Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 12, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P10: Dùng chữ Hán Việt âm)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:48 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 3 tháng 8 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 10: VIỆC XÂY DỰNG MỘT NỀN HỌC MỚI

V. VIỆC XÂY DỰNG MỘT NỀN HỌC MỚI

4. Dùng chữ Hán Việt âm

Tuy không đặt tôn chỉ trước, song Nam Phong từ lúc ra đã giải quyết vấn đề tiếng ta thiếu danh từ học thuật bằng cách mượn thẳng ở tân thư tân văn Tàu, thành ra các bài báo đều đầy rẫy những chữ Hán đọc ra Việt âm. Điều này, khi báo Nam Phong truyền vào đến Nam kỳ, là nơi ít Hán học, đã khích động một phong trào bài bác, kết tinh vào một bức thư một nhân sĩ Lục Châu lúc đó là ông Nguyễn Háo Vĩnh gởi đăng trên Nam Phong số 17 (1918). Bức thư này cũng còn một nguyên nhân chính trị. Khi đó Khải Định mới được Tây đưa lên ngôi, ra tuần du Bắc Hà, đi viếng nhiều nơi và nơi nào “bệ hạ” cũng có “ngự thi” chữ Hán, lại ban cả cho Nam Phong một bài Đường luật Hán tự mà Nam Phong lấy làm vinh dự in lên bìa báo. Ông Nguyễn Háo Vĩnh, một người đã từng tham gia phong trào Duy Tân và Đông Du 1907, nhân đó công kích thái độ nô lệ China của một nước từ vua đến dân đã phải trải bao đời mà không tỉnh ngộ, lại công kích Nam Phong viết văn dùng nhiều chữ Hán quá, người Nam kỳ không hiểu gì hết, thành ra ông chủ bút tuy có mỹ ý khai hoá cho quốc dân mà nghiễm nhiên bỏ rơi mấy triệu dân lành ở Lục Châu này.

Bức thư của Nguyễn Háo Vĩnh đăng trên Nam Phong đã thổi dậy một cuộc bút chiến dữ dội. Vì đả động đến Khải Định nên Tổng đốc Thân Trọng Huề lên tiếng trước, tuyên tội bất kính của Nguyễn Háo Vĩnh đối với vua, thuật lại thái độ của vua: “Hoàng thượng đã ngự lãm bài ấy và ban rằng: Nguyễn Háo Vĩnh là người Nam kỳ mà Nam kỳ là của liệt thánh ta khai hoá mới 300 năm… Đối với Bắc kỳ khai hoá đã lâu thì người Nam kỳ còn mới mà Nam kỳ đã sinh được nhiều liệt sĩ văn đức, hiền hạnh, nếu có một tên Nguyễn Háo Vĩnh là người nước Nam, nếu có một người dân vô lễ bởi tại ta đức bạc tài sơ không hoá nổi một tên dân trong nước…” Thật là một thái độ rất “hoàng thượng”. Phe bênh vực Nguyễn Háo Vĩnh có Lương Khắc Ninh và một ông người Nghệ An gởi tới một bài mà giọng kích bác kịch liệt khiến Nam Phong không dám đăng tải. Phe công kích Nguyễn Háo Vĩnh có Nguyễn Bá Trác, Phạm Xuân Nùng, Trần Văn Đê. Rồi Nguyễn Văn Ngọc lên tiếng xoay cuộc tranh luận sang vấn đề học thuật: Tiếng trong quốc âm. Phạm Quỳnh khi đó đang du lịch Nam kỳ, cũng đem vấn đề bàn với nhiều nhân sĩ Nam kỳ, như nhóm Đại Việt của ông Lê Quang Liêm ở Long Xuyên có vẻ có nhiều đồng tình với Nam Phong, hoặc nhóm An Hà nhật báo của ông Võ Văn Thơm ở Cần Thơ là người rất ghét chữ Nho, chủ trương lấy chữ Pháp làm quốc văn và đương dựng ở Cần Thơ cái Collège Võ Văn để sẽ đón toàn thầy Tây đầm về dạy. Khi trở về, Phạm Quỳnh thu thập các ý kiến và giải đáp cuộc tranh luận dùng chữ ấy trong một bài báo rất quan trọng (Nam Phong, số 20): Bàn về sự dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ.

Bài luận có hai phần:

A. Phần trên đại ý chứng minh như thế nào Hán học, Hán văn, Hán tự có cái liên lạc mật thiết với dân tộc với văn hoá quốc gia và không thể nào dứt bỏ được đối với những ai ngày nay muốn xây dựng một quốc học, thành lập một quốc văn. Ông trả lời vào:

1. Luận cứ cho rằng chữ Hán là chữ Tàu không phải chữ nước mình:

* Chữ Nho tuy phát tích từ Tầu mà từ thượng cổ đã không phải là một thứ văn tự riêng của một dân tộc Tàu. Chính nước Tàu đời xưa cũng không phải là một nước, thật là một thế giới bao gồm biết bao nhiêu dân bao nhiêu nước khác nhau. Mỗi dân có một tiếng nói riêng, mỗi nước có một phong tục riêng, mà tất cả đều chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Văn hoá ấy lan tràn khắp một cõi địa cầu, cảm hoá mấy trăm triệu người. Khí cụ để truyền bá cái văn hoá ấy là chữ Nho. Chữ Nho là một thứ chữ viết, không phải là một thứ tiếng nói, đem vào nước nào thì theo thanh âm của nước ấy mà đọc ra, chữ vẫn là chữ chung mà đọc theo thanh âm của nước nào thành ra lời riêng của nước ấy. Không những các nước ngoài nước Tầu mà đến các tỉnh nội địa nước Tầu cũng vậy. Một người khách Quảng Đông với một người khách Bắc Kinh nói chuyện với nhau tuy là lời chữ Nho mà phải bút đàm mới hiểu. Người Tầu với nhau còn vậy huống chi người Nhật Bản, người Việt Nam hay người Cao Ly, tuy cùng chịu văn hoá Trun Quốc và lấy chữ Nho làm văn tự, nhưng thâu nhập sang nước mình đã hầu như thành của riêng rồi. Chỉ vì nó xuất hiện ra trước nhất ở đất nước Tầu, chỉ vì ngày nay người Tầu dùng nó nhiều hơn cả, nên ta gọi nó là chữ Tầu mà thôi. Còn thực ra đối với người mình từ lâu mình viết tuy có giống Tầu mà nói ra giọng mình người Tầu không hiểu được, thế chẳng phải là của mình hay sao? Chữ Nho chính là một thứ tử văn chỉ đọc để luyện tập trí thức để thấu hiểu văn chương nghĩa lý đời trước để lại, văn chương nghĩa lý ấy là cái kho báu chung của một phần nhân loại. Tức cũng như văn Hy Lạp văn La Mã đối với các nước Âu châu, các nước này mượn hai thứ chữ ấy mà đặt tiếng mình cũng như Việt Nam ta học chữ Nho mượn chữ Nho mà đọc ra âm vận Việt Nam vậy.

2. Luận cứ cho rằng người Tầu bao lâu nay đã áp chế dân mình hiện nay vẫn còn tranh hết quyền lợi của người mình về đường buôn bán vậy nên ghét người Tầu, cớ chi lại học chữ Tầu dùng chữ Tầu để chịu lấy cái áp chế vô hình của họ:

* Người Tầu xưa kia về đường chính trị đã áp chế ta nhiều, ta nên ghét là phải, nhưng sự ghét đó là thuộc về lịch sử vì là việc cũ rồi. Người Tầu nay về đường kinh tế vẫn tranh cướp quyền lợi của ta nhiều[4], ta không ưa cũng là phải, nhưng không ưa thì phải làm thế nào, phải bầy mưu lập kế thế nào để tranh lại quyền lợi ấy chứ cứ nói ghét ngoài miệng thì bổ ích gì. Còn như chữ Nho và văn tự Tầu thì hiện không có quan hệ gì đến chính trị kinh tế cả. Trên kia đã nói chữ Nho là một thứ tử văn chung cho cả các nước Á Đông đã chịu văn hoá Nho học. Ta học chữ Nho không phải là chịu quyền chuyên chế của người Tầu, tức cũng như người Âu châu học chữ la tinh không phải là chịu quyền chuyên chế của nước Ý nay. Ta học chữ Nho mà thử mở quốc sử coi biết bao nhiêu phen ta đánh Tầu xiểng liểng, đuổi Tầu ra ngoài bờ cõi nước nhà.

3. Luận cứ cho rằng ta theo Nho học hai ngàn năm mà nay thế nước yếu hèn như vậy, bây giờ chẳng nên bỏ hết chữ Hán mà theo Tây học sao?

* Những người nào nói như thế thật là không có tư tưởng gì về lịch sử và là bội bạc với tiền nhân, không biết rằng nước mình được như ngày nay, đã từng có một lịch sử cũng lắm đoạn vẻ vang chẳng kém gì người, chính là nhờ ở Nho học nhiều. Những bậc anh hùng hào kiệt chí sĩ cao nhân, hiển vinh cho nước, bởi đâu mà để lại tiếng thơm đời đời, chẳng phải là nhờ mấy đời hun đúc mới nên dư? Chẳng phải là Nho học đã gây dựng ra gia đình, xã hội, quốc gia của ta dư? Chắc ngày nay Nho học đã nhiều phần quá cũ rồi, không hợp thời nữa, nhưng cũ là về phần hình thức mà thôi còn phần cốt cách tinh thần còn cái gốc đạo đức của Nho học thì cùng với núi sông mà sống mãi muôn đời. Ta nên bỏ là bỏ cái phần hình thức phiền toái còn phần cốt cách tinh tuý phải giữ lấy, vì nước ta còn có mặt trên địa cầu là còn phải nhờ cái tinh thần cố hữu ấy mới sống nước, nhưng muốn giữ tinh thần ấy mà bỏ hẳn chữ Nho là biểu hiện của tinh thần ấy thì sao được?

4. Luận cứ cho rằng Hán học là một cái học phiền toái, lâu năm, khó khăn quá, đối với người đời nay:

* Ngày nay cần phải biết chữ Nho không phải rằng phải học chữ Nho như lối ngày xưa đâu. Không phải là học để làm thơ phú, văn sách, kinh nghĩa, không phải là trở lại cái lối khoa cử phiền toái khảo cứu tỷ mỷ như đời xưa. Xưa học chữ Nho là vì chữ Nho mà học, nay học chữ Nho là vì quốc âm mà học. Mục đích đã khác phương pháp cũng khác. Xưa dùi mài kinh sử, nung nấu cổ văn, phí mất một phần đời người mới chiếm được một tên trên bảng vàng mới được thành danh nhà văn sĩ. Nay chỉ học cho đủ sự cần dùng về quốc văn mà thôi, chỉ học cho đủ hiểu hết một quyển Kim Vân Kiều hay một quyển Lục Vân Tiên thôi thì tưởng chẳng khó khăn gì. Trước trăm phần nay không được một phần, nhưng cái một phần ấy rất cần, không biết thì không thế nào cầm bút viết thành bài văn quốc ngữ được. Phải học lấy cái phần tối thiểu ấy để lâm thời mượn và dùng trong quốc văn và để khi đọc những thi văn Nôm của người trước để lại có thể hiểu ngay được.

P.T.N.


[4] Khuynh hướng ghét “chữ Tầu”, bài xích Chi na này của một số nhân sĩ Nam kỳ khi ấy (đưa đến bức thư của N.H.Vĩnh) thật ra còn một nguyên nhân kinh tế, bắt nguồn từ một vụ tẩy chay Khách trú làm sôi nỏi dư luận Sài Gòn bấy giờ (coi bài Việc Tẩy chay Khách trú ở Nam kỳ trong Nam Phong, số 27)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: