Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 10, 2011

Thơ nước Nam (P4)

Filed under: Báo — phamquynh @ 1:56 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 3 tháng 11 năm 2011.

THƠ NƯỚC NAM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài nói chuyện đọc lần đầu tại Hội những người bạn Đông phương của Pháp tại Paris (Pháp) ngày thứ tư mồng 5 tháng 7 năm 1922, sau có in lại tại nhà in Tonkinoise thành một tập gồm một số bài nói chuyện tương tự. (Riêng bài này, còn in trong Nam Phong tùng thư năm 1931). Bài chúng tôi đăng làm sáu kỳ sau đây lấy từ nguyên bản Phạm Quỳnh, tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (NXB Tri Thức, Hà Nội 2007), qua bản dịch của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Chúng tôi chỉ lược bỏ các phần Phạm Quỳnh dịch thơ ta ra tiếng Pháp để khỏi làm phiền đông đảo bạn không đọc Pháp văn.

*

*    *

 (Tiếp theo kỳ trước)

Tôi đã giới thiệu với các bạn một vài mẫu hình trong nền thi ca bình dân nước Nam. Đó là những bông hoa thực sự của đất quê nước tôi, có thể nói là những bông hoa nằm trong tình trạng không được chăm sóc ở nơi ruộng đồng, ở vùng rừng núi, và như các bạn đã nhận thấy, chúng không hề kém sắc, kém hương.

Tôi sẽ giới thiệu với các bạn một vài bông hoa khác, nhưng bông hoa này là loại được trồng  trọt chăm sóc, và hầu như còn được chăm sóc trong những nhà kính, do những bàn tay thiện nghệ.

Như ở trên tôi đã nói, những nhà nho của chúng tôi suốt đời chỉ bình luận những bản cổ văn Trung Hoa, họ rất ít trau dồi tiếng mẹ đẻ. Nhưng thỉnh thoảng cũng có vài người, và coi như để giải lao sau những nghiên cứu nghiêm túc hơn, đã bằng lòng sáng tác vài khúc hát nhỏ, hoặc làm vài bài thơ nhỏ bằng thứ ngôn ngữ bình dân, những tác phẩm ít nhiều hoàn chỉnh. Nhưng phải đến đầu thế kỷ XIX, mới thấy nổi lên một thi sĩ thực sự vĩ đại viết bằng tiếng mẹ đẻ.

Tên nhà thơ này là Nguyễn Du. Quê gốc ông ở tỉnh Hà Tĩnh. Ở triều đình, ông làm quan ở Bộ Lễ. Ông nổi tiếng có kiến thức rộng về văn hóa Trung Hoa, và có tài năng văn học lớn. Ông được vua Gia Long cử đi sứ sang triều đình Bắc Kinh. Chính trong cuộc du hành sang Tàu, ông đã biết câu chuyện đau khổ của một nàng kỹ nữ xinh đẹp tên là Thúy Kiều. Sau một cuộc đời tình ái và trải qua nhiều phiêu lạc đủ loại, Kiều đã trẫm mình xuống sông Tiền Đường. Câu chuyện này làm ông xúc động vô cùng, đến nỗi khi về nước, Nguyễn Du đã sáng tác bằng tiếng nước Nam một bài thơ dài hơn 3.000 câu thơ về cuộc đời và những khổ đau của nàng Thúy Kiều xinh đẹp.

Người ta bảo rằng câu chuyện này, đối với ông, chỉ là cái cớ để ông tự mô tả chính bản thân mình thông qua nhân vật ; bởi vì, cũng như mọi thi sĩ, Nguyễn Du đã đau đớn nhiều trong cuộc đời, và cũng như mọi con người thiên tài, ông ít được người cùng thời biết tới, người này ghen ghét với ông, người khác còn tìm cách làm hại ông. Ông mang cá tính rất độc lập, là kẻ thù của những kẻ sủng thần và những kẻ nịnh bợ. Ông không được cảm tình từ những đồng sự và cấp trên, bản thân Hoàng đế đối với ông cũng vậy. Nên một thời gian sau chuyến đi sứ sang Tầu, ông xin từ quan về ở ẩn tại quê nội để toàn tâm vui với thiên nhiên và chữ nghĩa.

Chính tại nơi hưu trí, Nguyễn Du đã sáng tác cuốn truyện thơ dài này. Không hề nói quá, Truyện Kiều đã được những người có học trong nước cũng như những người nước ngoài thông hiểu ngôn ngữ và văn chương nước chúng tôi đồng thanh công nhận đó đích thực là một kiệt tác.

Tất cả những nhà phê bình đều đồng ý và công nhận nó là một tác phẩm hoàn hảo ở cả hai mặt : nội dung và hình thức. Và ai ai cũng cho rằng những câu thơ trong đó hoàn hảo đến mức ta không thể di chuyển đổi chỗ dù một chữ, cũng không thể thay đổi dù một âm tiết.

Truyền thuyết dân gian thậm chí đã lý tưởng hóa ngay cả sự thai nghén tác phẩm này : theo dân gian, Nguyễn Du bằng một thi hứng thiên tài, đã sáng tác nó chỉ trong một đêm ; nhưng sự cố gắng tinh thần mà Nguyễn Du bỏ ra đã lớn đến nỗi hôm sau tóc ông hoàn toàn bạc trắng.

Cái gì đã làm nên sự độc đáo vô cùng của quyển Kiều ; điều đó chính là cuốn sách đã được viết bằng một thứ ngôn ngữ vô cùng bác học và văn chương ; cuốn sách đồng thời được cả tầng lớp tinh hoa có học và cả bình dân tán thưởng.

Ta có thể nói rằng tất cả người nước Nam, từ người kéo xe tay cho đến những vị quan cao, từ người bán hàng rong đến người đàn bà cao sang, đều thuộc lòng những câu thơ trong Truyện Kiều.

Có lẽ, trong văn chương, không có một ví dụ nào về một tác phẩm đã trở thành một đối tượng được khâm phục đến mức ấy, thậm chí tôi có thể nói nó được cả một dân tộc hâm mộ.

Sự hâm mộ ấy đôi khi đi tới chỗ sùng bái, bởi vì đối với đa số người dân nước tôi, quyển Kiều là một thứ sách bói toán ; người ta dùng nó để bói trong mọi trường hợp của cuộc đời.

Và có điều kỳ lạ, là hiếm khi ta hú họa mở cuốn Kiều ra mà lại không bắt gặp một vài câu thơ có thể nói là ứng một cách chính xác với trạng thái tâm hồn của ta khi ấy, và những câu thơ này lại gắn cái đẹp về hình thức với cái giọng điệu của sự chân thành rất người ; đó là đặc điểm của thi ca đích thực.

Khi vào cái đêm trước ngày chồng mình lên đường đi xa, một người đàn bà trẻ đã bói Kiều, và ví dụ chị ta được bốn câu thơ :

Người về chiếc bóng năm canh.

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi ?

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Vào cái đêm sắp phải biệt ly một thời gian dài, khi người vợ trẻ bắt gặp những câu thơ này, những câu thơ da diết do cái giọng điệu sầu thương vô hạn toát ra, và những câu thơ thật đẹp hấp dẫn và duyên dáng ; làm sao người vợ trẻ ấy có thể cầm được nước mắt ?

Hơn nữa, đoạn dịch sang tiếng Pháp này không hoàn hảo, nó không thể lột tả hết những điều trong những câu thơ không sao bắt chước được này, những điều dịu sàng và hài hòa cộng thêm vào cái duyên dáng u buồn của những câu thơ. Tôi xin thử đọc chúng lên bằng ngôn ngữ nước tôi ; đối với những người biết thưởng thức âm nhạc, chắc chắn  sẽ bị ấn tượng bởi nhạc điệu êm tai của những từ ngữ.

(…)

Trong một bài nói chuyện ở Trường Thuộc Địa, tôi đã nói về vị trí của Truyện Kiều trong lịch sử ngôn ngữ và văn học ở đất nước tôi. Tôi đã đem cuốn sách này so sánh trên phương diện Phục hưng ngôn ngữ và lịch sử văn học với cuốn Mireille của Mistral và tôi không tin rằng tôi đã nói quá lời. Cũng giống như nhà thơ lớn xứ Provence đã làm được cho « ngôn ngữ phương Nam », nhà thơ Nguyễn Du của chúng tôi đã làm được cái điều như thể là phục hồi lại ngôn ngữ nước Nam, và đã nâng nó lên địa vị một ngôn ngữ văn học đích thực. Khi sáng tác ra một kiệt tác, ông đã chứng tỏ ngôn ngữ dân tộc chúng tôi có khả năng thế nào, khi nó được một nhà văn có tài vun trồng.

(Còn tiếp)

P.Q.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: