Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 2, 2011

THỜI HOÀNG KIM MỚI của hội quán Khai Trí Tiến Đức

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:19 chiều

Blog PhamTon, tuần 2 tháng 6 năm 2011.

THỜI HOÀNG KIM MỚI

CỦA HỘI QUÁN KHAI TRÍ TIẾN ĐỨC XƯA

Phạm Tôn

Trên Blog PhamTon tuần thứ 3 tháng 7 năm 2009, chúng tôi đã có bài Mừng kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội: Hội quán Khai Trí Tiến Đức lại thêm một thời hoàng kim mừng hội quán nổi tiếng của Hà Nội xưa sắp hồi sinh, xứng đáng với Thủ đô xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Vậy mà đến ngày hội non sông 22/5/2011 vừa qua, sau khi cùng gia đình và cử tri cả nước đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội khoá 13 và Hội đồng Nhân dân các cấp về, mở VTVI ra xem, thì may mắn thay, đúng chương trình Văn hoá – Sự kiện – Nhân vật với người dẫn chương trình Mỹ Linh duyên dáng và thông minh đang phỏng vấn Nghệ sĩ Nhân dân Trần Bình, Giám đốc Nhà hát Ca Múa Nhạc nhẹ Việt Nam, vị “chủ nhân mới” của hội quán Khai Trí Tiến Đức xưa, từ năm 2008. Và tôi được biết: Thời hoàng kim mới của hội quán xưa đã bắt đầu rồi. Ngày 14/4 vừa qua, nhân kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập nhà hát, mà tiền thân là Đoàn Ca Múa Nhạc nhẹ trung ương, nhà hát đã được tặng Huân chương Lao động hạng III và bản thân Nghệ sĩ Nhân dân Trần Bình, thì được tặng Huân chương Lao động hạng I. Công lao của tập thể đã được ghi nhận, nơi đã thu hút những Trung Kiên, Quang Thọ, Trần Tiến, Ái Vân, Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung… đơn vị đã được nhiều giải thưởng lớn. Theo giám đốc Trần Bình, đó quả là “một thời đáng tự hào và… nhọc nhằn”. Anh là một “chủ gánh hát” (như anh mốn được gọi vậy) toàn những người thèm diễn, thèm phục vụ và được người xem chấp nhận. Họ làm “cách mạng thực sự” từ phối khí đến trang phục, dàn dựng. Từ khu Văn Công Mai Dịch tạm bợ, nhà hát được đàng hoàng làm chủ khu hội quán nổi tiếng của Hà Nội, phải làm sao cho xứng đáng với sự tin cậy của Nhà nước và nhân dân. Trong thời có đến hàng nghìn công ty tổ chức biểu diễn chuyên nghiệp và không kém tài năng, lại mạnh về kinh tế. Ba năm trời tiến đến tự chủ về tài chính là ba năm Trần Bình ăn không ngon, ngủ không yên, cứ 2,3 giờ sáng là thức dậy, lo chương trình gì cho khán giả hài lòng, lo doanh thu trong tháng thế nào… Diễn viên tập ngày ba buổi là thường. Cứ hai, ba ngày lại diễn một buổi, mỗi năm từ 180 đến 200 buổi, chưa kể biểu diễn phục vụ sinh hoạt chính trị đột xuất, có khi đi cả nước ngoài… Lao động của các anh chị đã được đền đáp: Giá vé rất cao (theo lời giám đốc) mà bao giờ cũng hết. Nhất là các chương trình gần đây như về Trịnh Công Sơn: Như cánh hạc bay, về Thanh Tùng: Lối cũ ta về và nhiều chương trình Còn lại với thời gian về nhiều nhạc sĩ nổi danh trong lịch sử âm nhạc nước nhà được đông đảo nhân dân yêu mến. Vất vả đến nỗi nhiều người gọi giám đốc Trần Bình bằng biệt danh “Trần Phục Vụ”. Chỉ mong sao người xem hài lòng, đáp ứng mong mỏi của khán giả.

Một đơn vị nghệ thuật của Nhà nước mà tự chủ về kinh doanh tài chính như vậy thật là hiếm có. Được nhân dân yêu mến như vậy lại càng hiếm có. Tuy vậy, nhà hát vẫn luôn trăn trở, mong phục vụ được tốt hơn, nhiều hơn, đa dạng hơn. Quyết đem lại một thời hoàng kim mới cho hội quán xưa.

Nói như vậy, vì hội quán này, từng có một thời hoàng kim.

Tòa nhà cổ kính mà duyên dáng này nằm ở vị trí đẹp nhất Hà Nội và có lẽ đẹp nhất cả nước ta. Một mặt chạy dài ven đường Lê Thái Tổ, rợp tán cây soi bóng hồ Gươm, một mặt giáp phố Hàng Trống. Hai đầu tòa nhà thì một đầu nằm trong khuôn viên vườn hoa có đặt tượng vua Lê, giáp tòa soạn báo Nhân Dân, một đầu là ngã ba Hàng Trống – Lê Thái Tổ, đối diện khách sạn Phú Gia nổi tiếng. Khu nhà được xây dựng từ ngót một trăm năm ấy đã trải qua cuộc đời đầy biến động, nhiều năm bị sử dụng trái hẳn với công năng vốn có của mình. Nhưng may mắn là được xây dựng chẳng những đẹp đẽ mà còn rất vững chắc, lại ở thế đất luôn được con mắt người Hà Nội canh chừng, săn sóc, cho nên dù chủ nhân là ai, cũng đều không dám tùy tiện sửa chữa, thay đổi ba mặt tiền.

Sau năm 1954, Hà Nội được giải phóng, cán bộ chiến sĩ miền Nam ra Bắc tập kết có khá đông người sống ở Hà Nội thì tòa nhà được dành để mở Câu lạc bộ Thống Nhất làm nơi họp mặt, sinh hoạt của anh chị em, có phục vụ biểu diễn nghệ thuật và ăn uống theo phong cách miền Nam. Năm 1975, nước nhà thống nhất, như để “góp một phần nối liền hai miền Nam Bắc”, tòa nhà lại thành nơi … bán vé máy bay của Vietnam Airlines! Mãi đến đầu những năm 1990, Bộ Văn Hóa “đấu tranh mãi” mới lấy lại được cơ sở văn hóa này để làm trụ sở Trung Tâm Phương Pháp Câu Lạc Bộ Trung Ương. Nghĩa là đã có trở lại với văn hóa một chút…Nhưng, trung tâm hoạt động không mấy suôn sẻ, câu lạc bộ ít khi sáng đèn. Thế là cơ ngơi cổ kính và duyên dáng bên hồ Gươm này lại sa xuống đến mức không thể tưởng tượng nổi: đã có thời bị cho thuê làm nhà hàng ăn Nhật Bản!

Đây vốn là hội quán của Hội Khai Trí Tiến Đức do học giả Phạm Quỳnh sáng lập và làm tổng thư ký. Mục đích và tôn chỉ của hội là “Mở mang trí tuệ” (Khai trí), “Bồi dưỡng đạo đức” (Tiến đức) trước hết là cho các hội viên của mình, sau đó là cho toàn dân. Hình thức sinh hoạt theo kiểu câu lạc bộ ngày nay, chủ yếu là diễn thuyết, nói chuyện, bình văn và một số hình thức giải trí như cờ người, tổ tôm… Do tài năng và đức độ của những người sáng lập như Phạm Quỳnh, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim… cho nên hội quy tụ được nhiều nhân tài, có ảnh hưởng lớn trong xã hội, nhất là trong giới trí thức cả cựu học lẫn tân học. Đóng góp lớn nhất của hội là đã xuất bản được Từ Điển Tiếng Việt đầu tiên, và gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt văn hóa trong nước thời ấy. Một số tỉnh cũng học theo mà mở các hội như Hội Quảng Tri ở Huế, Nhà Xéc (Cercle) ở Quy Nhơn, Vinh…

Có thời gian đến mấy năm, đây còn là trụ sở của tòa soạn tạp chí Nam Phong nổi tiếng với chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh. Đặc biệt, đây chính là nơi đã diễn ra lễ kỷ niệm thi hào Nguyễn Du lần đầu tiên ở nước ta và cũng là lễ kỷ niệm trọng thể nhất, được đông đảo người dân tham dự nhất từ trước đến nay.

Năm 1924, Phạm Quỳnh đề nghị Hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mười tháng tám ta (8-9-1924). Hội gửi hơn một nghìn giấy mời đến khắp cả hội viên; còn thông báo cho nhân dân biết. Tối hôm ấy, tám giờ, cửa hội mới mở được vài phút, đã có đến hơn hai nghìn người vào chật khắp trong sân, ngoài vườn, dưới nhà, trên gác, đâu đâu cũng chật ních những người. Hội viên các tỉnh về dự cũng đông. Các bà, các cô trong thành phố Hà Nội đến cũng nhiều. Hội viên là người Pháp và các bà vợ ước chừng ba bốn chục người. Có cả mấy bà giáo mới ở Pháp sang, cứ khẩn khoản xin được dự để tận mắt thấy “người An Nam tôn trọng một bậc danh sĩ trong nước thế nào”.

Trên bệ cao cuối vườn, có đặt cái kỷ, bày một lư đồng lớn. Bên trên là chiếc đèn giấy kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”, tựa dáng bức hoành phi, trong có đề mấy chữ nho Tiên Điền Nguyễn Tiên sinh kỷ niệm nhật (Tức: Ngày kỷ niệm Tiên sinh họ Nguyễn Tiên Điền). Hai bên là hai đèn giấy hình đôi câu đối trúc, đề hai câu bằng chữ Nôm:

Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền cổ lục,

Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.

Có tờ báo hồi ấy đã nhận xét: “Ở Hà Thành ta từ xưa đến nay, có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan toàn quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế”. (Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924)

Trong buổi lễ, Phạm Quỳnh đọc hai bài diễn văn. Một tiếng ta, một tiếng Pháp. Rồi Trần Trọng Kim “diễn thuyết về lịch sử Cụ Tiên Điền và văn chương TruyệnKiều”. Kế đó là phần biểu diễn của kép Thịnh và đào Tuất, thuộc rạp Sán Nhiên Đài, nổi tiếng đương thời là người kể Truyện Kiều hay. Cuối cùng là một cô đào đứng hát Bài ca kỷ niệm do Nguyễn Đôn Phục soạn. (Trích Tạp chí Nam Phong số 86, 1924)

Mở đầu lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh trang trọng nói:

“- Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã xây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hoả” rất quí báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi

Rồi ông hào hứng nói, Truyện Kiều “ vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc”. Cho nên, “sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:

Lơ thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

hay là

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm xá gì.

bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ…” Và ông sôi nổi nhấn mạnh: “Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi, mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.”

“Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy…Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra.”

Đi xa hơn, Phạm Quỳnh còn tự hào nói lớn: “Văn chương Tàu thật là mông mênh bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều; mà xét cho kỹ, có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều”. Rồi lại nữa: “Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”…”Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thì ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.”

“Thử hỏi cổ kim, Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiềuta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc 18, 20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.”

Kết thúc bài diễn văn, ông thành kính nói:

“-Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái, cảnh mộ Cụ Tiên Điền ta… Nhưng, còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ,

Thác là thể phách còn là tinh anh.

“ánh tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, trập trùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân (mọi người  – PT chú) đây. Thề rằng :” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu (chúng tôi không rõ nghĩa – PT) lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của Tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây”.

Bài diễn văn kết thúc bằng lời thề tâm huyết đã được cử toạ nhiệt tình tán thưởng.

Đó là vang bóng một thời hoàng kim xưa của Hội quán Khai Trí Tiến Đức…

Mừng Thăng Long-Hà Nội nghìn năm tuổi, người dân Hà Nội và cả nước vui mừng thấy hội quán Khai Trí Tiến Đức, một không gian văn hóa ngót trăm năm tuổi năm xưa đã sống lại, trở về với chức năng văn hóa của mình và còn có hướng phát triển mạnh mẽ hơn trăm năm trước, để có thêm một thời hoàng kim mới, góp phần bồi dưỡng, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, xứng đáng là chủ nhân của một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh ngang cùng bầu bạn năm châu.

Hương hồn những nhà sáng lập Hội Khai Trí Tiến Đức với mong muốn giúp dân ta mở mang trí tuệ bồi dưỡng đạo đức chắc chắn sẽ ngậm cười nơi chín suối vì trăm năm sau còn có những người hiểu được cái chí của mình và tiếp bước đi xa hơn nữa, bay cao hơn nữa.

P.T.

(*) Trong bài có sử dụng tư liệu trong tin Hà Nội có hai ”nhà hát” mới của Thu Hà trên báo Tuổi Trẻ ngày 2/7/2009 và bài Người nặng lòng với tiếng ta của Nguyễn Trung đăng tạp chí Công giáo và Dân tộc số 141- tháng 9/2006

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: