Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 23, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P3: Nội dung Nam Phong tạp chí)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:18 chiều

Blog PhamTon năm thứ 2, tuần 1 tháng 7 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 3: NỘI DUNG NAM PHONG TẠP CHÍ

3. Nội dung tờ báo

Đây là một tờ tạp chí, mỗi tháng ra một kỳ, khổ lớn dày tới 100 trang, in làm hai cột đông đặc những chữ. Về bài vở ngay ở số ra mắt, bộ biên tập đã định thành phần với lời lẽ như sau:

1.      Phần Luận thuyết: bàn chung những vấn đề có liên hệ đến thời thế nhất là những vấn đề liên hệ đến riêng dân ta để cho độc giả trong nước có một quan niệm minh chính về các vấn đề ấy.

2.      Phần Văn học bình luận: gồm những khoa văn chương lịch sử, đại để những môn tổng danh gọi là văn học.  Bàn rộng những sách hay dù cũ dù mới, thâu thập những ý kiến tư tưởng mới hay danh tiếng.

3.      Phần Triết học bình luận: nghiên cứu các lý thuyết tư tưởng đời xưa đời nay, so sánh tư tưởng Âu Tây với Á Đông ta để giúp cho sự đề xướng một tư trào riêng cho nước ta. Tôn chỉ là giúp cho quốc dân về trí thức và đạo đức.

4.      Phần Khoa học bình luận: không chuyên luận về những khoa một nhưng chỉ trình bày những vấn đề đại cương, những nguyên lý, lịch sử tiến hành của khoa học.

5.      Phần Văn uyển: sưu tầm những thi ca cũ bằng chữ Hán chữ Nôm, đồng thời đăng tải những bài thơ mới đủ loại: Đường thi, phú, ca trù, văn tế, kinh sách, lục bát trường thiên.

6.      Phần Tạp trở: gồm có những bài nho nhỏ, những câu chuyện vụn vặt không thuộc vào những loại trên, những bài giới thiệu sách mới, những bài danh ngôn trích lục các sách, những tin tức về học giới.

7.      Phần Thời đàm: bàn về thời sự các việc lớn trong cũng như ngoài nước, luôn luôn giữ một thái độ bình tĩnh mà thuật những việc đó, mưu toan lợi ích cho dân ta.

8.      Phần Tiểu thuyết: dịch những bộ tiểu thuyết hay ở Pháp văn ra, cần nhất là những cuốn có văn chương hay nghĩa lý cao kết cấu khéo, làm mẫu mực cho tiểu thuyết sau này.

Những đề mục trên có vẻ quá to tát không nên để ta hiểu lầm về nội dung các bài nhiều khi khá khiêm tốn. Như bài “bình luận văn học” ở số đầu thì chỉ là tóm lược một tiểu thuyết của Paul Bourget kèm theo vài lời tán thưởng, như vậy giá như ngày nay thì gọi là “giới thiệu văn nghệ nước ngoài”. Phần “bình luận khoa học” có những bài nói về bệnh lao, về vi trùng (số 30), về cái hại của hút thuốc (số 33), về dây nói (số 27), ngân hàng (số 28)… thật ra chỉ là những bài phổ biến khoa học thường thức.

Theo như cách phân chia bây giờ thì ngoài bài luận thuyết thời cuộc và bài tóm tắt thời sự ra còn lại có thể chia làm hai phần:Một phần biên khảo học thuật (Tây hoặc Hán học) và một phần thi văn tiểu thuyết (sao lục, hoặc dịch thuật hoặc sáng tác)

Nói chung tờ báo có tính cách trang nghiêm khắc khổ nhưng dồi dào, nội dung thiên về biên khảo học thuật. So với tờ Đông Dương tạp chí thì tờ Nam Phong khó hơn, đề cập đến những vấn đề lý thuyết cao hơn, phần thi văn cũng dồi dào hơn.

Ngoài ra ngay từ số đầu đã có một phần Hán văn dày tới vài chục trang cũng có luận thuyết, có thi văn sao lục hoặc sáng tác, phần này đặt dưới sự trông nom của Nguyễn Bá Trác.

Từ 1922 trở đi lại thêm một phần Pháp văn do Phạm Quỳnh hoặc Nguyễn Văn Nho viết, có khi đăng tải những bài trích các báo Tây hoặc những bài diễn văn của các nhà chức trách Pháp.

4. Các giai đoạn của tờ báo

Giai đoạn đầu (1917-1922)

Có thể nói đây là thời kỳ thành lập và bành trướng. Bài vở nặng về mặt dịch thuật, sao lục, nặng về phần Hán văn. Tiếng nói hoàn toàn chỉ có một đường lối chính trị là tán dương quan Pháp, ca tụng vua Khải Định. Tuy nhiên tờ báo dần dần đổi giá trị với các bài vở súc tích và truyền đạt thanh thế ra khắp ba kỳ. Trong giai đoạn này Phạm Quỳnh hợp tác chặt chẽ với Nguyễn Bá Trác.

            Giai đoạn thứ hai (1922-1925)

Sau khi Phạm Quỳnh đi Pháp về (Cuối năm này (1922) Phạm Quỳnh xin được đứng tên chủ nhân giám đốc Nam Phong tờ báo từ nay coi như độc lập, của riêng ông. Marty hết còn – dù gián tiếp – điều khiển đường lối bài vở nữa. Tuy nhiên hình như Pháp vẫn tiếp tục trợ cấp đều đều cho tờ báo), ảnh hưởng cá nhân ông gây được làm cho tờ báo mạnh thêm và truyền ra đến nước ngoài. Nhưng Nguyễn Bá Trác đã bỏ vào Huế làm quan. Phần Hán văn bèn được trao cho Lê Dư. Lại thêm ra một phần chữ Pháp. Nam Phong dựa vào hội Khai Trí, thi hành mục đích khai hoá quốc dân của hội Khai Trí. Phạm Quỳnh thường đứng ra tổ chức các cuộc diễn thuyết ở hội (như diễn thuyết về Truyện Kiều). Tháng nào báo cũng có một bài đại luận về các vấn đề đạo đức, nhằm cải tổ phong tục tập quán quốc dân (như Cách nói chuyện, Danh dự luận, Địa vị đà bà, Giáo dục đàn bà), chính có thể coi như một giai đoạn tờ Nam Phong đề cao mục đích giáo huấn.

            Giai đoạn thứ ba (1925-1932)

Tờ báo vẫn tiếp tục phát triển với uy thế nổi bật của người chủ nhiệm. Phạm Quỳnh tách rời khỏi hội Khai Trí, dọn toà soạn về ngôi nhà mới mua được ở phố Hàng Da. Tờ báo không còn đăng kỷ yếu của hội Khai Trí. Những cuộc diễn thuyết cũng không còn tổ chức ở đó mà chuyển sang hội Trí Tri. Đồng thời ly khai với Khai Trí, Phạm Quỳnh tỏ rõ thái độ độc lập hơn với chính quyền. Giọng tán tụng Pháp không còn nữa. Năm 1925 xẩy ra nhiều biến cố quan trọng: Phạm Hồng Thái ám sát Merlin, Phan Bội Châu bị bắt về nước. Bên Pháp tả đảng lên cầm quyền, Phan Châu Trinh trở về Sài Gòn. Phong trào đòi hỏi chính trị phát động. Toàn quyền Varenne thuộc đảng xã hội được phái sang. Nam Phong chuyển sang hướng chính trị. Những bài luận thuyết và khảo cứu hướng về thời cuộc chính trị (như Tinh thần lập quốc, số 103 – Khảo về chính đảng, số 102, Học thuyết Rousseau, số 104, Montesquieu, số 108, Voltaire, số 144). Cuộc vận động chính trị của các đảng bí mật tiếp diễn không ngừng đưa đến vụ khởi nghĩa Yên Bái và những năm giao động ghê gớm 1930-1931. Trên tờ Nam Phong Phạm Quỳnh đã dám mạnh dạn ăn nói, nhất là ở phần Pháp văn. Ông đưa ra chủ nghĩa quốc gia, thuyết lập hiến, bút chiến với Nguyễn Văn Vĩnh. Giai đoạn này là giai đoạn hoạt động chính trị của tờ báo và đưa Phạm Quỳnh đến việc được vời vào Huế làm Thượng thư Nam Triều.

            Giai đoạn thứ tư (1932-1934)

Đây là giai đoạn suy yếu của tờ báo. Quyền chủ bút được trao cho Nguyễn Trọng Thuật. Được vài số Lê Văn Phúc phải đứng ra canh tân, mời nhiều nhà Tây học trợ bút. Rồi một thanh niên giỏi Pháp văn là Nguyễn Tiến Lãng đứng ra thừa kế. Phần Pháp văn được tăng thêm, phần Hán văn bỏ đi. Báo thêm tranh ảnh, trình bày để cho hấp dẫn, lại ra mỗi tháng hai kỳ, nhưng không đuổi kịp được thị hiếu của thời đại nên đến cuối năm 1932 thì đình bản.

5. Các cây bút

            Trong giai đoạn I:

Nguyễn Bá Trác – Dương Bá Trạc – Nguyễn Bá Học – Trần Văn Ngoạn – Nguyễn Hữu Tiến – Phan Khôi – Tản Đà – Trần Mỹ – Thân Trọng Huề – Hoàng Yến – Hoàng Tích Chu – Nguyễn Mạnh Bổng.

            Trong giai đoạn II

Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Đôn Phục – Nguyễn Triệu Luật – Hoàng Ngọc Phách – Đoàn Tư Thuật – Trần Trọng Kim – Phạm Duy Tốn – Vũ Đình Long – Nguyễn Tường Tam

            Trong giai đoạn III

Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Trọng Thuật – Lê Dư – Bùi Kỷ – Tương Phố – Nhóm Trí Đức Hà Tiên: Đông Hồ, Nguyễn Văn Kiêm, Mộng Tuyết, Trúc Hà – Nguyễn Thúc Khiêm – Vũ Đình Long – Nguyễn Tường Tam.

            Trong giai đoạn IV

Nguyễn Trọng Thuật – Nguyễn Hữu Tiến – Nguyễn Đôn Phục –Nguyễn Tiến Lãng – Đỗ Đình Thạch.

Như vậy ngoài chủ bút Phạm Quỳnh còn có ba người hợp tác chính là Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục rồi Nguyễn Trọng Thuật. Các cây bút ở giai đoạn đầu có những nhà Nho cựu học do khoa cử xuất thân, hoặc quan lại đương nhậm (Trần Mỹ, Thân Trọng Huề). Cây bút ở giai đoạn hai và ba có những người bán cựu, bán tân (Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long) và ở giai đoạn bốn có những cây bút hoàn toàn tân học (như Nguyễn Tiến Lãng, Đỗ Đình Thạch).

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: