Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 5, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P9: Luyện văn xuôi và văn nghị luận

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 8:04 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 2 tháng 8 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 9: VIỆC XÂY DỰNG MỘT NỀN HỌC MỚI

V. VIỆC XÂY DỰNG MỘT NỀN HỌC MỚI

3. Luyện văn xuôi và văn nghị luận

Câu văn Việt không phải xưa kia tổ tiên nho gia ta không từng luyện tập, nhưng các cụ chỉ chuyên về văn vần, làm các bài thi phú ngâm ca, chớ chưa dùng lời Nôm để viết văn xuôi. Nay nhà văn mới quốc ngữ phải làm sao tạo ra được một nền tản văn. Lại trong tản văn ấy phải đặc biệt chú ý luyện câu văn nghị luận. Tại sao? “Vì nghị luận thuyết lý chính là cái phần cốt yếu của học vấn. Học vấn mà không có cái văn nghị luận thuyết lý đích đáng để làm cơ quan đạo đạt truyền bá thì học vấn không thể nào tiến bộ được. Học vấn không tiến bộ được thì không sao mong có một nền quốc học được”.

Phạm Quỳnh phân biệt hai thứ văn: văn nghệ thuật như thi phú xưa hay cả tiểu thuyết mới nữa, đều là loại văn để thoả mãn tình cảm, thứ văn tiêu khiển không bổ ích gì cho sự học vấn; và văn luận thuyết, văn xuôi dùng để diễn giải những lý thuyết về triết lý, khoa học. Về văn nghệ thuật, theo ông, nước ta đã có và có với một trình độ rất cao nữa. Thơ Thanh Quan, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, đều là những gì biện minh cho sự cao đạt tuyệt vời của nghệ thuật. Nước Nam đã không thiếu những thi ông mặc khách đem cây bút tỉ mỉ tạo ra những áng văn chương gấm vóc. Cái thiếu cho nước Nam ngày nay, cái tối cần bây giờ là học thuật mới của Tây phương. Để diễn giải và thâu thái được cái học thuật ấy cần phải tạo ra một cái văn luận thuyết vững vàng. Phạm Quỳnh không chê hẳn văn tiêu khiển nhưng hô hào phải để công xây dựng cái văn học vấn. Ông viết: “Văn tiêu khiển ta đã có ít nhiều, nên vun trồng cho nẩy nở thêm ra, văn học vấn ta tuyệt nhiên chưa có, phải gia công mà xây đắp”. Và “gây dựng tổ chức lấy một cái tản văn thích hợp với đời nay, vừa có cốt cách An Nam mà vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay mà là cái bước đường thứ nhứt trong việc gây dựng một nền quốc học sau này”.

Ông viết: “Thực ra thì tiếng Nam ta từ trước tới nay dùng về lối văn đạo tình hoặc cũng có, dùng về lối văn thuyết lý thì hầu như không từng thấy bao giờ. Nói đến nghĩa lý thì các cụ ta hoàn toàn dùng Hán văn cả, cho tiếng nước nhà là nôm na thô thiển không đủ nghiêm trang sâu sắc để diễn những tư tưởng cao kỳ. Chỉ lúc nào nhàn rỗi ngâm vịnh chơi mới dùng đến tiếng Nôm mà thôi, mà cũng không phải là phổ thông như vậy. Thỉnh thoảng mới có một vài cụ sính quốc âm cao hứng soạn dăm ba bài, nhiều khi cũng không cố ý sưu tập để lưu truyền lại. Thành ra tiếng Nôm tuy cũng giàu có cũng bóng bẩy, không phải kém hèn chi mà cổ lai không bao giờ được cái danh dự dùng làm văn tự để truyền bá học thuật. Danh dự ấy toàn thuộc về chữ Hán cả”. Nay chữ Hán đã lùi vào quá vãng kể cũng đáng vì chữ Hán chỉ là một thứ tử văn, dùng làm một khí cụ để truyền bá một cái tử học (culture morte) không thích hợp với trào lưu tân tiến đời nay. Bởi cho nên ta phải tìm một cái văn khác. Cái văn đó, để truyền bá học thuật mới, quyết không thể như có người đề nghị là Pháp văn được. Bởi vì như đã nói trên, tiếng nước, văn nước có liên quan đến vận mệnh của đất nước, đến tương lai của giống nòi.

Ông viết: “Lời nói tuy là cái áo của tư tưởng nhưng tư tưởng phát biểu ra được cũng nhờ ở lời nói. Tư tưởng thật không thể rời với lời nói được. Nếu mượn lời nói của giống khác thì tức là mượn tư tưởng của giống khác vì là đem cái óc của mình khuôn vào từ điệu cú pháp của người, đem cái hồn của mình nhiễm lấy tính tình phong vị của người, đem cốt cách tinh thần của mình mà hy sinh để chuốc lấy cốt cách tinh thần của người, một là thành công- nhưng thật thành công cũng là ít lắm – thì mình không phải là mình nữa mà thành một bản phóng của người, hai là không thành công thì mình không còn hẳn là mình mà cũng chưa biến thành người, ấy mới dở dang thay.

“Cho nên trừ những dân bán khai còn mộc mạc chưa có văn hoá gì hoặc có thể đồng hoá theo giống khác bỏ cả tiếng nói của mình mà học tiếng người, còn những giống đã có chút văn minh khai hoá, có ngữ ngôn văn tự hẳn hoi, thì nếu nó còn khuyết điểm chỉ nên bồi bổ cho nó được hoàn toàn, quyết không nên hy sinh đi mà học theo ngôn ngữ văn tự người. Vì mượn lời nói của người tức là rập mình cho in theo như người, đem óc mình làm nô lệ cho người, không mong bao giờ còn có thể tự lập về đường tinh thần nữa”.

Do đó mà để bảo vệ lấy bản sắc cho chủng tộc, tinh thần độc lập cho quốc gia, để dựng nền cho một cái quốc học xứng đáng, cần phải tạo ra một cái quốc văn mà nhiệm vụ cốt yếu cho ngày nay là thâu thái diễn đạt những tư tưởng kiến thức mới để truyền bá tới khắp quốc dân. Tức là tựu trung phải lo tạo ra một cái văn nghị luận thuyết lý đích đáng. Nhiệm vụ này không dễ dàng vì ta khai đường mở lối, phải dày công thí nghiệm, mà còn vì những khuyết điểm của chính tiếng nước ta.

Phạm Quỳnh nhận xét: “Đại khái tiếng ta giầu về phần hình nhi hạ nghĩa là những sự vật có hình thể, có thể tả mặc (phỏng theo – PT chú) ra được, mà nghèo về phần hình nhi thượng nghĩa là những nghĩa lý thuộc về tâm trí phải suy xét. Muốn dùng chữ triết học mà nói thì tiếng Nam ta có tính cách cụ thể (concret) hơn là à trừu tượng (abstrait). Thuộc về phần cụ thể nghĩa là gồm cả thế giới hữu hình do giác quan có thể cảm được, như chữ Phật gọi là hình sắc, thì tiếng ta thật là giầu có mà lại tinh tế nữa, tỷ như những tiếng sắp đôi thuộc về loại trạng tự để tả trạng thái của sự vật thì hay vô cùng, tưởng không tiếng nước nào bằng. Thử đọc mấy câu Kiều sau này thì đủ biết:

Nao nao giòng nước uốn quanh

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Sè sè nắm đất bên đàng,

Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

“Những tiếng nao nao, nho nhỏ, sè sè, dầu dầu thần tình lắm, đố ai dịch được ra tiếng Tây cho thật đúng. Ấy là đan cử một thí dụ nhỏ mà thôi. Nhưng ta giàu về phần cụ thể mà nghèo về phần trừu tượng. Những danh từ về nghĩa lý thì phi mượn chữ nho không đủ chữ mà dùng. Cho nên hễ bàn nói đến nghĩa lý hơi cao xa một chút thì các cụ ta ngày xưa tất dùng Hán văn mà không nghĩ đến viết văn Nôm bao giờ. Thành ra tiếng ta vốn đã nghèo về phần đó lại càng nghèo thêm vì không ai tập. Bởi cái tính cách cụ thể như vậy nên tiếng ta sở trường về lối văn vần nhất là văn mô tả. Đến lối tản văn là văn nghị luận thuyết lý thì vụng lắm”. (Quốc học với quốc văn , Nam Phong, số 164)

Nay muốn tăng tiến khả năng của tiếng Việt hầu nâng nó lên làm văn nghị luận, văn học thuật thì phải làm thế nào? Tất nhiên phải bổ trợ khuyết điểm ấy, phải vay mượn thêm, tự tạo ra nhiều, đây chính là cơ hội một cuộc tranh luận khác nữa.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: