Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 21, 2011

Phạm Quỳnh (Biệt hiệu Thượng Chi)_P2

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:25 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 5 tháng 10 năm 2011.

PHẠM QUỲNH

(Biệt hiệu Thượng Chi)

Vũ Ngọc Phan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới – 2004 trên các trang 2028-2029, Trần Hữu Tá có viết như sau:

Vũ Ngọc Phan

(30.X.1907 – 14.VI. 1987). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam. Những năm đầu cầm bút còn có bút danh: Chỉ Qua Thị. Sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức Nho học. Nguyên quán: làng Đông Cao, huyện Gia Bình, nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi đỗ Tú tài (1929), Vũ Ngọc Phan dạy học và cộng tác với các báo Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội tân văn, Sông Hương, Công luận, v.v… Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước ngoài như I vân hoa (tức Aivanhô), Anna Kha lệ ninh (tức Anna Karênina), v.v… Ông cũng đã từng viết bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941), Truyện Hà Nội (1944). Tuy nhiên, trước 1945, Vũ Ngọc Phan được nhiều người biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (1942). Đây là một bộ sách nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ ràng, thẳng thắn dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó, nhiều nhận định của ông cho tới nay vẫn còn có giá trị.

“Sau cách mạng tháng Tám 1945 (…) Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955), Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (Chủ biên, 1961), Họp tuyển văn học Việt Nam (Chủ biên, 1972), v.v… Đáng chú ý hơn cả là cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Chủ biên, 1956) có giá trị nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập họp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những nhận định, tổng kết của tác giả tuy chưa đạt tới sự khái quát cao, nhưng chắc chắn, đáng tin cậy. 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I cho các công trình về văn học dân gian.”

Bài dưới đây trích trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 1989) trên các trang 78-85.

*

*     *

(tiếp theo)

Sự thận trọng ấy của ông từ hồi Đông Dương tạp chí người ta thấy một cách rõ ràng hơn nữa trong khi ông chủ trương tạp chí Nam Phong.

Những quyển thuộc loại khảo cứu, như Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới đều là những sách biên tập tuy chưa hẳn là đầy đủ, nhưng đều có một đặc tính là chải chuốt và sáng suốt.

Đọc hai quyển Chính trị nước Pháp của ông, người chưa hiểu chính thể nước Pháp, cũng biết được thế nào là quyền lập pháp, quyền hành chính, quyền tư pháp của một nước dân chủ và cách tổ chức những cơ quan lớn nhỏ để thi hành những quyền ấy.

Một quyển sách như quyển này có thể dịch hay lược dịch ở nhiều sách pháp luật chữ Pháp, nên về phương pháp viết, như cách xếp đặt các chương, các mục, không còn là một việc khó; nhưng điều quan hệ là trong khi phiên dịch ra quốc văn, cần phải chọn những chữ cho thật đúng, để người đọc dễ hiểu và không lầm.

Trong  Chính trị nước Pháp có nhiều chữ biên giả dịch rất đúng. Thí dụ như chữ “ministre”, ông dịch là: quốc vụ tổng trưởng (người ta thường dịch là tổng trưởng không, như thế cốt cho vắn tắt chứ không đúng), “conseil de préfecture” là “quận hạt hội nghị, “interpeller” là: chất vấn, “poser des questions” là: phát vấn, “scrutin uninominal” là: nhất danh tuyển cử, “scrutin de liste” là: hợp sách tuyển cử, vân vân…

Nhưng cũng có một đôi chữ ông dịch không đúng nghĩa hẳn, làm cho người đọc khó hiểu. Thí dụ chữ “cens” ông dịch là: hộ tịch. “Hộ tịch” là quyển sổ ghi chép số nhân dân, chức nghiệp và quê quán từng người dân; còn chữ cens đây nghĩa là: tư cách tuyển cử; như có bằng cấp gì, đóng bao nhiêu tiền thuế mới “đủ tư cách đi bỏ phiếu bầu”. Chữ “commune” ông cho  nghĩa là “chợ” hay “thị tỉnh”, nhưng thiết tưởng dịch là: “thị xã” vừa phổ thông, vừa đúng hơn, vì thị xã tức là đoàn thể chính trị có quyền tự trị ở các nước văn minh, như cái nghĩa ông muốn dùng; cũng như chữ “maire” nên dịch là “xã trưởng”, thì dễ hiểu hơn là “thị trưởng”.

Biên tập kỹ càng hơn nữa là những bài Chính trị học (Nam Phong từ số 148- tháng Ba 1930) của ông. Những bài này mà xuất bản thành sách, cho đi kèm với hai quyển Chính trị nước Pháp thì thật là một bộ sách có giá trị, vì một đằng có tính cách chung, có tính cách về lý thuyết; còn một đằng có tính cách riêng, có tính cách về thực tế, thực hành.

Quyển Văn minh luận và quyển Lịch sử thế giới của ông ta là hai quyển lược khảo. Quyển Văn minh luận ông biên dịch cũng kỹ càng, nhưng không có được cái tính cách chung, vì sau khi giải nghĩa văn minh và nói về tính cách văn minh ngày nay, ông kết luận bằng chương Văn minh học thuật nước Pháp. Còn quyển Lịch sử thế giới sơ lược quá. Như Nói về nước Nhật Bản mới, về thế quân bình ở Âu Châu và trong thế giới mà rút vào có hơn hai trang nhỏ (trang 70, 71, 72).

*

*    *

Những bài có tính cách văn học của ông như tôi đã nói trên, có thể chia làm bốn loại: Khảo cứu, dịch thuật, du ký và bình luận.

Về khảo cứu, trước hết phải kể hai quyển Văn học nước PhápKhảo về tiểu thuyết của ông. Cũng như những quyển trên, quyển Văn học nước Pháp của ông vốn là những bài “lược khảo về văn học sử nước Pháp” đã đăng trong Nam Phong (từ số 92 – tháng Tư 1925). Trái hẳn với quyển Lịch sử thế giới, quyển Văn học nước Pháp là một quyển ông biên tập tuy văn tắt, nhưng đủ cho người ta có một ý kiến rõ ràng về mỗi nhà văn và sự tiến hóa về đường văn học của nước Pháp qua các thời đại. Trong quyển Khảo về tiểu thuyết, một nửa phần ông nói về các loại tiểu thuyết (ngôn tình, tả thực, truyện ký), còn một nửa phần đăng những bản dịch về mấy truyện ngắn của Georges Courteline, Guy de Maupassant và Pierre Loti. Phần khảo cứu tuy không dài, nhưng sáng suốt và cân phân, không thiên về mặt nào quá, ông lại cử ra đủ các thí dụ về tiểu thuyết Đông, Tây.

Về định nghĩa tiểu thuyết theo quan niệm Âu Tây, ông viết: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục, xã hội, hay là những sự lạ, tích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú”, rồi ông chú trọng nhất ở sự kết cấu trong phép làm tiểu thuyết, vì chính chỗ đó là chỗ một tiểu thuyết gia tỏ cho người ta thấy cái tài năng hay cái kém cỏi của mình, mà “phàm kết cấu ra một truyện phải có hai phần, một là nhân vật, hai là tình tiết, nghĩa là người và việc”.

Trong bài khảo cứu, lời nghị luận của ông dồi dào và mạch lạc chặt chẽ. Nhưng ở vài đọan, có lẽ vì ông muốn chặt chẽ quá mà giọng hóa ra thiết tha, làm cho có vẻ nặng nề và cổ kính. Thí dụ đọan này:

“… Vậy trước khi làm một bộ tiểu thuyết, phải lập ý thế nào đã: định răn đời về một thói xấu nào ư, định hình dung một hạng người ư, định diễn tả một cảm tình nào ư, bao giờ cũng phải có chỗ lập ý, thời mới nhân đó kết cấu ra được”… (Khảo về tiểu thuyết, trang 14)

Cách đây hai mươi năm (bài Khảo về tiểu thuyết đăng lần đầu trong Nam Phong số 43-tháng Giêng 1921), cái giọng văn láy đi láy lại như thế, có lẽ nhiều người cho là du dương, nhưng ngày nay người sành văn đã biết chuộng sự giản dị và chán những sự cân đối cầu kỳ.

Lại như câu này nữa của ông, thật là đặc biệt, về cái dài và về cái trầm bổng; ai đọc văn ông nhiều, chỉ nghe qua cũng có thể biết ngay là của ông:

“Ngày nay mở một bộ tiểu thuyết Tây, bất cứ vào hạng nào, chắc là trong có nói chuyện tình: tình cao thượng, tình tầm thường, tình sầu, tình thảm, tình trẻ tình già, tình tà, tình chính, tình trong cảnh gia đình hòa thuận, tình ở ngòai buồng the thầm dấu, tình phất phơ trăng gió, tình thắm thiết đá vàng; nhưng thứ nhất là tình dục, là cái bụng trai gái ham nhau, cốt để thỏa cái lòng muốn tự nhiên nó khiến cho muôn loài trong trời đất vì ham nhau mà phải tìm đến với nhau, dẫu vô tri cũng đèo bòng, để diễn ra muôn cuộc vui thú, muôn cảnh éo le, muôn nỗi thảm sầu, trên cái sân khấu lớn là cõi thế gian này”. (Khảo về tiểu thuyết, trang 35).

Thật lả một câu dài dằng dặc chẳng khác nào những câu của Marcel Proust, nhưng lại khác Marcel Proust là không hết ý, ở đoạn trên, dù ông đã kể bấy nhiêu thứ tình mà vẫn còn nhiều thứ tình nữa; và đoạn dưới dù ông đã kể ra mấy muôn mục đích của tình dục, nhưng cũng vẫn còn nhiều mục đich nữa của thứ tình này.

Lối văn nghị luận của ông có khi rườm rà như thế, nhưng có khi lại giản dị và rất nhẹ nhàng. Như bài biên tập của ông về Baudelaire thì thật là một bài biên tập hoàn toàn (Nam Phong số 6 – Tháng 12-1917).

Trước hết, ông nói về thơ ta:

“Từ xưa đến nay ta thuần chịu ảnh hưởng của thơ Tàu, ảnh hưởng ấy lâu ngày sâu quá làm mất cả đặc sắc của nhời thơ ta, thành ra lắm khi thơ nôm cũng chỉ là những bức “vẽ phóng” của thơ Tàu mà thôi. Nhưng ngày nay ta đã bắt chước được cái thể , cái luật, cái hình thức của thơ Tàu rồi, thì nên quay về Âu Châu mà đón lấy cái luồng tư tưởng, gió cảm hứng mới. Cái cảm hứng của thơ Tây thật là có lắm vẻ ly kỳ tuyệt thú, xưa nay ta chưa từng biết bao giờ. Người Tây dùng nhời thơ vẽ được hết cái cảnh vật trong trời đất, diễn được hết cái tâm lý trong người ta”.

Những ý kiến trên này là những ý kiến về sau có nhiều người theo và nó đưa người ta đến lối thơ mới, lối thơ mà những nhà bỉnh bút của tạp chí Nam Phong đều không ưa.

Về Baudelaire, ông xét đoán nhiều câu rất đúng như đoạn sau này có thể là một đoạn tóm tắt hết cả chủ đích của nhà thi hào Pháp về sự phô diễn tính tình cùng tư tưởng:

“Tiên sinh vốn ham những cảnh mỹ lệt trang nghiêm, nhưng đem tả những cảnh ấy ra không phải là để tìm lấy một sự khoái lạc riêng cho mình, tả ra chỉ để chứng cho cái sầu khổ ở đời, tả ra để cho biết rằng ở đời không có vậy. Thảm thay! Nhưng tiên sinh rất ham sự thực, lấy làm của báu nhất ở đời. Bình sinh đã bỏ hết cái lòng hy vọng với đời, nên chỉ nhất quyết nghĩ sự thực, nói sự thực mà thôi, không hề, lấy cái văn chương điêu trác mà dối đời. Một đời tiên sinh đã từng trải đủ mọi cảnh khổ: cảnh nghèo, cảnh ốm, cảnh đói, cảnh rét, cảnh đau đớn, cảnh bi thương, cảnh mất người yêu, cảnh bị người lừa, cảnh mong mà không được, cảnh tránh mà phải gặp, bấy nhiêu cái đều đến cùng, đến cực điểm, mà làm cho héo gan, đứt ruột. Bấy nhiêu nỗi tiên sinh chịu khổ thế nào, tiên sinh nói ra làm vậy: bởi thế nên nhời thơ của tiên sinh bi đát như thế”. (Nam Phong số 6, trang 369).

Đến những bài khảo của ông về Pierre Loti và Anatole France, ai cũng phải nhận là đầy đủ (Nam Phong số 72 – Tháng Sáu 1923 và số 161 – Tháng Tư 1931). Về thân thế, về tác phẩm về ảnh hưởng văn chương của hai nhà văn này, ông nghiên cứu rất tường tận và có dịch mấy loại văn của hai nhà để chứng dẫn.

Bài Một nhà văn hào nước Pháp: Anatole France của ông là một bài tuyệt hay trong lối văn khảo cứu, vì nó có đủ những tính chất rất quý của một bài khảo cứu: bình luận sáng suốt, xét đóan kỹ càng, lối hành văn tài tình, đưa dắt người đọc qua các lớp tư tưởng, qua tất cả văn phẩm của nhà đại văn hào Pháp một cách dễ dàng như cầm tay người ta mà đưa vào ngoạn thưởng một vườn hoa vậy.

Những lời xét đóan sau này của ông là những lời của một người có cái học vừa sâu sắc, vừa quảng bác, vì nó đủ tóm tắt hết cả học thuyết của Anatole France và cái tính cách duy nhất của những tác phẩm có giá trị của nhà văn hào này:

“Trong sự nghiệp trước tác của ông, có mươi quyển sách thật là kiệt tác (Les Poésies, Sylvestre Bonnard, Le Livre de mon ami, Thaïs, La Rôtisserie, Le Lys rouge, L’Ormedu Mail, Le Mannequin d’osier, L’Affaire Crainquebille, Les Dieux ont soif) đáng lưu truyền đời đời, thì xét ra những sách ấy tư tưởng rất tự do, văn từ rất tao nhã, không thiên lệch về đường nào,  không mê tín về sự gì, sáng sủa, đẹp đẽ vô cùng dịu dàng, mát mẻ vô cùng, tưởng không có đảng chính trị nào có thể mượn để làm khí cụ chiến đấu được… Ông vốn dĩ là một nhà hoài nghi, ông hoài nghi hết thảy, không những hoài nghi về chính trị, mà hoài nghi cả về đạo đức, về khoa học, về nhân nghĩa, về chân lý, cho đến mỹ thuật ông cũng hoài nghi nốt”.

Đọc những lời trên này, người nào chưa đọc Anatole France cũng có thể chọn được sách của ông mà đọc và hiểu sơ qua được cái thuyết hoài nghi của nhà đại văn hào nước Pháp.

Đặc sắc nhất là đoạn biên giả nói về cái “công duy trì cho tiếng Pháp” của Anatole France, cái công tổ thuật được phái chính tông của nước Pháp, tức là văn phái Montaigne, Voltaire, Renan.

(Còn tiếp)

V.N.P.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: