Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 16, 2011

Bàn về quốc học_P1

Filed under: Báo — phamquynh @ 1:41 sáng

Blog PhamTon năm thứ 2, tuần 4 tháng 9 năm 2011.

BÀN VỀ QUỐC HỌC

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau khi đọc bài Bàn về cái tinh thần lập quốc, chúng tôi lại xin mời các bạn đọc bài Bàn về quốc học của Phạm Quỳnh đăng trên báo Nam Phong số 163, tháng 6 năm 1931 để hiểu rõ hơn tư tưởng yêu nước, cứu nước của ông. Hai bài này đều viết năm 1931, năm cuối cùng ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong.

Để các bạn tiện theo dõi, chúng tôi chia bài ra làm hai phần và mạo muội theo thiển ý ghi chú sau mỗi từ nay ít thông dụng. Bài viết đã cách nay 80 năm rồi còn gì… Có gì sai sót, mong các bạn chỉ bảo cho để chúng tôi kịp thời sửa chữa. Xin cảm ơn các bạn.

*

*        *

Cái học của Đông phương vẫn có cái bản chất phong phú, cái tinh thần thâm trầm thật, nhưng chính là thiếu mất cái quan niệm về khách quan, không quen biết sự đích xác là gì. Nay há lại không thể đem cái hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật Đông phương được dư?

(Lời của một nhà phê bình Pháp).

Nước Nam ta có một nền quốc học chân chính không?

Câu hỏi đó gần đây đã làm đầu đề cho một cuộc tranh luận rất thú vị. Ông Lê Dư trong báo Đông Tây ở Hà Nội thì quyết rằng có, ông Phan Khôi trong báo Phụ Nữ ở Sài Gòn thì quyết rằng không.

Quốc học không phải là một vật có thể giấu giếm đi được, hay là cần phải tìm tòi mới ra. Nếu quả có thật thì nó sờ sờ rõ rệt ra đó, ai còn chối được, mà phải đến người nọ nói có, người kia nói không! Sở dĩ phải khởi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng là nhỏ nhen eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ.

Nay chứng xét lịch sử, thấy quả như vậy. Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ theo học nước Tàu, chỉ mới là một người học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường không lọt được ra ngoài vòng “giáo khoa” mà bước lên tới cõi “học thuật” nữa. Như vậy thì làm sao cho có quốc học được?

Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ cao tăng ta cũng có; nhưng trong cõi học nước ta, cổ kim chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ có cái vẻ độc lập một “nhà” đối với các “nhà” khác, như bách gia chư tử bên Tàu ngày xưa. Hay thảng hoặc cũng có mà mai một đi mất, sử sách không truyền chăng? Nhưng phàm đã gọi là một cái học phái thì phải có cảm hóa người ta sâu xa, phải có ảnh hưởng trong xã hội, phải gây ra một cái phong trào tư tưởng, không thể tịch mịch ngay đi mà không còn tăm hơi gì nữa. Cho nên dầu nay kê cứu trong các sách cổ, tìm kiếm ra được năm ba cái ý kiến lạ hay cái tư tưởng kỳ của một vài bậc tiền bối lỗi lạc, như vậy cũng chưa đủ chứng rằng nước ta có quốc học đặc biệt với cái học cố hữu của bên Tàu truyền sang.

Ngay cái học mượn của người đó, ta học cũng chửa đến nơi. Nhà nho ta, ngoài mấy bộ kinh truyện là sách giáo khoa của phái Khổng Mạnh, mấy ai đã từng thiệp liệp (biết đủ cả mà không tinh thông gì) đến bách gia chư tử. Ai đã từng nghiên cứu đến học thuyết họ Mặc họ Dương, đến Lão, Trang, đến Phật học? Ngay trong Nho giáo, cũng chỉ biết đến Tống nho là cùng, còn Minh nho thì mang nhiên (không biết gì cả) không hiểu chi hết. Như Vương Dương Minh phản đối cái Nho học hẹp hòi của các thầy nhà Tống mà phát minh ra một cái thuyết mới có ý vị thâm trầm hơn, ở nước ta hầu như không ai biết đến. Ở Nhật Bản thì phái Vương học lại thịnh hành lắm, không những có ảnh hưởng trong học giới, mà lại tiêm nhiễm cả phong tục, có người cho là cái võ sĩ đạo của nước ấy chính sở đắc ở Vương học nhiều. Nhật Bản cũng là học trò của Tàu, cũng mô phỏng văn hóa của Tàu trong mấy mươi đời, nhưng họ biết lựa lọc kén chọn, họ không có phóng chép một cách nô lệ như mình. Cho nên tuy về đường tư tưởng học thuật họ vẫn chịu ảnh hưởng của Tàu nhiều, nhưng họ cũng có một nền quốc học của họ, dầu không được rực rỡ cho lắm, mà vẫn có đặc sắc khác người.

Đến như ta thì khác hẳn. Ta học của Tàu mà chỉ học thuần về một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả. Mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa.

Dầu thế nào mặc lòng, người phụng sự cái chủ nghĩa quốc gia, đoái nhìn lại cõi học của nước nhà, thấy vắng vẻ tịch mịch, không khỏi rầu lòng mà lấy làm than tiếc. Gặp những lúc trong lòng bối rối, trong trí băn khoăn, mở đống sách cũ của tiền nhân để lại, muốn tìm kiếm lấy một vài cái tư tưởng hoặc cái học thuyết gì thiết tha thâm trầm đủ đem ra đối phó với đời, thì chỉ thấy các cụ ngâm hoa vịnh nguyệt, lập lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những bài học cũ từ xưa đến giờ, không khám phá được điều gì mới lạ về vũ trụ nhân sinh cả, thật lấy làm thất vọng vô cùng.

Nói thế không phải là bội bạc với tiền nhân, nhưng sự thật thế nào ta phải công nhận như thế. Ta vẫn có nước, nước ta vẫn có tiếng là ham học, nhưng cả nước ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ cùng nhau ôn lại mấy quyển giáo khoa cũ, hết năm ấy đến năm khác, già đời vẫn không khỏi cái tư cách làm học trò! Ấy cái tình trạng sự học ở nước ta từ xưa đến nay và hiện ngay bây giờ cũng vẫn thế. Vì ta đừng tưởng rằng cái tâm lý học trò đó, ngày nay ta đã gột rửa được sạch đi đâu. Xưa kia học sách Tàu thì làm học trò Tàu, ngày nay học sách Tây cũng chỉ làm học trò Tây mà thôi. Duy có khác là cái nghiệp làm học trò Tàu thì đã kinh quá mấy mươi đời, mà cái kết quả “tiêu cực” của nó đã rành rành ra đó; còn cái nghiệp làm học trò Tây thì mới trên dưới năm sáu mươi năm mà thôi, còn có thể mong rằng sau này có lẽ thành được cái kết quả “tích cực” chăng. Song cứ xem gương như bây giờ, thì cũng không lấy gì làm vui lòng cho lắm: xét những tay xuất sắc trong làng Tây học, phần nhiều cũng còn chưa thoát được cái tâm lý học trò đó; bọn đàn anh khi xưa thì dặm lại mấy câu sáo cũ của Tàu, bọn đàn em bây giờ cũng lại dặm lại mấy câu sáo mới của Tây đó mà thôi, chưa mấy ai là rõ rệt có cái tư cách, – đừng nói đến tư cách nữa, hẳn có cái hy vọng mà thôi, – muốn độc lập trong cõi học vấn tư tưởng cả.

Như vậy thì ra giống ta chung kiếp (suốt đời) chỉ làm nô lệ về đường tinh thần hay sao? Hay là tại thần trí của ta nó bạc nhược quá, không đủ cho ta có cái óc tự lập? Hay là bởi những duyên cớ gì khác nữa?

Cái đó cần phải xét cho tường.

Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật. – Bởi tại làm sao?

Từ nay về sau, ta có thể gây được một nền quốc học không? – Phải làm thế nào?

Tuy nói quốc học ai cũng hiểu rồi, song cũng nên định nghĩa qua cho khỏi lầm. Quốc học là gồm những phong trào về tư tưởng học thuật trong một nước, có đặc sắc khác với nước khác, và có kết tinh thành ra những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy.

Cứ nghĩa tuyệt đối thì không nước nào hẳn có quốc học đặc biệt, nghĩa là tự mình gây dựng ra, không phải nhờ mượn của người, trừ ra mấy nước tổ văn minh trong thế giới như Tàu, ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp không kể.

Nhưng cứ nghĩa tương đối thì mỗi dân tộc hấp thụ được cái văn minh học thuật của ngoài, tất có biến hóa theo tinh thần riêng của mình, mà thành hẳn của riêng mình. Bởi thế nên nước Pháp, nước Anh, nước Đức, v.v…, tuy về đời trước thời nguồn gốc vẫn là do ở Hy Lạp, La Mã mà ra, mà về sau thời thường chịu ảnh hưởng lẫn của nhau nhiều, nhưng nước nào cũng có cái văn minh học thuật riêng của nước ấy, không giống với các nước kia; học thuật riêng đó, tức là quốc học của mỗi nước. Như nước Nhật ở Á Đông ta cũng vậy, thật là “con tinh thần” (fils spirituel) của nước Tàu, đồng văn đồng hóa với Tàu, nhưng vẫn có một cái lối học riêng của họ, tuy cũng xuất ở Tàu mà ra, mà có cái đặc sắc khác với Tàu, có thể gọi là quốc học của Nhật Bản được.

Đến như ta thì mượn cái học của người mà không hóa được theo tinh thần của mình, không gây được thành một nền quốc học cho mình, là bởi cớ sao vậy?

Nói rằng vì giống mình kém hèn hẳn, thì có lẽ phụ cái óc thông minh của các cụ đời trước, và cũng không đúng với sự thật chăng. Nhưng nói rằng vì tình thế khiến nên mà sau tạo thành một cái tâm lý riêng không lợi cho sự học vấn tư tưởng tự do, thì có lẽ đúng hơn.

Tình thế ấy thuộc về địa lý, thuộc về lịch sử, lại cũng thuộc về chính trị nữa.

Thuộc về địa lý là nước ta tiếp cận ngay với nước Tàu, đối với Tàu, dầu sau khi ta độc lập rồi, vẫn coi như một nước phụ dung (phụ thuộc), một nước phiên thuộc (nước chư hầu). Ta chỉ là một bộ phận trong cái thế giới Chi-na mà thôi. Thông tục thường có câu: Nước Tàu như cái áo, nước ta như cái giải. Thật thế: nước ta – nhất là xứ Bắc Kỳ là nơi phát tích của nước ta, – chẳng qua là một tỉnh Quảng Đông lạc về phía nam mà thôi, người dân vốn cũng là một giống trong các giống Bách Việt như người Quảng Đông, nhờ đất liền nên sự giao thông lại càng thân mật lắm. Người Tàu tiện đường tràn sang nước ta, hoặc bằng cách chiến tranh, hoặc bằng cách hòa bình, cứ luôn luôn, hết đời ấy sang đời khác, không hồi nào là không. Cho nên nước ta, dầu có biệt lập thành nước, nhưng về đường địa lý vẫn là tùy thuộc nước Tàu. Khác với Nhật Bản, là một đảo quốc cách biển, người Tàu không trực tiếp sang được, nên không bị xâm lấn bao giờ. Có giữ được độc lập về thổ vũ (lãnh thổ), mới giữ được độc lập về tinh thần.

Thuộc về lịch sử thì sự quan hệ của ta với Tàu lại mật thiết hơn nữa. Giống Giao Chỉ ta, từ khi mới thành bộ lạc đã bị người Tàu thống trị rồi. Trong mười thế kỷ, ta sống ở trong vòng khuôn nước Tàu, không khác gì như một bộ phận của Tàu vậy. Đến khi lập thành nước, từ thế kỷ thứ 10, thì cái dấu vết của người Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi. Tự bấy giờ tiếng gọi là một nước, được độc lập về đường chính trị, nhưng nào đã hoàn toàn độc lập đâu, chỉ những lo lắng, những khó nhọc, những chật vật đối với cái nước láng giềng mạnh kia nó chỉ lăm le định tràn sang mà chiếm lấy mình, mà thật nó cũng đã tràn sang đến mấy mươi lần, lần nào mình cũng cực khổ, dùng hết nỗ lực mới đuổi nó đi được. Thành ra cả cuộc lịch sử của nước Nam ta là một cuộc chiến đấu vô hồi vô hạn đối với người Tàu, hoặc bằng võ lực, hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ lại bị nội thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân (người xưa) ta chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật là đáng cảm phục. Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chú về một việc cạnh tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân (láng giềng mạnh) hằng ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra vẻ một nước độc lập, thì còn có thời giờ đâu, còn có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa. Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn, chiếm mất cả tâm tư trí lự, không còn để thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hóa, về mỹ thuật gì nữa. Nói riêng về học thuật thì đã sẵn cái học của Tàu đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước, không thể tưởng tượng rằng ngoài sách vở của thánh hiền còn có nghĩa lý gì khác nữa; sau đời Lý đời Trần là hồi Phật học còn thịnh hành, rồi chỉ độc tôn có một phái Nho học cho là đạo chính truyền, ngoại giả không dám có tư tưởng gì khác, sợ bị mang tiếng là “dị đoan”. Cái lệ “con chiên” theo đạo nước người thường hay “ngoan đạo” hơn là chính người nước phát hành ra cái đạo ấy. Thường nghiệm người Nam mình theo đạo Gia-tô lại mộ đạo hơn người Tây nhiều. Xưa kia theo đạo Nho có lẽ cũng sùng đạo hơn người Tàu vậy. Vả lại học thuật mà đã dính có tính cách tôn giáo thì không thể sao tấn tới được nữa. Không những ở nước ta, ở ngay nước Tàu cũng vậy: từ khi cái học của Khổng Mạnh, trước bị Hán nho, rồi sau đến Tống nho, lập thành đạo có tín điều, có giáo lý, có lễ nghi hình thức phân minh, thời không phải là học thuật nữa, mà nghiễm nhiên thành tôn giáo rồi. Người theo đạo đâu có dám nghị luận về lẽ đạo nữa. Nếu còn dám dị nghị điều gì, hay là ăn ở khác với lẽ đạo, thì là có tội với danh giáo, ắt phải trục xuất ra ngoài giáo hội rồi!

Thuộc về chính trị thì cái tình thế cũng khốn nạn như vậy. Nho học lợi cho cái chính thể quân chủ chuyên chế, nên các đế vương nước ta lại càng tôn sùng lắm. Đời Lý đời Trần, cái phong trào Phật học còn thịnh, nên nhân tài trong nước, thường thường vẫn có người xuất ở trong hàng tăng lữ. Tự cuối Trần đầu Lê trở về sau, thì bao nhiêu nhân tài là đúc theo cái khuôn khoa cử của Nho giáo cả. Cái chế độ khoa cử thật là một cái quà rất hại mà nước Tàu đã tặng cho ta. Ở ngay bên Tàu nó đã hại mà sang đến ta cái độc của nó lại gấp mấy lần nữa. Bao nhiêu kẻ anh tuấn trong nước đều phải đúc vào cái khuôn ấy cả, nếu không thì không thể ra thi thố gì với đời được nữa. Nhưng đã đúc vào cái khuôn ấy rồi thì thần trí eo hẹp lại sao mà còn có tư tưởng, có học vấn tự do được nữa. Người Nhật Bản họ hơn mình chính là vì họ không mắc phải cái vạ khoa cử như mình. Họ bắt chước cái gì của Tàu thì bắt chước, chớ đến cái lối khoa cử thì họ không chơi. Đời Đức Xuyên (Tokugawa) cũng đã có một hồi thi hành cái chế độ hãm hại nhân tài, nô lệ thần trí đó, nhưng mà sĩ phu trong nước họ không chịu, nên cũng không thể bền được. Ở nước ta thì đến năm sáu trăm năm sinh trưởng trong cái chế độ ấy, trách nào cái khí tinh anh trong nước chẳng đến tiêu mòn đi hết cả. Ở Văn Miếu Hà Nội còn mấy dãy bia kỷ niệm các cụ đỗ tiến sĩ về đời Hậu Lê; trong đó chắc có nhiều bậc nhân tài lỗi lạc, nhưng vì mài miệt về đường khoa cử, nên đều mai một mất cả, tên còn rành rành trên bia đá đó, mà có sự nghiệp về đường học vấn tư tưởng được những ai?

Nói tóm lại thời địa lý, lịch sử, chính trị đều như hiệp sức nhau lại mà gây cho nước ta một cái tình thế rất bất lợi cho sự học vấn tư tưởng. Bao nhiêu những người khá trong nước đều bị cái tình thế ấy nó áp bách trong mấy mươi đời, nên lần lần tập thành một cái tâm lý riêng, là cái tâm lý ỷ lại vào người, chớ không dám tự lập một mình; trong việc học vấn thì cái tâm lý ấy tức như trên kia gọi là cái tâm lý làm học trò suốt đời vậy. Nước ta ở ngay cạnh nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho đến lúc trưởng thành đều núp bóng nước Tàu mà sinh trưởng cả, khác nào như một cái cây nhỏ mọc bên cây lớn, bị nó “cớm” không thể nào nẩy nở ra được.

Nhưng trước kia mọc dưới bóng cây “đa” phương Đông, đã bị “cớm” mà không lên cao được, chỉ sợ nay mọc dưới bóng cây “sên” phương Tây, cũng lại bị “cớm” mà cằn cọc hẳn lại, thì thôi, còn mong mỏi gì nữa!

(Còn tiếp một kỳ)

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: