Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 30, 2011

Việt Nam ta lần đầu tiên diễn kịch nói

Filed under: Báo — phamquynh @ 5:54 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 1 tháng 1 năm 2012

 

Nhân kỷ niệm 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội (11/12/1911-11/12/2011)

VIỆT NAM TA LẦN ĐẦU DIỄN KỊCH NÓI

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Báo Nhân Dân ngày 10/12/2011 đăng trên trang nhất tin 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội: Ngày 9-12, tại Hà Nội đã diễn ra lễ kỷ niệm 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội (11-12-1911 – 11-12-2011). Ðến dự, có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Ủy viên Trung ương Ðảng: Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ.

Ðại diện các bộ, ban, ngành hữu quan; các đoàn thể Trung ương và Hà Nội; các Ðoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế cùng đông đảo các nhà văn hóa, lịch sử, văn nghệ sĩ, lãnh đạo và cán bộ, nhân viên Nhà hát Lớn nhiều thế hệ cùng có mặt.

Ngày 11-12-1911, sau 10 năm xây dựng, Nhà hát Lớn Hà Nội được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Ðây là một công trình kiến trúc Pháp độc đáo, quy mô và hoành tráng có ý nghĩa như một chứng nhân lịch sử đặc biệt, chứng kiến những sự kiện lịch sử, cách mạng và văn hóa diễn ra tại Hà Nội suốt 100 năm qua.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà hát Lớn và quảng trường nhà hát là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử và văn hóa cách mạng. Sau ngày đất nước thống nhất đến nay, nơi đây đã chứng kiến bao sự chuyển mình của nền văn nghệ Việt Nam qua các chương trình sân khấu, âm nhạc; là địa điểm gặp gỡ, giao lưu với nghệ thuật thế giới qua những chương trình biểu diễn của các ban nhạc, nghệ sĩ lừng danh… Nhà hát Lớn đồng thời còn là nơi tổ chức thành công nhiều hoạt động hội nghị, hội thảo, lễ kỷ niệm lớn trong nước và quốc tế.

Tròn 100 tuổi, Nhà hát Lớn xứng đáng là công trình kiến trúc với những giá trị xuất sắc về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và mỹ thuật của Thủ đô Hà Nội và cả nước. Trong dịp này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trao Bằng xếp hạng Di tích quốc gia, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cho Nhà hát Lớn và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám; trao Bằng khen tặng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý nhà hát. Ban Quản lý Nhà hát Lớn vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng nhì, Giám đốc Hoàng Xuân Nam nhận Huân chương Lao động hạng ba do Chủ tịch nước trao tặng.

Tin của báo Tuổi Trẻ cùng ngày trên trang 13 viết:  “Nhà hát lớn Hà Nội qua nhiều thăng trầm lịch sử đã vượt lên chức năng và giá trị tự thân của một công trình văn hóa để mãi mãi trở thành một trong những hình ảnh, biểu tượng quen thuộc, không thể thiếu của thủ đô Hà Nội” – đó là đánh giá của Bộ trưởng Bộ Văn Hóa-Thể Thao & Du Lịch Hoàng Tuấn Anh tại lễ kỷ niệm Nhà hát lớn Hà Nội tròn 100 tuổi sáng 9-12.

Ông Hoàng Tuấn Anh nhấn mạnh với những giá trị đặc biệt, Nhà hát lớn Hà Nội là chứng tích thiêng liêng, ghi dấu và lưu truyền những sự kiện lịch sử, cách mạng quan trọng bậc nhất của quốc gia cũng như của thủ đô… Tại buổi lễ, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh đã trao bằng xếp hạng di tích quốc gia di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Nhà hát lớn Hà Nội và quảng trường Cách mạng Tháng Tám cho ban quản lý Nhà hát lớn Hà Nội.

Nhà hát lớn Hà Nội tại số 1 Tràng Tiền được xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911 theo mẫu của nhà hát Opera Garnier (Paris, Pháp).

Báo Thời Nay ngày 12/12/2011 cho biết: Công trình Nhà hát Lớn Hà Nội: Tên gọi ban đầu là Théâtre Municipal (Nhà hát thành phố). Tọa lạc trên khu đất vốn là đầm lầy, sau Hương ước ngày 31/8/1874 thuộc khu nhượng địa. Năm 1886 Đốc lý Hà Nội là Halais cho mở trục đường mang tên Paul Bert – Tràng Tiền, Hàng Khay – Tràng Thi – Cửa Nam… Nhà hát thành phố được đặt trên quảng trường, quay mặt ra trục đường này, chiếm giữ vị trí khởi đầu của một trục, nối kết các thành phần cấu thành đô thị. Năm 1899, toàn quyền Foures chấp thuận cho xây công trình nhà hát, với vốn đầu tư ban đầu là 800.000 francs. Khởi công ngày 7/6/1901. Diện tích khu đất 8.800m2 (theo hiện trạng); diện tích xây dựng 2.000m2; chiều dài ngôi nhà 87m2; chiều rộng 30m2; chiều cao đỉnh chóp 34m2. Hoàn thành vào năm 1911.

Nhân dịp này, xin mời các bạn đọc bài sau đây dưới nhan đề Viện Nam ta lần đầu diễn kịch nói của chúng tôi, các đoạn chúng toi trích trong bài của Phạm Quỳnh tường thuật buổi diễn kịch nói đầu tiên của Việt Nam ta tại chính nhà hát này nhan đề Một sự thí nghiệm đã nên côngCuộc diễn kịch của “Hội Khai Trí Tiến Đức”, đăng trên báo Nam Phong năm 1920, sau này đưa vào tập Thượng Chi văn tập. Bản chúng tôi sử dụng là Thượng Chi văn tập do Nhà xuất bản Văn học, xuất bản năm 2006.

*

*   *

Ngày chủ nhật 25 tháng tư năm 1920 sẽ thành một ngày đáng kỷ niệm trong lịch sử Hội “Khai Trí Tiến Đức”, trong lịch sử diễn kịch ở nước ta, trong lịch sử quốc văn ta nữa. (…)

Ngày ấy là ngày người Việt Nam diễn lần thứ nhất, một bản cổ kịch Pháp dịch ra tiếng Việt Nam, tại nhà hát Lớn Hà Nội, Hội “Khai Trí Tiến Đức” chủ trương để trợ quyên vào Hội “Đông Dương kỷ niệm” bên Pháp. Bản kịch ấy là một hài kịch của Molière, tay danh kịch nước Pháp về thế kỷ thứ 17, người dịch là ông Nguyễn Văn Vĩnh, một nhà Tây học có tiếng ở Bắc kỳ, và người diễn là một ban tài tử vì nhiệt thành về sự nghiệp cải lương (đổi mới – PT chú) diễn kịch mà dám đánh bạo đảm đương một việc rất mới lạ, xưa nay chưa ai làm bao giờ. Sự thí nghiệm này không phải là một việc thường, thành công hay không, rất có quan hệ về sau lắm. Lúc khởi hành không ai ngờ làm được, vì bao nhiêu cái khó hình như đấu sức lại để mà đố cái tài sáng khởi, cái chí kiên nhẫn của người mình: khó ở sự phiên dịch bài kịch Tây ra lời ta thế nào cho khỏi mất tinh thần của nguyên bản, khó ở sự kén chọn những tay tài tử thế nào cho xứng đáng với các vai tuồng; khó ở cách ăn mặc, cách bài trí thế nào cho hợp với thời đại, vì bài kịch này là tự ba trăm năm về trước, thể cách không giống như bây giờ; khó ở dáng bộ, khó ở giọng nói, khó ở cách tập luyện thế nào cho mỗi người không những là nhập điệu cái vai của mình phải đóng mà lại lĩnh hội được thâm ý của tác giả, khiến cho đến khi ra trò bấy nhiêu vai đều hòa hợp với nhau mà diễn thành một trò hồn nhiên như một, hiển nhiên như thực, không có mâu thuẫn, có gián cách một chút nào. Ngoài bấy nhiêu cái khó, lại còn phải có gan không ngã lòng nản chí, bạo dám hạ thủ quyết tâm. Thế mà làm thành được, không những không mắc míu tí gì, lại được trọn vẹn khắp cả, khiến cho dư luận Pháp Nam đều đồng thanh tán tưởng, nhất luật vỗ tay, đó chẳng là một sự đắc thắng danh dự của phái thanh niên tân tiến dư?

(..)

Ông Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu dịch mấy bản kịch của Molière đã ba bốn năm trước, đăng trong Đông Dương tạp chí. Chủ ý ông là muốn dịch rồi đem ra diễn trên sân khấu; để giúp việc cải lương diễn kịch ở nước ta, nên cách ông dịch là thoát dịch, cốt lấy ý và lời cho gọn tiếng ta, có thể đem ra diễn được, không câu nệ đúng như nguyên văn chữ Pháp. (…) Vậy muốn sửa đổi lối tuồng hát của mình theo phép diễn kịch tây, tất phải mượn những tay tài tử muốn vượt lề lối mà ra thí nghiệm, không thể nhờ ở bọn nhà nghề được. Đã biết thế, nhưng kén được tay tài tử cho xứng đáng, không phải là việc dễ. Có người nhiệt thành về việc cải lương mà không đủ tư cách ra sân khấu, có người có tư cách diễn được mà không đủ bạo dạn đường đột ra trước công chúng; lại có người sợ thiên hạ bình phẩm, vì nghề tuồng hát xưa nay vẫn coi là một nghề đê tiện. (…) Hội “Khai trí tiến đức” mới thành lập được một năm, định sang năm này là năm thứ hai mở một cuộc hội lớn để làm cách quảng cáo cho quốc dân biết và mở mang cho Hội được to tát thêm, Hội đương tìm cách mở một cuộc vui chơi cho có đặc sắc, xứng đáng với mục đích của Hội mà lại có ích lợi chung cho xã hội nữa. (…)  Bấy giờ ông Vĩnh nguyên có chân trị sự trong Hội, mới nhớ đến cái chí cải lương diễn kịch của ông, bèn bàn với hội đồng xin diễn một bài hài kịch của Molière mà ông đã dịch. Ban trị sự tuy biết rằng việc khó thật mà cũng đồng thanh tán thành công Vĩnh, cố giúp cho làm được vì việc này mới thật là một việc có đặc sắc, hợp với chủ nghĩa của Hội. Lại nhân dịp bên Pháp có điện sang xin với Chánh phủ Đông Dương mở một cuộc lạc quyên để giúp vào Hội “Đông Dương kỷ niệm”, là một Hội đặt ra để bảo tồn phần mộ cho những lính và thợ bên ta sang tùng chinh cùng làm việc bên Pháp mà chẳng may bị chết trong khi chiến tranh, Hội Khai trí liền định mở cuộc diễn kịch để giúp cho việc thiện ấy. (…)

Ông Vĩnh bàn với Hội xin diễn một bản kịch của Molière (…) Hội giao cho ông chủ trương việc đó. Ông gặp được ngay hai ông Trịnh Văn Hợi và Nguyễn Đình Thông là hai tay du học ở Pháp về, rất nhiệt thành hăng hái, cam đoan xin giúp ông cho đến được mới nghe. Thế là bọn tân tài tử ta nhóm thành từ đó. Nhưng trong mấy bản kịch Molière mà ông Vĩnh đã dịch ra quốc ngữ, bấy giờ chưa định rõ là diễn bản nào, trước định diễn bản  Le Bourgeois gentilhomme (Trưởng giả học làm sang), sau mới định hẳn là bản Le malade imaginaire (Bệnh tưởng). Ông Vĩnh muốn phấn lệ anh em, tự nhận đóng vai Argan (tức là Nũng Công) là vai chính và nặng nhất trong bài ấy, và để vai Beralde (tức là Nịu Công) cho ông Hợi, vai Cléante (tức là cậu An), cho ông Thông. Cho hay thanh khí lẽ hằng xui cho kẻ có chí lại gặp người đồng chí: Ông Phạm Văn Duyệt, hội viên Hội Khai Trí, cũng là một người sốt sắng về việc cải lương diễn kịch như ông Vĩnh. Nghề tuồng cổ ông rất sành, đã nhiều phen ra diễn chơi trên các rạp hát Hà Nội; nghề tuồng mới ông cũng hiểu, đã từng soạn mấy vở kịch theo lối hài kịch Âu châu, chí ông chỉ muốn đem ra diễn thử trước công chúng mà bực vì chưa gặp người đồng chí. Ông thấy Hội sắp mở một cuộc diễn kịch mới, ông lấy làm cổ võ lắm, tình nguyện xin giúp vào một vai, và quả quyết thế nào làm cũng thành. Thế là bọn tài tử lại thêm được một tay nữa, mà thật là một tay cự phách vậy. Ông Vĩnh biết tài ông Duyệt, xin nhường cho ông đóng vai chính là vai Nũng Công, và cố tìm các vai khác cho đủ bộ. Đến đây mới xuất hiện ra một vấn đề khó giải, là vấn đề các vai đàn bà. (…) Nhưng bậc “giai nhân” ở nước ta bây giờ thời con nhà khuê các được mấy người là am hiểu những lề lối tân thời; con gái nhà tử tế mà ra diễn tuồng trên sân khấu, là một sự phong tục chưa công nhận vậy. (…) Rút lại thời xem ra bà nào cô nào cũng có ý muốn giúp mà không thể thoát li được quyền chuyên chế của phong tục. Đến kỳ hội đồng sau cùng, cử tọa đều quyết nghị nhờ đến các cô trong nghề vậy, tưởng là bất đắc dĩ phải dùng kế đó là kế cùng, ai ngờ chính là cách tối hảo. Vì nhà nghề thế nào cũng dạn dĩ hơn người thường, đem ra tập luyện lối mới tất dễ hơn. (…) Ở Hà Thành có sạp “Sán Nhiên Đài” (…) có cô Tửu và cô Ba Tuất chịu ra giúp đóng vai Toinette (tức con Nhài) và Béline (tức Nũng Bà), hai cô nhờ có ông Trần Phềnh là tay danh họa ở Bắc Kỳ, lại vừa là người nhiệt thành về diễn kịch, chỉ dẫn cho, ra công học tập, đến sau phải thành, nhất là cô Tửu đóng vai con Nhài một cách rất dĩnh ngộ, người Tây đến xem cũng phải khen là tài. Trong bài Bệnh tưởng có bốn vai đàn bà con gái, thời thế là đã tìm được hai vai rồi, còn một vai Angélique (tức là Cô Lan) và vai Louison (tức là Cô Cúc) thời may sao gặp được bà Kao ở “Kinh kỳ hí viện” và con nuôi là cô Liên, mới có 12 tuổi, đóng thật là xứng đáng. Trong bọn tài tử thời ngoài ba ông Duyệt đóng Argan (Nũng Công), Hợi đóng Béralde (Nịu Công), Thông đóng Cléante (Cậu An), đến chính ông Vĩnh đóng Diafoirus (Lang Ế), ông Vượng đóng Thomas Diafoirus (Ế Sinh) ông Ngan đóng Purgon (Đại Hoàng tiên sinh), ông Quang đóng Fleurant (Nhân Ngôn tiên sinh), ông Lục đóng Bonnefoi (Chân Tín tiên sinh). Thế là giai nhân tài tử đã đủ bộ rồi, nay phải ra tập cho xứng vai vậy.

(…)

Các vai đã chia đâu vào đấy, bắt đầu từ đầu tháng tư Tây, khởi tập diễn ngay ở nhà Hát Tây, trước còn mỗi tuần lễ vài ba lần, rồi đến tuần lễ sau cùng thời ngày nào cũng tập luôn từ tám giờ tối đến 12 giờ đêm. Mấy bữa đầu còn lúng túng ngượng ngập lắm, nào người giọng không được, nào người dáng chưa in, ông quản lý (đạo diễn – PT chú) bắt bẻ từng tí, chữa sửa từng li, như thày giáo cầm tay sửa giọng cho học trò vậy. Đến khi công đã thành, thiên hạ đến xem lấy làm vui thú, khen cho một tiếng “được”, hồ dễ mấy người lượng được cái công phu khó nhọc trong lúc tập thành. Nhưng ngay từ mấy buổi đầu có mấy vai đã rõ hẳn là được rồi, là vai Nũng Công (ông Duyệt), vài con Nhài (cô Tửu) và vai cô Cúc (cô Liên), mỗi ngày một thấy hay thêm lên, chứ không còn khuyết điểm gì nữa. Đến gần ngày “đại tập” (Tổng duyệt – PT chú) thời vai nào cũng là xứng đáng cả. Bữa đó Hội mời vài trăm người, toàn người nhà cùng bà con những người đóng kịch và các nhà báo Tây đến xem thử, thời hết thảy đều đồng thanh khen ngợi và quyết đoán rằng bữa sau thế nào cũng được “toàn thắng”.

Chính nhật là ngày hôm sau 25 tháng tư, quả được “toàn thắng” thật, ông Toàn quyền, các quan khách và người Tây đến xem đều lấy làm kinh dị, nói không ngờ rằng người Việt Nam diễn kịch Tây được hệt, được khéo như vậy, không ngờ nhập điệu được tinh thần bài kịch Tây đến bậc ấy. Các tài tử giai nhân ta bữa ấy thật là phô hết nghề hay tài giỏi, bao nhiêu cái hay mấy bữa trước chưa lộ ra, hôm nay hình như theo dịp vỗ tay của công chúng mà nẩy nở ra như hoa như gấm vậy. Ông Duyệt thật là một vai Nũng Công tuyệt phẩm: (…) Thứ đến cô Tửu, quả thị là một con Nhài hoạt bát linh lợi, (…) tựa hồ như nhạo báng chủ mà kỳ thực là thương yêu chủ, tựa hồ như điên đảo giảo quyệt, mà kỳ thực là trung hậu thật thà. Nhiều người Tây cho vai này là giỏi nhất, mà lạ rằng cô Tửu không từng sang Tây bao giờ. (…) Ông Vĩnh thời rõ ra ông Lang Ế, mặt dung y ngồi đối chuyện với ông lão lẫn, nói gẫy gọn khúc chiết, trẻ hoe như ngồi tính đơn thuốc vậy. (…) Ông Lục đóng vai luật sư cũng xứng lắm, cách ăn mặc gọn ghẽ và hệt với y phục đương thời, chính ông Toàn quyền đã khen rằng trông phảng phất như hình Molière vậy. – Nói tóm lại thời vai nào cũng xứng đáng cả, và mấy vai nặng nhất lại là mấy vai được hơn nhất.

Ngoài cuộc diễn kịch, có phụ thêm mấy trò nữa, như ả đào Thái Hà Ấp múa bài bông và hát chúc thọ, các hội viên Hội Trí Hòa họa đàn Tàu và đàn ta, phường tuồng rạp Quảng Lạc ăn bận áo xiêm chỉnh tề đi diễu trên sân khấu, bấy nhiêu trò là để thay vào những trò múa hát sau mỗi hồi trong nguyên kịch; đủ làm cho cuộc vui tối hôm ấy thật là hoàn toàn. Vả thiên hạ mới nghe tin mở cuộc diễn kịch mới đã hoan nghênh cổ võ lắm; nhà hát Tây có chừng một nghìn chỗ ngồi, mà người đến xem tới nghìn rưỡi, phải để ghế phụ thêm, lắm người phải đứng; thế mà vẫn còn nhiều người phàn nàn không được xem, Hội phải định diễn một lần thứ hai nữa.

Bữa sau các báo Tây ở Hà Nội, Hải Phòng kỷ thuật (tường thuật – PT chú) về cuộc diễn kịch ấy đều đồng thanh ngợi khen là được cả.

P.Q.

(1920)

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: