Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 21, 2011

Nhân nhà văn Sơn Tùng được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:51 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 5 tháng 7 năm 2011.

NHÂN NHÀ VĂN SƠN TÙNG ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LAO ĐỘNG

MỘT “BÚP SEN” NGỜI SÁNG

 

Tường Minh

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Trang nhất báo Nhân Dân sáng 17/7/2011 đưa trang trọng bản tin: Phong tặng nhà văn Sơn Tùng danh hiệu Anh hùng Lao động

“Ngày 14-7, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định số 1083/QÐ- CTN phong tặng nhà văn Sơn Tùng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động, vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sáng tạo, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà văn Sơn Tùng (tên thật là Bùi Sơn Tùng), sinh năm 1928, quê tại xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông sớm tham gia Cách mạng từ năm 1944 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã trải qua hoạt động trong công tác thanh niên và báo chí. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông là phóng viên chiến trường tại Nam Bộ và bị thương nặng năm 1971.

Sau khi đất nước thống nhất, là thương binh hạng 1/4, với nỗ lực của bản thân, ông đã vượt qua những khó khăn của di chứng thương tật để tiếp tục hoạt động sáng tác văn học với hàng chục đầu sách, trong đó có 14 đầu sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nổi tiếng nhất là các tác phẩm: Búp sen xanh, Bông sen vàng, Hoa râm bụt… Riêng tiểu thuyết Búp sen xanh được tái bản hơn 20 lần từ năm 1982 đến nay với số lượng xuất bản lên tới gần một triệu bản và đã được dịch ra tiếng Anh phát hành ở nước ngoài. Các tác phẩm của ông đã tác động sâu sắc đến nhận thức, tư duy và tình cảm của nhiều thế hệ bạn đọc, nhất là lớp trẻ.”

Tác phẩm đã xuất bản: Chim én mùa xuân (diễn ca, 1962); Nhớ nguồn (tập truyện, 1974); Búp sen xanh (tiểu thuyết, 1982, tái bản nhiều lần); Mẹ về (tập truyện, 1990); Hẹn gặp lại Sài Gòn (kịch bản phim, 1990); Từ làng Sen (truyện tranh, 1990); Bác về (truyện ký, 1990); Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh (2004); Bác ở nơi đây (ký, 2005); Nguyễn Ái Quốc trong ký ức bà mẹ Nga (tập truyện, 2007); Bên khung cửa sổ (tập truyện và ký, 1974); Lõm (tiểu thuyết, 1994); Vườn nắng (truyện vừa, 1997); Nguyễn Hữu Tiến, người vẽ cờ Tổ quốc (truyện, 1981); Anh hoạ sĩ mù (truyện, 1981), cùng nhiều tập truyện và tiểu thuyết khác.

Giải thưởng văn học: Giải thưởng đặc biệt cho tác phẩm Búp sen xanh.

Trong quá trình sưu tầm tư liệu để viết 14 đầu sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Sơn Tùng đã tìm được những  tư liệu quí hiếm về Thượng Chi – Phạm Quỳnh, vốn gắn bó với Nguyễn Ái Quốc – từ thời thanh niên đang đi tìm đường cứu nước. Năm 1992, Viện Văn học dự định mở hội thảo về nhà báo, nhà văn Phạm Quỳnh, nhà văn Sơn Tùng đã đăng ký tham dự để công bố tư liệu “động trời” là Hồ Chủ tịch phản đối sát hại học giả Phạm Quỳnh. Nhưng rồi hội thảo hoãn vô thời hạn. Biết chuyện, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã liên lạc với nhà văn, nhưng không may, phải lúc nhà văn lâm bệnh nặng, không tiếp được, Mãi sau này, đến năm 2008, ông mới có sức, có thời giờ chép tay hẳn 20 trang tư liệu về “bậc danh nhân văn hoá” Thượng Chi – Phạm Quỳnh và “ký thác” cho nhạc sĩ và đồng ý cho công bố trên Blog PhamTon. Đó là Tư liệu của nhà văn Sơn Tùng về mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Thượng Chi – Phạm Quỳnh mà chúng tôi đã công bố từ 2/2009 chia thành các phần: Phần I: “Bất tất nhiên”; Phần II: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì? (…) đó không phải là người xấu”; Phần III: “Lúc này còn cụ Phạm Quỳnh thì…” Và phần IV: Nguyễn Ái Quốc đích thân tổ chứcBữa cơm Bắc, thết khách Bắc”.

Nhân dịp này, chúng tôi xin trích đăng bài của bạn Tường Minh đăng trên trang 9 báo Văn Nghệ số 21 ngày 21/5/2011 với hai ảnh của chúng tôi. Và bài của Phạm Xuân Nguyên Sơn Tùng nhà văn chiến sĩ đăng trên trang 13 báo Tuổi Trẻ số 191/2011 (6588) ra ngày 18/7/2011

*

*          *

Búp sen xanh của Nhà văn thương binh nặng Sơn Tùng xuất bản năm 1982, đến nay đã tái bản và nối bản tới ba chục lần: Lần đầu là tám vạn, lần hai mười vạn, rồi sau thường năm ngàn, ba ngàn, hai ngàn,… Gần đây, Búp sen xanh đã được đưa vào Tủ sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng, tái bản, nối bản một năm vài lần, và được dịch sang tiếng Anh, in song ngữ Anh – Việt tại các nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Kim Đồng, Văn hoá – Thông tin…

(…) Ngoài Búp sen xanh, những tác phẩm khác của nhà văn Sơn Tùng viết về đề tài về Hồ Chí Minh, đề tài danh nhân và nhiều cuốn khác (21 cuốn) cũng được tái bản từ ba đến năm lần…

Văn Sơn Tùng khởi thuỷ từ tình yêu cha mẹ, quê hương, thầy học, đồng bào, đồng chí, yêu cả những con người bần cùng sống ở dưới đáy xã hội nhưng vẫn ngời sáng một nhân cách, một đạo lý. Sơn Tùng có một linh giác lạ lùng! Viết văn, viết sử dưới hình thức tiểu thuyết mà không cần hư cấu. Và, một văn phong giản dị, dễ hiểu, nhưng lại nhiều tầng ngữ nghĩa hoà hợp… cứ thế ngấm sâu vào lòng người đọc, có sức lay động, lôi cuốn cảm hoá con người rất lớn, “Các bậc thiên tài không có sẵn, chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thuỷ tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người đi vào đời”. Chẳng thế mà bạn đọc đủ mọi lứa tuổi đã xem Búp sen xanh như sách gối đầu giường.

(…) Cả cuộc đời Nhà văn Sơn Tùng khát khao đến cháy bỏng là viết về Bác Hồ một cách trung thực. Để làm được điều đó, ong đã lặn lội trong nhân dân để lấy tư liệu, dẫu cho 14 vết thương do đạn M79 thi nhau hành hạ mỗi khi trời trở gió,… Mỗi ngày qua, Sơn Tùng kiên nhẫn luyện tập để giảm bớt nỗi đau như cứa vào thần kinh, thấy tiếng nói to mà ngỡ bên tai súng nổ, rồi máu từ những vết đạn còn găm lại rỉ ở tai, ở đầu, loang đỏ tấm áo sơ mi trắng… Chiến tranh kết thúc nhưng vết thương trên cơ thể con người thì đâu dễ buông tha…

Có được tư liệu rồi, Sơn Tùng tự rèn cách sống gắn với Bác Hồ – một lối sống gần gũi với nhân dân. Tờ mờ sáng, ngồi viết bên chiếc bàn gỗ chữ nhật to cũ kê bên cửa sổ, nhìn xuống đường thấy có hai mẹ con đến cời phế thải ở thùng rác gần cột điện, Nhà văn Sơn Tùng xuống thương cảm chia sẻ… Mẹ con người ăn mày cảm động, ngước nhìn, chỉ tay lên ô cửa kính:

–          Có phải nhà ông ở khung cửa sổ sáng đèn kia không?

Và, mỗi ngày mẹ con người ăn mày nọ đâu biết, họ là nguồn cảm hứng nuôi dưỡng cho những trang viết của Sơn Tùng cắm rẽ sâu hơn vào lòng bạn đọc…

Nhà văn Sơn Tùng nói chuyện về Bác Hồ hay lạ lùng. Ông có thể nói liên tục suốt nhiều giờ, nhiều ngày liền trong một tuần mà không cần giấy tờ, tài liệu gì cả, vậy mà vẫn chính xác đến từng năm tháng, ngày, giờ… Nghe ông nói chuyện Bác Hồ, ta cảm thấy như được bước vào thế giới những trăn trở của Người, để rồi từ đó hiểu và thấm thía hơn nỗi lòng của Bác với dân với nước… Có lần Sơn Tùng nói chuyện ở Câu lạc bộ Thăng Long, vừa rời bục diễn giả, nữ anh hùng Nguyễn Thị Chiên chạy đến quàng tay ôm chặt lấy ông mà rưng lệ. Do quá sức, về tới nhà, vết thương lại tái phát, một tuần liền Nhà văn Sơn Tùng chỉ húp nước cháo và ngoạ thiền.

 Sơn Tùng là một nhà văn có một khối kiến thức rất sâu rộng về những tư liệu liên quan đến Bác Hồ và sự nghiệp Cách mạng của Người. Nhiều tư liệu ông có được từ chính ông Cả Khiêm và bà Thanh (Anh và Chị ruột của Bác). Dường như ông nhận được sứ mệnh thiêng liêng là phải nghiên cứu, phải viết về Bác. Nhiều ký giả, học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài: Mỹ, Nga, Nhật, Pháp, Hàn Quốc đã tìm đến nhà gặp Sơn Tùng để tìm hiểu thêm về Hồ Chí Minh, như: Ku Su Joeng, Bang Huyn Suk (Hàn Quốc), Yutaka Aramaki (Nhật Bản), Kathleeen Callo – Reuters (Anh Quốc), Barry Wan (Úc Đại Lợi), C. Davi Thomas MFA (Hoa Kỳ), Lady Borton (Mỹ Quaker)… Mỗi lần đến làm việc với ông, họ thường muốn được ngồi bệt xuống nền nhà để ăn bữa cơm Việt Nam dân dã thường ngày cùng với nhà văn…

Sơn Tùng thường kể lại câu chuyện bài báo về em Hoa Xuân Tứ ông viết cho mục những tấm cương “Người tốt việc tốt” ở báo Thiếu niên Tiền phong mấy chục năm trước. Sau khi bài báo công bố, ông được Bác Hồ mời lên gặp, trò chuyện rất nhiều về những con người tàn nhưng không phế như Hoa Xuân Tứ, và sau đó em Hoa Xuân Tứ trở thành đại biểu nhỏ tuổi nhất được mời  đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm đó, được ngồi trên ghế chủ tịch đoàn và được chụp ảnh với Bác Hồ. Sau này, khi bị thương tật, Sơn Tùng đã rưng rưng nhớ lại câu nói của Bác Hồ: “Cơ thể con người ta hễ mất đi một bộ phận nào là không thể mọc lại được… Phải phấn đấu tàn nhưng không phế”. Lời Bác là nguồn sáng, và những tấm gương của các em Nguyễn Ngọc Ký, Hoa Xuân Tứ,…lại nhập vào để làm gương cho Sơn Tùng phấn đấu vươn lên. Cảm nhận được lòng Bác yêu dân, lòng dân là lòng Bác, Sơn Tùng viết: “Nước dưới sông có khi đầy khi cạn/ Trăng trên trời khi tỏ, khi mờ/ Lòng dân ta đối với Bác Hồ/ Vẫn tròn vành vạnh như chiếc nói bài thơ em đội đầu.” (Gửi em chiếc nón bài thơ – 1955)…

Nhà văn Sơn Tùng viết như hoá thân, nhập hồn, nhân vật văn học như thể được thoát ra từ nỗi đau máu thịt, từ tư liệu sống động của cuộc đời thực. Tất cả cứ tuôn chảy vượt qua nỗi đau thường trực trên cơ thể của Sơn Tùng, để rồi bật ra gần như một sức mạnh tiềm ẩn. Không có cái tâm thì không thể viết được như thế. Son Tùng quả thực có một tình yêu sâu rộng với con người với bạn bè và với tất cả cuộc đời. Có lẽ chính vì thế mà ông đã truyền được cảm xúc đến cho người đọc trong những tác phẩm của mình…

Thủ tưởng Phạm Văn Đồng xúc động khi đọc Búp sen xanh: “Nhà văn chỉ còn ba ngón tay mà vẫn bám vào đời viết…” và “Cuốn Búp sen xanh nêu lên một vấn đề: ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Vấn đề này các đồng chí hoạt động trong các lĩnh vực văn học và nghệ thuật và nói chung tất cả chúng ta cần suy nghĩ để có thái độ. Song ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng rất lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân” (1-1983) Sắp bước vào tuổi tám mươi ba, với một tấm lòng trong sáng và một nghị lực phi thường chống lại thương tật, kiên trì gần 30 năm, bao giờ cũng vậy, Nhà văn Sơn Tùng dậy từ 2 giờ sáng thiền, đi quyền, thể dục, tắm, thắp hương bàn thờ Bác Hồ và gia tiên, đun nước pha trà, rồi mở đài lắng nghe các nốt nhạc Tiến Quân Ca vang trong mơ hồ khói hương mà ngỡ như gặp cố nhân. Ăn sáng qua loa, Sơn Tùng ngồi vào bàn viết,… rồi khách đến. Buổi trưa, cũng chỉ lưng cơm rau với vài ba miếng thịt, ngả lưng một chút lại có khách… Khi viết, người ta thường phải tập trung cao độ, phải dẹp đi tất cả. Nhưng, tiếp khách từ sáng đến chiều mà Sơn Tùng vẫn ra được sách. Thật kỳ lạ!… Nhà báo Ku Su Joeng (Hàn Quốc) sau khi làm việc với ông đã phải thốt lên: – “Bác Sơn Tùng là pho lịch sử sống ở thế kỷ XIX”… Còn nhà điều khắc Trần Tuy thì đã hết sức cảm phục viết lời để tặng pho tượng chân dung của ông: “Bức tượng được tạc bởi sự khâm phục năng lực sáng tạo, ý chí sống khoẻ, sống đẹp của Nhà văn Sơn Tùng”…

Còn với tôi, ông cũng giống như một búp sen ngời sáng, bông sen trong triết lý của nhà Phật, tinh khiết, thanh cao. Phật dạy: “Kẻ thù nguy hiểm nhất của đời người là chính mình”… Nhiều lúc chứng kiến cảnh ông cắn răng chịu đựng vết thương khi trái gió trở trời, hai tay cứ bấu chặt vào mép bàn viết, không một tiếng rên la, tôi hiểu Sơn Tùng đã chiến thắng được kẻ thù đó…

T.M.

SƠN TÙNG

NHÀ VĂN CHIẾN SĨ

Phạm Xuân Nguyên

Để nói về ông, nhà văn Sơn Tùng, không có gì đúng bằng và hay bằng bốn chữ ấy.

Bởi cuộc đời ông, từ trong máu thịt và tâm khảm, ngay từ những ngày còn nhỏ đã toát lên ý chí chiến sĩ đấu tranh cho cái đẹp, cái đúng của cuộc sống và con người. Chàng trai sinh năm 1928 ở một làng quê Nghệ An giàu truyền thống nhân nghĩa và văn chương đã cầm bút như cầm súng khi bước vào nghề báo. Và khi anh ra chiến trường, cây súng của anh vẫn chính là cây bút. Cây bút trong tay Sơn Tùng luôn nhắm trúng một mục tiêu: diệt cái xấu, cái ác, bảo vệ cái tốt, cái đẹp.

 Bởi hành trình của ông là hành trình của một chiến sĩ trên mặt trận văn chương, văn hóa. Bị thương ở chiến trường Đông Nam bộ, xếp hạng thương binh 1/4, đi lại khó khăn, ăn uống khó khăn, thương tật và bệnh tật luôn hành hạ ông, nhưng kỳ lạ trong tấm thân nhỏ bé của người thương binh từ tuổi trẻ ngày nào cho đến ông lão ngoài 80 tuổi hiện nay luôn cháy rực ngọn lửa của tình yêu thương và trách nhiệm. Ông đã dồn toàn bộ tâm lực của mình vào những trang viết về một mảng đề tài hấp dẫn, lý thú nhưng đầy thử thách, có cả nguy nan: viết về những nhà cách mạng hiện đại.

Sơn Tùng viết về bà Đặng Quỳnh Anh – người nuôi giấu cán bộ cách mạng ở Thái Lan, về anh bộ đội Lê Duy Ứng bị mù mắt lấy máu vẽ hình Bác Hồ trên đường tiến quân giải phóng Sài Gòn… Nhưng trên hết, Sơn Tùng đã khai mở một hướng viết mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa với tư cách lãnh tụ của đất nước, nhân vật lịch sử của thời đại, vừa với tư cách một con người bình thường, một người con xứ Nghệ.

Tiểu thuyết Búp sen xanh ông viết về tuổi thơ và tuổi thanh niên của Bác Hồ, trong giai đoạn hình thành nhân cách một vĩ nhân, đã gây nhiều chiều dư luận khi mới xuất bản do sự đan cài tư liệu lịch sử và hư cấu, và cái chính do một quan niệm đối với sáng tác văn học về nhân vật lịch sử lớn, lại là nhân vật thời hiện đại. Nhưng tác phẩm đó đã vượt thời gian, được tái bản hơn mười lần với gần nửa triệu bản sách được in. Từ đấy, ông đã có thêm những tác phẩm khác viết về Bác Hồ sinh động và sâu sắc, không chỉ có giá trị văn chương mà còn cả giá trị sử học.

Gọi Sơn Tùng là “nhà văn chiến sĩ” cũng bởi trong tâm trí ông chưa bao giờ nguôi ngoai những nghĩ suy, trăn trở, thao thức về những vấn đề của nhân dân, đất nước. Ai có dịp được diện kiến ông trong căn hộ nhỏ chật hẹp ở khu Văn Chương (Hà Nội) sẽ được ông truyền cho nhiệt huyết và quyết tâm bằng những câu chuyện được nói ra, bằng những ý tưởng được nêu lên, qua giọng nói sôi nổi, dõng dạc của ông, bất chấp sức khỏe suy yếu. Ông quên hoàn cảnh của riêng mình, quên vết thương của riêng mình, để chia sẻ nỗi buồn và nỗi đau trước thực trạng xã hội còn nhiều điều bức xúc, nổi cộm.

Danh hiệu Anh hùng lao động được trao cho Sơn Tùng là một sự tưởng thưởng xứng đáng cho ông. Đây cũng là một kỷ niệm đẹp cho mối quan hệ tình cảm đồng chí anh em thân thiết, một biểu hiện tình người cao đẹp giữa vị Chủ tịch nước và một công dân. Họ vốn là đồng đội của nhau ở chiến trường, nhà văn vốn là cấp trên của Chủ tịch nước. Vị nguyên thủ quốc gia đã từng gọi nhà văn là “đại sư phụ” của mình. Danh hiệu này, vì thế, còn mang một ý nghĩa nhân văn cao cả, đáng quý thời nay.

Chúc mừng nhà văn Sơn Tùng được phong anh hùng mà tôi lại nghe vẳng lại lời ca bài hát Gửi em chiếc nón bài thơ do nhạc sĩ Lê Việt Hòa phổ nhạc bài thơ ông làm trong dịp tham dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới lần thứ 5 (1955).

P.X.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: