Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 13, 2011

Phạm Quỳnh- Biệt hiệu Hoa Đường (P1)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:52 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 4 tháng 10 năm 2011.

PHẠM QUỲNH

(Biệt hiệu Thượng Chi)

Vũ Ngọc Phan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới – 2004 trên các trang 2028-2029, Trần Hữu Tá có viết như sau:

Vũ Ngọc Phan

(30.X.1907 – 14.VI. 1987). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam. Những năm đầu cầm bút còn có bút danh: Chỉ Qua Thị. Sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức Nho học. Nguyên quán: làng Đông Cao, huyện Gia Bình, nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi đỗ Tú tài (1929), Vũ Ngọc Phan dạy học và cộng tác với các báo Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội tân văn, Sông Hương, Công luận, v.v… Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước ngoài như I vân hoa (tức Aivanhô), Anna Kha lệ ninh (tức Anna Karênina), v.v… Ông cũng đã từng viết bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941), Truyện Hà Nội (1944). Tuy nhiên, trước 1945, Vũ Ngọc Phan được nhiều người biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (1942). Đây là một bộ sách nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ ràng, thẳng thắn dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó, nhiều nhận định của ông cho tới nay vẫn còn có giá trị.

“Sau cách mạng tháng Tám 1945 (…) Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955), Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (Chủ biên, 1961), Họp tuyển văn học Việt Nam (Chủ biên, 1972), v.v… Đáng chú ý hơn cả là cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Chủ biên, 1956) có giá trị nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập họp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những nhận định, tổng kết của tác giả tuy chưa đạt tới sự khái quát cao, nhưng chắc chắn, đáng tin cậy. 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I cho các công trình về văn học dân gian.”

Bài dưới đây trích trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 1989) trên các trang 73-78.

*

*      *

Ông còn ký một biệt hiệu nữa là Hồng Nhân. Trong bức thư gửi về Trí Đức học xá Hà Tiên ngày 13/8/1928 (trích đăng trong Nam Phong, số 188, tháng Chín 1933, trang 220), Đồ Nam Tử viết: “Hồng Nhân cũng là hiệu của ông ấy (Phạm Quỳnh) vì ông ấy vốn quê ở Thượng Hồng, Phủ Bình, Hải Dương”.

Ông là người viết nhiều nhất trong tạp chí Nam Phong. Tôi lựa sau đây những bài có thể tiêu biểu cho các lối văn của ông, trong đó có mấy bài ông đã hợp lại thành sách trong bộ Nam Phong tùng thư, và chia làm bốn loại:

I-   Những bài biên tập có tính cách chính trị xã hội hay lịch sử: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp (Nam Phong tùng thư, quyển I-1928, và quyển II-1929), Lịch sử thế giới (Nam Phong tùng thư, 1930).

II-   Những bài có tính cách văn học – Những bài này lại có thể chia làm bốn mục nữa: Khảo cứu, dịch thuật, trước thuật, bình luận.

a.   Khảo cứu: Văn học nước Pháp và Khảo về tiểu thuyết (Nam Phong tùng thư, 1929); Pháp văn thi thoại: Baudelaire tiên sinh (Nam Phong, số 6- tháng 12-1917); Một nhà danh sĩ nước Pháp: ông Pierre Loti (Nam Phong, số 72- tháng Sáu 1929); Một nhà văn hào nước Pháp: ông Anatole France (Nam Phong, số 161, – tháng Tư 1931).

b.   Dịch thuật: Ôi thiếu niên (truyện ngắn của G.Courteline), Ái tình (truyện ngắn của Guy de Maupassant), Cái buồn của một tên tù già, Thương hão (truyện ngắn của Loti– Nam Phong tùng thư 1929); Chuyện trên xe lửa (Dịch trong thuyết bộ của Guy de Maupassant. – Nam Phong số 158 – tháng Giêng 1931); Chàng ngốc hóa khôn vì tình (Hài kịch dịch trong kịch bộ của Marivaux. – Nam Phong số 45 – tháng Ba 1921); Tuồng Lôi Xích (Le Cid của Pierre Corneille, Nam Phong, số 38 và 39 – tháng Tám – Chín 1920); Tuồng Hòa Lạc (Horace của P.Corneille, Nam Phong, số 73, 74 và 75 – tháng Bảy – Tám – Chín 1923).

c.   Trước thuật: Ba tháng ở Paris (Du ký, Nam Phong tùng thư, 1927); Tục ngữ ca dao (soạn và tập, Nam Phong tùng thư – 1932).

d.   Bình luận: Bàn về quốc học (Nam Phong số 163 – tháng Sáu 1931); Bàn về sự dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ (Nam Phong số 20 tháng Hai 1919); Bình phẩm “Một tấm lòng” của Đoàn Như Khuê (Nam Phong số 2 – tháng Tám 1917); Mộng hay mị ? (Phê bình “Giấc mộng con” của Nguyễn Khắc Hiếu; Nam Phong số 7 – tháng Giêng 1918); Hoàn cảnh (Nam Phong số 90 – tháng 12 -1924); Trả lời bài: Cảnh cáo các nhà học phiệt trong Phụ nữ tân văn (Nam Phong số 152 – tháng Bảy 1930); Lịch sử nghề diễn kịch ở nước Pháp; Bàn về hí kịch của ông Molière (Nam Phong số 35 – tháng Năm 1920); Pháp văn tiểu thuyết bình luận (Phục thù cho cha) (Nam Phong số 9 – tháng Ba 1918).

III-     Những bài biên tập có tính cách triết học:

a.   Khảo cứu: Dịch sách Phương pháp luận của Descartes (Nam Phong – số 3, 4 và 5 – tháng Chín – Mười – Mười một 1917); Lịch sử và học thuyết Voltaire (Nam Phong tùng thư, 1930); Lịch sử và học thuyết của ông Bousseau (Nam Phong số 104 – tháng Tư 1926); Lịch sử và học thuyết của Montesquieu (Nam Phong số 108 – tháng Tám 1926); Triết học Auguste Comte (Nam Phong số 138 – 1929); Triết học Bergon (Nam Phong số 150 – tháng Năm 1930); Phật giáo đại quan (Nam Phong tùng thư 1931).

b.      Dịch thuật: Đời đạo lý (Nam Phong từ số 144 – tháng 12-1929); Lời cách ngôn của Marc Aurèle (Nam Phong từ số 128 – tháng Tư 1928); Sách cách ngôn của ông Epictète (Nguyễn Văn Vĩnh Editeur, 1929)

IV-   Những sách Pháp văn:

a.      Văn học: Poésie annamite – 1931; Le paysan tonkinois à travers le parler populaire – 1930 (Nam Phong tùng thư).

b.      Triết học : L’idéal du sage dans la philosophie confucéenne­ – 1928 (Nam Phong tùng thư)

c.       Chính trị : Essais Franco-annamites (Editions Bùi Huy Tín, Huế 1937).

Đọc những bài và những sách trên này của Phạm Quỳnh, người ta cũng thấy rẳng những bài trước thuật, dịch thuật và biên tập của ông thật là phong phú.

Nhưng một số điều mà người đọc nhận thấy trước nhất trong những bài biên tập và trước thuật của ông là ông không cẩu thả ; phần nhiều các bài của ông đều vững vàng, chắc chắn, làm cho người đọc có lòng tin cậy. Điều thứ hai là ở nhà văn này, người ta nhận thấy một khuynh hướng rõ ràng về học thuyết hay về những thứ mà phần tư tưởng là phần cốt yếu. Ít khi người ta thấy dưới ngòi bút ông những bài phù phiếm có giọng tài hoa, bay bướm và chỉ có một tính cách đặc văn chương. Ông là người chủ trương cái thuyết : đọc sách tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được.

Trong khi Nguyễn Văn Vĩnh đi tìm những cái nhẹ nhàng hoa mỹ trong văn chương Pháp để diễn ra quốc văn một cách phóng túng, thì Phạm Quỳnh đã có cái khuynh hướng biên dịch những bài về tư tưởng, về lý thuyết Âu Tây. Ngay trong mấy số đầu Đông Dương tạp chí, ông đã dịch những đoạn văn của Renan trích trong L’avenir de la science (Đông Dương tạp chí, số 4, trang 202) những đoạn văn của Bossuet trích trong Sermon sur la jeunessse de Saint Bernard (Đông Dương tạp chí, số 6, trang 331), những đoạn văn của Pascal trích trong Pensées (Đông Dương tạp chí, số 9, trang 523). Ngay hồi đó (năm 1913) giọng văn ông đã chín chắn khác thường ; đọc, tưởng chừng như một người đã đứng tuổi. Hãy nghe mấy lời nói đầu về bài dịch thuật Hai cái thái cực (Les deux infinis) của ông :

«  Hai cái thái cực là cái thái cực to và cái thái cực nhỏ, hai cái đều quá sức người ta không thể tưởng tượng được. Thân phận người ta bơ vơ đứng giữa hai thái cực, không biết đâu là bờ bến, không biết ở đâu đến, không biết đi đến đâu, thật là đáng thương thay ! Cái cảnh tượng ấy, cái bi kịch người ta đối với thế gian ấy, từ xưa đến nay, các nhà thi văn tư tưởng tả đã nhiều, nhưng chưa từng thấy bài nào nhời thiết tha, giọng hùng hồn, thật là xứng với cảnh to tát, hợp với ý cao thâm, bằng bài văn sau này của danh sĩ Pháp Pascal. » (Đông Dương tạp chí số 9, trang 523).

Cái giọng văn đúng mực, già giặn trên này mà ông có từ hồi thanh niên, về sau người ta vẫn thấy trong tất cả các bài luận thuyết của ông. Ngay hồi mới bước chân vào văn giới, ông cũng đã thận trọng câu văn trong các bài dịch thuật : dù diễn ra quốc văn có dài dòng mặc lòng, điều cốt yếu là phải cho sát nghĩa, cho đúng với ý của nguyên văn.

Hãy đọc đoạn : Les deux infinis sau này của Pascal :

(…)

Và bản dịch của ông :

« … Vì rút lại thì người ta trong cảnh vật này là gì ? Đối với cái thái cực thì người ta là một cái hư vô, đối với cái hư vô thì người ta là một cái thái cực, nghĩa là một khoảng giữa cái có với cái không. Người ta còn xa lắm mới hiểu được cái cùng cực, cho nên cái nhẽ cứu cánh cùng cái nguyên lý vạn vật còn bí mật không tài nào khám phá được; không thể biết được cái hư vô ở đấy mà ra, mà cũng không thể biết được cái thái cực tiêu diệt về đấy».

Dịch như vậy về văn chưa phải là hoàn toàn, nhưng ai cũng phải nhận là đúng nghĩa.

(Còn tiếp)

V.N.P.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: