Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 15, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P6: Bảo thủ với tiến hoá)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:26 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 4 tháng 7 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 6: BẢO THỦ VỚI TIẾN HOÁ

 3. Bảo thủ với tiến hoá

Theo Phạm Quỳnh, thái độ bảo thủ chẳng phải chỉ là thái độ của người tha thiết với quá khứ, với những gì gọi là quốc tuý của dân tộc. Nó còn là thái độ của người lo cho tương lai, cho sự tiến hoá của xã hội. Trong một bài bàn về Bảo thủ và tiến bộ (Nam Phong, số 156), ông giải thích như sau:

“Người ta ai cũng thay đổi, dân tộc nào cũng phải tiến hoá. Phép sinh hoạt như thế mà sự thực hiển nhiên cũng như thế. Lại sự tiến hoá ấy càng ngày càng khuynh hướng về Âu châu, đó cũng là cái thế hiển nhiên như vậy. Phong trào mãnh liệt, cả cõi Á châu như bị lôi chuốn vào trong làn sóng đó, muốn đi trái ngược lại thì thật là vô ý thức. Nhưng cái phong trào ấy, tuy không thể ngăn lại được mà hoặc có thể khai đạo, hướng dẫn, điều độ để giữ cho được tuần tự êm đềm không đến nỗi nhất đán thay đổi cả những phong tục tập quán, tư tưởng chế độ, khiến cho cuộc sinh hoạt trong dân trong nước bị đảo điên nhiễu loạn cả. Phải làm thế nào cho trong cuộc tiến hoá luôn luôn đó, xã hội vẫn vững vàng yên ổn”.

Muốn vậy, theo Phạm Quỳnh, người có trách nhiệm với xã hội phải đem khuynh hướng bảo thủ châm chế với khuynh hướng cấp tiến. Ông viết:

“Hai nghĩa bảo thủ cùng tiến hoá không tất nhiên là phải trái nhau. Nếu hiểu theo cái ý nghĩa tuyệt đối thì là hiểu nhầm. Bảo thủ chính là để giúp cho tiến hoá được chắc chắn và được công hiệu hơn. Lẽ sinh tồn hoạt động không phải là một câu chuyện bình thường dung dị, thật là phiền phức mà phải chiết trung, châm chước luôn. Ở đời có thể vừa bảo thủ vừa tiến thủ được. Chỉ cần phải khéo léo điều hoà, khéo pha hợp cho đúng điều độ, khéo giữ lấy mức cân thăng bằng, giữ lấy thái độ trung dung giữa hai khuynh hướng cốt yếu của loài người là một bên muốn giữ bền một bên muốn thay đổi, một bên muốn bảo tồn lấy cái bản thể của mình lại một bên muốn tiến hoá cho thích hợp với hoàn cảnh”.

Đặt vấn đề cho riêng nước Nam, ông nói: “Không phải là tôi tự phụ rằng nước Nam đã có một cái văn hoá hay tốt đẹp gì hơn người, cũng không phải tôi mê muội mà không biết cái công khai hoá của Tây phương trang nghiêm vĩ đại là dường nào. Chỉ là vì am hiểu thực tế mà biết rằng sự đời cần phải điều độ dần dà, không nên vội vàng hấp tấp, đi gấp độ đường”.

“Muốn tiến hoá phải căn cứ ở một cái nền gốc chắc chắn tức là cái gốc chủng loại dân tộc của mình chứ không phải bỗng không mà tiến lên được. Nước Nam cần phải tiến hoá và phải tiến hoá theo Âu châu, đó là một lẽ tất yếu, một vấn đề sinh tử nữa. Nhưng tiến hoá không phải là đi từ chỗ không mà bước lên được. Ở chỗ gốc phải có cái gì đã. Cái gì đó là gồm cả cuộc ký vãng của dân tộc. Hiện tại và tương lai của dân tộc thế nào cũng là tuỳ thuộc ở đó.”

Như vậy, nói chung bảo thủ chỉ là một thái độ khôn ngoan, thật tế, một đường lối cần thiết để cho cuộc tiến hoá có một cái gốc, cho xã hội khỏi lật nhào. Bảo thủ ấy là dung hoà, là làm cho xã hội tiến hoá một cách hữu hiệu và tốt đẹp.

Thái độ bảo thủ không những cần thiết cho sự tiến hoá ở chỗ đó, mà theo Phạm Quỳnh còn cần cả cho việc thâu thái, đồng hoá những cái hay cái tốt bên ngoài là một mục cốt yếu của sự tiến hoá. Trong bài Giải nghĩa việc đồng hoá (Nam Phong, số 163) ông viết: “Đồng hoá là tăng bổ cho mình chứ không phải tiêu nhập vào người, cũng không phải ruồng bỏ của mình, đồng hoá không tất nhiên là phải bài trừ những cốt cách tinh thần của giống nòi mình. Trái lại, muốn đồng hoá cho thiết thực cho bổ ích, thì phải có căn bản chắc chắn của đời trước để lại, rồi mới nhân đó mà tài bồi mà tăng bổ thêm lên, tập lấy những cái tính hay tính tốt của người, để giúp cho cái gốc của mình tiến hoá lên, khác nào như tiếp cho một chất men mới để nó nẩy nở ra vậy”.

Trong cuộc tiếp xúc với Tây phương, người ta chỉ đua đòi bắt chước người, cóp nhặt những khuôn mẫu của người và coi đó làm sự tiến bộ. Song phải biết rằng:

“Sự tiến hoá muốn cho được thực có ích lợi tất phải giữ lấy cái nền nếp cũ của quốc gia, giữ lấy cái tinh thần cũ của dân tộc, không nên làm cho dân này nước này đến mất cốt cách tinh thần đi, mà phải giúp cho biết tự nhận chân mình, giúp cho tài bồi cái cốt cách của mình, để cho vừa sống được trọn cái đời riêng của mình, vừa tiếp đón được cả các phong trào lớn đời nay”.

Như vậy, việc ý thức cái cốt cách, cái cá tính, cái bản ngã mình để mà bảo vệ mà tài bồi thật là tối cần. Nó chỉ có thể có với dân tộc nào hoặc với những ai quay về mình còn thấy cái gì cho là đáng quý đáng yêu, nghĩa là còn có tinh thần bảo thủ, không có nó, người ta sẽ trôi dạt đến chỗ bơ vơ mất gốc. Có nó, người ta có thể chống chọi lại mọi mưu mô quyến rũ từ ngoài, mọi mặc cảm tự ti từ mình. Vấn đề đặt ra cho cả dân tộc cũng như cho mỗi cá nhân. Ta hãy nghe Phạm Quỳnh, con người bảo thủ ưu đẳng, khảng khái xác nhận cái ý thức về bản ngã ấy của ông, đứng trước văn minh Tây phương:

“Tôi rất cảm phục văn hoá nước Pháp. Trong cái sự nghiệp trí dục của tôi, tôi sở đắc của văn chương học thuật nước Pháp nhiều, tôi không có bội bạc mà nói rằng tinh thần nước Pháp không ảnh hưởng gì đến tư tưởng riêng của tôi. Nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng tôi biến thành người Pháp được. Người Pháp là người Pháp, tôi vẫn là tôi. Tôi càng đọc sách Pháp, càng cảm những lời lẽ hay của các bậc đạt nhân quân tử bên nước Pháp thì tôi lại càng nhận được cái bản ngã của tôi, càng muốn ra công gắng sức tài bồi cho nó được phát đạt, nẩy nở ra. Tôi không muốn đem cái hồn của tôi mà hy sinh đi để biến hoá theo người, dù nó có yếu kém, tôi cũng quý hoá chắt chiu, vì nó là của tôi”.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: