống thời có thân ở đời phải có sự nghiệp với đời; nếu sự nghiệp ấy lại có quan hệ đến quốc gia thời lại càng phải nên đôn đốc tận tuỵ mà làm cho nên, không thể thờ ơ lãnh đạm được; hai là đời người không đáng sống, đời người đã không đáng sống thời chỉ nên lánh đời cho yên hay tự diệt cho rồi. Ngoài hai đường ấy, không còn đường nào nữa, nên cái thái độ kẻ hoài nghi, phân vân do dự, không dám bước lên, không dám lui lại, là một thái dộ đáng ghét, vì kẻ hoài nghi đã không làm gì thì chớ lại hay bài bác người ta, tự minh không làm gì không ai bẻ được mà thấy người khác hành động chỉ tìm cách làm cho người ta nản chí ngã lòng.

Đến người ngông thời không đáng ghét mà nực cười. Ngông là cuồng, nhưng cuồng cũng có năm bảy cách: có cái cuồng cao thượng những kẻ hào mại siêu quần (tài giỏi vượt hơn người – PT chú), thấy thế tình bỉ ổi, vũ trụ hư không, muốn đem tinh thần ra ngoài vật chất mà phóng đạt tiêu diêu; đó là cái cuồng của ông Trang ông Lão. Nhưng cổ kim có mấy Lão Trang, còn những kẻ giả Trang giả Lão thời chỉ có cái trò cười cho người thức giả. Chớ nên khinh bạc, cũng chớ hoài nghi, lại chẳng dại gì mà làm trò cười cho đời; đã có một mục đích mà theo đuổi, phải nên tận tuỵ cho tới nơi. Phải tập lấy cái tính đôn đốc vậy.

Người đôn đốc tất là người người cẩn nghiêm. Cẩn nghiêm nghĩa là không coi thường, không khinh suất, không sốc nổi, không vội vàng. Thanh niên nước ta nhẹ dạ, người đứng tuổi hay cẩu thả; còn thông quốc (Suốt cả nước – PT chú) đều có tính a dua. Xét lắm việc cử động của người mình, tưởng như là một dân không có não, không biết suy xét nghĩ ngợi, thấy ai làm gì cũng a dua bắt chước, mà lại cẩu thả không thành việc gì. Có người ngoài đã bình phẩm dân Việt Nam là một “dân trẻ con”. Ôi! một nước đã có lịch sử mấy nghìn năm mà là nước trẻ con ư? Sở dĩ có câu bình phẩm đó là bởi cái thông bệnh (thói xấu chung – PT chú) trong nước mình là cái tính nhẹ dạ, việc gì cũng phải suy xét gần xa cân nhắc kỹ lưỡng, đối với hết thảy mọi sự phải tỏ một cái thái độ thận trọng cẩn nghiêm, cho khỏi mang tiếng là dân tộc con nít vậy.

Đã có bất nhiêu tính hay nết tốt như trên, thời tư cách dẫu chưa được hoàn toàn, cũng không đến nỗi bác tạp (lộn xộn, tạp nhạp – PT chú). Không bác tạp là có vẻ thuần tuý; có nhân cách thuần tuý mới xứng đáng là kẻ độc thư quân tử vậy. Nhưng làm người “quân tử đọc sách” mà để mình ra ngoài thời thế ưu du trong bể thánh rừng nho, ở giữa cái đời sinh tồn cạnh tranh, ưu thắng liệt bại này, thời sao cho đang? Cho nên người “độc thư quân tử” lại phải có công tâm, biết vị nghĩa nữa mới được. Học vấn yêm bác (học rộng – PT chú), tư cách tuyệt vời, mà đem tài học ấy ra thi thố với đời, còn gì hay bằng! Nhưng trong khi trì trục (tranh giành – PT chú) ở đời, cái bả lợi danh nó thường cám dỗ lòng quân tử, khiến cho phạm những điều tổn hại nhân cách. Cho nên người quân tử ra đời bao giờ cũng phải hoài bão một quan niệm rất cao về phẩm giá người ta. Làm người ai cũng có phẩm giá, có phẩm giá con người mới hơn loài cầm thú, mà phẩm giá người quân tử phải cao hơn người thường. Người “độc thư quân tử”, nhất cử nhất động phải giữ gìn cho khỏi tổn đến phẩm giá của mình. Công việc ở đời đều có một giới hạn tới đó thời không hại đến danh dự, ra ngoài thời có tổn đến nhân cách; người “độc thư quân tử” tất mỗi lúc biết tự hỏi lương tâm mình mà phân biệt cái giới hạn ấy rất rõ ràng vậy.

Độc thư quân tử, còn huy hiệu gì tốt đẹp bằng! Ký giả xin lấy bốn chữ ấy tặng các sinh viên cùng tân khoa trường Đại học ta.

Còn địa vị trong xã hội, nghĩa vụ với nước nhà, muốn nói cho tường, phải một bài dài nữa mới hết được. Nay hẵng tạm ngừng bút tại đây và chỉ nói qua một câu rằng địa vị ấy rất cao, nghĩa vụ ấy rất nặng, những người đã được hơn quốc dân mà hưởng thụ cái học cao đẳng, đối với quốc dân phải có trách nhiệm đặc biệt, và có thể nói hậu vận nước nhà hay dở thế nào một phần là ở trong tay vậy…

Ôi! Người ta mừng các ông tân khoa, thường hay tặng bài thơ đôi liễn. Nay ký giả mừng bằng một bài luận thuyết dài như thế này, không phải là muốn vì các ông đăng đàn thuyết pháp, dạy lại những người sau này sắp ra dạy quốc dân đâu, không phải thế. Nhưng lòng hi vọng của quốc dân đối với các ông to tát lắm, muốn giãi bày cho hết ý, bàn bạc cho hết lẽ, một bài như bài này cũng chửa thấm vào đâu. Các ông là người tốt nghiệp đầu tiên của trường Đại học thứ nhất ở Đông Dương, muốn mừng các ông cho xứng đáng phải đến mấy bài luận thuyết mới đủ được. Nay gọi là nói qua đại khái, cốt để kỷ niệm một việc đáng ghi trong lịch sử sự học nước nhà vậy.

(1920)

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: