Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 27, 2011

Phạm Quỳnh – Biệt hiệu Thượng Chi (P3)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:13 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 1 tháng 11 năm 2011.

PHẠM QUỲNH

(Biệt hiệu Thượng Chi)

Vũ Ngọc Phan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới – 2004 trên các trang 2028-2029, Trần Hữu Tá có viết như sau:

Vũ Ngọc Phan

(30.X.1907 – 14.VI. 1987). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam. Những năm đầu cầm bút còn có bút danh: Chỉ Qua Thị. Sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức Nho học. Nguyên quán: làng Đông Cao, huyện Gia Bình, nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi đỗ Tú tài (1929), Vũ Ngọc Phan dạy học và cộng tác với các báo Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội tân văn, Sông Hương, Công luận, v.v… Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước ngoài như I vân hoa (tức Aivanhô), Anna Kha lệ ninh (tức Anna Karênina), v.v… Ông cũng đã từng viết bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941), Truyện Hà Nội (1944). Tuy nhiên, trước 1945, Vũ Ngọc Phan được nhiều người biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (1942). Đây là một bộ sách nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ ràng, thẳng thắn dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó, nhiều nhận định của ông cho tới nay vẫn còn có giá trị.

“Sau cách mạng tháng Tám 1945 (…) Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955), Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (Chủ biên, 1961), Họp tuyển văn học Việt Nam (Chủ biên, 1972), v.v… Đáng chú ý hơn cả là cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Chủ biên, 1956) có giá trị nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập họp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những nhận định, tổng kết của tác giả tuy chưa đạt tới sự khái quát cao, nhưng chắc chắn, đáng tin cậy. 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I cho các công trình về văn học dân gian.”

Bài dưới đây trích trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 1989) trên các trang 85-91.

*

*     *

(Tiếp theo)

Về văn dịch thuật, nếu so với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh không có giọng tài hoa bằng, nhưng nếu căn cứ vào sự dịch đúng, dịch sát ý, thì họ Phạm hơn hẳn họ Nguyễn. Như bài Spleen của Baudelaire mà nhiều người Tây học đã biết, tôi trích đăng sau đây bài dịch của Phạm Quỳnh để người ta thấy rằng trừ vài ba chữ dịch hơi sai nghĩa, còn thì không những ông dịch sát nguyên văn mà còn có nhiều câu tài tình nữa:

“U UẤT

Những khi trong trí ai oán buồn bực không dứt, trời thấp nặng chình chịch như cái vung, bao lung cả chân mây góc bể mà trút xuống cho ta một cái ngày tối thảm hơn là đêm.

Những khi mặt đất biến thành ngục tối, để giam cái thần Hy vọng ở trong, khác nào như con dơi bay trong nhà hoang, đập cánh vào tường ẩm, đâm đầu vào trần mục.

Những khi mưa trút nước xuống tựa hồ như đặt dóng sắt cho một cái nhà tù lớn, mà trong cùng óc ta thì hình như có vô số những con nhện xú uế đến chăng dây mắc mạng.

Những khi ấy thì tiếng chuông tiếng trống ở đâu bỗng nổi lên đùng đùng, tung lên trời những tiếng kêu gầm thét, như lũ oan hồn chưa thác đồng thanh mà rền rĩ thiết tha.

Bấy giờ tôi tưởng như trong hồn tôi đương trảy lũ lượt những đám ma, không kèn không trống, lẳng lặng mà đi. Thần Hy vọng bị thất bại, khóc rưng rức, thần Sầu khổ được thắng thế ra tay tàn ác nghiêng đầu xuống mà chôn lá cờ đen vào trong óc”.

Tôi nói: vài ba chữ hơi sai, là vài ba chữ này: “Ainsi que les esprits errants et sans patrie” mà ông dịch là “như một lũ oan hồn chưa thác” thì thiếu hẳn nghĩa mấy chữ “errants et sans patrie” (lang thang vô xứ sở) và thừa hai chữ “chưa thác”; rồi câu này nữa: “…et I’Angoisse actroce, despotique, sur mon crâne incliné, plante son drapeau noir”, ông dịch là “…thần Sầu khổ được thắng thế ra tay tàn ác nghiêng đầu xuống mà chôn lá cờ đen vào trong óc”, thì không làm gì có cái nghĩa “thắng thế” trong câu thơ Pháp, và “nghiêng đầu” đây là thi sĩ “nghiêng đầu”, cúi gục đầu xuống vì rầu rĩ, chứ không phải là “thần Sầu khổ… nghiêng đầu xuống”, vì chính nghĩa cả câu thơ Pháp trên này là: thần Sầu khổ độc ác và chuyên chế đem lá cờ đen mà trồng lên trên cái đầu tôi cúi gục. Tuy vậy, dịch như trên này cũng đã khác xa cái lối dịch phóng túng.

Những đoản thiên tiểu thuyết Pháp, ông dịch nhiều đoạn vừa có duyên vừa sát nghĩa, đáng làm khuôn mẫu cho những nhà dịch truyện Tây. Những truyện ngắn dịch của ông tất cả độ mươi truyện; tôi chỉ cử ra đây một truyện hoạt kê của Georges Courteline để người ta thấy cái tài dịch tiểu thuyết của ông.

Đây là truyện một anh chàng tuổi còn non đã dại gái; mà gái lại là một ả con hát tính khí bộp chộp, nhận lời đấy rồi lại quên lời đấy, làm cho anh tình nhân thật thà chỉ những lo lắng cùng thất vọng. Một truyện rất tức cười mà Courteline đã tả nên những lời chua chát, nhạo đời, nên dịch cũng phải dụng công lắm.

Về những lời mê gái, câu văn dịch sau này của ông thật tuyệt: “Thật thế! Giá ai bán cái chết của chúng nó (Hai chữ “chúng nó” chỉ vào bọn con hát. Anh chàng vì lần thần, nên bị chúng chế giễu) mà phải mua bằng linh hồn của  tôi, tôi cũng xin mua ngay, không ngần ngại” (Khảo về tiểu thuyết, trang 55 – Nam Phong tùng thư).

Đoạn tơ tưởng đến gái mà say sưa, ông dịch cũng tài tình:

“Tên nó là cô Mã Liên, nó đóng vai “mụ La Sát” trong bản kịch đang diễn bấy giờ. Người không thấp không cao, không gầy, không béo, không phải đẹp ra lối mỹ miều yểu điệu, mà đẹp ra lối cứng cáp mạnh mẽ, cổ tay tròn, bắp chân thẳng, nét mặt thẳng thắn nghiêm trang; thật là đẹp như cái tượng bà thần Giu-nông ngày xưa. Trai tân mà gặp được gái ấy, còn gì tốt bằng. Cho nên tôi mê đặc.

Nhưng các bác cũng hiểu rằng mê thì mê mà nào có dám rỉ răng với ả…

Không những không dám rỉ răng mà lại cố giữ kín trong lòng như một cái của báu, như một sự bí mật. Tưởng mình như con sâu đất say mê một vì sao trên trời, ngày đêm chỉ tơ tưởng được trông thấy thì vui sướng vô cùng, không trông thấy thì sầu khổ vô hạn, chưa được nhìn mặt thì nóng ruột sốt lòng, đã được nhìn rồi thì mát mẻ khoan khoái”. (Khảo về tiểu thuyết, trang 55 và 56).

Rồi ở một đoạn sau, cái “tình ý” của đàn bà bằng những lời dịch sau này:

“… Nhưng đàn bà đến chuyện tình là họ tinh lắm, người mê gái giá chôn mình xuống đất, xây gạch lên trên, gái nó cũng biết.”

Thật là một câu thú vị mà lời dịch mạnh mẽ lột được hết tinh thần nguyên văn.

Rồi đây nữa là đoạn tả cái cười của một con đĩ:

“Trời ơi là cười!… Mê muội đến tưởng chỉ có một mình mình là phải lòng chị, chị lấy cái đó làm kỳ khôi, làm nực cười, làm một câu chuyện thú nhất trần đời, nên mới cười, cười sặc cười sụa, cười vỡ cười lở, như bao nhiêu cái khí tục tằn, thô bỉ, di truyền đã từ đời ông đời cha đến giờ vẫn còn ngấm ngầm ở trong mạch máu, chạy khắp thân thể như những con thằn lằn xanh, bấy giờ bỗng sôi nổi cả lên, mà phát tiết ra cái giọng cười trượng phu đó”. (Khảo về tiểu thuyết, trang 58).

Những câu văn dịch vừa đúng nguyên văn lại khéo giữ được cái lối xét nhận, cái ý nghĩ, cái cốt cách Tây Phương, như những câu trên này, cần phải đọc kỹ, mới thấy hết cái hay được.

Nhưng trong vở hí kịch Chàng ngốc hóa khôn về tình (Nam Phong, số 45, tháng Ba 1921), cái giọng õng ẹo bay bướm, cái giọng rất tức cười của các vai do Marivaux sáng tạo, cái giọng rất khó diễn ra quốc văn, nên ở nhiều chỗ đáng lý phải vui lắm, mà khi đọc bản dịch chỉ thấy nhạt nhẽo, lạnh lùng. Những câu đối thoại bên Pháp văn là những câu rất linh hoạt, khi diễn ra quốc âm tuy dịch vẫn đúng nghĩa, nhưng không còn linh hoạt nữa.

Hai vở bi kịch Tuồng Lôi Xích (Le Cid, Nam Phong, số 38 và 39 Tháng Tám, Chín 1920) và Tuồng Hòa Lạc (Horace, Nam Phong, số 73, 74 và 75 (Tháng Bảy, Tháng Tám, Tháng Chín 1923) do ông dịch, về phần giá trị, có thể coi như nhau được: hầu hết các đoạn, ông dịch sát nghĩa lắm, nhưng hai vở kịch đều không gây được hứng thú cho người đọc, như khi đọc những câu chữ Pháp của Corneille.

Nếu xét cả hai vở tuồng từng hồi từng kịch, từng câu thơ một, thì phải vài trăm trang mới hết, vậy trong vở tuồng Le Cid, tôi chỉ chọn một xen, xen “khiêu chiến” mà nhiều người đã biết, để phê bình cách dịch của ông thôi.

Trong xen “khiêu chiến”, có nhiều câu của Corneille thật là kiệt tác, nhiều người đã thuộc, vậy ta thử xem những câu văn dịch như thế nào.

Hai câu:

Je suis jeune, il est vrai, mais aux âmes bien nées,

La valeur n’attend point le nombre des années.

Ông dịch là :

Ta trẻ thật, nhưng phàm người lỗi lạc, giá trị không phải đợi tuổi mới lộ ra.

Hai câu :

Mes pareils à deux fois ne se font point connaître,

Et pour leurs coups d’essai veulent des coups de maître.

Ông dịch là :

Những kẻ như ta không có xuất lộ ra hai lần, và ra tay thử chơi cũng thành nên thủ đoạn.

Rồi câu này nữa :

A vaincre sans péril, on triomphe sans gloire.

Ông dịch là :

Đánh đã không nguy hiểm thời thắng cũng không vinh hiển.

Dịch như vậy đúng nghĩa thì đúng thật, nhưng vẫn không làm nổi được những chữ trong câu thơ Pháp, những chữ mà khi đọc lên, nó sang sảng như tiếng gươm đao.

Câu dịch trên này của Phạm Quỳnh sai mất mấy chữ «âmes bien nées », vì mấy chữ này có cái nghĩa là : «trời đã phú sẵn cho từ lúc lọt lòng », mà cũng bởi thế, nên mới không cần ở tuổi.

Đó là những câu thơ khó dịch, vì tuy dịch được nghĩa, nhưng vẫn không dịch được cái phần hay nhất là những ý hùng tráng, đượm một vẻ bi ai.

Đến hai câu này (cũng trong xen khiêu chiến), dịch giả dịch kém hẳn hai câu chữ Pháp.

Sau đây là câu chữ Pháp và câu dịch :

Don Rodrigue

Cette ardeur que dans les yeux je porte,

Sais-tu que c’est son sang ? le sais-tu ?

Đông Lộ Địch

            Cái khí hăng hái trừng trừng trong mắt ta đây, mi có biết rằng đây là cái nhiệt huyết của lão đó không ? Mi có biết hay không ?

Chữ lão trên này mất hẳn ý tôn kính, nên dịch là Người thì hơn. Còn mấy chữ « trừng trừng trong mắt » không đủ diễn được cái thái độ hiên ngang của Rodrigue mà Corneille đã dụng công tả trong câu thơ chữ Pháp. Chữ « ardeur nguyên chữ La tinh là : đốt cháy ; chính Corneille đã muốn dùng chữ này để tả cái vẻ tức giận của một tay thiếu niên anh hùng, cũng như ta thường nói : « hai con mắt nẩy lửa » để chỉ vào một người tức tối. Vậy nên dịch là : « Cái nộ khí tủa ra hai con mắt ta đây. » thiết tưởng còn đúng nghĩa hơn.

Xét từng chữ từng câu như thế, không khỏi có người bảo là bới lông tìm vết, nhưng thật ra muốn dịch cho hay, không phải một việc dễ, nhất là chúng ta dịch một thứ tiếng rất phong phú như tiếng Pháp.

 

 (Còn tiếp)

V.N.P.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: