Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 5, 2011

Thơ cho bạn (P1)

Filed under: Báo — phamquynh @ 8:08 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 2 tháng 8 năm 2011.

THƠ CHO BẠN

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hầu như mọi người chỉ đọc bài Phạm Quỳnh viết và nghe ông diễn thuyết đều thấy rằng ông là con người khép kín, không bày tỏ gì về tình cảm và đời tư mình. Cho đến khi đọc Pháp du hành trình nhật ký trên Nam phong tạp chí từ 1922, mới phần nào thấy được rõ hơn con người, cuộc đời của ông. Và họ ngạc nhiên vì ông không khô khan, lạnh lùng như họ vẫn tưởng. Nhưng, thật ra ông đã từng “phơi bày ruột gan” mình ra trước bàn dân thiên hạ từ năm 1919. Trên Nam Phong tạp chí, tất nhiên. Trong số 26 (7/1919) ông bắt đầu viết Thơ cho bạn. Tiếp đó là Nam Phong tạp chí số 27 (9/1919), số 28 (10/1919) và cuối cùng là số 32 (2/1920). Trong đó, ông thổ lộ với bạn mình về “Người công dân trước thời cuộc, vận mệnh quốc gia. Trách nhiệm của bậc thượng lưu.” Ông viết: “Cho nên về phần tôi, tôi vẫn chỉ lấy việc giáo dục làm cần cấp hơn cả.”  Bức thư cuối cùng viết năm 1920 ông chuyên bàn về giáo dục.

Sau đó, ông chọn hai bức thư cho in vào Thượng Chi văn tập xuất bản đầu năm 1943 tại Hà Nội. Năm 1962, sách được tái bản lần thứ nhất tại Sài Gòn.

Để bạn đọc có thêm tư liệu tìm hiểu về con người Phạm Quỳnh, chúng tôi đưa lên Blog PhamTon hai bức thư đó, theo bản in trong Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập của Nhà xuất bản Văn Học, 2006. (Từ trang 937 đến trang 946). Vì bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần và tự đặt nhan đề.

—o0o—

Phần I: NGƯỜI CÔNG DÂN TRƯỚC VẬN MỆNH QUỐC GIA

Nguyễn huynh,

Ngô huynh (tức: ông anh – PT chú) từng phàn nàn với tôi rằng từ khi về chốn buồn quê mùa cô lậu, ít gặp được người tri kỷ vãng lai, thường nhớ đến bạn Thăng Long, nhớ đến những lúc anh em cùng họp mặt bàn chuyện tâm huyết với nhau, mà muốn năng thơ từ đi lại cho khuây khỏa nỗi lòng. Ngô huynh ở chốn cô lậu mà buồn, đệ ở giữa nơi phồn hoa mà lại càng thêm tẻ ngắt. Không phải có dám tự cho mình là cao thượng mà không vui theo cái vui chung của kẻ khác, nhưng bọn mình vốn mang một lý tưởng thiết tha ở trong lòng, ra giao tiếp với người ngoài chỉ thấy nhất thiết phản trái cái lý tưởng bình sinh, gặp những người hoặc mơ hồ mà không nghĩ tới, hoặc có biết mà làm thinh, hoặc điên đảo mà phản trắc, thành ra sự giao du không có hứng thú gì nữa, mà giữa nơi đông đảo có cái cảm giác vô liêu vậy. Người ta thường nói có ở chỗ đông người mới biết cái khổ vắng vẻ, mới nghe tưởng là nói ngược, mà thiệt không gì đúng bằng. Ở nơi tịch mịch mà có bạn tâm giao, thời dẫu cảnh vật có vắng vẻ mà trong lòng càng vui vầy; ở chốn đông đúc mà không gặp người trí thức thời dẫu cảnh vật có vui vầy mà trong lòng thật vắng vẻ. Những lúc trong lòng vắng vẻ như vậy, tôi thường nhớ đến Ngô huynh, ao ước được gặp mặt cầm tay, tưởng tượng như người ngồi bên cạnh. Ví cái thuyết thần giao cách cảm là đúng thời thời có lẽ những lúc ấy chính là lúc Ngô huynh cũng tưởng nhớ đến tôi, mà tinh thần ta thường gặp nhau ở chỗ bất tri bất giác (tức: không hiểu, không cảm thấy) vậy.

Ôi! Thế thường bè bạn là phần nhiều có chút lợi tâm cả. Anh em mình yêu mến nhau thiệt chỉ vì chút lý tưởng ở trong lòng: giao tình ấy trong mà lạt như nước mùa thu vậy.

Nhưng cái lý tưởng thâm thiết của bọn mình đó, sao mà càng nghĩ lại càng thấy xa xa, càng nhìn mà càng không biết đến bao giờ thành được?

Vẫn biết rằng làm trai ở đời, không gì cần bằng phải lập chí, nhưng chí đã lập phải có gặp thời xuôi thế thuận mới mong thành tựu được; chứ như thời thế này, nhân tâm ấy, còn mong mỏi gì?

Ngô huynh có nhớ tôi vẫn thường phàn nàn với Ngô huynh rằng bọn mình sinh giữa buổi giao thời thật không gì khổ bằng; vì sinh năm mươi năm về trước hay năm mươi năm về sau, có lẽ còn được chút khoái lạc cho thỏa cái chí bình sinh; nay ở vào lúc hỗn độn, danh không chính, ngôn không thuận, cất chân đi những vấp váp, hở môi ra những thẹn thùng, còn sự nghiệp công danh gì mà mong mỏi? Mỗi lần tôi phàn nàn như thế, Ngô huynh thường phấn nhiên (như: quả quyết) gạt đi mà nói rằng: “Ở đời quí về cái chí, tức ta gọi là lý tưởng. Những kẻ ăn sổi ở thì, là những kẻ trong lòng không có chí khí gì, cho nên “dữ thế phù trầm” (như: nổi chìm theo thời thế) , gặp thời thế cảnh ngộ nào cũng thích hợp; kẻ đó chẳng nói làm chi. Còn người trượng phu hơn người vì cái chí lớn, thường mang một lý tưởng cao ở trong lòng, nếu gặp được thời xuôi thế thuận thời càng dễ đạt được mục đích bình sinh, ví sinh vào buổi thời thế trắc trở mới thật là lúc nên ra những thủ đoạn phi thường. Người có chí với kẻ không có chí hơn kém nhau ở đó; người có tâm huyết với kẻ không huyết tính cũng phân biệt nhau ở đó. Chứ cứ khu khu mà cầu lấy sự khoái lạc riêng cho mình, thành được cái chí nhỏ của một mình, mong nên công danh sự nghiệp trong một lúc, thời chẳng là nhỏ nhen lắm ru?”.

Ngô huynh nói bấy nhiêu lời mà giọng nói hùng hồn quả quyết, tôi còn như văng vẳng bên tai. Nghĩ cho kỹ, có lẽ lời Ngô huynh nói cũng là phải. Ừ, nếu ở đời mà cứ gặp thời xuôi thế thuận, thì nhân sinh không có giá trị gì nữa. Phải ở vào buổi nguy hiểm khó khăn mới biết ra công nỗ lực, mà giá trị ở đời chính là ở sự nỗ lực. Gắng sức mà làm cho nên, càng nguy hiểm càng mạnh bạo, dù không kết quả mà trong sự gắng sức đã có cái thú lạ thường rồi. Huống lại gắng sức để giúp cho nước cho nhà, gắng sức để làm hết nghĩa vụ đối với quốc gia, đối với xã hội, thời nhân sinh còn có lạc thú nào hơn nữa? Tuy ở đời không phải là ai ai cũng có tư cách kẻ trượng phu nhưng ai ai cũng có thể hi vọng tới được bậc đó; tiên nho ta chẳng đã dạy rằng người nào ở đời cũng có thể mong làm được Khổng Mạnh miễn là hết sức cho xứng đáng thời nên? Như vậy thời trừ những kẻ ăn sổi ở thì, trừ những kẻ vô huyết tính như Ngô huynh đã nói, còn người có chí ai cũng có thể lấy cái nghị lực, cái tư cách, cái tâm thuật, cái sự nghiệp người trượng phu mà tự kỳ được; không những ai cũng có thể tự kỳ thế được, mà ai cũng phải hẹn mình như thế mới nên. Có thế thời người mới hay, nước mới mạnh được; nếu tự ủy mị mà không có chí ngang bằng thời thế, thời chẳng bao lâu sẽ bị thời thế trôi giạt đi, còn mong ích quốc lợi dân sao được? Cho nên nghĩ cho cùng cũng chẳng nên oán thán thời thế làm chi, thời thế càng trắc trở chí mình càng nỗ lực, miễn là chí người đừng thấp kém thời thế thời thôi. Bởi vậy mà tôi càng nghĩ lại càng phục cái chủ nghĩa tự cường của Ngô huynh.

Nay thời thế đã như thế thời chí mình phải thế nào cho khỏi thẹn với non sông? Vấn đề đó anh em ta bàn đi bàn lại đã bao lần, Ngô huynh thời giữ cái chủ nghĩa thực hành mà đệ thời khuynh hướng về đường tư tưởng, nhưng hai người đều biết rằng làm dân trong nước vào buổi bây giờ không thể đặt mình ra ngòai việc nước được, và mỗi người phải tùy tài tùy sức ghé vai mà gánh vác mỗi phần việc chung. Cổ nhân đã dạy: nước nhà thịnh suy, dẫu kẻ sất phu (như thất phu: người nhỏ, hèn) cũng có trách. Người sất phu còn có trách, kẻ thư sinh có lẽ tự đặt mình vào địa vị bàng quan hay sao? Kẻ thư sinh còn không thể đứng bàng quan được, bậc sĩ phu có lẽ ngồi bó tay mà trông thời thế hay sao? Vận mệnh là vận mệnh chung cả một nước, mỗi người là một phần tử trong nước, mỗi người tất có một phần trong cái vận mệnh chung; phần ấy ví không ra sức đảm đương, thời định phó mặc cho ai thay hộ?

Như vậy thời cái chí của bọn mình đã rõ ràng lắm rồi: chí của bọn mình phải là chí ở việc nước, lấy việc thịnh suy nước nhà làm trọng hơn sự lợi hại cho mình. Tôi càng nghĩ mà càng hiểu nghĩa vụ ấy khẩn thiết và lớn lao là dường nào, tưởng làm dân nước Nam bây giờ không có nghĩa vụ nào cần cấp hơn nữa. Nếu quốc dân ai ai cũng biết lấy đấy làm trọng, thì thời thế nào mà không chuyển dịch được, còn phải lo gì thời không thuận, thế không xuôi! Chỉ hiềm vì hiện bây giờ phần nhiều người trong nước còn mơ hồ không biết cái nghĩa vụ chân chính là ở đâu; có người lại nhận lầm lấy những việc không đáng làm việc nghĩa vụ, đem công phu mà phụng sự những lý tưởng không đâu; còn lắm kẻ biết mà không làm, lại muốn nhân thời thế hỗn độn cầu sự lợi lộc một thân, thời những kẻ ấy đáng khinh đáng bỉ vô cùng.

Nay bọn mình đã lập chí như vậy, muốn đem cái ý nguyện nhất sinh (như: cả một đời) mà gửi vào non song thiên cổ, thời nên làm thế nào cho đạt được chí nguyện ấy? Đệ muốn bàn với Ngô huynh về câu chuyện tâm huyết đó, bất giác bức thơ đã dài quá, vậy xin để đến kỳ sau.

Người ta thường nói thơ từ là câu chuyện với người bạn ở xa: từ khi Ngô huynh xa vắng, đệ những khao khát chuyện trò, nên mượn tờ giấy cây bút cùng bạn cũ giãi chút tư tưởng trong lòng, lắm lúc phảng phất tưởng như Ngô huynh ngồi bên cạnh, đương cùng nhau đàm luận như ngày nào…

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: