Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 9, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P13: Nhà phê bình)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 3 tháng 9 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo háng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 13: NHÀ VĂN PHẠM QUỲNH

VI. NHÀ VĂN PHẠM QUỲNH

2. Nhà phê bình

 Ở đây phải chia ra làm hai phần. Ở một phần ông làm công việc nhà văn học sử nghiên cứu phê bình văn cổ của ta như Truyện Kiều, bài Văn tế trận vong tướng sĩ, tục ngữ ca dao, hát ả đào. Ở một phần, ông đóng vai địa vị nhà báo mà điểm một ít sách đương thời xuất bản, giới thiệu sơ qua, khen có, chê có, đôi khi lại nhân dịp phóng bút ghi một hồi liên tưởng. Trong số những sách ấy, được ông điểm kỹ hơn cả là hai cuốn Khối tình con, Giấc mộng con của Tản Đà và cuốn Một tấm lòng của Đoàn Như Khuê. Có lẽ cũng nên kể một phần ba nữa là phần ông đứng ở cái chủ trương thâu thái Tây học mà bình luận một ít tác phẩm Pháp văn như tiểu thuyết của Paul Bourget, Henri Bordeaux, thơ của Baudelaire, Lamartine… Tuy nhiên phần phê bình cuối này xét lại chỉ là thuộc phạm vi dịch thuật nhằm giới thiệu văn học ngoại quốc, không có gì đáng nói ở đây. Hai phần trên đáng để ý hơn vì ông đã đem lại cho văn học Việt Nam một ít mới mẻ.

Trước hết với nghiên cứu phê bình cổ văn, Phạm Quỳnh đã lần đầu làm công việc nhà văn học sử mới. Bài về Truyện Kiều, ông viết năm 1919, là một thí nghiệm đem phương pháp mới để nghiên cứu một kiệt tác theo ông “không thể lấy cái tỷ lệ thường của văn chương Nôm để xem xét được, cho nên phải dùng phép phê bình khảo cứu của văn học Thái Tây, mới mong phát biểu được cái đặc sắc, bày tỏ được cái giá trị của một tuyệt tác trong quốc văn Việt Nam ta”. Và tác giả giới thiệu đường lối của phương pháp ấy: “Sau đây xin chia ra làm bốn mục mà thử xét về cỗi rễ Truyện Kiều, lịch sử tác giả, tâm lý cô Kiều và văn chương Truyệu Kiều”. Về tục ngữ ca dao ông cũng lần đầu đem ra nghiên cứu (1921), chủ ý muốn chứng tỏ cái văn chương truyền khẩu ấy phong phú là nhường nào và cái tinh thần của tiếng Việt qua văn chương ấy hiện ra tinh tế là nhường nào. Ông định nghĩa, phân biệt tục ngữ với ca dao, đoạn xét hình thức, căn cứ vào đó mà xếp loại rồi đi khám phá những ý nghĩa dồi dào trong mỗi phần. Qua những áng bình luận ấy, ta thấy Phạm Quỳnh quả thâm hiểu vốn liếng văn chương dân tộc, rất sành trong việc thưởng thức Truyện Kiều và ngôn ngữ bình dân. Những điều ông nói về sau được người ta khai thác, lập đi lập lại hoài, vậy mà ngày nay đọc lại bài ông viết nhất là bài Truyện Kiều ta vẫn còn thấy hứng thú.

Sau đến phần phê bình văn mới. Ông đón chào Khối tình con của Nguyễn Khắc Hiếu và Một tấm lòng của Đoàn Như Khuê như những triệu chứng tốt của tiền đồ quốc văn. Ông nhận xét Đoàn Như Khuê hay về văn vần hơn là văn xuôi và trong văn xuôi hay về giọng buồn hơn là giọng vui, trích dẫn và khen bài Bể thảm phảng phất cái não nùng của Cung oán, bài Khóc bạn thiết tha như văn Hàn Dũ khóc cháu. Câu chuyện của ông với văn Tản Đà có phần rắc rối hơn. Ngay năm 1915 khi Nguyễn Khắc Hiếu cho ra tập Khối tình con, ông đã có bài phê bình hồi đó trên Đông Dương tạp chí. Ông hết lời khen ông Hiếu là người làm văn có tài, gẩy cây đàn độc huyền là tiếng Nôm ta mà khéo nên được lắm giọng: lời thơ luật khuôn phép, điệu từ khúc tơi bời, câu dô ta, giọng cặp kè, cho đến những lối hát quê ngớ ngẩn của các chị cấy mạ hái dâu ước lấy được anh chàng mặc áo trắng che dù tây đi trên đường cái”. Nhưng đến khi Giấc mộng con ra đời ông chủ báo Nam Phong đón tiếp bằng bài Mộng hay mị, đả kích thứ văn chương đầu Ngô mình Sở không bổ ích gì cho thế đạo. Việc đó làm cho Tản Đà dứt tình với Nam Phong và gây cho ông chủ bút Nam Phong nhiều ác cảm về phía bạn bè của thi sĩ. Mãi về sau khi Người đàn bà TàuLên sáu ra đời, Phạm Quỳnh lấy lại bằng hững lời khen có vẻ xã giao, khen ông Nguyễn Khắc Hiếu đã biết bỏ đường văn chương phù phiếm mà quay về làm việc ích lợi là giáo dục quốc dân.

Ta thấy phần văn phê bình này của Phạm Quỳnh cũng không có bao. Tuy nhiên những nhận xét của ông cũng tố cáo rõ con người của ông không thiên về mơ mộng, lãng mạn, chỉ thích công việc suy luận, triết lý. Xét thi văn một nghệ sĩ như Tản Đà mà ông chỉ cân đo có cái phần hữu ích cho thế đạo, còn những vần mơ mộng những điệu ngông cuồng hay mấy cũng chẳng đáng kể. Ở chỗ ông khen nhất là khen Đoàn Như Khuê, đọc lại thì cũng thấy chỉ là khen để khuyến khích, có khi khen một cách mát mẻ châm biếm nữa. Song những điều ông chê, ông biết nói ra bằng một giọng trang nhã. Ta thấy ở đây chính là duyên dáng của cây bút Phạm Quỳnh khi muốn làm cho mình khả ái, muốn nói thật mà không mất lòng. Nói chung thì với thẩm thức của ông, Phạm Quỳnh chính có thể đóng vai một phê bình gia sành sỏi cho văn mới lúc bấy giờ, hầu chỉ lối cho người sáng tác. Song việc này ông làm ít quá. Trừ mấy tác phẩm nói trên, còn về sau Nam Phong chỉ thông báo những sách mới chứ không hề phê bình. Theo Phan Khôi thì có lẽ là vì sau vụ Tản Đà gây ra ác cảm nên Phạm Quỳnh làm như cô Kiều “nguýt dài một cái mà cuốn dây xin chừa” bỏ hẳn mục phê bình văn mới này làm cho học giới thiệt thòi không ít.

3. Nhà du ký

Phạm Quỳnh còn mở đường cho một loại văn sau thành mốt thời ấy, là loại du ký. Ông đã viết tất cả năm thiên du ký: Mười ngày ở Huế – Một tháng ở Nam Kỳ – Trẩy chùa Hương – Pháp du hành trình – Du lịch xứ Lào. Như đã nói ở trên, văn du ký của ông cũng thường thiên về khảo luận: khảo luận về đất Huế, về lễ Nam Giao, về đời sống dân chúng ở lục tỉnh, về tình hình sinh hoạt ở nước Lào. Mặc dầu vậy nó cũng giúp ta nhận định được ít nhiều nét thâm thiết về con người tác giả. Những thiên du ký của ông tuy nhiều khi thiên về khảo luận nhưng không khô khan. Ông biết thuật chuyện có duyên, biết điểm vào những đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất là biết khéo sử dụng một lời văn thanh thoát trang nhã. Đó là đặc tính của mấy thiên du ký đầu. Mười ngày ở HuếTrẩy chùa Hương có phần cảm hứng về tôn giáo nên nhiều vẻ trang nghiêm. Một tháng ở Nam kỳ ngả ra giọng phù phiếm xã giao. Đây là mấy áng văn tuổi trẻ của tác giả, tưởng tượng còn bồng bột, cái sính làm  văn còn mạnh, diễn ra lắm đoạn trầm bổng lâm ly. Nhưng từ 1925 trở đi, ngòi bút của tác giả đã hướng về đường giản dị chuẩn xác hơn không còn ham trần thiết những hoa hòe, hoa sói, tô vẽ những rung động thi nhân. Áng du ký cuối cùng, Du lịch xứ Lào (1931) khô khan như một báo cáo hành chính. (Bài này quả vậy là một bài điều tra chuẩn bị cho vấn đề di dân Việt Nam qua Lào). Tựu trung có giá trị hơn chính phải kể tập Pháp du hành trình nhận ký..

Ông đã viết tập nhật ký này dọc đường nhân chuyến qua Pháp năm 1922, sau đăng lên báo Nam Phong chia ra làm 38 kỳ rải rác từ số 58 đến số 100. Ở đây lời văn đã trút bỏ mọi trang sức văn chương. Việc kỷ thuật cũng không có thứ lớp gì, chỉ lần theo ngày tháng, nhưng quả là một tác phẩm thú vị. Tất cả những nhận định, điều mắt thấy bụng nghĩ, sự gặp gỡ trên đường, ông đã ném lên trang giấy một cách mộc mạc, tự nhiên. Và những nhận định ấy ở một người khát hiểu biết ham suy nghĩ như tác giả thật có nhiều phần đặc sắc. Vào thời ấy, việc đi Tây đối với người mình là một chuyện gì họa hiếm, trọng đại, kỳ ảo, sang mãi tít bên kia bán cầu, đi hàng tháng mới tới nơi, tới nơi để tiếp xúc với một nền văn minh hoàn toàn khác biệt với cái xã hội còn rất cổ lỗ của người mình khi đó. Bởi vì mặc dầu vài hình ảnh do nếp sống người Tây bày ra ở thuộc địa, cái văn minh ấy đối với người mình vẫn còn xa lạ lắm. Lại riêng với một người tìm hiểu qua sách vở một cách nhiệt thành như tác giả thì việc Tây du này thật đầy hứa hẹn mở mắt mở trí.

Ông ghi nhận tỉ mỉ từng ngày sự kinh lịch, mới đầu ở Marseille dự cuộc đấu xảo thuộc địa rồi lên Paris “kinh đô ánh sáng”, viếng những danh lam thắng cảnh, đền đài, dinh thự, di tích, lại tham dự vào cuộc sống người dân Ba Lê, cuộc sống cơ khí tân tiến, cuộc sống văn nghệ ở các rạp hát, phòng trà, các buổi trình diễn kịch nghệ, tìm dự cả những buổi nhóm của nghị viện, cuộc dân biểu chất vấn chánh phủ, để xem sự sanh hoạt chính trị ở một nước dân chủ như thế nào, mỗi lúc là một vén màn bất ngờ. Làm thân một anh chủ  báo “An Nam”, thư ký của một cái hội tẹp nhẹp Khai Trí, vô danh tiểu tốt như vậy, nên tránh sao khỏi nỗi tự ti. Tự ti trước cái văn minh đồ sộ và lâu đời của người, lại càng tự ti với cái thân phận một thằng dân thuộc địa. Tự ti nhưng cũng tự tín, tự kiêu, vì cái văn minh ấy, với trí não của mình, mình có thể gia nhập được lắm. Không những gia nhập mà còn có thể đứng trên nó mà phê phán. Tác giả lại còn được tiếp xúc với người Tây, được đón vào những gia đình trí thức, trong câu chuyện thân mật, được cảm thông, được thẩm giá, mới thấy tự tin vào tài trí mình cũng như tin vào cái lẽ: “Cùng nhân tâm ấy há thiên lý nào”. Mới thấy bọn Tây quan liêu hống hách mình hằng tiếp xúc ở bên thuộc địa chỉ là một loại Tây riêng biệt. Và chỉ ở đây trên đất Tây, Paris, mới được nếm những nguyên lý dân chủ bình đẳng cũng như những phong vị nghệ thuật thoải mái của văn minh Tây. Tự ti, tự kiêu nhưng cũng tự giác, biết rõ cái thân phận mình, một tên dân thuộc quốc gắn liền vào một chủng tộc đã mất tự do, do đó mà nhìn trở lại đất nước đồng bào, thấy đặt ra bao nhiêu trách nhiệm nặng nề…

Bao nhiêu nông nỗi từ chuyện tức cười đến sự nhục nhã, tác giả không ngại phơi bày trên trang giấy. Lúc là giọng than thở tủi hổ như khi dừng chân trước trường cao đẳng sư phạm nghĩ đến cái học thiệp liệp (biết đủ thứ mà không rành một môn gì – PT chú) không căn bản của mình. Lúc là giọng châm biếm mát mẻ như khi chứng kiến cái cảnh Khải Định đề vào sách vàng nhà Hộ trợ Đông Dương, đứng ỳ mười lăm phút mà hoàng đế không viết được một dòng. Lúc là giọng cười cợt bông lơn, như khi mấy anh em đánh xe chơi rừng Boulogne, học đòi ghẹo gái Ba lê, hay rủ nhau xuống xóm Mông mác, nhà Nho thử đi hành lạc “một tua”.

Điều đáng chú ý là chính trong thiên du ký này Phạm Quỳnh đã nói về ông nhiều hơn cả, không phải chỉ nói những bước ông gặp, những điều ông thấy trong cuộc hành trình mà còn nói về tâm sự về đời tư của ông. Nhân một nhân vật gợi lại kỷ niệm xưa hoặc một gặp gỡ mở lối cho đường tâm sự, thế là ông kể lể liên miên, mơ màng gợi lại chuyện cũ. Chính nhờ vậy mà ta được biết qua tập du ký nỗi thuở nhỏ cơ khổ linh đinh, được bà nội nuôi cho ăn học, việc vào trường thông ngôn, việc thi đậu “đíp lôm” oanh liệt, zéro Hán văn mà vẫn đậu thủ khoa, việc được chỉ định hồi 18 tuổi qua Pháp làm trợ giáo trường sinh ngữ Đông Dương nhưng vì mới cưới vợ nên không dứt ra đi được, nhường chức ấy cho ông Dương Văn Giáo (Phan Văn Trường-PT chú)… Tóm lại theo dõi tác giả từ lúc mấy anh em bỡ ngỡ xuống tàu ra khơi nếm mùi sóng biển, cho đến lúc trở về nhìn lên trên bến thấy “mẹ con Giao” đã ra đứng đón, ta thấy ở đây không phải là một Phạm Quỳnh nghiêm trang kín đáo, khuôn phép dè dặt của những thiên nghị luận, mà một Phạm Quỳnh thân mật, duyên dáng, chân thật, đôi khi lẩn thẩn tức cười với cái tác phong của “anh đồ quê” cứ muốn làm ra vẻ đồ quê, coi như một thứ giá trị vậy.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: