Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 28, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P8: Học tiếng Việt)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:58 chiều

Blog PhamTon (năm thứ hai), tuần 1 tháng 8 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 8: VIỆC XÂY DỰNG MỘT NỀN HỌC MỚI

V. VIỆC XÂY DỰNG MỘT NỀN HỌC MỚI

2. Học tiếng Việt

Trở lực thứ hai vấp phải là thế lực đang lên của chữ Pháp là thứ chữ của kẻ thống trị mà sự học tập đem lại cho người ta nhiều quyền lợi cho nên ai cũng ham đua, và sinh thờ ơ với tiếng mẹ đẻ. Trước những dò dẫm để kiến tạo một nền văn Việt cho hay cho đẹp cho giàu, nhiều người nghĩ giản tiện hơn nên sử dụng ngay câu văn Pháp làm câu văn cho cả nước, cũng như nho gia xưa đã lấy văn Hán làm văn quốc gia. Như vậy công việc giản tiện chỉ là truyền bá chữ Pháp cho rộng cho cao để ai nấy đều có thể sử dụng sành sỏi là cả nước có thể bước lên đường tân tiến, khỏi phải mất công gầy nuôi một thứ quốc văn còn đương bập bẹ, lẫm dẫm.

Chủ trương này có nhiều người bênh vực, nhất là trong giới trí thức ở Nam Kỳ. Họ lập luận như sau:

1. Chữ Pháp vốn là thứ văn tự hay nhất, đẹp nhất trong thế giới, quốc văn ta thì hiện nay còn chưa thành, văn tự nghèo ngặt thiếu thốn không đủ dùng, lấy cái đẹp đủ mà thay vào cái kém thiếu chẳng phải là tiện lợi hơn sao?

2. Tiếng Pháp là tiếng thông dụng trong thế giới, kể có hàng trăm triệu người học, người nói, tiếng Việt Nam ta không đầy hai mươi triệu người nói, ngoài bờ cõi Đông Dương không ai biết. Dùng một thứ tiếng có thể thông đồng với cả thế giới chẳng phải tiện hơn là dùng một thứ tiếng chỉ khư khư trong một góc địa cầu hay sao?

3. Nước Pháp là nước cai trị dân ta, tiếng Pháp là tiếng quan thoại trong nước, phải biết tiếng Pháp mới giao thiệp với người Pháp, với chánh quyền Pháp được. Cứ ngày nay thì quốc dân học chữ Pháp dùng tiếng Pháp mỗi ngày một nhiều không những trong giói thượng lưu mà cả ở dân gian. Vậy nên thuận cái phong trào ấy mà dần dần lấy tiếng Pháp thay vào tiếng Việt chẳng là hợp với dân tình và tiện cho đường tiến hoá lắm sao?

Trong một số Nam Phong 1918, Phạm Quỳnh đã đưa ra vấn đề: Chữ Pháp có dùng làm quốc văn được không và trả lời vào lý luận của phe Pháp ngữ như sau:

* Trước hết trả lời vào lẽ cho rằng tiếng Việt thiếu thốn nghèo nàn, ông viết:

“Tiếng Việt nghèo ngặt thiếu thốn không đủ dùng, câu ấy ngày nay đã thành một câu đầu lưỡi, hễ ai bàn đến tiếng ta tất mở miệng ra là nói như vậy, nhưng xét ra cho kỹ thì câu nói hàm hồ lắm. Phàm đã là tiếng nói một nước chưa từng có tiếng nào là không đủ dùng cho người dân nước ấy, vì tiếng nói là một cách giao thông rất yếu cần cho người ta, đã cần dùng tất phải có đủ để mà dùng, không có khi nào tiếng nói trong nước lại không theo kịp trình độ của quốc dân bao giờ. Tiếng nói trong nước nghèo là trình độ quốc dân thấp. Nếu trình độ cao hơn tất tiếng nói phải giầu thêm cho xứng đáng. Nói giầu nghèo cao thấp là lấy cái tỷ lệ ở ngoài mà nói và so sánh với tiếng ngoài mà nói, chứ cứ lấy thứ tiếng của một dân tộc thì không có giầu nghèo cao thấp được. Tiếng nước Nam tất là phải đủ dùng cho người nước Nam. Phàm trí người Việt Nam nghĩ được đến đâu, tiếng Việt Nam tất phải nói được đến đấy, lẽ tự nhiên như vậy. Nay nói rằng tiếng ta nghèo là so sánh với tiếng Pháp, chữ Nho mà nói, nhưng sự so sánh ấy vị tất đã chính đáng. Nếu đem tiếng ta mà dịch tiếng Pháp, nếu đem lời ta mà diễn giọng Tầu, thì chắc là thiếu thốn không sao đủ được. Nhưng thử đem một câu ca dao ta mà dịch ra tiếng Tây, một lời tục ngữ ta mà dịch ra tiếng Tầu, chắc cũng không sao hết ý nghĩa được, như vậy thì chữ Pháp chữ Nho lại nghèo hơn tiếng ta hay sao?

“Phần nhiều nói tiếng Nam nghèo là chỉ vì tiếng ta chưa có đủ những danh từ riêng về cách trí, khoa học, kỹ nghệ, nhưng một tiếng giàu nghèo không phải là ở riêng những danh từ đó. Phàm tiếng nói là trước phải đã biết sự vật rồi nhiên hậu mới đặt tên mà gọi. Mình chưa biết tàu bay là vật gì thì sao đã có tên tàu bay được, mình chưa biết thán khí là vật gì thì sao đã có tên thán khí được? Mình chưa có cái tư tưởng rõ ràng về tự do bình đẳng thì những chữ tự do bình đẳng đã thông dụng sao được? Hễ có biết rộng có nghĩ nhiều thì vật gì đã từng biết, sự gì đã nghĩ tới, cốt là biết cho đích xác nghĩ cho đến nơi, thế nào cũng tìm ra tiếng mà nói cho gọn ghẽ được. Vậy cách trí, khoa học, kỹ nghệ, người mình cứ nên gia công giảng cứu cho thật thông, và thứ nhất là phải có  cái trí muốn đem những điều mình học được nói ra tiếng mình diễn ra lời mình, khiến cho người không học cũng có thể hiểu được, mỗi người mỗi làm như vậy, thiếu chữ gì thì đặt chữ mới cho gọn hoặc mượn chữ ngoài cho tiện dùng, như vậy thì mấy nỗi tiếng Việt Nam lại chẳng phong phú bằng nhiều tiếng nước khác hay sao?”

* Đối với lý lẽ tiện lợi cho sự giao thông, giao thiệp và sự tiến bộ của quốc dân, ông trả lời như sau:

“Giao thông với thế giới không phải là cả hai mươi triệu người Việt Nam cần phải giao thông với thế giới, và giao thiệp với chánh phủ không phải là cả hai mươi triệu người Việt Nam cần phải giao thiệp với chánh phủ. Chẳng qua là một số ít người vì chức nghiệp vì địa vị phải giao thông với nước ngoài, giao thiệp với chánh phủ, thì số ít người ấy cần phải học Pháp văn cho thông, nhưng cũng lại cần phải tập quốc văn cho thạo nữa, mới đủ làm môi giới cho quốc dân, còn phần nhiều người khác, không có lý lấy tiếng Tây mà giao thông với nhau được, không những không có lý như thế, mà dẫu muốn nữa cũng không có thể được. Hiện nay chẳng qua là ở những nơi thành thị, trong một nghìn một vạn người có một vài người thường giao thiệp với người Tây, sính nói tiếng Tây, lấy thế làm tự cao, khi giao tiếp với người mình cũng dùng tiếng Tây mà nói chuyện. Không nói còn những kẻ tập nói tiếng Tây mà nói chưa thành lời, chỉ để loè người không biết, thì chẳng kể làm chi. Còn toàn thể quốc dân quyết không thể nào học chữ Pháp cho phổ thông được. Nhiều người học mà học không thành, dở dở dang dang, thì thà rằng ít người học mà học cho thật đến nơi đến chốn còn hơn. Đến ngày cử quốc (cả nước – PT chú) đều bập bẹ nói tiếng Tây cả, một thứ “tiếng Tây bồi”, như đã từng nghe thấy ngày nay đó, thì thử hỏi quốc dân có tiến bộ chi?”

Phạm Quỳnh không bài tiếng Pháp, trái lại công nhận những cái hay của chữ Pháp, nhưng ông cho rằng chỉ nên coi đó là một môn sinh ngữ dành cho một ít người có khiếu thông minh nên học và học rất cao nữa, để rút tỉa lấy tinh hoa của người. “Còn toàn thể quốc dân không thể học cho khắp được, phải lấy quốc văn làm cơ quan mà dậy những điều tri thức thông thường, một là khỏi mất thì giờ học một thứ tiếng ngoài nửa chừng không dùng đến, hoặc không đủ dùng, thì giờ ấy cứ để mà học những môn phổ thông khác có lợi ích hơn và có thể dạy bằng tiếng nước nhà được, hai là khỏi thành một hạng người mất giống, Tây không ra Tây, ta không ra ta, tiếng ngoài thì học không đủ dùng, tiếng mình thì không biết nữa”.

* Trên hết cả còn một lý do thâm thiết khiến ta phải duy trì tiếng Việt học chữ Việt, ấy là một lý do chính trị:

“Quốc âm là tiếng nói tự nhiên đặc biệt của một giống người, chỉ có giống ấy mới nói được và có nói bằng tiếng ấy mới tỏ được hết tâm tình. Hình như tạo vật sinh ra mỗi giống người khiến cho cái lưỡi uốn ra một cách riêng mà thành ra một giọng riêng, cái óc nghĩ ra một cách riêng mà thành ra một lời riêng, giọng ấy lời ấy giống khác tuyệt nhiên không thế nào theo cho giống hẳn được. Vậy thời quốc âm là cái mối đặc biệt phân cách một giống người với các giống khác, đã là đặc biệt thì phải chỉ riêng cho mỗi giống người, đã riêng cho một giống người thời tất biểu hiện được tâm hồn của giống ấy không có lẫn với giống khác. Cho nên quốc âm tức là một biểu hiện tự nhiên của quốc hồn”.

Duy trì quốc âm chính là duy trì cái quốc hồn, cái tinh thần siêu hình của quốc gia để nuôi lấy mối hy vọng cho ngày mai: “Coi như dân Ba Lan dân Tiệp Khắc bên Âu châu, tuy quốc thể không còn, người một giống làm tôi mấy nước, mà quốc âm vẫn giữ được, nên chủng tộc không đến nỗi mất và nhờ cuộc chiến tranh này (chiến tranh thế giới lần thứ nhất, 1914-1918 – PT chú) lại có tên trên bản đồ thế giới. Nước sống về tiếng nói, tiếng nói còn nước không thể mất được”.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: