Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 17, 2011

Phạm Quỳnh – Biệt hiệu Thượng Chi (P6)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 4:08 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 4 tháng 11 năm 2011.

PHẠM QUỲNH

(Biệt hiệu Thượng Chi)

Vũ Ngọc Phan

Lời dẫn của Phạm Tôn: Từ điển Văn Học – bộ mới (NXB Thế Giới – 2004 trên các trang 2028-2029, Trần Hữu Tá có viết như sau:

Vũ Ngọc Phan

(30.X.1907 – 14.VI. 1987). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam. Những năm đầu cầm bút còn có bút danh: Chỉ Qua Thị. Sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức Nho học. Nguyên quán: làng Đông Cao, huyện Gia Bình, nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi đỗ Tú tài (1929), Vũ Ngọc Phan dạy học và cộng tác với các báo Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội tân văn, Sông Hương, Công luận, v.v… Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước ngoài như I vân hoa (tức Aivanhô), Anna Kha lệ ninh (tức Anna Karênina), v.v… Ông cũng đã từng viết bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941), Truyện Hà Nội (1944). Tuy nhiên, trước 1945, Vũ Ngọc Phan được nhiều người biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (1942). Đây là một bộ sách nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ ràng, thẳng thắn dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó, nhiều nhận định của ông cho tới nay vẫn còn có giá trị.

“Sau cách mạng tháng Tám 1945 (…) Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955), Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (Chủ biên, 1961), Họp tuyển văn học Việt Nam (Chủ biên, 1972), v.v… Đáng chú ý hơn cả là cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Chủ biên, 1956) có giá trị nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập họp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những nhận định, tổng kết của tác giả tuy chưa đạt tới sự khái quát cao, nhưng chắc chắn, đáng tin cậy. 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I cho các công trình về văn học dân gian.”

Bài dưới đây trích trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 1989) trên các trang 102-107.

*

*     *

(Tiếp theo)

Ông là một nhà văn chú trọng về tư tưởng hơn là về văn, nên ông đã tỏ cho người ta thấy ông có một xu hướng rất rõ rệt về các học thuyết. Những bài có tính cách triết học của ông là những bài đã chiếm một địa vị khá quan trọng trong Nam Phong tạp chí.

Có lẽ ông là người dịch và bàn về những học thuyết của Descartes, Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Auguste Comte trước nhất; và có lẽ từ xưa đến nay, cũng chỉ có một mình ông; vì trước ông, không có ai, và sau cùng – cho đến ngày nay – cũng không có ai dùng quốc văn để dịch thuật và phê bình những học thuyết ấy.

Có người nói hiện nay dịch những học thuyết ấy là thừa, vì ông cha chúng ta đã đọc tân thư của Tàu mà biết, còn chúng ta trực tiếp ngay với sách tây, không cần phải đọc các bản dịch.

Nhưng nói như thế là lầm, mà lầm vì không biết rõ những bài khảo cứu của Phạm Quỳnh về triết học Âu Tây.

Tôi chỉ nói ở đây vài ba bài khảo cứu và dịch thuật về triết học Âu Tây của họ Phạm, để người ta thấy rõ tính cách những bài ấy:

Bài Dịch sách “Phương pháp luận” của ông Descartes (Nam Phong từ số 3 – tháng Chín 1917) là một bài có ba tính cách: biên tập, dịch thuật và bình luận; trong đó biên giả tóm tắt từng chương một, rồi mới dịch nguyên văn và sau mỗi chương, có phụ lời bàn. Biên tập như thế không những làm cho những người chưa từng đọc học thuyết Âu Tây cũng có thể hiểu được lại có ích cả cho những người đã đọc Descartes rồi, nhưng muốn nhớ đại ý quyển Phương pháp luận. Đây tôi trích ra một đoạn trong nhời bàn của Phạm Quỳnh để người ta thấy cái giá trị những nhời ấy:

“Người ta thường gọi cái triết học ông Descartes là triết học “phá hoại” (Philosophie de la table rase) hay là triết học “hoài nghi” (Philosophie du doute). Người ta lại thường ví cái phương pháp của ông như một bộ máy. Đọc chương thứ hai này thì mới giải rõ được mấy câu ấy.

Gọi là “phá hoại” thì cái tên khí dữ dội, nhưng xét kỹ chẳng qua là một sự thành thực đối với mình, đối với sự  tư tưởng vậy. Nhà triết học có cái thành thực ấy ở trong lòng thì mới thực là đáng tên triết học. Vì triết học là gì? Là xét cái lý do của muôn sự muôn vật. Vậy thì phàm sự gì chưa giải được lý do, chưa nên nhận là phải vội. Như thế thì trong óc ta biết bao nhiêu là ý kiến ta nhận được ở ngoài từ thuở nhỏ bởi sự giáo dục, bởi thói quen trong xã hội, v.v… mà ta chưa từng giải được cái lý do nó thế nào. Những ý kiến ấy, lâu ngày tích lũy thành một cái vỏ dầy, nó che lấp mất cái trí sáng của ta; bởi thế cho nên tuy người ta ai cũng có nhẽ phải mà sự xét đoán thường hay sai lầm” (Nam Phong số 4 – tháng Mười 1917, trang 236).

Chỉ đọc những lời bàn vắn tắt nhưng rất sáng suốt trên này, người ta cũng có thể hiểu được cái triết học của Descartes mà người ta bảo là “phá hoại” không có gì là phá hoại cả. Descartes chỉ muốn trút bỏ những thành kiến của mình đi để cho nhẽ phải được thắng thế, không bị vướng víu và có thể sáng suốt để xét đoán. Đương thời đã có một bức tranh khôi hài về Descartes: người ta vẽ ông đang bỏ hết cả những cái học cũ của mình vào nồi để nấu lại.

Như vậy người ta đủ thấy những “nhời bàn” của Phạm Quỳnh trên này là chí lý, có thể làm cho người ta hiểu Descartes rõ hơn.

Về quyển Lịch sử và học thuyết của Voltaire và những bài về học thuyết của Montesquieu, Rousseau, Auguste Comte, đăng trong Nam Phong, cái giá trị cũng tương tự như bài biên tập về Descartes trên này. Đọc những bài ấy, người ta thấy cách biên tập rõ ràng, lời bình luận khúc triết, tỏ ra ông có tài diễn nhưng lý thuyết thật cao bằng những lời thật giản dị.

Quyển Phật giáo đại quan  (Nam Phong tùng thư 1931) là một chứng cớ rằng không những đối với những môn triết học của Tây Phương, đối với những môn triết học của Đông Phương, ông cũng có cái biệt tài biên tập như thế.

Phật giáo đại quan vốn là một bài diễn thuyết của ông tại Hội Trí Tri Hà Nội ngày 13 tháng Giêng 1921. Về đạo Phật, trong Nam Phong ông cũng đã viết nhiều bài (Phật giáo lược khảo, Nam Phong số 40 – tháng Mười 1920; Khảo về đạo Phật, Nam Phong số 121- tháng Chín 1927); tập Phật giáo đại quan này là một bài đọc trong một thời hạn ngắn, nên trong đó diễn giả chỉ tóm tắt những điều đã viết kỹ càng trong bài Phật giáo lược khảo.

Bài lược khảo có nhiều đoạn châm chước những sách của các nhà bác học Âu châu, viết theo lối bình luận và chỉ kể đại lược những việc hoang đường. Những việc này, dù nhà biên tập có óc khoa học đến đâu cũng không bỏ đi được, vì khó mà phân biệt được chuyện thật với chuyện huyền trong sự tích Phật.

Còn những triết lý Âu Tây do ông dịch, đều là những triết lý Cổ La Hi.

Đời đạo lý (Nam Phong từ số 144 – Tháng 11 – 1929) là những bài chú giải về tập “Kim thi” của phái Pythagore, một nhà triết học kiêm toán học Hi Lạp về thế kỷ VI trước Da-tô kỷ nguyên.

Lời cách ngôn của vua Marc Aurèle (Nam Phong số 128 và 129 – Tháng Tư – năm 1928) là một tập cách ngôn nhan đề là Để răn mình (Â soi-même). Ông vua La Mã này sinh năm 121 và mất năm 181 sau Da-tô kỷ nguyên; tập cách ngôn của ông là một tập bút ký, chép những tư tưởng về phép sửa mình, về đạo làm người.

Sách cách ngôn của ông Epictète (Nguyễn Văn Vĩnh Éditeur, 1929) do Phạm Quỳnh dịch, là một tập toát yếu của một bộ sách lớn nhan đề là Entretiens của Epictète. Cả quyển trên lẫn bộ sách sau đều do nhà sử học Flavius Arrien biên tập về thế kỷ thứ hai để tóm tắt đạo lý của nhà hiền triết. Thật ra thì đến nay người ta vẫn chưa biết rõ Epictète là ai. Vì ông bình sinh là kẻ ti tiện, nên tự cổ, người ta vẫn đặt cho ông cái tên “Epictète” nghĩa là: kẻ tôi đòi. Về thân thế ông, người đời sau cũng rất mờ mịt. Chỉ biết Epictète thuộc phái “Stoïciens” tức là phái “Cửa đền” (École du Portique hay École Stoïcienne, do chữ Hi Lạp Stoa nghĩa là cửa đền); ông chủ trương hai mục đích là bài xích những ý kiến trái với mình là (có lẽ là: – PT chú) lập một nền đạo đức thích hợp với tình thế thời bấy giờ.

Phê bình quyển dịch thuật Epictète của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố có trích ra mấy chữ và mấy câu dịch sai. Đó là nghĩa vụ nhà phê bình, thấy điều gì không đúng thì phải nói: nhưng ai cũng phải nhận rằng dịch những thứ sách tư tưởng như những sách trên này là khó, vì chính nhà hiền triết ấy cũng không để ý đến lời văn, mà chỉ cốt diễn cho hết tư tưởng của mình, cho nên có nhiều câu thật là khó hiểu.

Ngoài những bài quốc văn đăng trong Nam Phong và những sách quốc văn, Phạm Quỳnh có viết mấy quyển bằng Pháp văn như: L’idéal du sage dans la philosophie confucéenne (1928), Le paysan tonkinois à travers le parler populaire (1930), La poésie annamite (1931), Essais franco-annamites (1937), v.v…

Ý kiến tư tưởng trong những sách này đều là những ý kiến tư tưởng ông đã tỏ bày nhiều lần trong các bài quốc văn trong tạp chí Nam Phong. Ông viết chữ Pháp có lẽ chỉ là để cho người Pháp biết nền học cũ của ta, văn chương của ta và chính kiến của ông. Vì về vấn đề thâu thái học thuật tư tưởng Tây phương, hình như ông đã nói trong một bài diễn văn trước mặt người Pháp: Chúng tôi là một nước có một văn hóa cũ, chúng tôi không phải một tờ giấy trắng có thể viết chữ gì lên cũng được…

 (Còn tiếp)

V.N.P.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: