Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 10, 2011

Phạm Quỳnh – Biệt hiệu Thượng Chi (P5)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:50 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 3 tháng 11 năm 2011.

PHẠM QUỲNH

(Biệt hiệu Thượng Chi)

Vũ Ngọc Phan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới – 2004 trên các trang 2028-2029, Trần Hữu Tá có viết như sau:

Vũ Ngọc Phan

(30.X.1907 – 14.VI. 1987). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam. Những năm đầu cầm bút còn có bút danh: Chỉ Qua Thị. Sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức Nho học. Nguyên quán: làng Đông Cao, huyện Gia Bình, nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi đỗ Tú tài (1929), Vũ Ngọc Phan dạy học và cộng tác với các báo Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội tân văn, Sông Hương, Công luận, v.v… Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước ngoài như I vân hoa (tức Aivanhô), Anna Kha lệ ninh (tức Anna Karênina), v.v… Ông cũng đã từng viết bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941), Truyện Hà Nội (1944). Tuy nhiên, trước 1945, Vũ Ngọc Phan được nhiều người biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (1942). Đây là một bộ sách nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ ràng, thẳng thắn dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó, nhiều nhận định của ông cho tới nay vẫn còn có giá trị.

“Sau cách mạng tháng Tám 1945 (…) Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955), Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (Chủ biên, 1961), Họp tuyển văn học Việt Nam (Chủ biên, 1972), v.v… Đáng chú ý hơn cả là cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Chủ biên, 1956) có giá trị nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập họp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những nhận định, tổng kết của tác giả tuy chưa đạt tới sự khái quát cao, nhưng chắc chắn, đáng tin cậy. 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I cho các công trình về văn học dân gian.”

Bài dưới đây trích trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 1989) trên các trang 97-102.

*

*     *

(Tiếp theo)

Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có con mắt xét nhận rất đúng, cũng không có gì là lạ, vì chính ông là một nhà phê bình. Lối văn học bình luận là lối thuộc về địa hạt của ông. Những bài như Pháp văn tiểu thuyết bình luận (Phục thù cho cha) (Nam Phong số 9 – Tháng Ba 1918) và Bàn về hí kịch của ông Molière (Nam Phong, số 35 – Tháng Ba 1920) đều là những bài ông vừa biên tập vừa phê bình. Một cây bút sắc sảo mà phê bình theo lối ấy, tất nhiên có ích cho những người hiếu học, có thể hướng dẫn cho người ta khỏi lầm đường. Ông còn phê bình những sách của mấy nhà văn đương thời nước ta nữa.

Ngay từ năm 1915, trong Đông Dương tạp chí (số 120), ông đã có bài phê bình: Khối tình con của Nguyễn Khắc Hiếu, dưới cái nhan đề là: Bàn về văn nôm của ông Nguyễn Khắc Hiếu (Đông Dương tạp chí, trang 670. Ông xét đoán nhiều câu rất đúng, tỏ ra ngay từ hồi ấy, ông cũng đã rất sành thơ. Ông viết:

“Tôi phục ông Hiếu là người làm văn có tài, gảy cái đàn độc huyền tiếng Nôm ta mà khéo nên được lắm giọng: lời thơ luật khuôn phép, điệu từ khúc tơi bời, câu “dô ta”, giọng “cặp kè”,  cho đến những lối hát quê ngớ ngẩn (Con còn lặn lội bờ sông… Gió thu thổi lạnh ao bèo) của các chị cấy mạ, hái dâu ước lấy anh chàng mặc áo trắng che dù tây, đi trên đường cái… Tôi khen nhất ông Hiếu là có con mắt sành, biết nhận những điều éo le trong nhân tình thế sự mà khéo lấy mấy câu văn hình dung được một cảnh người.

Như trong bốn câu:

Trời mưa xắn ống cao quần,

Hỏi cô bán thuốc nhà gần hay xa.

Thân anh đã xác như vờ,

Đồng cân xin chị cho già chớ non.

Có rõ ra cái cảnh anh keo nghiện xác, lặn lội đi mua cơm đen không?…” (Đông Dương tạp chí trang 671).

Thiết tha nhất là đoạn ông nói về nghĩa vụ người làm văn nước ta:

“Cái nghĩa vụ làm văn ở nước ta bây giờ rất là trọng. Ta là bọn phá đường mở lối, là quân tiên phong của đội binh những nhà làm văn về sau này, ta đi vào đường nào thì người sau tất cũng đi theo ta vào đường ấy. Như thế thì ta há lại không chọn đường cho cẩn thận ư? Các cụ ta ngày xưa học vấn tư tưởng đều bằng chữ nho cả phàm điều gì cẩn trọng đều đem gửi vào chữ Nho cả. Cụ nào có tài ngoại hay nôm thì lấy văn nôm làm một cách giải trí, dùng văn nôm mà diễn những sự nực cười, điều éo le, nhời chua cay, giọng mai mỉa, nhất thiết là những sự không đáng, hoặc không tiện nói bằng chữ. Bởi vậy mà nhời văn nôm của các cụ thường có cái khí vị hoặc khinh bạc, hoặc cợt nhả, cái hứng nôm của các cụ thường thấp mà lắm khi thật tầm thường… Các cụ đã đưa văn nôm vào cái đường khinh bạc chớt nhả ấy rồi, cho nên con cháu ngày sau cũng chỉ biết một đường ấy thôi, làm văn chữ thì bàn những nhẽ trị loạn đời xưa đời nay, xét những vấn đề quan trọng về luân thường đạo lý, làm đến văn nôm thì chỉ thấy than thân hờn phận, mỉa người đàn bà góa chồng, giễu kẻ nhỡ bước đi tu…” (Đông Dương tạp chí, số 121, trang 711, 712).

Những lời nói ấy, cách đây đã hai mươi sáu năm mà bây giờ vẫn còn hợp thời. Ông nhận ông là người thuộc vào “đội quân phá đường mở lối, đội quân tiên phong”, vậy liệt ông vào các nhà văn đi tiên phong không phải vô lý vậy. Ông bảo các cụ ta chỉ biết dùng văn nôm dể diễn những sự chua cay, éo le, nực cười, và ông cho như thế là vô ích. Nhưng những cái đó thiết tưởng cũng là những cái đáng ghi của nhân loại, nếu diễn ra được lời văn hay mà lại giữ được cả cái đặc tính của dân tộc mình, cũng là một việc đáng nên làm, vì thơ văn có phải đâu những thứ lúc nào cũng để phụng sự những điều thiết thực. Nhất là, không nói ai cũng hiểu, dù tổ tiên chúng ta có dùng văn nôm để “bàn những nhẽ trị loạn, xét những vấn đề quan trọng về luân thường đạo lý” đi nữa, thì ngày nay chúng ta cũng vẫn chưa noi gương ấy được, vì còn ai không biết rằng phần đông người Việt Nam hãy còn coi quốc văn là thứ văn chỉ để tiêu khiển.

Nhưng Phạm Quỳnh phê bình Khối tình con rộng rãi bao nhiêu thì phê bình Giấc mộng con nghiêm khắc bấy nhiêu.

Tập tản văn này của Nguyễn Khắc Hiếu, ta chỉ nên coi là tập văn của người trong mộng viết, viết để diễn cái “ngông”, cái “cuồng” mà lúc tỉnh không đem thi thố được với đời. Người ta ai cũng có ít nhiều cái ngông cái cuồng, ít nhiều lòng tự đắc, vậy đối với một thi sĩ, ta cũng chẳng nên bắt bẻ cay nghiệt làm gì. Ông nguyên chủ bút Nam Phong đã đứng vào phương diện thực tế quá, ông lai ít lo cho tương lai của quốc văn nên dưới cái nhan đề Mộng hay mi? (Nam Phong số 7, Tháng Giêng 1918) ông đã phê bình quyển Giấc mong con một cách nghiêm khắc quá. Ông bảo Nguyễn Khắc Hiếu:

“Ông có cái sức tự tin mạnh quá, nghĩ mà sợ thay cho ông. Phàm tự tin quá dễ sinh ra tự đắc, đã tự đắc thì dù bậc thiên tài cũng khó mà lấy kiến trọng với thế nhân… Ông Khắc Hiếu từ khi xuất bản tập Khối tình con, được mấy bài thơ, văn, từ khúc có giọng mới, có ý lạ, quốc văn nhiều người cổ võ cũng là để tưởng lệ mà mong cho cái văn nghiệp ông mỗi ngày tinh tiến mãi lên. Chớ cứ tình hình mà nói, mấy bài đoản văn, mấy câu “dặm đò” dù hay đến đâu, khéo đến đâu, cũng chưa dủ làm sự nghiệp một nhà văn sĩ… (Nam Phong, số 7 – trang 23 và 24).

Phê bình như vậy không còn phải là phê bình văn nữa, mà là “phê bình người qua sách”. Như thế chẳng khác nào bảo: “À ra anh này ngông! Ta phải trị cái ngông ấy đi mới được”. Rồi một khi đã nói thế, thì không còn kể gì đến việc trước của người ta nữa, mà chỉ còn thấy cái việc nhãn tiền. Khối tình con là một quyển mà Phạm Quỳnh đã khen ngợi vô cùng, nhưng vì “xảy ra cái nạn Giấc mộng con”Khối tình con cũng bị quẳng đi nốt.

Theo ý tôi, nếu đã đứng hẳn về phương diện phê bình văn chương, chỉ nên so sánh những văn phẩm trước với những văn phẩm sau của một tác giả để xét sự tiến hóa về đường tư tưởng của tác giả trên đường văn nghệ, chớ chẳng nên vì sự chê bài một văn phẩm này mà lại phải vớt vát lại những lời khen của mình về một văn phẩm khác.

Nhưng trong mấy bài phê bình của ông, có lẽ bài phê bình Một tấm lòng của Đoàn Như Khuê là công bình hơn cả. Ông khen Đoàn Như Khuê có tài làm thứ thơ sâu cảm và bài thơ hay nhất trong Một tấm lòng là bài: “Bể thảm”; rồi ông chê những bài văn xuôi trong tập thơ ấy:

“Đại để thì ông Hải Nam hay văn vần hơn văn xuôi. Những bài văn xuôi của ông như bài Tựa, bài Bàn về chữ tình, còn chưa được luyện lắm. Bài Tựa thì khí lôi thôi, mà bài “tình” thì có lắm đoạn hơi buồn cười; như ông dạy: “chữ tình không phải chỉ riêng đàn ông có, riêng một mình đàn bà có, phải trộn lẫn hai đằng lại với nhau mới thành ra một khối tình chung (!)” thì tưởng chẳng cần phải có cái tư tưởng sâu sắc mới hiểu được!”

Lối phê bình của Phạm Quỳnh ai cũng nhật thấy là một lối thật trang nhã; trang nhã cả ở những chỗ chê bai. Ông có chua chát, cũng chua chát một cách xa xôi, như dùng mấy chữ, “ông dạy”, “tưởng chẳng cần phải có cái tư tưởng sâu sắc lắm…”. Bao giờ lời ông cũng phải chăng lịch sự, làm cho người có văn bị chỉ trích cũng có thể đọc được một cách bình tĩnh. Trong sự giao tế hàng ngày, người ta thường lấy làm thú vị khi được nghe những lời xét đoán của người có học, vì những lời ấy có không đúng hẳn sự thực chăng nữa, nó cũng vẫn không phải những lời thô tục và vu vơ. Trong lối phê bình cũng vậy, lời người có cái học thâm thúy đem so với lời người ít học chẳng khác nào đem sợi tơ mà so với sợi gai. Lời phê bình của Phạm Quỳnh chính là sợ tơ đó.

 (Còn tiếp)

V.N.P.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: