Pham Ton’s Blog

Tháng Một 19, 2012

Nam Phong số Tết Mậu Ngọ – 1918

Filed under: Ý kiến,Báo — phamquynh @ 5:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần thứ 4 tháng 1 năm 2012.

BÁO TẾT ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA:

NAM PHONG SỐ TẾT MẬU NGỌ – 1918

Phạm Tôn

Đầu năm âm lịch, trời xuân mát mẻ, cây cối xanh tươi, hoa nở muôn màu, người Việt Nam ta khắp cả nước vui mừng ăn Tết cổ truyền. Nói là ăn, nhưng không chỉ có thịt mỡ, dưa hành, rượu ngon, trà thơm mà bao giờ cũng có câu đối đỏ và sau này là có báo Tết. Tết sắp đến là các báo đã đua nhau ra báo Tết, nở rộ như hoa mùa xuân, muôn màu, muôn vẻ, đáp ứng yêu cầu tinh thần của đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi. Mấy năm gần đây, cả nước có đến mấy trăm loại báo Xuân, đủ để đầu mỗi năm từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đến nhiều tỉnh tổ chức ngày hội báo xuân, có bình bầu, phát thưởng hẳn hoi.

Nhớ lại những số báo Tết xưa vui tươi, nhẹ nhàng với văn Nhất Linh, Khái Hưng bay bướm, thơ Tú Mỡ dí dỏm và các tranh hài hước Lý Toét Xã Xệ châm biếm nhộn nhạo, không ít người cho rằng báo Tết có từ thời nhóm Tự Lực Văn Đoàn tung ra năm 1932 với các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Nhưng, sự thật, còn xưa hơn nữa… Các tờ báo quốc ngữ đầu tiên như Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương tạp chí… chưa nghĩ đến việc này. Nam Phong tạp chí ra đời giữa năm 1917-Đinh Tỵ. Và ngay cái Tết đầu tiên của tờ báo mới hơn sáu tháng tuổi, chủ nhiệm kiêm chủ bút phần quốc văn đã nghĩ ngay đến việc cho ra một số báo đặc biệt ngày Tết. Bài Số Tết của báo “Nam Phong. Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm số Tết, nay ta có thể coi đó như tuyên ngôn mở màn, đặt nền móng cho lệ làm báo Xuân sau này của làng báo Việt Nam trong cả nước, thành một phong tục tốt đẹp trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Ông đã viết: Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tựa hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.”

Đó là tạp chí Nam Phong số Tết Mậu Ngọ -1918. Ông là người đầu tiên đã gắn cái đặc điểm của ngày Tết vui khắp mọi nhà, vui khắp cả nước với cái nghề báo hằng ngày, gắn bó với đời sống người dân. Cũng vì ông là người yêu quí, trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một lòng tha thiết đem niềm vui đến cho đồng bào.

Cuối bài, ông còn khiêm tốn viết:

“Trong sáu tháng nay, các bạn đọc báo đã cùng với bản báo vẫy vùng trong bể học vấn, rong ruổi trên trường nghị luận, những món chắc bổ để nuôi tinh thần trí thức cũng đã nếm qua ít nhiều mà biết cái dã vị thực thà. Vậy nay xin hiến các bạn một mâm đồ ngọt, gọi là cái quà ăn chơi trong vài ngày Tết: mứt bách quả, bánh ngũ sắc, mỗi thứ một ít. (…) toàn là những thức ngon miệng dễ tiêu vậy.

Mong rằng các bạn sẽ vui lòng mà nếm cái quà năm mới này. Có thức gì không vừa ý xin cũng rộng thứ cho: bản báo bước sang năm nay tính theo lối tổ quốc mới được là hai tuổi: nghề bánh trái đã khéo sao bằng các chị em!”.

Trong bài kế đó Mừng năm mới ký tên Nam Phong, ông viết: “Năm cũ Đinh Tỵ đã hầu qua, năm mới Mậu Ngọ đã sắp đến, đông tàn rồi lại sang xuân, ta chắc rằng cái ngày nguyên đán mới mẻ này, nhà nào nhà nấy, pháo đốt vang tai, đối hồng rực cửa, cơ đồ đổi mới, cảnh tượng khác xưa, kẻ lại người qua, không ai là không mừng rỡ mà chúc nhau rằng: “Năm cũ đã qua, năm mới đã đến, đinh tài lưỡng vượng, phúc lộc song toàn.” Nhưng hoa cát tường ở miệng người, như đua nhau phun nở trong ba ngày Tết.

Chúng ta đối với xã hội có cái trách nhiệm ngôn luận, trống sớm chuông khuya, tiếng vang khua động, đâu có nhẽ lại bỏ quá cái thì giờ quí báu ấy, mà im bặt không có một nhời nào để chúc mừng đồng bào ta hay sao? (…) vậy xin thắp hương rải hoa, hun bút mở giấy, mà mừng tuổi cho nước nhà.

Này, đồng bào ta ơi! Non cao núi nhớn, vòi vọi nghìn thu, sông cả nguồn sâu, thênh thênh một dải, dòng dõi thần minh, cùng nhau sum họp, vẫn còn đông đúc mãi mãi ở đây, dài dằng dặc không biết đâu là cùng, xa lăng lắc không biết bao giờ nghỉ, cái thế giới sau này chưa lại, ta tài nào mà biết được, ví cứ bắt chước nhời chúc của Phong Nhân đời xưa mà reo lên rằng: “Đại Nam vạn tuế! Vạn vạn tuế!” cũng chỉ là một câu thường sáo mà thôi. (…)

Đời thủa hồng hoang, ta không có thể xét được, ta chỉ cứ trong lịch sử ghi chép, mà sẽ kể bày ra như sau này.

Nghe rằng: Vua Hùng Vương dựng nước 18 đời trải 2222 năm, đến đời Thục An Dương Vương khởi lên được 50 năm; thuộc 3 đời vua nhà Triệu 59 năm; nội thuộc nước Tàu về nhà Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, cả thảy 652 năm; vua Lý Nam Đế khởi tự năm Giáp Tí đến năm Mậu Thìn, cả thẩy 5 năm; vua Triệu Việt Vương khởi năm Kỷ Tỵ tới năm Canh Dần, cả thẩy 22 năm; ông Lý Phật tử khởi năm Tân Mão đến đăm Nhâm Tuất, cả thẩy 37 năm; lại nội thuộc về nước Tàu, nhà Tùy, nhà Đường, đời Ngũ Quí, nhà Tấn, khởi tự năm Đại Nghiệp Nguyên Niên nhà Tùy, đến năm Thiên Phúc Tam Niên nhà Tấn, cả thẩy 306 năm; ông Khúc Thừa Hiệu tự xưng Tiết độ sứ 16 năm; ông Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ 7 năm; Ngô vương Quyền 6 năm; Dương Tam Kha 6 năm; Ngô Nam Tấn vương 15 năm; Thập nhị sứ quân 2 năm; vua Đinh Tiên Hoàng đến Thiếu đế cả thẩy 13 năm; vua Lê Đại Hành đến vua Long Đĩnh, 3 đời cả thẩy 29 năm; nhà Lý khởi tự vua Thái Tổ đến bà Chiêu Hoàng, 8 đời, cả thẩy 360 năm; nhà Trần khởi tự vua Thái Tôn đến vua Thiếu đế, cả thẩy 12 đời, 174 năm; nhà Nhuận Hồ 7 năm; nhà Hậu Trần hai vua 7 năm; thuộc về nước Tàu đời Vĩnh Lạc nhà Minh 4 năm; nhà Lê độc lập khởi tự vua Thái Tổ đến vua Chiêu Tôn, 9 đời cả thảy 109 năm; nhà Mạc 3 năm; nhà Hậu Lê khởi tự vua Trang Tôn đến vua Chiêu Thống 16 đời, cả thẩy 257 năm; nhà Tây Sơn 15 năm; đến Bản Triều dựng nghiệp định đô ở Phú Xuân kinh, niên hiệu Gia Long 18 năm; Minh Mệnh 21 năm; Thiệu Trị 7 năm; Tự Đức 36 năm; Kiến Phúc 1 năm, Hàm Nghi 1 năm; Đồng Khánh 3 năm; Thành Thái 19 năm; Duy Tân 9 năm; đến đức Vạn tuế ta bây giờ kể là năm thứ 3.

Kể tóm cả lại, thời nước ta tự vua Hùng Vương dựng nước đến giờ, đã đầy 4490 năm linh. Lấy 30 năm kể làm một đời, thời người đời vua Hùng Vương, chính là ông Thủy tổ thứ 139 của chúng ta vậy.

Này các ngài ơi! Nước ta đã trải lâu ngày như vậy, mà năm năm tháng tháng ngày ngày ở trong 4400 năm linh ấy, đều là cái thì giờ của một trăm ba bốn mươi đời tổ tôn chúng ta khai sông mở núi, gây dựng nhọc nhằn, không biết bao nhiêu công trình, góp cái thái bình hạnh phúc, để cho hàng con cháu chúng ta hưởng thụ mãi đến giờ vậy.

Kể từ đời hỗn mang rồi mà thành ra bộ thuộc, thành ra quốc gia; tự thủa đóng cửa khóa ngòi, rồi mà mở mang, mà văn hóa; năm nay tiến một bước, sang năm tiến một bước, mà thành ra một cái nước hoàn toàn.

Nhưng cái tuổi nước từ trước, thì tự tay của tổ tiên chúng ta sửa sang lấy, mà làm cho dài ra. Còn như tuổi nước bây giờ về sau, thì lại là phận vị của anh em đồng bào chúng ta, phải cùng mó tay vào mà sửa sang bồi dưỡng để nối noi mới được. Gặp cái quang cảnh năm mới như thế này, chúng ta há nên dông dài lẩn thẩn mà bỏ hoài mất cái thì giờ quí báu hơn 360 ngày sắp đến này hay sao?

Này đồng bang ta ơi! Năm mới nên quí là vì cái gì? Là vì so với năm cũ có cái hiện tượng ngày rộng tháng dài vậy (…)

nước cố nhiên đã đến cái tuổi trưởng thành thật, thế nhưng mà nước không có thể tự nhiên mà trưởng thành được, sửa sang cái cơ nghiệp trưởng thành là trách nhiệm của người dân trong nước vậy.

Kìa! Lúc nào mà rậm rạp chông gai, rừng xanh nước độc, vẫn là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà mở mang sum họp, ruộng đất cấy cầy, cũng là một mảnh đất ấy; lại lúc nào mà đuổi giặc Nguyên, bắt tướng Hồ, đánh Chiêm Thành, lấy Chân Lạp, nhất thống sơn hà, gây dựng cơ nghiệp, cũng là một miếng đất ấy mà thôi. Dẫu trong khoảng dó, lúc trị lúc loạn, lúc phế, lúc hưng, vận hội đổi thay, vẻ này vẻ khác, mà non sông đất nước, y nguyên còn đó trơ trơ, không biết trải bao nhiêu tháng tháng năm năm, mà phía đất Nam giao vẫn tự nhiên là một nơi bất tiêu bất diệt. Rồi từ đó mà năm bảy nghìn năm, mà muôn năm, ức triệu năm, kinh cai vô số năm, cũ qua mới lại, không biết thế nào mà kể cho hết, không biết thế nào mà tính cho cùng vậy.

Chúng ta muốn mừng tuổi nước, nhưng nước vẫn sống lâu, lọ là phải mừng, chỉ nên mừng là mừng cho người ăn ở trong nước này.

Ngày tháng như thoi đưa, kiếp người không phải sắt đá. Phàm các người bẩm tinh anh của giời đất, trung tú khí của non sông, sinh ra ở trên đất nước này phỏng được bao nhiêu năm, dẫu sống lâu cho lắm, chẳng qua bảy tám chín mươi tuổi, trừ bỏ cái thời kỳ trẻ mỏ giả nua ra ngoài, thì cái thì giờ có ích với xã hội, chẳng qua chỉ ở trong khoảng độ hai ba mươi năm mà thôi.

Các ngài ơi! Kiếp trước chúng ta, chưa chắc chúng ta đã được làm người cổ nhân, kiếp sau chúng ta, chưa chắc chúng ta lại được làm người hậu tiến, chúng ta chính là một phần người trong đất nước ở kiếp này, tiêu thụ cái quang cảnh một năm (…). Bóng sáng thoáng qua, ngày sau còn rộng, phàm những sự nghiệp duy tân của nước ta, hoặc mọc mầm ở năm trước, hoặc nở trứng tự năm nay, học thuật nên làm thế nào cho cao thâm, sinh kế nên làm thế nào cho rộng rãi, chính trị nên làm thế nào cho hoàn toàn, không việc gì là không phải việc nghĩa vụ nên làm ở trong cái năm mới này cả. Vậy dám chúc già trẻ giai gái, sĩ nông công thương, cho chí hết thảy các người trong nước, nhân dịp bước lên, đua hơn ganh được, họa may ra dòng thần dõi thánh, rạng vẻ thêm hoa, đối với người xưa mà không hổ, đối với người sau mà có danh, rồi mà cái tuổi thọ của nước nhà ta, được hưởng một cái phúc lâu dài không có kỳ hạn, ấy là cũng bởi các bậc người ở trong năm mới này, không phí thì giờ, không bỏ nghề nghiệp, đồng lòng hiệp sức, tiếp ngọn nối ngành, để làm cho một ngày một dài ra vậy. Vậy nên chúng ta đương lúc thiều quang sắp đến, muốn mừng năm mới, mà lại rất mong cho 20 triệu đồng bào ta, chớ nên phụ cái năm mới này. (PT nhấn mạnh)

Nam Phong

Thật là những dòng tâm huyết, tha thiết với Tổ quốc, với đồng bào, nhất là với lớp trẻ, tràn đầy tình yêu nước thương nòi, mong cho ngày càng tiến bộ, theo kịp người.

Trên bìa số báo Tết ghi rõ Số Tết – 1918 và dưới đó là hai chữ Nam Phong to trên đầu bức tranh vẽ vị Hành Khiển Phán Quan Đinh Tỵ tay cầm cành đào trơ trụi, buồn bã chia tay với vị Hành Khiển Phán quan Mậu Ngọ tươi tỉnh, tay cầm cành đào rộ hoa. Dưới có in rõ: “In tại Đông Kinh ấn quán (Imprimerie Tonkinoise) 14 Rue du Coton (tức phố Hàng Bông – PT chú)”

Toàn số báo có tời 122 trang, với phần quốc ngữ 70 trang và phần chữ Hán 52 trang. Trong báo rải rác có đăng tới 36 bài thơ cổ, kim, có cả diễn Nôm bài Khuê oán của Tuy Lý Vương do Dương Tự Nhu dịch, kèm các bài là 43 tranh minh họa. Rồi các bài hát nói, phú như bài phú Giặc đến nhà đàn bà phải đánh của Vô Danh, với những câu Thương thay: những lúc ba đào, chút thân bèo bọt, nhà rách vách xiêu, con đau của sót. Nào phải bồ rìn chi đứng, ngoảnh mặt làm thinh, không bụt mọc chi ngồi, đến mình phải nhót (là rút mình, se mình – PT chú). Được thua, thua được chẳng kể, có người có ta. Hết còn còn hết cũng liều, rằng hai, rằng một (…) sức còn đương bẻ gãy sừng bò, sợ chi giặc cỏ, sống chết sao mình dám bỏ (…) Dẫu cơn hoạn nạn, còn lúc nghênh ngang. Chẳng sợ gì ai, chiêng không kêu cũng đấm, đành liều một chuyến, trống dẫu thủng còn tang” Những dòng đầy ẩn ý sâu xa.

Ngoài ra còn có nhiều câu đối. Có những câu như Tết nhất gì? Không nêu, không pháo, không bánh trái, giò nem, con cháu ăn chơi coi cũng thú/Phong lưu nhỉ? Có nghĩa, có nhân, có cương thường, hiếu hữu, anh em hòa thuận thế là vui. Hoặc Dán buồng học con: Giữ lấy cương thường cho vẹn tiết/ Chăm chong đèn sách mới nên người của Tạ Quang Huy. Có cả Truyện Tàu Lý Khuê, Trịnh Xuân Nham dịch, Ngày xuân lữ thứ quê người của Hà Huy Sằn với câu kết buồn bã: “một tết thêm một tuổi, cảnh phù sinh chắc thọ được bao lâu, những hổ đem thân buộc vòng danh lợi” Rồi còn “tiểu thuyết mớiChén rượu năm mới, dài hơn tám trang do Nguyễn Bá Trác soạn, Nguyễn Bá Học dịch nôm. Và bài hát cô đầu, sẩm nhà trò, hành vân sang năm, hai bài tạp văn của Nguyễn Khắc Hiếu: Sợ vợ, Hai đồng xu. Và bài Hai con muỗi nói chuyện của Trần Văn Nguyên tóm dịch văn Tuyết Trang…Cuối số báo là Sách vàng những người An Nam giúp việc chiến tranh bên mẫu quốc gồm  các mục: Những bậc quan võ An Nam liệt đồng hàng với các quan Tây, kể tên ba người, Những bậc chiến sĩ tử trận, Những người bị thương và cuối cùng là Những bậc được tuyên công và được thưởng. Âu cũng là một việc không thể không làm ở một tạp chí do chính phủ Pháp tài trợ, song cũng là một cách “kể công”. Cũng như, ở ngay trang đầu, không thể không có mấy lời Kính chúc Hoàng-Thượng và quan Toàn-quyền, ký tên Nam Phong do Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết, kết thúc bằng một loạt khẩu hiệu “ Nay gặp hội Tân-xuân, xin tung hô Vạn-tuế”:

Đại-Nam Khải-định Hoàng-đế vạn tuế!

Toàn-quyền Xa-lộ đại-nhân vạn tuế! (Xa-lộ là Albert Sarraut – PT chú)

Đại-Nam cố quốc vạn vạn tuế!!

Đại-Pháp ân-quốc vạn vạn tuế!!”

Đáng chú ý là tập báo Tết này “là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới” như đã nói rõ trong bài Số Tết báo Nam Phong. Từ đó, thành một lệ tốt đẹp kéo dài hàng mấy chục năm cho toàn thể các báo nước ta là bạn đọc mua báo dài hạn thì hằng năm đều được tặng không một số báo Tết và không phải chịu trả thêm tiền “bù chênh lệch” khi báo tăng giá trong thời hạn mình đã đặt mua.

Nhân ngày Tết, nhắc lại một chút về lịch sử báo chí nước nhà, mong bạn đọc hiểu thêm một phần tấm lòng vì nước vì dân của nhà văn hóa Phạm Quỳnh chỉ qua một việc làm nhỏ của ông: mong làm cho ngày xuân của người dân thêm ý nghĩa và vui vẻ, nhưng không quên nhiệm vụ của mình với Tổ quốc.

24/12/2009

P.T.

 

Advertisements

%(count) bình luận »

  1. NGỌN GIÓ CÔ ĐƠN

    Tên tôi là Cô Phong. Cũng không hiểu vì lý do gì mà cha mẹ lại đặt cho tôi một cái tên đầy ẩn ý như thế. Và quả thật, tôi là kẻ cô đơn.
    Nay đầu đã hai thứ tóc, không người thân thuộc, lại sống nơi đất khách quê người, cô đơn lại càng cô đơn.
    Cũng chính tâm trạng luôn cảm thấy một sự cô đơn bao trùm, tôi lại càng cảm thương những người đồng cảnh. Và nay, tôi vô tình biết rồi yêu kính một người, một bậc vĩ nhân mà cách đây gần thế kỷ đã ra sức vùng vẫy trong văn trường, quan trường, dốc lòng dốc sức vì nước vì dân nhưng cuối cùng chỉ vẫn là một “ngọn gió cô đơn”. Người mà tôi yêu mến đó là Thượng Chi Phạm Quỳnh.
    Tại sao Phạm Quỳnh lại cô đơn?
    Đơn giản vì không ai hiểu được lòng dạ Phạm Quỳnh. Người xưa thường nói trong đời có được tri âm, tri kỉ là điều hạnh phúc nhất. Có lẽ, Phạm Quỳnh đã không có diễm phúc đó. Dường như quanh ông không có ai thật sự hiểu thấu nỗi lòng, cảm thông và chia sẻ được những điều mà ông mong muốn, ao ước thực hiện. Khi Phạm Quỳnh rời văn trường để dấn thân vào quan trường đã có không ít những lời gièm pha. Kẻ phàm phu nói ông hám lợi danh, người hiểu biết lại cho Phạm Quỳnh là kẻ viễn vông với giấc mơ về một nước Nam trọn vẹn. Thật tội cho cụ Phạm trong chốn quan trường khi vua trên thì bất lực, đồng liêu thì ganh ghét. Dù có dốc lòng gắng sức cũng chỉ như cá trong ao nước cạn. Số phận thật thảm thương.
    Phạm Quỳnh cô đơn không chỉ vì không có tri âm, tri kỉ mà còn vì tài năng của ông. Chính cái tài năng xuất chúng đã đưa ông đến chỗ cô đơn. Kiến thức uyên thâm, thông kim bác cổ khiến chúng dân thường không theo kịp những điều ông nói, nghĩ còn với những bậc tài danh bấy giờ thì lại sinh lòng đố kỵ, xa lánh. Chính vì vậy mà Phạm Quỳnh cũng như Nam Phong tạp chí luôn là đề tài cho những tranh luận, bút chiến…thời ấy.
    Thương thay thân phận Phạm Quỳnh! Ông như ngọn cô phong lướt đi giữa chốn quần sơn đông đúc.
    Vài dòng nói lên tình cảm của kẻ hậu sinh với bậc tiền bối đáng kính. Mong sau này sẽ có thêm nhiều hậu sinh hiểu được con người, tấm lòng Phạm Quỳnh để cụ ở nơi chín suối vẫn mỉm cười vì đã không phí hoài cuộc đời cõi nhân gian.

    Bình luận bởi Lâm Cô Phong — Tháng Hai 9, 2010 @ 7:15 chiều | Phản hồi


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: