Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 16, 2011

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P14: Văn Phạm Quỳnh)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:24 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 4 tháng 9 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Những phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 137 đến 199 và 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 14: VĂN PHẠM QUỲNH

VI. NHÀ VĂN PHẠM QUỲNH

4. Văn Phạm Quỳnh

Ngày nay đọc lại Nam Phong với những bài báo bài luận của Phạm Quỳnh, chúng ta thường cho đó là thứ văn cổ xưa. Thật ra cách đây 40 năm đó chính là thứ văn mới nhất. Phải nghĩ rằng trước đó chưa hề ai đem tiếng Việt viết ra văn xuôi đủ vẻ đến thế. Phạm Quỳnh với mấy người cùng chí hướng đã tự đặt ra vậy. Tự đặt ra mà đem viết đầy đến 210 quyển báo, dòng dã 17 năm, đem những sáng kiến sáng chế của mình tạo ra môn phái, ép buộc quốc dân phải công nhận, phải học theo, đủ thấy cái năng lực sáng tạo của mấy người đó mãnh liệt dường nào. Tuy nhiên, cũng như mọi sự sáng tạo, sáng tạo này chỉ thoát thai ở những gì đã có.

Đem phân tích câu văn của Phạm Quỳnh ta thấy về phần văn liệu ông đã chịu ảnh hưởng rõ rệt của Truyện Kiều (nói chung của các truyện Nôm và thi văn Nôm) và tục ngữ ca dao. Nhất là ở văn du ký, văn cảm giác, những cách nói cho bóng bẩy, cho rung động, cho có màu có điệu, đều lấy ở đó. Cũng thuộc nguồn Việt này phải kể những tiếng chuyển, tiếng đệm, ngữ điệu bình dân đặc biệt của miền Bắc: vẫn biết, hẵng còn, thế thời, rồi thì, rồi mà… khiến cho câu văn cả ở loại nghị luận có một dáng dấp Việt Nam. Chữ Hán mà người ta đều cho là ông sính dùng, thường mượn ở Tân văn Trung Hoa hơn là sách Nho. Đôi khi ông hay dùng những tiếng chuyển thuộc về Hán văn cổ như hà tằng, dĩ chí, chí ư, bất nhược, túng sử, kỳ dư… làm cho câu văn có một vẻ thông thái cao kỳ, tuy nhiên đối với Nho gia thời ấy thường nói bằng Hán văn thì mấy chữ đó chỉ là những chữ khẩu đầu, gần như nôm na. Câu văn ông tất nhiên còn chịu ảnh hưởng câu Pháp văn nữa: sự chú ý phân định tự loại, bằng cách đặt lên trên tất cả các danh từ chữ cái hoặc chữ sự, sự nhập cảng vài lối nói cụ thể hóa của tiếng Pháp (như ông viết trong bài khảo về diễn kịch: mọi sự khó khăn đều như hợp lực để thách đố tài trí người ta), sự cố gắng diễn ra lời theo cú pháp phân tích của người Pháp chứ không cô đọng lại trong cách biểu diễn giản ước của Việt ngữ (khác với văn xuôi của Tản Đà chẳng hạn).

Thành ra có thể nói câu văn Phạm Quỳnh là một kết quả dung hợp và trung dung. Ông ưa chữ Hán nhưng không phải ông hay tung ra từng tràng câu kinh chữ truyện như cách viết của các nho gia Nguyễn Đôn Phục, Huỳnh Thúc Kháng. Ông ham cái sáng của câu văn Pháp nhưng chỉ dựa theo chớ không trực dịch như dưới ngòi bút của các nhà Tây học về sau (coi những bài dịch Pháp văn của ông thì rõ). Nói chung thì câu văn ông bắt nguồn rất gần với câu văn Nôm của các Nho gia về trước mà ông muốn đàn ra cho sáng sủa bằng cách bắt chước cú pháp Tây và diễn giải cho dung dị bằng cách điểm vào những ngữ điệu Việt Nam.

Từ một mặt khác – mặt đức tính của bút pháp – mà xét, ta thấy văn Phạm Quỳnh viết ưa trải ra dồi dào nhịp nhàng, có âm điệu trầm bổng êm tai. Ông thường dùng thuật điệp ngữ: tập hợp, chồng chập những chữ những phần câu dùng một chức vụ để gây một ấn tượng gióng giả thiết tha. Lại thường hay dùng thuật biền ngẫu: sóng đôi những hình dung từ, những mệnh đề, để gây ra ấn tượng cân đối nghiêm trang. Ta hãy đọc:

“Là Trời, là Phật, là Thánh, là Thần, tuy danh hiệu có khác nhau, tùy tập tục của mỗi xứ, mà tính cách đâu cũng một, tức là một Đấng Đại từ, Đại bi, cứu khổ cứu nạn, để những khi chán chê cuộc thế, tê tái nỗi lòng có chỗ quy y cho an ổn, có nơi mà than khóc cho hả lòng. Đấng ấy mắt không trông thấy, tai không nghe tiếng, mà trong lòng mong mỏi, trong dạ khát khao, trong trí tưởng tượng, trong bụng cầu nguyện, giữa những lúc cực chẳng đã, thế không sao, lại càng bồi hồi mà tin cậy, nóng nẩy mà ước ao. Đấng ấy không thể không có được vì người đời khổ quá không có lẽ không có ai biết đến, dầu không có thật mà lòng người khẩn nguyện như vậy trí người yêu cầu như vậy, không có cũng phải có, có trong tâm hồn, trong tưởng tượng người ta. Thật hay hư, hư hay thật, sắc không, không sắc biết đâu ? Chỉ biết có thời tấm lòng an ủi, không thời tấc dạ băn khoăn. Bởi thế nên sinh các tôn giáo, bởi thế nên dựng ra các đền chùa.

Ở đây tác giả lại hay có một chữ đặc biệt :

“Tất cả ai cũng thường nhận thấy rằng cái cảm giác ấy (nói cái cảm giác khi thưởng thức văn chương Pháp) có một hứng vị, một phong thú riêng không thể giải được, êm đềm mà vui vẻ, nhẹ nhàng mà thiết thực, thơm tho mà mặn mà, cái hương cái sắc điệu cái tình nó có một vẻ thiên nhiên mà đượm nhuần, thanh tao mà đậm đà, thực xưa nay trong văn ta chưa từng được thưởng thức bao giờ”.

Ai cũng nhận ra chữ ở đây đã giúp cho thuật sóng đôi nhẹ nhàng thanh thoát. Nhưng đôi khi tác giả cũng lạm dụng, như Truyện Kiều sở dĩ hơn các văn chương khác chính là ở cái tinh thần riêng ở ngoài lề lối ấy. Tinh thần ấy cao thâm mà uyên áo (sâu xa, kín đáo – PT chú) xán lạn mà rực rỡ, điều hòa mà êm ái, mãnh liệt mà hùng hồn, tuy trạng thái có khác mà đều là một mảnh hồn thơm của giai nhân, danh sĩ, cách đại cảm nhau, hương thừa còn phảng phất trong toàn truyện.

Chữ là một liên tự nối hai từ ngữ diễn hai ý nếu không trái ngược nhau thì cũng phải khác nhau. Như nói gầy mạnh, chậm chạp vững vàng”. Đến như trong thí dụ trên cao thâm với uyên áo cũng là một ý, xán lạn nghĩa là rực rỡ, điều hòa thì tất phải êm ái, dùng chữ mà thật là vô ích, là độn.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: