Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 28, 2011

Bức thư của Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan nhân đọc bài của Nguyễn Đình Khoa trên Sài Gòn Nhỏ (P1)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:11 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 1 tháng 8 năm 2011.

BỨC THƯ CỦA TIẾN SĨ SỬ HỌC NGUYỄN VĂN KHOAN

NHÂN ĐỌC BÀI CỦA NGUYỄN ĐÌNH KHOA TRÊN SÀI GÒN NHỎ

Nguyễn Văn Khoan

Kính gửi Blog PhamTon,

Xin cám ơn đã cho tôi đọc bài của Nguyễn Đình Khoa trên Sài Gòn Nhỏ. Đây là một bài viết có chừng mực, cân nhắc, gợi ra cho tôi những bước đường đi tiếp trên con đường…dài dài.

Kể từ năm 2002, năm nào có dịp, hoặc tranh thủ chủ động, tôi vẫn vào Huế đi tìm những “nút gỡ” cho công việc của mình trong “Vụ Phạm Quỳnh”.

Tôi nghĩ không nên đặt vụ này trong bối cảnh hẹp của Thừa Thiên – Huế tháng 8, tháng 9 năm 1945, trong một Ủy ban Khởi nghĩa do Đảng Cộng Sản Đông Dương chỉ định/ tổ chức bầu – với người đứng đầu Ủy ban có quyền “tối hậu quyết định” là một thanh niên 25 tuổi đầu, một nhà thơ, mới bước lên thi đàn thơ mới, mất liên lạc lâu với Trung ương,  có lẽ (?) chưa được đọc toàn văn Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, không dự Hội nghị Tân Trào, chưa từng gặp mặt Nguyễn Ái Quốc… Phần đầu bức thư của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan

Có thể phải đặt “vụ Phạm Quỳnh” vào một không gian lịch sử lớn hơn – lùi về phía trước khi có chủ trương “trí, phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” những năm 1930-1931, rồi “tiến lên” đấu tố trong cải cách ruộng đất các năm 1953-1954-1955, lại đến cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc rồi,  rập khuôn áp vào miền Nam sau giải phóng… Và “Nói thật mất lòng. Nhưng, nói thật vẫn hơn” (lời Phạm Quỳnh), cho đến nay, năm thứ 11 của thế kỷ 21, những tàn dư gần một thế kỷ “giáo điều” ấy, ai dám bảo là không còn?

Giáo điềuđó cũng là một mặt trận mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đấu tranh không khoan nhượng suốt cả cuộc đời cách mạng của mình. Đấu tranh với Quốc tế Cộng sản, đấu tranh với đảng viên Cộng sản Việt Nam từ Ủy viên Trung ương cho đến cơ sở. Hồ Chí Minh không ít lần căn dặn khẩn thiết cán bộ, đảng viên Việt Nam rằng “phải học tập tinh thần (chúng tôi nhấn mạnh) chủ nghĩa Mác – Lênin. Để áp dụng…giải quyết cho tốt (chúng tôi nhấn mạnh) những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1995, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 8, trang 497) Hồ Chí Minh còn liên tiếp cảnh cáo như “mưa dầm thấm đất” phải “học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo (chúng tôi nhấn mạnh) vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta”.

Trong “hoàn cảnh thực tế” của nước ta, một nước bị thực dân Pháp đô hộ– có một thực tế – như nhà khoa học Pháp P.Brocheux đã nói: “là một cuộc đô hộ nhập nhằng” (colonization ambiguë).

“Nhập nhằng” ở chỗ, một phía đàn áp, bóc lột, nhưng phía khác lại “mở tai, mở mắt” – chỉ rất hạn chế, cho người dân. Chính người Pháp đã đào tạo ra nhà bác học Trương Vĩnh Ký “của nước Pháp”, rồi bao nhiêu là Tạ Quang Bửu, Phan Anh, Trần Đức Thảo, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn An Ninh, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di… và cả Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng! Và cũng chính nước Pháp đã tạo “điều kiện” cho một Nguyễn Ái Quốc “tự đào tạo” mình trở nên một người cộng sản chân chính ngay trên đất Pháp, giữa Paris, để…chống lại nước Pháp.

“Nhập nhằng” ấy “lan” sang L.Marty, trùm mật thám Pháp ở Đông Dương. Vừa “săn bắt” giam cầm tù cộng sản, L.Mácty lại “tài trợ” cho Phạm Quỳnh ra Nam Phong tạp chí, tạo điều kiện để Phạm Quỳnh sáng tạo nên một Nam Phong được coi như một “từ điển bách khoa” khi chưa có quyển “bách khoa” nào ra đời. Và Phạm Quỳnh – một người dân “anamít” -theo lối gọi của Pháp tỏ ý khinh bỉ – hơn nữa còn là “sale anamite – người An Nam bẩn thỉu”, lại ngang nhiên, đàng hoàng đứng trên bục của các “lâu đài văn hóa Pháp ở Paris” diễn thuyết, giảng giải cho các đại trí thức “nước Mẹ Đại Pháp” những điều mà họ không biết bằng người An Nam Phạm Quỳnh. Làm vẻ vang cho dân tộc cho đất nước giữa kinh đô hoa lệ, trung tâm văn hóa của “trung tâm châu Âu”, Phạm Quỳnh có phải là người yêu nước không?

Hồ Chí Minh từng nói “Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước, yêu nước theo cách của mình”. Có cách yêu nước, hy sinh tiết hạnh của Dương Vân Nga để cứu nước cứu dân. Có cách yêu nước của Nguyễn Trãi, mười năm ở Đông Quan, “nước nhiều, cơm ít” vẫn không chịu làm quan cho nhà Minh. Có cách yêu nước của các công chúa Huyền Trân, Ngọc Hân. Và có cả cách yêu nước “chữ HIếu chữ Trung còn một chút này” của Tổng thống Dương Văn Minh trong buổi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã “bàn giao cho dân, cho nước” cả một hòn ngọc Viễn Đông không một vết xước, không bị nhuộm màu đỏ máu…

Louis Marty đã “truyền” cái “nhập nhằng” sang Phạm Quỳnh? Dù “đi với bụt mặc áo cà sa…” nhưng ta vẫn là ta. Có tiền của Louis Marty – thực chất là tiền của dân ta, ra báo giới thiệu văn hóa cổ kim, để như danh từ ngày nay ta dùng là hòa nhập, hội nhập với thế giới trong phương châm bốn chữ “Thổ nạp Âu – Á  (của Phạm Quỳnh). Giả sử – điều không nên đặt ra trong lịch sử – nếu không có Phạm Quỳnh “nhập nhằng” với Louis Marty, chúng ta có hay không bộ “từ điển bách khoa” Nam Phong tạp chí cùng những trước tác khác, nổi tiếng, giá trị của Phạm Quỳnh, để lưu giữ mãi muôn đời trong lâu đài báo chí, văn học, văn hóa Việt Nam?

(Còn tiếp)

N.V.K.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: