Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 1, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P4: Văn nghiệp của Phạm Quỳnh)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 2 tháng 7 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 4: VĂN NGHIỆP CỦA PHẠM QUỲNH

III. VĂN NGHIỆP CỦA PHẠM QUỲNH

1. Phân loại và liệt kê

Tạp chí Nam Phong ra trong 17 năm được 210 số, như vậy kể số trang in ra có vài trăm ngàn. Và riêng ngòi bút Phạm Quỳnh viết ra tới muôn trang. Cứ kể số lượng quả là một “văn nghiệp” đồ sộ. Những bài báo của ông về sau ông có dọn lại đem in thành sách trong bộ Nam Phong tùng thơ hoặc sau nữa trong bộ Thượng Chi Văn Tập. Tuy nhiên đó chỉ là một phần nhỏ, và phần lớn và chính yếu vẫn còn trong 35 tập báo đồ sộ. Ngày nay mở coi, người muốn kiểm điểm những gì ông đã viết, cần phải làm một liệt kê phân loại khá phức tạp. Ta có thể chọn những bài những mục lớn và chia ra như sau:

Văn dịch

o       Tác phẩm luận thuyết:  Phương pháp luận của Descartes; Sách cách ngôn của Epictète; Đời đạo lý của P.Carton; Tư tưởng của Barrès, Le Bon, Maurras…

o       Kịch bản, thi văn: Le Cid, Horace Corneille, Thơ của Baudelaire.

Khảo luận

o       Tây học: Văn minh luận – Chính trị nước Pháp – Lịch sử thế giới – Luận lý học thuyết Thái Tây – Lịch sử và học thuyết Rousseau – Montesquieu – Voltaire – Triết học Auguste Comte – Triết học Bergson – Văn học sử Pháp – Khảo luận về tiểu thuyết – Bình luận về tác phẩm của P.Bourget, H.Bordeaux, G.de Maupassant, Alfred de Vigny.

o       Đông học và Quốc học:Phật Giáo lược khảo – Người quân tử trong đạo Nho – Tục ngữ ca dao – Việt Nam thi ca – Khảo về Truyện Kiều – Bàn về thơ Nôm – Hát ả đào – Khảo về chữ quốc ngữ – Chữ Nho với văn Quốc ngữ – Hán Việt văn tự – Bàn về quốc học – Quốc học và quốc văn.

*  Văn du ký

o       Trẩy chùa Hương – Mười ngày ở Huế – Một tháng ở Nam Kỳ – Pháp du hành trình nhật ký – Thuật truyện du lịch Paris – Du lịch xứ Lào.

2. Luận chung về giá trị

Về những áng văn dịch, như ta đã nói khi khảo về Nguyễn Văn Vĩnh, những dịch phẩm không thể tạo ra một văn nghiệp. Trừ trường hợp đặc biệt trong thời Hán học xưa, bởi sự tương quan mật thiết giữa Hán và Nôm, nên một vài dịch phẩm có thể coi như kiệt tác quốc văn, hiện tượng ấy không thể có với tiếng Pháp. Những bản tuồng những trang triết Pháp, Phạm Quỳnh dịch có đúng và hay không, chẳng là vấn đề đáng cho chúng ta nghiên cứu ở đây vì nó không tạo ra một giá trị gì, không đáng một chỗ ngồi nào trong văn học sử Việt Nam, bất quá chỉ có hiệu lực nhất thời truyền bá văn học Pháp cho một thế hệ còn kém chữ Pháp.

Về phần khảo luận Tây học thì thường là chỉ dịch sát tài liệu Pháp văn và trừ một vài bài, ngày nay ta đọc lại thấy khá thô thiển, phù phiếm. Ông chỉ nhằm truyền bá, phổ biến những khái niệm sơ đẳng chứ không đẩy sự nghiên cứu vào một địa hạt nào. Từ năm 1932 trở đi, Pháp học mở rộng, thanh niên chẳng còn ai mở Nam Phong để tìm hiểu triết học là gì, thơ là gì, đẹp là gì, hoặc để tìm hiểu những tư tưởng của Barrès, Bourget qua những bài giới thiệu tiểu thuyết hay bài bình luận văn học của Phạm Quỳnh. Họ đọc thẳng ngay trong chữ Pháp vì học thuật nước ta sau đó đã hiển nhiên lấy Pháp ngữ làm chuyển ngữ. Ngày nay quốc học trở về tiếng Việt, những bài phổ biến học thuật Tây phương của Nam Phong có thể phần nào giúp ích cho những người kém ngoại ngữ chăng. Song thiết tưởng công việc dịch thuật và biên khảo ấy ngay nay chẳng cần đòi hỏi một văn tài xuất sắc lắm. Dịch Phương pháp luận của Descartes, viết vài chục trang để giới thiệu tư tưởng của Rousseau, một giáo sư trung bình hoặc ngay một sinh viên xuất sắc cũng có thể làm được, không kể những bài của Phạm Quỳnh lại phải một nhược điểm là câu văn ông tỏ ra quá già xưa. Như ông viết về Lamartine hay Musset: “Thơ Lamartine phảng phất êm đềm mát mẻ thanh thú, vần điệu êm như ru, vui như hát, không khác gì tiếng đàn, thật là có cái vẻ trong như tiếng hạc bay qua. Thơ ông toàn là lối thơ đạo tình nhã thú lắm. Thơ Musset thời cũng là thơ đạo tình mà có vẻ dĩnh ngộ hơn. Ông thường ngâm vịnh về cái phong thú tuổi thiếu niên, cái lạc thú của ái tình. Thơ Vigny lại ra một lối khác là lối thơ trầm trọng sâu xa”. Thời ấy, Nam Phong, người dịch văn Pháp hoặc viết về tư tưởng Âu Tây thường chỉ sợ câu văn quá Tây, thường có dụng ý dùng chữ đặt câu, sao cho có vẻ “An Nam”, tất nhiên là cái An Nam của Truyện Kiều của ca dao làm bằng chữ chắp đôi, điệu nhịp nhàng, lời bay bướm, cái văn An Nam ấy ngày nay người ta không thưởng thức mấy, nhất là ở địa hạt luận thuyết, về sau này tiến sâu vào Tây học, người ta có khuynh hướng đem thẳng câu Pháp vào văn Việt, thành ra tóm lại đó cũng là điều làm cho nhiều bài biên khảo Tây dù giá trị của ông chẳng còn được tín nhiệm.

Đến phần khảo luận về học thuật Á Đông và Quốc học, đây là phần có giá trị vững bền hơn còn rất đáng để ngày nay chúng ta tìm đọc, song xét chung thì các bài ấy thường cũng không thoát khỏi  tính cách phiến diện, rời rạc của những bài báo (trừ bài luận về Phật giáo). Phạm Quỳnh sở trường về Tây học hơn là Hán học, cho nên những bài ông viết về học thuật Á Đông rất ít. Việc đó dành cho các cây bút khác. Đáng chú ý hơn là những bài ông phê bình cổ văn ta (Truyện Kiều, ca dao, hát ả đào) song cũng chỉ đáng chú ý về mặt lịch sử, về vai trò hướng đạo của ông thôi.

Sau hết đến những thiên du ký của Phạm Quỳnh thì đều thiên về biên khảo, văn nghị luận nhiều hơn văn cảm giác. Như bài Trẩy chùa Hương bắt đầu bằng một hai khúc đại luận về tôn giáo rồi dọc đường chỉ thấy những lời phẩm bình suy xét về phong tục tín ngưỡng của người mình. Những bài Du ký Nam Kỳ, Du lịch xứ Lào, thì già nửa là những khảo sát địa dư lịch sử. Tác giả trước khi xuất du, mở sách khảo cứu phong thổ, dĩ vãng nơi mình đến thăm và kể lể dài dòng để dẫn đường cho độc giả. Cái phần tâm tư cá nhân rất ít nói đến (trừ ở Pháp du nhật ký).

Như vậy nếu căn cứ vào tiêu chuẩn tác phẩm nhất là tác phẩm văn nghệ mà xét thì Phạm Quỳnh không đáng một sự lựu ý đặc biệt. Trong 17 năm viết lách, ông vẫn cốt yếu là một nhà ngôn luận, một ký giả, ngòi bút gặp đâu bàn đấy, các bài luận thuyết khảo cứu của ông về văn học, triết học, chính trị thường mang rõ yếu tố thời sự, chỉ có giá trị cho người đương trong thời đại. Về sau này, năm 1942, khi đã vào làm quan ở Huế, để hưởng ứng cơn gió phục hưng Pétain và có lẽ cũng muốn ghi lại phần nào cái vinh quang xưa, ông thu thập những bài ông coi là có giá trị hơn cả đem in thành sách (bộ Thượng Chi văn tập). Người đọc duyệt lại thấy thật là lủng củng, chẳng thành một tác phẩm chi hết. Cho nên Thượng Chi văn tập không được tiếp tục, những bài được in ra chỉ là trong giai đoạn đầu Nam Phong (1917-1922) mà thôi.

Đó là những chỗ yếu ớt trong văn nghiệp Phạm Quỳnh. Ông không phải là một nhà sáng tác, không lưu lại những tác phẩm nào xứng đáng. Ngay ở địa hạt biên khảo, ông cũng không có một công trình gì đặc sắc như Phan Kế Bính, dài hơi như Trần Trọng Kim. Mặc dầu vậy trường hợp Phạm Quỳnh vẫn là một trường hợp rất đáng chú ý. Ông là một nhà báo nhưng không phải là một ký giả tầm thường. Với vóc não và cây viết ngoại hạng, ông đã ý thức và suy tư những băn khoăn lớn của người đồng hội, tìm ra những giải đáp thoả đáng, nói ra những lời lẽ phải chăng, làm cho họ phải công nhận rồi tín nhiệm. Cho nên những hành trình suy tư của ông qua mười mấy năm báo Nam Phong cũng đáng cho người chép sử để công vạch lại.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: