Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 3, 2011

Phạm Quỳnh – Biệt hiệu Thượng Chi P4

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:37 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 2 tháng 11 năm 2011.

PHẠM QUỲNH

(Biệt hiệu Thượng Chi)

Vũ Ngọc Phan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới – 2004 trên các trang 2028-2029, Trần Hữu Tá có viết như sau:

Vũ Ngọc Phan

(30.X.1907 – 14.VI. 1987). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam. Những năm đầu cầm bút còn có bút danh: Chỉ Qua Thị. Sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức Nho học. Nguyên quán: làng Đông Cao, huyện Gia Bình, nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi đỗ Tú tài (1929), Vũ Ngọc Phan dạy học và cộng tác với các báo Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội tân văn, Sông Hương, Công luận, v.v… Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước ngoài như I vân hoa (tức Aivanhô), Anna Kha lệ ninh (tức Anna Karênina), v.v… Ông cũng đã từng viết bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941), Truyện Hà Nội (1944). Tuy nhiên, trước 1945, Vũ Ngọc Phan được nhiều người biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (1942). Đây là một bộ sách nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ ràng, thẳng thắn dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó, nhiều nhận định của ông cho tới nay vẫn còn có giá trị.

“Sau cách mạng tháng Tám 1945 (…) Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955), Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (Chủ biên, 1961), Họp tuyển văn học Việt Nam (Chủ biên, 1972), v.v… Đáng chú ý hơn cả là cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Chủ biên, 1956) có giá trị nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập họp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những nhận định, tổng kết của tác giả tuy chưa đạt tới sự khái quát cao, nhưng chắc chắn, đáng tin cậy. 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I cho các công trình về văn học dân gian.”

Bài dưới đây trích trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 1989) trên các trang 91-97.

*

*     *

(Tiếp theo)

Người ta thường nói: lối văn biên tập và cả lối văn dịch thuật của Phạm Quỳnh thường có những câu nặng nề, nhưng nếu người ta đọc những văn trước thuật của ông người ta sẽ phải nhận là đủ giọng nhẹ nhàng vào chỗ nhẹ nhàng, có duyên vào chỗ cần phải có duyên, chua chát vào chỗ cần phải chua chát…

Quyển Ba tháng ở Paris (rút ở những bài Pháp du hành trình nhật ký, đăng trong Nam Phong từ số 58 – tháng Tư 1922) của ông là một quyển du ký rất thú vị, chuyện ông kể đã có duyên, lại vui, tường tận từng nơi, từng chốn, làm cho người chưa bước chân lên đất Pháp, chưa hề đến Paris, cũng tưởng tượng qua được những thắng cảnh và những nơi cổ tích của cái kinh thành ánh sáng dưới trời Tây và chia ít nhiều cảm xúc cùng nhà du lịch:

Hãy nghe vài lời ông thuật về xóm La tinh:

“Ở xóm La tinh có một đường phố vui vẻ nhất, gọi là Boulevard Saint Michel, bọn học sinh gọi tắt là “Boul-Mich”. Ở đấy cứ chiều tối đến quá nửa đêm, các nhà cà phê, các hàng bán rượu, hai bên hè chật ních những người ngồi, phần nhiều là các thầy học sinh ra tiêu khiển, hút điếu thuốc, uống cốc nước, cũng có khi tình cờ gặp bạn tri kỷ, đối diện đàm tâm, nồng nàn dan díu, thật là lắm cảnh, “trai anh hùng, gái thuyền quyên”. Nhưng các tay anh hùng ở đây toàn là những anh hùng còn đợi thời cả, và phần nhiều cũng nhẹ túi, cho nên đi dan díu tình duyên cho tiêu sầu giải muộn mà chưa dám miệt mài trong cuộc truy hoan như những khách làng chơi khác”.

(Ba tháng ở Paris, Nam Phong tùng thư – trang 15 và 16)

Cái lối viết du ký, vừa thuật chuyện vừa xen lời phê bình một cách trang nhã như thế là một lối mặn mà và khéo léo, làm cho ai cũng ham học.

Quyển Tục ngữ ca dao cũng thuộc vào hạng sách trước thuật của ông: nó vốn là một bài diễn thuyết của ông tại hội Trí Tri Hà Nội ngày 21 tháng Tư 1921.

Những cái đặc sắc trong quyển Tục ngữ ca dao là mấy điều này: những câu tục ngữ, phương ngôn và ca dao ông lựa chọn đều là những câu rất đúng, không như những câu trong mấy quyển ca dao khác, phần nhiều đầu Ngô mình Sở, câu ở bài nọ chắp vào bài kia; ông lại định nghĩa rất rõ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngôn và thế nào là ca dao.

Về tục ngữ, phương ngôn, ông viết:

“… Tục ngữ hay là ngạn ngữ là những câu nói thường, hoặc là vì cái thể nó gọn ghẽ dễ nhớ, hoặc vì cái ý nó phổ thông dễ hiểu, mà người trong một nước ai ai cũng nói đến, truyền ở cửa miệng người ta, nhất là ở những nơi lý hạng chốn dân gian. Vì ở miệng người bình thường ít học mà ra, thật là sỗ sàng, không có bóng bảy chải chuốt, nên gọi là tục, chứ không phải tất nhiên là thô bỉ tục tằn. Phương ngôn là những câu tục ngữ riêng của từng phương; phương này thông dụng mà phương kia ít dùng hoặc không biết. Lại cao hơn một tầng nữa là những câu cách ngôn: câu tục ngữ phương ngôn nào có ý nghĩa cao xa thời có thể gọi là cách ngôn được, song cách ngôn lại là một thể riêng đã có triết lý văn chương rồi, không phải là những câu tự nhiên truyền khẩu đi như phương ngôn cùng tục ngữ. (Tục ngữ ca dao, trang 11, 12, Nam Phong tùng thư)”. Rồi về ca dao:

“Ca dao là những bài hát nhỏ, từ hai câu trở lên, mà không bao giờ dài lắm, giọng điệu tự nhiên cũng do khẩu truyền mà thành ra phổ thông, trong dân gian thường hát. Ca dao tức cũng như những bài “quốc phong” trong kinh Thi; thường là lời ngâm vịnh về công việc nhà quê hay là lời con trai con gái hát với nhau. Cách chế tác cũng phảng phất như các bài trong kinh Thi và có thể chia ra ba thể: một là phú, hai là tỉ, bà là hứng”.

(Tục ngữ ca dao, trang 15).

Nhưng thế nào gọi là phú tỉ, và hứng? Theo lời Chu Tử trong bản chú thích kinh Thi, thì phú là nói rõ tên, kể rõ việc, tỉ là lấy một vật này ví với một vật khác, hứng là mượn một vật để dẫn khởi một việc.

Tác giả Tục ngữ ca dao kể ra mấy câu này và cho là thể phú:

Ai ơi chớ lấy học trò!

Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Ngày thì cắp sách đi rong.

Tối về lại giữ đèn chong một mình.

Còn thể tỉ như mấy câu sau này, vì từ đầu đến cuối đều là lời ví, mà ý ở ngoài lời:

Tò vò mà nuôi con nhện,

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi.

Tò vò ngồi khóc tỉ ti:

“Nhện ơ, nhện hỡi, mày đi đường nào?”

Còn thể hứng là một thể rất thông dụng trong ca dao của ta; người ta thấy rất nhiều bài thuộc về thể này. Thí dụ như mấy câu sau này mà tác giả cử ra:

Quả cau nho nhỏ

Cái vỏ vân vân:

Nay anh học gần,

Mai anh học xa…

Có phương pháp nhất là đoạn tác giả phân ra ba cách trong phép kết cấu các câu tục ngữ mà tác giả cho là thông dụng nhất.

Một là “thanh âm hưởng ứng” như:

                                                            Tay làm hàm nhai,

Cái khó bó cái khôn.

Sai một li đi một dặm; vân vân.

Hai là “đối tự đối ý” như :

Giơ cao đánh sẽ

                                                            Miệng nói chân đi.

                                                            Bới lông tìm vết; vân vân.

Ba là “hội ý suy loại”, nghĩa là lấy ý hay suy nghĩa mà đặt thành câu như:

Nước đổ lá khoai.

                                                            Chó cắn áo rách,

                                                            Quỷ quấy nhà ma; vân vân.

Đoạn chép nhặt những tiếng rắp đôi, những tiếng thuộc hạng “hình dung từ”, cũng công phu lắm. Đó là những tiếng trong những câu như mấy câu sau này:

                                                            Láo nháo như cháo với cơm,

                                                            Lèo nhèo như mõ réo quan viên.

                                                            Lừ đừ như ông từ vào đền; vân vân

Cái ý kiến về cách biên tập tục ngữ phong dao là một ý kiến rất nên lưu tâm. Theo ý ông, nên xếp các câu theo vần chữ chính trong câu: “Cõng rắn về cắn nhà” thì xếp vào vần rắn và vần .

Lối biên tập ấy, xem ra tiện lợi hơn cả. Vì theo như lối của Đoàn Duy Bình trong Gương phong tục đăng trong Đông Dương tạp chí, phân ra từng tiết một thí dụ: “Sự học và thi đỗ”, “Nhân duyên và lấy vợ gả chồng”, “Nhời phải chăng”, vân vân, khi muốn tra một câu, người ta thấy rất khó, nhiều khi muốn tìm cái câu mình tưởng là ở tiết “Nhời phải chăng”, thì biên giả lại đặt vào một tiết khác, thí dụ như tiết “Nói ví” chẳng hạn.

Còn như biên tập theo lối của Nguyễn Văn Ngọc trong quyển Tục ngữ phong dao lấy chữ đầu ở câu thứ nhất mà xếp theo thứ tự A, B, C thì chỉ tiện lợi khi chữ đầu ấy là một danh từ và là chữ chính trong câu, còn khi chữ đầu ấy không phải là một danh từ thí dụ câu:

Tưởng rằng rồng ấp với mây,

Ai ngờ rồng ấp với cây địa tiền.

có khi người ta đọc là: “Ngỡ rằng… » và đi tìm ở vần N; mà nhớ sai những chữ phụ như thế là thường.

Vậy chỉ theo lối biên tập của Phạm Quỳnh là hơn cả. Nhưng cũng nên nói thêm rằng cái lối của ông  nguyên chủ bút tạp chí Nam Phong là một lối, để riêng cho người học thức, để riêng cho người biết xét đoán, biết phân biệt chữ nào là chữ chính chữ nào là chữ phụ trong một câu, hay trong một bài.

Quyển Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh tuy chỉ là một bài diễn văn dài, vừa biên tập, vừa bình luận nhưng thật là một quyển sách viết có phương pháp và xét nhận rất đúng..

 

 (Còn tiếp)

V.N.P.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: