Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 12, 2011

Thơ cho bạn (P2: Trách nhiệm của bậc thượng lưu)

Filed under: Báo — phamquynh @ 11:49 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 3 tháng 8 năm 2011.

THƠ CHO BẠN

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hầu như mọi người chỉ đọc bài Phạm Quỳnh viết và nghe ông diễn thuyết đều thấy rằng ông là con người khép kín, không bày tỏ gì về tình cảm và đời tư mình. Cho đến khi đọc Pháp du hành trình nhật ký trên Nam phong tạp chí từ 1922, mới phần nào thấy được rõ hơn con người, cuộc đời của ông. Và họ ngạc nhiên vì ông không khô khan, lạnh lùng như họ vẫn tưởng. Nhưng, thật ra ông đã từng “phơi bày ruột gan” mình ra trước bàn dân thiên hạ từ năm 1919. Trên Nam Phong tạp chí, tất nhiên. Trong số 26 (7/1919) ông bắt đầu viết Thơ cho bạn. Tiếp đó là Nam Phong tạp chí số 27 (9/1919), số 28 (10/1919) và cuối cùng là số 32 (2/1920). Trong đó, ông thổ lộ với bạn mình về “Người công dân trước thời cuộc, vận mệnh quốc gia. Trách nhiệm của bậc thượng lưu.” Ông viết: “Cho nên về phần tôi, tôi vẫn chỉ lấy việc giáo dục làm cần cấp hơn cả.”  Bức thư cuối cùng viết năm 1920 ông chuyên bàn về giáo dục.

Sau đó, ông chọn hai bức thư cho in vào Thượng Chi văn tập xuất bản đầu năm 1943 tại Hà Nội. Năm 1962, sách được tái bản lần thứ nhất tại Sài Gòn.

Để bạn đọc có thêm tư liệu tìm hiểu về con người Phạm Quỳnh, chúng tôi đưa lên Blog PhamTon hai bức thư đó, theo bản in trong Phạm Quỳnh: Thượng Chi văn tập của Nhà xuất bản Văn Học, 2006. (Từ trang 937 đến trang 946). Vì bài khá dài, chúng tôi chia làm hai phần và tự đặt nhan đề. Bài viết cách đây hơn 90 năm, cho nên có những từ ngữ nay ít dùng. Mong giúp bạn đọc dễ hiểu hơn, chúng tôi mạo muội ghi chú theo thiển ý sau mỗi từ ngữ đó. Xin các bạn thông cảm cho hiểu biết còn nông cạn, hẹp hòi của chúng tôi.

—o0o—

PHẦN II: TRÁCH NHIỆM CỦA BẬC THƯỢNG LƯU

Nguyễn huynh.

Gần đây tôi có đọc tập thơ của cụ Cao Chu Thần (tức Cao Bá Quát – 1809-1854 – PT chú). Người khảng khái thay! Chẳng may sinh vào thời hắc ám, không đắc dụng với đời, thật cũng đáng tiếc vậy. Thơ cụ lời lời thâm trầm thống thiết, không phải là những câu ngâm vịnh xằng. Trong bài trường thiên tiễn cụ Nguyễn Trúc Khê ra tri phủ Thường Tín, có mấy câu than thân mà lại trách đời, ngày nay đọc đến thấy giật mình mà nghĩ thẹn. Cụ than rằng: “Làm trai ở trên đời, không biết đem can trường nghị lực mà giúp cho thế đạo cương thường, chịu ngồi bó tay nhìn bọn đương đạo (như: cầm quyền) làm càn, già đời lơ láo, làm nhục quê hương, cúi đầu khúm núm, ý khí tiêu mòn, rồi mà chết đi là nằm trong tay vợ, thời dẫu thác xuống có gặp hai đấng thân cũng là mặt dày lòng tủi, thần thảm ý thương, ngồi nghĩ nông nỗi ấy mà đau lòng không biết bao nhiêu!…”

Ngô huynh ơi, đọc mấy lời đó đủ biết cái khổ tâm của các cụ đời xưa hoặc vì thời thế trắc trở mà không ra thi thố được với đời, trong lòng lấy làm tủi thẹn đau đớn vô cùng. Xét ra cái tôn chỉ của đạo Nho ta chính là ở sự thực hành. Người đi học, hễ đã biết suy nghĩ, tất có cái chí muốn thi thố ngay, vì học là cốt cho biết những lẽ khôn ngoan của các Thánh hiền đời trước đã phát minh ra để là sửa mình sau là tề nhà, sau nữa là trị nước; chứ học mà không đem ra ứng dụng được ở đời thời cái học ấy các cụ cho là không có giá trị gì.

Cứ lý tưởng mà xét thời cái chí ấy cũng không khỏi không hẹp hòi một chút, vì rằng sự tư tưởng với sự hành động không tất nhiên là phải tùy thuộc lẫn nhau, nếu chỉ biết tư tưởng để mà hành động, thời tư tưởng ấy sẽ bị sự hành động hạn chế mà không bao giờ tiến lên được: coi như nước ta văn hiến đã từ bao giờ, tuy những bậc hiền nhân quân tử chẳng thiếu gì mà trước sau gọi được là bậc đại triết học có người nào? Chỉ vì cái quan niệm về sự học vấn tư tưởng của các cụ ta ngày xưa vụ thực quá, học để mà làm, chứ không học để cho biết, cho nên sự học không ra ngoài phạm vi việc làm, không siêu việt được lên cõi lý tưởng cao thượng thuần túy, như ở các nước văn minh khác: đó cũng là một khuyết điểm trong văn hóa cũ của ta vậy.

Nhưng về đường thực tế thời chí ấy thật là hay lắm: nước ta sở dĩ sinh tồn được đến nay, từng trải biết bao nhiêu nông nỗi gian nan mà không đến lụn bại, cũng là nhờ cái chí đó của mấy mươi đời nho học đã di truyền mãi đến bây giờ.

Ngô huynh ạ, tôi thường nghĩ đến cái chí ở việc đời của các cụ ta ngày xưa mà lấy làm sợ: cái chí của các cụ thật là bền, là mạnh vô cùng, càng không siêu việt lắm lại càng cương nghị nhiều. Trừ những người bẩm tính đa sầu, muốn ẩn nhẫn cho an ủi chút lòng phiền muộn xa xôi, còn ai đã chuyên tâm về sự học hành cũng là có bụng về thời thế, cũng là mong có ngày được đem tài kinh luân ra thi thố với đời, giúp cho dân, phù cho nước. Dẫu có muốn hiển đạt cho mình cũng là để cho tới địa vị có thể suy khư được thời thế, biến hóa được nhân tâm, mà ra công phù trì (giúp đỡ, giữ gìn) cho thế đạo, chỉnh đốn lấy cương thường. Ấy cái chí của các cụ như thế, chí cương cường bất bạt, dẫu phải khó nhọc một đời cho đạt tới cũng cam.

Bởi thế nên nhà nho ta khi xưa học hành khắc khổ như vậy, chửa thành công thì dẫu đến đầu bạc cũng chưa nghỉ, cùng mà không được toại chí thì lấy làm di hận (cái nguyện vọng đến chết vẫn không đạt được) suốt đời. Lúc bấy giờ như người tráng sĩ trở về già, sức lực đã suy yếu, chí khí đã tiêu mòn, mà công danh sự nghiệp chưa có chút chi để lại , bèn đem cả nông nỗi bình sinh (trong suốt đời mình) thổ lộ ra những lời thống thiết, như lời cụ Chu Thần trên kia.

Ấy cổ nhân có yếm thế (chán đời) là yếm thế như thế nghĩa là cùng không thể sao được mới phải chịu để mình vào chốn bàng quan, chứ không có lấy sự yếm thế làm chủ nghĩa một đời bao giờ. Chẳng bù với người đời nay chưa khó nhọc gì với đời đã đem lòng chán đời, thậm chí có những kẻ thiếu niên còn hơi sữa, mở môi ra đã thấy những thở vắn than dài, cầm bút viết chỉ toàn là ngâm sầu vịnh khổ; như vậy thời còn có chí khí gì nữa?

Trong thơ trước viết cho Ngô huynh, tôi có nói rằng bọn mình bây giờ phải lập chí thế nào cho kinh doanh (trù hoạch để làm việc) được thời thế, không để cho thời thế trôi giạt mình đi. Nay nghĩ kỹ mới biết rằng chí đó vẫn là cái chí của các cụ đời xưa, chỉ những lúc quốc vận suy vi cái tinh thần cố hữu ấy mới tiêu trầm (chìm mất) đi mà thôi. Bổn phận của chúng ta bây giờ là phải khôi phục mà kế thiệu (kế tục) lấy cái tinh thần cổ ấy, tức là tinh thần của nho học. Hình thức của nho học thời đã rõ là không hợp thời rồi, nay bỏ đi cũng không lấy gì làm tiếc cho lắm. Nhưng tinh thần kia phải cố mà cứu vớt cho được, vì cả xã hội luân lý nước ta là nương tựa vào đấy, nếu một cái trụ cốt ấy mà lung lay thời quốc gia đến khuynh đảo.

Tinh thần của nho học chính là ở cái chí về thế đạo cương thường (chính trị, phong tục và tam cương, ngũ thường) như đã giải trên kia, tức ta nói ngày nay là nghĩa vụ về quốc gia xã hội vậy. Nghĩa vụ ấy phàm làm dân trong một nước, ai cũng phải có một phần nhưng nhất là kẻ thượng lưu học thức lại càng phải nên cẩn trọng lắm. Ngày nay phàm người biết trông biết nghĩ cũng từng nhận rằng buổi này là buổi giao thời, về chính trị, xã hội, luân lý, chưa đâu là thành giường mối gì cả, lòng người lơ láo không biết lấy gì làm phương châm, thành ra một cái xã hội xốc nổi tạm bợ, người nào biết người ấy, mang nhiên (không biết gì cả) không hiểu gì đến việc nước việc đời, mà trong cách làm ăn cư xử có lắm điều thương phong hóa, bại cương thường mà không biết. Vậy đương bây giờ trách nhiệm của bọn thượng lưu lại càng nặng nề lắm nữa: phải dùng hết trí lự mà quan sát thời thế, xem khuynh hướng về đường nào, rồi đem tài ứng biến mà đối phó cho hợp thời cơ, cốt là giữ cho vận nước khỏi suy, lòng dân có định: nói rút lại, trách nhiệm của thượng lưu là cái trách nhiệm đưa đường chỉ lối cho quốc dân đương lúc phân vân do dự này. Làm cho trọn được nghĩa vụ ấy, thật cũng khó lắm thay!

Anh em ta sinh giữa buổi đời này, cho khỏi phụ công đèn sách, cũng phải lưu tâm đến việc đương thời. Đệ thường nghĩ bọn mình đứng giữa phong trào Âu Á, vào nơi giao giới cựu tân (ranh giới cũ mới), đường học mới được thiệp liệp (biết đủ cả mà không thông thạo gì) một đôi chút, nền nếp xưa chưa đến nỗi xao lãng hẳn, tưởng cũng có một phần việc nhỏ trong cái công lớn lao tô bồi cho Tổ quốc; chẳng hay Ngô huynh nghĩ sao? Lấy cái chí giúp đời của các cụ ngày xưa mà thi hành vào thời thế bây giờ, dùng phương pháp ngày nay mà đạt cái chí nguyện trăm năm của các cụ, đem học vấn tư tưởng giúp cho xã hội quốc gia; đó là phận sự của bọn mình.

Ngày xưa các cụ học là để sửa mình, tề nhà, trị nước; ngày nay chúng ta học cũng phải lấy ba điều đó làm mục đích. Tuy cái học xưa với cái học nay không giống nhau, mà tôn chỉ sự học cũng là một, duy phương pháp để thực hành tôn chỉ ấy phải tùy thời thay đổi mà thôi.

Vậy nay ta phải đem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời, rồi mới tìm phương giải quyết cho thỏa đáng. Ta phải bình tĩnh mà quan sát, vấn đề nào cũng phải xét cho hết các phương diện, tìm cho đến ngành ngọn, cứu cho ra gốc nguồn, rồi bày tỏ một cách rõ ràng thời giải quyết tất không khó, chỉ sợ mập mờ chưa tỏ mới lo thi thố sai lầm vậy.

Ví như một công ty khai mỏ, định đến khai quật những mỏ vàng mỏ bạc, mỏ than mỏ chì ở một xứ nào: trước khi lập hội chiêu phần, mở đường dựng xưởng, tất phải có một đội kỹ sư đi thám xét, tìm xem mạch mỏ từ đâu đến đâu, nhiều ít thế nào, khó dễ làm sao, rồi mới phân ra từng khu rừng trái núi mà chỉ đường lập thế cho những người vào khai: nếu cứ phá liều mở bậy thời không những mất công vô ích, mà công ty đến phá sản có ngày.

Ấy đại loại việc nước cũng như vậy: nước ta bây giờ đương lúc mới cũ giao nhau, nhất nhất chưa biết xử trí thế nào là chính đáng, cũng như hồi khai mỏ, chưa thuộc địa thế xứ sở, không dám cả quyết khởi hành, phải đợi có bọn kỹ sư đi dò thám trước, rồi mới bằng ở lời báo cáo của nhà chuyên môn mà kinh doanh mọi việc.

Bọn thượng lưu trí thức trong nước ta ngày nay cũng có thể ví như đội kỹ sư đó vậy. Đương lúc quốc dân còn phân vân chưa biết tiến bộ theo đường nào, cũng như là tư bản còn do dự chưa biết xuất của làm việc gì cho không hại mà có lợi thời bọn “kỹ sư” ta phải tự nhiệm lấy cái trách dò thăm tình thế để chỉ bảo cho đồng dân biết. Nghĩa vụ đó cũng đủ cao thượng, đủ xứng đáng cho kẻ trí thức nước ta tận tụy mà làm cho trọn.

Ấy ý kiến riêng của đệ như vậy. Nếu Ngô huynh cũng đồng ý như thế, thời ta sẽ cùng nhau nghiên cứu những vấn đề hiện thời mà tìm cách giải quyết thế nào là phải, họa may giúp cho quốc dân muôn phần được một phần, không đến nỗi khi trở về già, hồi tưởng lại nông nỗi bình sinh, sầu tủi trong lòng, thẹn với tiền nhân mà phải đọc đến những lời cảm khái của cụ Chu Thần vậy…

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: