Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 6, 2011

Phật giáo ở Việt Nam

Filed under: Báo — phamquynh @ 1:57 chiều

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 3 tháng 12 năm 2011.

PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Nhân Dân ngày 8/11/2011 đăng trên trang nhất tin Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chúng tôi xin trích đăng như sau:

“Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Ngày 7/11, tại Học viện Phật giáo Việt Nam (Phù Linh), Sóc Sơn, Hà Nội), Giáo hội Phật giáo Việt Nam long trọng tổ chức đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (…)

Trước giờ khai mạc, các đại biểu, tăng ni, phật tử làm lễ chào cờ, lễ tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Anh hùng liệt sĩ, Lịch đại Tổ sư Phật giáo Việt Nam đã viên tịch qua các thời kỳ và niệm Phật cầu gia bị, cầu cho quốc thái dân an. Tại lễ kỷ niệm, Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ đã gửi Thông điệp đến Chư tôn túc Hòa thượng, Thượng tọa, ni trưởng, ni sư, đại đức tăng ni, cư sĩ phật tử Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. bức Thông điệp nêu rõ, qua 30 năm xây dựng và phát triển, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lãnh đạo tăng ni, phật tử Việt Nam ở trong nước và ngoài nước làm nên nhiều thành tựu Phật sự quan trọng trên tất cả các lĩnh vực vì Đạo, vì Đời, làm cho đạo pháp xương minh, Giáo hội trang nghiêm và phát triển bền vững trong cộng đồng dân tộc, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng văn minh, giàu đẹp. Thông điệp bày tỏ sự tri ân chân thành công đức sâu sắc các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức trong nước và nước ngoài cùng các tầng lớp nhân dân đã quan tâm giúp đỡ, sẻ chia các hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong suốt 30 năm qua.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu rõ, những thành quả mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đạt được trong 30 năm qua đã khẳng định tính đoàn kết hoà hợp cao độ, xem trọng sự nghiệp chung vì Đạo pháp và Dân tộc, góp phần không nhỏ vào việc ổn định xã hội, phát triển kinh tế, đồng thời khẳng định niềm tin của Phật giáo Việt Nam vào chế độc Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân trân trọng gửi tới các vị chức sắc tôn giáo, tăng ni, Phật tử lời chúc sức khỏe và an lạc, đồng thời khẳng định gần 2.000 năm có mặt tại Việt Nam, Phật giáo luôn gắn liền với vận mệnh của đất nước và luôn đồng hành cùng dân tộc. Triết lý tốt đẹp của Phật giáo đã góp phần tạo nên những giá trị truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam. Những việc làm tốt đẹp cùng những công lao đóng góp của Phật giáo cho dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được lịch sử ghi nhận và khẳng định Phật giáo Việt Nam là tôn giáo yêu nước, đồng hành cùng dân tộc. Phó Thủ tướng tin tưởng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục củng cố phát huy nội lực, khắc phục khó khăn, xây dựng Giáo hội vững mạnh về mọi mặt, góp phần xây dựng đời sống hòa bình, an lạc cho dân tộc Việt Nam.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã trao Huân chương Hồ Chí Minh (lần thứ hai) tặng Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Huân chương Độc lập các hạng: nhất, nhì, ba tặng các Chư tôn đức và cư sĩ đã có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhân dịp này, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Huỳnh Đảm trân trọng trao tặng Giáo hội Phật giáo Việt Nam bức trướng mang dòng chữ: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc” và trao Huân chương Đại đoàn kết dân tộc tặng các Chư tôn đức, cư sĩ có thành tích trong công tác Phật sự.

Ngày 26/11/2011, báo còn đăng trên trang 8 tin:

“Đại lễ 703 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn

Ngày 25/11 tại chùa Hoa Yên (Khu di tích Lịch sử và Danh thắng Yên Tử, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh), Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Ninh tổ chức Đại lễ tưởng niệm 703 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn (1308-2011).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan gửi lẵng hoa kính lễ”.

“Trong lịch sử của đất nước, Đức Vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông là một Anh hùng của dân tộc. Lên ngôi năm 1278, Trần Nhân Tông là vị vua thứ ba của nhà Trần, ở ngôi 15 năm và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trong thời gian ở ngôi Vua, ông đã tham gia lãnh đạo quân, dân hai lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông.

Đối với đạo pháp, Vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngôi để đi tu và đắc đạo thống nhất được Phật giáo Việt Nam và là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã quyết định chọn ngày 1/11 Âm lịch hằng năm làm ngày giỗ và là một trong những sự kiện quan trọng trog hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

* Ngày 25/11, tại Thiền viện Hương Vân – Trung tâm Văn hóa Huyền Trân (thành phố Huế), Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức Đại lễ kỷ niệm 703 năm Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn. Tại lễ tưởng niệm, toàn thể chư tôn đức, tăng ni, phật tử Thừa Thiên – Huế và đông đảo các đại biểu đã tiến hành nghi thức tưởng niệm Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông theo nghi lễ truyền thống Phật giáo.

Ngày 25/11/2011, trang 3 báo Tuổi Trẻ đưa tin Hội thảo “Trần Nhân Tông và con đường chính pháp”: Một đạo Phật đặc biệt Việt Nam như sau:

“Nhiều học giả – phật tử đã cùng chia sẻ những nghiên cứu, đánh giá của mình về Trần Nhân Tông – vị Phật hoàng duy nhất và độc đáo nhất trong lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam tại hội thảo “Trần Nhân Tông và con đường chính pháp” do Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức ngày 24/11 tại Hà Nội.

Theo Giáo sử Cao Huy Thuần: “Ở Nhật có tinh thần samurai trong mỗi cuộc chiến, nhưng ở Việt Nam có cả một ông vua Phật và cả một hàng ngũ tướng lĩnh thấm nhuần thiền: cứ đem so sánh, ảnh hưởng của thiền ai nhiều hơn ai trong trận thắng? Cho nên Phật giáo ở Việt Nam thời Trần là một hiện tượng kỳ lạ, độc đáo: không ở đâu, một ông vua vừa là tướng cầm quân vừa là thiền tổ. Nơi ông vua ấy kết tinh một tư tưởng vừa là trên cơ sở lý thuyết vừa là nền tảng giáo dục, lại vừa là thực tiễn hành động. Đó là một đạo Phật đặc biệt Việt Nam”.

Nhân dịp này, chúng tôi trích đăng dưới nhan đề Phật giáo ở Việt Nam bài khảo cứu của Phạm Quỳnh viết từ năm 1920 đăng trên Tạp chí Nam Phong nhan đề Phật giáo lược khảo. Bản chúng tôi sử dụng là trong Thượng Chi văn tập (NXB Văn Học, 2006, Hà Nội) dài tới 97 trang (từ 727-824). Chúng tôi chỉ lấy phần mở đầu và mục Phật giáo ở Việt Nam trong phần III: Phật giáo lịch sử để bạn đọc tham khảo.

*

*      *

Một nhà làm sách Nhật Bản có nói rằng: “Hai cái nguồn lớn của văn hóa Đông Á ta là Khổng giáo và Phật giáo. Ngày nay dẫu ta theo đòi văn minh học thuật Thái Tây, ta cũng chớ nên quên nguồn gốc cũ”. Lời đó thật là phải lắm (…) Đến thời đại này, tuy đạo Phật đã suy, đạo Nho đã sút, mà ảnh hưởng trong xã hội còn sâu, hoài vọng của lòng người còn thiết, đủ biết nhân tâm chưa đến nỗi bỏ gốc quên nguồn vậy.

Song đạo Khổng là một nền luân lý, thiết cận với việc đời hơn, nên người đời dễ hiểu; đạo Phật vốn là tôn giáo, có vẻ siêu việt huyền bí, nên ít người hội được rõ. (…) Bởi vậy nên đã lâu nay đạo Phật nhiều người tin mà ít người biết (…) Đạo Phật bây giờ chỉ có tên mà không có thực, chỉ có bóng mà không có hình, chỉ có cái bã rả cúng bái mà không còn cái tinh thần tu niệm: Phật giáo đã vắng ngắt trong cõi tư tưởng nước ta lâu lắm vậy.

(…) Vậy ký giả muốn tóm tắt những điều sở đắc trong sách vở của các nhà bác học Âu châu (nhất là người Pháp) đã chuyên trị về Phật học, cùng tham bác ít nhiều kinh sách bằng chữ Tàu, mà soạn ra bài lược khảo này, cống hiến cho các học giả nước ta, tưởng cũng là một việc có ích vậy.

(…) Bài này chỉ là một bài khảo cứu về Phật học. Bài này chia ra làm ba phần: 1) Phật Tổ sự tích; 2) Phật lý uyên nguyên; 3) Phật giáo lịch sử (…)

Bài lược khảo này đã dài lắm rồi (72 trang – PT chú). Nay đến phần thứ ba là phần lịch sử, muốn nói cho tường tận phải ngần ấy nữa chưa chắc đã hết, vì phải xét lần lượt Phật giáo từ Ấn Độ truyền bá sang mỗi nước thế nào (…) Phật giáo của Việt Nam tuy cũng có một nguồn cả, nhưng ở mỗi nước cũng có một đặc sắc riêng. Muốn kể lịch sử Phật giáo thời phải đủ bấy nhiêu mục, nói rõ nước nào bắt đầu tiếp được đạo Phật từ năm nào, khi đã truyền bá khắp rồi thời lúc thịnh lúc suy thế nào, người dân theo đạo hay dở thế nào, v.v.. Nhưng khảo cho đến nơi đến chốn như thế thời một quyển sách cũng chưa đủ. Nay chỉ xin nói qua về đạo Phật ở Ấn Độ truyền bá sang Trung Quốc, Trung Quốc truyền sang Việt Nam thế nào. (…)

Phật giáo ở Việt Nam – Muốn khảo lịch sử Phật giáo ở nước ta thật là khó lắm, vì sách vở không có (…) Như khảo về Phật giáo mà tra trong sử ta thời không được mấy tí, chỉ biết rằng nước ta về đời Lý – Trần vua quan cho chí dân gian mộ đạo Phật lắm, nhưng đạo Phật thâu nhập nước ta từ bao giờ, duyên cách những thế nào, thời sử không nói. (…)

(…) Hiện kí giả chỉ mới biết có sách Kiên văn tiểu lục của cụ Lê Quý Đôn trong có một mục “thuyền dật kí”, nói về mấy bậc cao tăng ở nước ta thời Bắc thuộc (về nhà Tấn, nhà Đường) cho đến đời nhà Lý – Trần là đời Phật giáo toàn thịnh ở nước ta. Xem đó thời về đầu nhà Đường (đầu thế kỉ thứ 7) Phật giáo ở nước ta đã thịnh, vậy thời có lẽ đạo Phật truyền sang Việt Nam đã lâu rồi. Vả từ thế kỉ thứ nhất ta nội thuộc Tàu luôn, nước ta với nước Tàu cũng như một, người Tàu sang ở bên này nhiều, chắc về đời Lục triều (tự thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ sáu) đã đem đạo Phật sang rồi, nhưng có lẽ Phật giáo chưa truyền ra dân gian và mới là tôn giáo của một phần người Tàu ở đây mà thôi. Đến đời nhà Đường đô hộ, sách chép rằng nước ta có mấy ông cao tăng như Vô Ngại Thượng Nhân, Phụng Định Pháp sư, Duy Giám Pháp sư, những nhà làm thơ có tiếng ở nhà Đường thường có họa thi tặng. Lại trong sách Đường Cao tăng truyện của ông sư Tàu tên là Nghĩa Tĩnh (tức Tây dịch là Vi tsing), có thuật truyện một ông Cao tăng đất Giao Chỉ tên là Vận Kỳ Pháp sư đã từng đi sang Thiên Trúc cầu kinh. Nhưng mà các bậc cao tăng ấy có phải là người Việt Nam hay là người Tàu? Tôi tưởng các ông có lẽ là người Tàu hoặc là giòng dõi người Tàu ở đây, chứ chưa phải là người bản thổ. Tôi có nhớ năm xưa được xem một bài văn bia ở một cái chùa về tỉnh Phúc Yên, bài ấy đề niên hiệu nhà Lý, hồi bấy giờ đạo Phật đương toàn thịnh. thế mà xét ra lời văn còn vụng lắm, tuy dùng chữ Phật nhiều mà dùng chưa được thoát, chắc là của một ông sư ta làm. Giữa đời nhà Lý (vào khoảng thế kỉ thứ mười, mười một), người nước ta học chữ Hán chắc đã khá mà làm văn vụng như vậy, thời đủ biết không có lẽ ba bốn trăm năm về trước người mình đã có những bậc cao tăng vừa thâm Hán học, vừa thâm Phật học, đến nỗi các danh sĩ nhà Đường phải kính trọng.

Đến khi nước ta thoát li nước Tàu mà độc lập, bắt đầu từ nhà Đinh, bấy giờ Phật giáo chắc đã truyền bá trong dân gian. Vua Đinh Tiên hoàng (968) mới định giai phẩm các tăng đạo. Khi ấy có những sư như ông Ngô Chân Lưu, Trương Ma Ni là có tiếng, vua cho hai ông ấy làm chức tăng thống và tăng lục. – Sư nước ta thấy chép trong quốc sử, trước từ hai ông ấy vậy.

Đời vua Lê Đại Hành, năm Thiên phúc thứ 8 (980), sứ nhà Tống là Lý Giải sang Nam, vua Lê sai hai ông sư là Lạc Thuận và Khuông Việt tiếp đón, sư thường ngâm vịnh xướng họa với Tống sứ, Tống sứ lấy làm phục.

Đời vua Lý Thái tổ (l009) thời rất trọng đạo Phật, có ban y phục cho các nhà sư, mộ dân làm tăng ni, dựng ra cung Thái Thanh, lập ra chùa Vạn Tuế. Sử chép đời nhà Lý tăng đạo đầy chốn dân gian, chùa chiền khắp trong thiên hạ. Những sư có tiếng đời Lý là những ông sau này: Bảo Tính, Minh Tâm, Vạn Hạnh, Minh Không có phép thuật chữa bệnh cho vua Lý Thần tôn, Đạo Hạnh tu luyện ở núi Phật tích (tức là núi chùa Thày, ở Sơn Tây), Giác Hải. Đến đời nhà Trần đạo Phật vẫn còn thịnh. Vua Nhân tôn là thiên tử cũng đi tu làm Đại sĩ, bà Hoàng hậu đi tu làm sư cô, các hàng vương công đi tu làm tăng chúng. Đời Trần có ông sư Huyền Quang làng Vạn Tải, huyện Gia Bình, Bắc Ninh, lên chín tuổi đã hay văn thơ, có tập thơ Ngọc tiên truyền ở đời. Tục truyền ông đỗ Trạng nguyên, rồi từ quan đi tu, nhưng ông Lê Quý Đôn cho là không phải, vì xét trong sách ông Hoàng Đức Lượng ở đời Hồng đức có chép sự tích và thơ ông ở tập Trích diễm thời không nói ông đỗ gì, đời Hồng đức cách đời Trần không xa, tưởng chắc là không lầm.

Nhà Trần lại có một ông sư trứ danh nữa là ông Pháp Loa, người thôn Đồng Hòa, làng Cửu La, huyện Nam Sách, sinh giữa niên hiệu Thiên Long (1264). Khi vua Nhân tôn ngự ra Nam Sách gặp sư, khen là có đạo, và tứ danh là Hỉ-lai. Sau ông tu ở Kỳ Lâm, đổi tên là Pháp Loa. Trong sử chép khi vua Nhân tôn hóa ở Ngọa Vân am, chỉ có một mình ông Pháp Loa trông nom việc thiêu hóa. Sau ông lên tu ở chùa Yên Tử, ông Huyền Quang cũng lên theo, lập ra viện Quỳnh Lâm, am Hồ Thiên, am Chân Lạc, và chùa Thanh Mai. Cảnh chùa Yên Tử ngày nay hãy còn, bây giờ thuộc tỉnh Quảng Yên, thật là một nơi cổ tích có tiếng của nước ta. Vua Nhân tôn khi vào tu ở đấy tự hiệu là Giác Hoàng. Sau gọi “Trúc Lâm tam tổ”, tức là: đệ nhất tổ Giác Hoàng; đệ nhị tổ Pháp Loa; đệ tam tổ Huyền Quang vậy. Nay ở Yên Tử còn có chùa Thiên Trúc thờ ba tổ, đời xưa có tiếng lắm, nên có câu rằng:

Dù ai quyết chí tu hành,

Có về Yên Tử mới đành lòng tu!

Đời nhà Lê, đạo Phật đã kém thịnh, nhưng cũng có nhiều vị sư có tiếng. Thứ nhất là ông Hương Hải, tục gọi là “Tổ Cầu” người làng Áng Độ, huyện Chân Phúc; khi mười tám tuổi đã đỗ hương cống, vào làm văn chức, rồi ra phủ Triệu Phong. Hai mươi lăm tuổi bèn từ quan đi tu, có theo học ông Viên Cảnh và ông Đại Thâm Viên Giác. Sư có vào tu ở Thuận Hóa (Huế), người quy đến hàng nghìn, sau vì chúa Nguyễn có ý ngờ, bèn ra ngoài Sơn Nam, ở chùa Nguyệt Đường, bấy giờ là niên hiệu Chính hòa (1683) nhà Lê. Sư có làm nhiều câu kệ thâm thúy lắm.

Khoảng năm Chính hòa Vĩnh thịnh (1680 -1705), lại có ông Như Đức ở chùa Lân Đỗng, huyện Đông Triều, giới luật cũng tinh nghiêm lắm. Về niên hiệu Bảo Thái, lại có ông Như Nguyệt, là môn đồ ông Hương Hải, cũng là người chân tu.

Tự đấy về sau, cả khoảng Lê mạt Nguyễn sơ, thời không có sách khảo nữa. Nhưng cũng là bắt đầu đạo Phật đã suy, cho đến bây giờ vậy.

P.Q.

(1920)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: