Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 7, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P5: Tư tưởng bảo thủ)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 5:50 chiều

Blog PhamTon (năm thứ hai), tuần 3 tháng 7 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 5: TƯ TƯỞNG BẢO THỦ

IV. TƯ TƯỞNG BẢO THỦ

1.     Con người bảo thủ

Từ  Nguyễn Văn Vĩnh đến Phạm Quỳnh, ta thấy một sự cách biệt rất lớn. Đối tư tưởng Âu hoá cấp tiến của ông Tân Nam Tử (tức Nguyễn Văn Vĩnh – PT chú), ông Phạm Thượng Chi – mặc dầu sanh sau 10 năm – bày tỏ trong tất cả những tư tưởng cùng hành động của mình một khuynh hướng bảo thủ rõ rệt. Khuynh hướng ấy có thể tìm hiểu trước hết ở ngay con người của tác giả. Phạm Quỳnh xuất thân từ dòng dõi nho gia, không phải một hạng nho gia quyền quý hiển hách khi ấy thường có khuynh hướng xu phụ mị Tây để bảo vệ địa vị, chấp nhận một cuộc sống giả câm giả điếc, đôi khi truỵ lạc với những gì gọi là truyền thống của tổ tiên, mà là hạng hàn nho, tuy cũng từng đỗ đạt nhưng theo đường lãnh hoạn, sống đạm bạc thanh cần bên luống cày của người nông dân.  Cho đến về sau khi đã nổi danh học thức ông vẫn giữ cái nếp cần cù, ngôn ngữ và dáng vẻ một anh đồ nhà quê, “un lettré campagnard” như ông tự gọi.

Sách Nhị Thập Tứ Hiếu của Hoàng Thái Xuyên còn ghi tích Phạm Hội (tằng tổ Phạm Quỳnh) mồ côi cha từ nhỏ có hai chị gái tình nguyện bất giá (không lấy chồng – PT chú) ở nhà nuôi mẹ và cho em đi học kỳ đến thành đạt. Sau Phạm Hội đỗ cử nhân, đời Minh Mạng làm quan giáo thụ, bấy giờ mẹ mất rồi, “thờ hai chị như thờ mẹ, việc lớn việc nhỏ đều trình với hai chị trước, có tiếng hiếu đễ ở đời”. Đến Phạm Quỳnh – theo những lời tự thuật của chính ông – cha mẹ mất sớm được bà nội nuôi cho ăn học, năm 12 tuổi vào trường Trung học Bảo hộ, năm 16 tuổi tốt nghiệp ra làm việc. Giữa một xã hội náo nức duy tân, ông vẫn tự coi như di lưu của một gia đình nho học quê mùa muốn giữ lấy nền nếp đạo đức của ông cha, cùng những đức tính chân thật cần cù của anh đồ quê, trung thành với linh hồn của đồng quê, với tiếng gọi của xứ sở.

Vào viện bác cổ gần 10 năm trời ngồi nghiền tất cả kho sách đồ sộ của nhà trường, ông có dịp mở mang học thức về đường Tây học, đồng thời cũng có dịp thâu thái cái Hán học mà suýt nữa ông tưởng đã bỏ mất, cái Hán học ấy tuy tự học nhưng có phương pháp, có bản lãnh, có hệ thống, đã giúp ông trở về nguồn gốc của ông cha, cái Hán học tuy muộn màng tự đắc nhưng ứng vào một tâm hồn kính cẩn, giầu những tiềm thức của quá khứ, tạo cho ông một đất đứng mà sau này ông sẽ không bao giờ rời bỏ. Sau này ra làm báo viết văn, lãnh trách nhiệm đưa đường chỉ lối cho quốc dân, ông đã không ngần ngại đứng vào phe bảo thủ. Có chút quyền hành ăn nói, ông đã đứng lên đại biểu cho tiếng nói bảo thủ. Thái độ bảo thủ ấy, ông đã bày tỏ ngay trong cách phục sức, suốt đời khăn đóng áo dài, đem bộ quốc phục sang tận Ba Lê, lấy cái bộ “anh đồ quê xứ Nam Việt” mà đăng đàn diễn thuyết, ra mắt các bậc thông thái bạc đầu của văn minh Tây phương, tại Hàn Lâm Viện Pháp Quốc. Nói chung thì khuynh hướng bảo thủ này bao trùm tất cả tư tưởng cùng thuyết lý của Phạm Quỳnh song nó hiển hiện nhất ở các địa hạt luân lý, phong tục xã hội.

2.     Cái gì là quốc tuý

Tất nhiên ta không nên quên Phạm Quỳnh là một nhà tân học, có cái Pháp học vững vàng uyên bác, óc phán đoán sáng suốt của một người từng thú nhận bị chinh phục bởi bao nhiêu vẻ đẹp mỹ miều tân tiến của văn minh Tây phương. Nhìn vào cái xã hội cũ kỹ An Nam khi đó, cũng như bất cứ một đầu óc tân học nào, ông cũng công nhận bao nhiêu điều cổ hủ, thoái hoá, bao nhiêu cái đáng chê bai chỉ trích. Xã hội mình kém cỏi nên nước mình thất bại, không những chỉ về kỹ thuật khoa học mà còn ở phần văn hoá tinh thần. Khi ngẫm nghĩ tìm ra những nhược điểm của mình ở phong tục xã hội ở tập quán cá nhân, ở những tư tưởng, tín ngưỡng, chế độ, hơn ai cả, Phạm Quỳnh đã tỏ ra có một cái nhìn sáng suốt, tỏ ra một thái độ tự trị, đôi khi tự sỉ một cách thành thật và đau đớn.

Nào là về tín ngưỡng, thói mê xằng, tin nhảm của quần chúng, sự lễ bái kỳ cục của người mình như ông có dịp nhận xét trong bài Trẩy chùa Hương: “Hình như thần phật là của chung, hễ lạy được nhiều là được nhiều phúc, nên tranh nhau mà cầu lạy, tranh nhau mà thắp cho nhiều nến, đốt cho nhiều hương, mỗi người mỗi làm như vậy thành ra đám họp chợ, không phải là nơi cầu nguyện”. Nào là về đạo đức cá nhân, thói luồn cúi nịnh bợ quá đê hèn của người mình trước ngoại nhân thống trị khiến ông đã phải dành ba bốn bài đại luận để xướng lên một đạo danh dự: “Danh dự! Danh dự! Người là vị thần thiêng liêng ở đời nay, trong thế giới này có một nước chưa từng biết cái oai quyền của người, nước ấy là cõi Nam bang này, ta xin thắp lửa đốt hương cầu cho người giáng sinh xuống đây để mở mày mặt cho mấy triệu con người đã từng luồn cúi quỳ luỵ trong bao nhiêu năm”. Nào là về học hành, cái học hư văn, tầm chương trích cú: “Lấy tứ thư ngũ kinh làm thánh thư, cho là tổng hợp tất cả sự vật trong trời đất trong loài người, tiên nho bàn đi, hậu nho bàn lại, hậu nho nữa lại bàn tiên nho, biện nạn (biện bác hỏi cho ra những nghĩa khó – PT chú) cho đến vụn nát ra, không còn nghĩa lý gì nữa, cái học nhai lại những bã rác của cổ nhân không sáng lập ra được tư tưởng gì mới, cái học đưa đến nước bại dân suy”.

Tuy nhiên mặc dầu những khuyết điểm ấy, cái xã hội tổ tiên để lại cho chúng ta cũng còn những ưu điểm mà một đầu óc chín chắn phải biết nhận định, mà những tâm hồn tha thiết với tiền đồ tổ quốc phải lo giềng giữ bồi đắp. Đó là những truyền thống, những di sản tinh thần có thể coi là quốc bảo quốc tuý.

Hãy nói trước hết ở ngay vấn đề tín ngưỡng. Ở đây thái độ của Phạm Quỳnh khi đến viếng chùa Hương so với Nguyễn Văn Vĩnh thật là khác biệt. Ông Vĩnh xem cảnh tượng lễ bái của dân mình khác nào với con mắt khách quan diễu cợt của người ngoại quốc tân tiến với một dân tộc bán khai, Phạm Quỳnh khác thế cố gắng tìm hiểu cái tâm lý lễ bái, cái nguồn gốc phát sinh ra tôn giáo: Đằng sau những cử động cúng vái, những tiếng Nam mô vang động cả sườn núi gốc cây, cái tôn giáo tâm của con người là một sự thật không thể phủ nhận. Dân tộc ta là một dân tộc đau khổ, quá thiếu thón, cầu cúng chính là một phương pháp để làm vợi bớt những nỗi thống khổ. Đối với con người, cần cầu nguyện cũng như cần ăn thở. Ông thấy cái đáng trách ở đây không phải là khuynh hướng tín ngưỡng của người dân mình mà chính là thái độ “vô thần” của lớp nho gia xưa quá khuynh hướng về đường thực tiễn, đã không để ý tổ chức sự lễ bái ấy theo đường hướng tôn giáo cao cả, mà phó mặc cho quần chúng, để trụy lạc thành một mớ tập quán cúng vái hỗn độn, phàm tục.

Nguyễn Văn Vĩnh đến viếng chùa Hương như một du khách ngoại nhân, mặc đồ tây, đội mũ chống can, in hệt một ông quan Tây đến quan sát sự lễ bái “lẩm cẩm” của một đám dân bản xứ lạc hậu.

Phạm Quỳnh khác thế, khăn đóng áo dài đến viếng Hương Sơn như một thư sinh nho học, muốn mở rộng tâm hồn để đón nhận những cảm giác đã rung động một Chu Mạnh Trinh. Ông đã cảm nhận được phần nào “cái khí vị từ bi nó phảng phất trong cõi sơn nham, cái bức tranh tuyệt bút vẽ ra trước cửa động Hương Tích khi mặt trời đã xế, khói hương đưa ra cửa động mờ ám như một đám sương mù, mặt trời phản chiếu nửa đỏ, nửa vàng, bóng cây phất phới như thấp như cao, tưởng như bước chân ra cửa động để mình vào nơi mộng cảnh, theo sương mù bay lên cõi Tây Thiên”. Ta thấy ở đây thái độ cẩn trọng của một người con dân không dám hoài nghi báng bổ tất cả những tín ngưỡng của đồng bào, tiên tổ. Trái lại thái độ muốn chân thành thông cảm. Thái độ một văn nhân truyền thống tìm đến những thắng cảnh của đất nước, mở rộng tâm hồn chờ đón những cảm giác thi vị đã từng rung động bao nhiêu tâm hồn ông cha.

Cái phần quốc bảo quốc tuý ấy, Phạm Quỳnh thấy rõ rệt hơn trong cái xã hội nho học truyền thống của ông cha. Tỷ như cái lý tưởng đạo đức của người học trò áo vải mà ngay thế hệ ông còn thấy tấm gương ở một nhà nho như Nguyễn Bá Học. Nguyễn Bá Học khi chết trối lại bốn chữ  “Bảo tồn quốc tuý”, mà Phạm Quỳnh trong bài điếu văn đã nhận lấy làm cái chủ nghĩa của cả nhóm Nam Phong: “Ôi! Bảo tồn quốc tuý đó chính là cái chủ nghĩa của anh em chúng tôi, nhưng từ trước đến nay chúng tôi khổ vì chưa biết cái quốc tuý ở đâu mà bảo tồn. Văn chương mỹ thuật là cái tinh hoa trong một nước, văn chương nước mình nghệ thuật nước mình, tưởng không có gì sánh bằng người ta. Phong tục lễ giáo cũng là tinh tuý trong một nước, phong tục nước mình, lễ giáo nước mình thật cũng không có gì đặc sắc hơn thiên hạ. Vậy thời quốc tuý ở đâu mà bảo tồn. Nay xét thân thế cụ mới biết là quốc tuý chính là ở đó, quốc tuý chính là cái đạo tu thân xử thế của các bậc hiền nhân quân tử nước nhà, quốc tuý chính là cái cách căng trì cẩn thủ (giữ gìn cẩn thận – PT chú) sửa mình ở đời, làm sao cho khỏi thẹn với người trước, làm sao cho thực hành được cái lý tưởng đạo đức của các bậc thánh hiền trong nước vậy”.

Tỷ như cái chí về thế đạo cương thường của nho gia, lòng nhiệt thành của các cụ đối với những nghĩa cả ở đời: “Cái chí của các cụ thật là bền mạnh vô cùng, ai đã chuyên tâm về sự học hành là cũng có bụng về thời thế, cũng mong có ngày đem tài mình ra thi thố với đời, giúp cho dân, phù cho nước. Dẫu có muốn hiển đạt cho mình cũng là để cho tới địa vị có thể suy khứ được thời thế, biến hoá được nhân tâm, để ra công phù trì cho thế đạo, chỉnh đốn lấy cương thường. Chính cái tinh thần đạo đức xã hội ấy đã khiến nước ta sinh tồn được đến ngày nay, từng trải biết bao nông nỗi gian nan mà không đến lụn bại”. (Thơ cho bạn).

Tỷ như cái học phong sĩ khí của người xưa. “Ngày nay đã thành một câu cửa miệng hễ nói đến sự học ngày xưa là chê hủ lậu. Nhưng phải biết rằng hủ lậu là ở cái học chế sai lầm mà thôi chứ đến cái học phong sĩ khí đời xưa thì thật là thịnh là cao. Thử hỏi khắp trên mặt đất có nước nào có người 50 tuổi vẫn còn đi học, 60 tuổi vẫn còn đi thi như nước ta thời xưa không. Vẫn biết rằng lối học cử nghiệp chẳng ra gì nhưng mà cái lòng nhiệt thành về sự học, cúc cung tận tuỵ về nghiệp học như thế há chẳng đáng phục đáng trọng lắm dư? Thử hỏi có nước nào mà cái tên học trò quý bằng ở nước ta không? Các cụ ta ngày xưa đã đem mình theo nghiệp học thì như là dốc lòng tin một cái đạo, già đời cũng không bỏ, bạc đầu cũng không sai, mà học như  thế để làm gì, để trước là sửa mình, sau là tề gia, sau nữa là trị nước. May mà làm nên thì công hầu đấy khanh tước đấy, đem cái tài học của mình mà ra phò giúp nước, chẳng may không làm nên thời thiết trướng dạy học trò, làm thầy đồ gõ đầu trẻ, cũng đem được cái học bình sinh vun trồng cho bọn hậu tiến, duy trì được xã hội, gia đình. Nhưng dù làm nên dù chẳng làm nên, cũng đã sửa mình được ngay thẳng, gây được cái nhân cách thanh cao, không bao giờ phạm tội với danh giáo, làm phí mất cái tiếng học trò. Ấy cái chí khí của kẻ sĩ nước ta ngày xưa như thế, ai bảo rằng không chính đại quang minh” (Nam Phong, số 79). Tóm lại “cái phong tục học hành khắc khổ mà ít vụ lợi lộc, cái khí cao thượng và nghiêm ngặt đối với danh giáo công luận” chính là những cái theo Phạm Quỳnh khiến cho nước ta gần đây thua sút mà không đến nỗi bại hoại, còn giữ được cái phong thể một nước có kỷ cương, có trật tự, có quốc tuý có tinh thần.

Ngoài ra còn bao nhiêu điều hay nếp quý khác. Như cái tinh thần gia độc của xã hội Đông phương cần thiết để đối phó với chủ nghĩa cá nhân bắt đầu truyền vào xã hội Việt Nam. Nhân bình luận tiểu thuyết Les Roquevillards của H. Bordeaux (Nam Phong, số 2) ông nhận xét: “Ngày nay tôn giáo mỗi ngày một suy, triết lý không còn gì bằng cứ, nhân tâm không biết lấy đâu làm bờ bến. Nếu không có gì làm quy tắc thì lòng người phất phơ, xã hội nguy hiểm. Đoái đi xét lại duy có gia đình là còn có thể giúp cho xã hội duy trì được. Nếu biết gây dựng cho bền chặt, trên liên tiếp với người đời trước dưới mở đường cho người đời sau, lấy tình sâu nghĩa nặng mà buộc nhau, chung đúc thành một khối, thì thời thế nào suy đi được, phong trào nào lay chuyển được”.

Lại như trong nếp sống dân tộc, cái tinh thần điều hoà thật tế với siêu việt, cái hồn thơ dung dị khả ái của bình dân. Mơ màng nghĩ tới “Nước Nam 50 năm về sau”, ông thổ lộ: “Tôi không thể sao tưởng tượng rằng cái đạo Khổng khôn ngoan kia, cái đạo Lão siêu việt kia, cái thi vị thâm trầm nó chan chứa trong những bài dã ca, khúc cổ điệu của nước nhà kia, khác nào những cái hồn thơ phảng phất của một giống vừa biết trọng thực tế mà cũng vừa biết ham mơ màng, đời đời cày sâu cuốc bẫm nhọc nhằn trên thửa ruộng của ông cha, nhưng nghe con chim oanh học nói, thoảng chút gió đông thổi qua cũng biết rùng mình mà cảm động, tôi không thể tưởng tượng những cái đó có ngày sẽ biến mất hẳn đi được. Cái hương hoả của nòi giống đó sau này sẽ sáp nhập vào một cái hình thể văn minh mới”. (Nước Nam trong 50 năm nữaNam Phong  số 154).

Trong một xã hội Âu hoá hấp tấp, bày ra lắm cái nhố nhăng trắng trợn, Phạm Quỳnh đi mơ tưởng cái hồn phong nhã của người xưa, cách giao tế ung dung, lễ độ của người quân tử, những thú chơi cầm kỳ thi hoạ của bậc hào hoa, tất cả đều có thể coi như thuộc cái phần quốc tuý mà ông muốn bảo tồn cho xã hội Việt Nam.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: