Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 10, 2012

Phạm Quỳnh giáng đòn hạ gục độc quyền rượu

Filed under: Báo — phamquynh @ 3:35 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 5 năm 2012.

PHẠM QUỲNH GIÁNG ĐÒN HẠ GỤC ĐỘC QUYỀN RƯỢU

 

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề của chúng tôi, mời các bạn đọc phần trích văn Phạm Quỳnh trong bài Vấn đề rượu ở Đại Hội Nghị đăng trên 17 trang từ 1 đến 15b trong tạp chí Nam Phong số 168 tháng 1/1932, trước khi ông rời tạp chí vào Huế tham chính.

Chúng ta đã biết một Phạm Quỳnh nghị luận chặt chẽ, đanh thép, khảo cứu sâu xa, cũng từng biết ngòi bút du ký tinh tế, trữ tình của ông qua hàng loạt du ký dài ngắn, còn thấy một Phạm Quỳnh thơ mộng, lãng mạn khi thẩm thơ xưa và ca dao tục ngữ… Nay mời các bạn chứng kiến một Phạm Quỳnh khác hẳn, một chiến sĩ vì dân, vì nước, quyết giành lấy lợi quyền, đời sống cho đồng bào mình. Và cũng thấy rõ ông “nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh” thời ấy lại rất gần gũi với đời sống của người dân thường, nhất là người nông dân chân lấm tay bùn, thấp cổ bé miệng, tự nguyện đứng ra làm người đại diện cho họ.

Như trong Blog PhamTon tuần 2 tháng 5 năm 2012 các bạn đã đọc bài Phạm Quỳnh quyết chiến chống độc quyền rượu có viết: “Về phần tôi thì tôi đã dự bị sẵn, để đến sau cùng, bao nhiêu người về phe kia nói hết cả rồi, tôi mới nói. (…) Tôi đọc xong bài trần thuyết đó thì thấy thái độ trong hội nghị khuynh hướng hẳn về bên mình. (…) Nếu ngay bây giờ mà bỏ nhiều thì chắc là được thắng.”

Và đây là bài phát biểu đó.

—o0o—

Thưa các ngài,

Cái vấn đề đổi lại thể lệ rượu ở Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ, liệt vào những vấn đề thuộc quyền Đại Hội nghị quyết nghị trong kỳ hội đồng này, là một vấn đề rất quan trọng, có lẽ quan trọng hơn hết thảy các vấn đề mà Đại Hội nghị phải bàn xét lần này.

Ta quyết định thế nào là có ảnh hưởng sâu xa lắm, không những về phương diện thuế khóa mà thôi, nhưng quan hệ nhất là về phương diện chính trị.

Tôi là đại biểu của viện Dân biểu Bắc Kỳ cử đi dự kỳ hội đồng này, vậy bổn phận tôi là phải trình bày Đại Hội nghị biết về phương diện chính trị của cái vấn đề quan trọng này thế nào.

Trong bài diễn thuyết đọc buổi khai mạc Đại Hội nghị, chính quan Toàn quyền cũng cho rằng vấn đề rượu có cái tính cách đặc biệt như vậy.

Và trong tờ trình bày sổ Dự toán Đông Dương năm 1932, có nói rằng:

“Cái vấn đề rượu đã thành ra một vấn đề khẩn cấp, không phải thuần là một vấn đề thuế khóa nữa, có nhiều phương diện quan hệ đến chính trị, rất có ảnh hưởng đến nhân dân, nên cần phải bàn định một cách thận trọng lắm mới được.

“Vậy trong kỳ Hội đồng này, Đại Hội nghị phải tỏ bày ý kiến và chuẩn định cái thể lệ thế nào cho khỏi thiệt đến công quỹ mà lại yên lòng dân được lâu dài nữa.”

Vậy thì ngày nay, Hội đồng quyết  định về vấn đề ấy thế nào, là có quan hệ nhiều lắm; một là làm yên được lòng dân, hai là lại làm cho kích thích cái lòng oán hận trong dân gian.

Đại Hội nghị bàn định về vấn đề này, nên gác ngoài những nỗi tây vị ra, phải ung dung bình tĩnh mà bàn, đừng vì những lời xôn xao của công chúng mà cũng đừng vị những lợi riêng của hạng người nào, lợi riêng này tuy đáng trọng thật, song bao giờ cũng phải nhượng bộ cho sự lợi ích của chung đã.

Mà cái lợi chung trong vấn đề quan trọng này, không những là chỉ chăm cho công quĩ mà thôi, nhưng lại phải chú ý đến cuộc trị an chung, phải tìm hết cách để làm cho yên lòng người mới được.

Vì lòng người thật là sôi nổi về cái vấn đề rượu này. Điều đó dù những người thiển cận không xét kỹ cũng phải chịu như vậy. Ai cũng phải công nhận rằng hiện nay có một vấn đề rượu, và vấn đề này có ảnh hưởng về đường chính trị, có tính cách khẩn cấp vô cùng, chính là một cái cớ bất bình của nhân dân ở miền Bắc Đông Dương vậy.

Nhưng có lẽ các bạn đồng viện tôi ở Trung Nam Đông Dương, là nơi được hưởng cái chế độ khoan dung hơn chúng tôi, đối với cái vấn đề này, không thấu rõ hết mọi lẽ quan trọng khó khăn là dường nào.

Vậy tôi xin phép các ngài kể qua vắn tắt về đầu đuôi việc này thế nào.

Trong tờ trình của Chính phủ làm căn cứ cho cuộc thảo luận của chúng ta đây, có giải rõ về cái thể lệ rượu ở miền Bắc và miền Nam Đông Dương như sau này:

“Ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Bộ và Nam Bộ Trung Kỳ, nghề nếu rượu được tự do, miễn là có xin phép là được; việc bán rượu cũng được tự do, miễn là phải có môn bài; Nhà nước chỉ giữ quyền kiểm sát các công việc đó.

“Chí như ở Bắc Kỳ và ba tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh ở phía Bắc Trung Kỳ, thì không thế, về việc cất rượu Nhà nước đã ký hợp đồng với một công ty Pháp nấu rượu ở Đông Dương (hợp đồng ấy đến ngày 11Juillet (tháng 7) 1933 thì hết hạn), công ty chuyển việc cất rượu cho dân bản xứ dùng, Nhà nước giữ việc vận tải, việc đóng chai, đem đến các nơi đại ti, rồi người Nhà nước lại đứng bán cho các chủ ti khác.”

Gồm cả các việc ấy, gọi chung một tiếng là “độc quyền rượu”.

Ngay tự khi mới đặt Bảo hộ ở Bắc kỳ và Trung kỳ, hồi tháng Juillet (tháng 7) 1886, đã có bàn đến việc đặt độc quyền rượu. Nhưng quan Toàn quyền bấy giờ là quan Paul Bert bác đi. Ngài nói rằng:

“Dân tình khốn khổ đã lâu, không nên làm cho thất nhân tâm, để thêm nỗi bất bình; trong những năm đầu, phải xử trí cho rất êm đềm và đợi cho yên ổn thịnh vượng hẳn, rồi mới có thế lấy bằng cứ mà đánh thuế được. Như đặt độc quyền thuốc phiện thì dân không kêu gì; nhưng cái độc quyền rượu, thì phải làm thế nào cho dân chịu nổi mới được. Việc dùng rượu là một việc rất thông thường, và trong bao nhiêu ngày hội hè giỗ chạp của người An Nam, nó lại có cái tính cách thuộc về lễ giáo nữa, ngăn trở người ta tức là làm một việc hà khắc vậy.

“Không kể thóc gạo của dân quê cất rượu, vốn là thóc gạo dân cày cấy, ruộng đã phải chịu thuế rồi, thế mà rượu cất bằng thóc gạo ấy lại phải chịu thuế nữa, thì thật thành ra sự hà khắc bội phần. Vì những lẽ đó mà tôi lấy làm ngần ngại trong việc này…”

Quả nhiên, sau khi điều tra kỹ, quan Toàn quyền Paul Bert quyết không cho đặt độc quyền rượu.

Cái độc quyền ấy, năm 1886 quan Paul Bert đã bác đi, thì cách mười sáu năm về sau, quan Paul Doumer lại đặt ra, để lấy tiền cho Ngân sách chung Đông Dương và giúp cho lập thành đoàn thể Đông Dương, rồi từ đấy cứ theo như các nghị định ngày 20 và 23 Décembre (tháng 12) 1902 do sắc lệnh ngày 7 Août (tháng 8) 1903 đã ưng chuẩn mà thi thành.

Nhưng mà từ thời ông Paul Bert, cái quan niệm của người nhà quê chúng tôi đối với việc rượu này vẫn không thay đổi. Người nhà quê bao giờ cũng vẫn cho sự cấm nấu rượu là một sự hà khắc, và kêu ca về việc trừng phạt bắt bớ không công bằng. Gia chí dĩ sở thương chính lại dùng những tuần đinh chọn trong đám mạt lưu, đã từng can án, thành ra gây nên ở xứ này cái thói thù hằn vu cáo, dọa nạt lấy tiền, ban đêm vứt bã rượu vào nhà đất người ta, là những cách khiến cho dân quê ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng, lúc nào cũng nay ngáy lo sợ bị khám, thân bị giam, của cải bị tịch thu, khuynh gia bại sản chỉ vì một tên tuần đinh thương chính đêm hôm đem vứt bã rượu vào ruộng mình, dù ruộng ấy cách xa nhà đến bao nhiêu cây số cũng vạy.

Chắc các ngài đều đã có đọc qua cuốn tiểu thuyết của ông Jean Marquet nhan đề là: De la rizière à la montagne (Từ đồng bằng lên mạn ngược). Tiểu thuyết này tả cảnh một người nhà quê vì sự vu cáo rượu lậu, bị tù hết đó đây, rồi kết cục lên làm phu mỏ trên mạn ngược, sức lực hao mòn, lại vừa bị ngã nước, thành ra đến chết. Chuyện đó chính là một chuyện thật đấy. Ông Marquet là một viên chức trong sở thương chính, lại là người chính nhân quân tử, đã trải qua những chốn thôn quê, đã biết rõ tình cảnh người nhà quê chúng tôi mà ông thường gọi là anh em thật không thể cầm lòng đậu mà kể cái chuyện thảm hại ấy, cái chuyện rất đáng thương tâm của người dân quê Bắc Kỳ ấy, bị vu cáo rượu lậu mà nên nông nỗi như thế. Mà khốn nạn thay, những chuyện như thế thường xảy ra ở chốn nhà quê chúng tôi luôn.

Hôm qua ở tiểu hội đồng, quan Chánh ở tài chính có nói rằng chớ nên nói quá về việc phạt rượu lậu, việc trừng phạt ấy chẳng có gì là thái quá cả, vì cứ xem ngay một tỉnh lớn như tỉnh Thái Bình mà chỉ có hai viên thương chính thôi; chí như ở bên Pháp, trong một quận lớn như thế, tất phải dùng đến hàng mấy trăm viên chức thương chính. Vâng, vẫn đành rằng thế, nhưng hai viên thương chính Tây đó lại dùng biết cơ man nào là các tay tuần đinh người bản xứ, toàn là những người trong mạt đẳng xã hội; gia chi dĩ có cái lệ cho ăn tiền hoa hồng, thật là một cách xúi giục bọn bất lương làm càn vô sở bất chi nữa.

Thưa các ngài, đây tôi kể qua để các ngài nghe những điều hình phạt về tội rượu lậu.

Phàm ai cất rượu lậu thì phải phạt tiền từ 200 đến 2000 đồng và phạt tù từ 15 ngày đến 3 năm, hay là trong hai thứ ấy phải phạt một. Ngoại giả những khí cụ dùng để cất rượu, hay những cơm rượu đã bắt được, đều bị sở thương chính tịch một. Phàm người nào bị bắt có mang ít nhiều rượu lậu mà không thể nói rõ được rằng rượu ấy ở đâu ra, thì phải phạt tiền tự 25 đến 500 đồng và phạt tù từ 8 ngày đến 3 năm, hay là trong hai thứ ấy phải phạt một. Nhà nước lại bắt những hương chức các làng phải chịu trách nhiệm về việc phạt tiền những người can rượu lậu, nếu rõ rằng các hương chức ấy không làm gì để ngăn cấm việc nấu rượu lậu trước khi phát giác ra. Lại nếu các hương chức không chịu giúp sức cho người sở thương chính trong việc khám xét bắt bớ, hay để cho đánh tháo được các tang vật, thì cũng phải chịu trách nhiệm phạt tiền, không kể khi có kháng cự lại các viên chức trong khi làm việc, thì lại thêm một tội khác, phải chịu hình phạt khác nữa. Lại như khi khám thấy rượu lậu ở chỗ đất công của làng, dù đất ấy làng bỏ hoang hay ở xa làng tới 10 cây lô mét, làng ấy cũng phải chịu trách nhiệm vào đó.

Thưa các ngài, các ngài xét đó mà coi, cách trừng phạt nặng nề như thế, lại giao cho những viên chức thương chính, tuy có phát thệ nhưng không phải toàn là người nhân đức cả, thường dùng vô số những kẻ tuần sai mật thám chọn toàn trong đám mạt lưu, cho mười phần trăm tiền hoa hồng để thưởng, cứ đó mà suy thì đủ biết gây nên biết bao là sự hà khắc những lạm.

Thật ra thì số phạt rượu quả là nhiều lắm lắm. Mỗi năm có tới hàng mấy trăm cái án như vậy. Nghe nói chính quan Tổng trưởng Thuộc địa muốn khảo xét về việc này, thấy số can phạt quá đa, cũng phải lấy làm rùng mình kinh ngạc.

Nay dân phải chịu khổ như thế, thì được lại cái gì?

Được cái hân hạnh uống rượu ti, là thứ rượu dân không ưa! Không ưa cũng phải uống, bắt phải uống… Như xin phép giết một con trâu hay một con bò, có ông quan sở tại nhiệt thành quá, bắt phải mua mấy chục chai rượu ti mới cho!

Tôi vẫn biết, tôi nói thế, tất sẽ có người giở cách trí ra mà chứng giải phân minh rằng rượu của Công ti là ngon lành, là “tố hảo”, chẳng những không độc mà lại còn bổ nữa, chẳng khác gì những rượu vang rất ngon ở xứ Bourgogne hay xứ Côte d’Or vậy. Thôi, phép hóa học còn thiếu gì cái đẹp cái hay, những người không biết hóa học có đâu dám bình phẩm.

Tôi không biết uống rượu; tôi chẳng hay rượu ti ngon ngọt thế nào. Nhưng cứ như những người uống rượu nói, – mà ý kiến của họ mới có giá trị hơn, – thì rượu ti quả không hợp với giọng dân; uống nó bốc lên đầu, nó không có vị, có hương như rượu của người ta cất.

Thành ra dân An Nam phải uống một thứ rượu mình không thích uống. Trong khi ấy, lại mất một cái nghề kiếm ăn tốt. Vì rằng xưa kia dù nghề nấu rượu chẳng được hoàn toàn tự do chăng nữa, thì mỗi tỉnh cũng có bao nhiêu làng lấy nghề ấy làm một nghề căn bản.

Nhất đán làm cho những làng ấy hàng trăm cái gia đình mất nghề kiếm ăn. Những làng ấy, những nhà ấy, thường ruộng nương chẳng có, tất hoặc bị thất nghiệp khổ sở, hoặc cứ liều nấu rượu lậu, rồi làm đến tù tội như đã kể ở trên.

Mất nghề nấu rượu lại thành ra làm hại lây đến một nghề phụ nữa, là nghề nuôi lợn, vì nuôi lợn không có gì tốt bằng bỗng rượu. Cái nghề nuôi lợn bị hạn chế đi, vừa làm cho những dân quê nghèo nàn ở Bắc Kỳ và phía bắc Trung Kỳ giảm mất một mốt lợi, lại vừa ảnh hưởng đến sự ăn uống nữa.

Người ta đã tính ra rằng một nhà có cất một lò rượu thì đồng niên có thể nuôi được tám con lợn. Những lợn ấy lúc mua giá mỗi con 2 đồng, nuôi trong sáu tháng, có thể bán được 8 đồng. Thế là mỗi con lãi được 6 đồng, tổng cộng được lãi 18 đồng một năm; người dân quê nghèo, được thêm một món đó đã là khá lắm. Gia chí dĩ, phân lợn lại không phải là một vật bỏ đi, bán cũng được hai đồng bạc, hay để thì dùng bón được một mẫu ruộng.

Nếu lợn ấy chẳng đem bán lấy lợi, thì đem giết thịt, người nhà quê cũng nhờ thế có chút thịt ăn, vì dân quê chúng tôi họa hoằn mới được ăn miếng thịt. Ai đã biết rõ dân nhà quê chúng tôi thì tất biết rằng người nhà quê thường thiểu lực vì không đủ ăn, nhất là ở mấy tỉnh đông dân như Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Nếu thỉnh thoảng được ăn miếng thịt tưởng cũng nên lắm.

Tôi xin các ngài miễn thứ cho tôi kể những việc nhỏ nhặt như vậy, có biết rõ thế thì mới hiểu vì những duyên cớ sâu xa thế nào mà dân quê chúng tôi thiết tha giữ lấy cái nghề nấu rượu như vậy, dù phải tù tội cũng cứ nấu lậu hoài.

Xét các lẽ đó thì các ngài đủ rõ sở dĩ làm sao mà cái chế độ rượu hiện hành ở Bắc Kỳ và phía bắc Trung Kỳ đến bất thuận nhân tâm như thế. Đã thi hành tự ba chục năm nay mà nhân dân vẫn không thỏa hợp. Kẻ phàn nàn thiết tha, người bài bác kịch liệt. Những việc biến động xẩy ra ở Bắc, Trung Kỳ tự 30 năm nay đều lấy đó làm một cớ để xui giục lòng dân…

Gần đây như việc “tẩy chay” nhà học sinh của ông Fontaine là chủ công ti rượu lập ở Paris, thật là chứng cớ hiển nhiên.

Dù thế nào mặc lòng, có một điều rõ hẳn, là đã bao nhiêu năm nay, mỗi năm trong kỳ hội đồng của các việc tư vấn, sau đổi làm viện Dân biểu ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, đồng viện cũng từng theo ý dân, đệ đơn thỉnh cầu bãi cái độc quyền rượu. Năm nào cũng thỉnh cầu, đã thành như lệ thường, và lâu dần thành như cái biểu hiệu của lòng dân yêu cầu nguyện vọng.

Mà thực thế, xét bao nhiêu người làm việc phiến loạn đều lợi dụng cái lòng dân đó, nên trong các truyền đơn, trong các chương trình của họ, cũng vin vào cái vấn đề rượu làm câu khẩu đầu phản dối.

Cái vấn đề rượu, lẽ ra chỉ là một vấn đề thuế khóa mà thôi; thế mà gây ra một cái không khí nồng nàn lại thành một vấn đề có tính cách hiển nhiên về chính trị.

Cái bổn phận của chúng tôi là dân biểu, phải đem điều ấy trình bày với đại hội nghị.

Cứ đứng riêng về mặt thuế khóa mà nói, thì vấn đề rượu kể chẳng có khó gì, mà cái độc quyền rượu cũng chẳng đáng bài bác chi cho lắm. Có thể sửa đổi cho tốt hơn và chẳng cần phải bãi đi cũng được.

Sở dĩ cái vấn đề rượu nay phải đem ra bàn bạc, sở dĩ ngày nay phải trù định việc bãi độc quyền rượu đi, là chỉ cốt để làm cho được hả lòng dân.

Vậy nên cần phải chú trọng về phương diện ấy, để mà giải quyết cho được thỏa đáng.

Cầu lấy một phương giải quyết cho được thập phần mãn nguyện, thì quyết nhiên là không có. Vì rằng ý dân thì chỉ muốn được hoàn toàn tự do nấu rượu; các viện Dân biểu Trung, Bắc Kỳ mà chính chúng tôi làm đại biểu đây, đã đệ lời thỉnh cầu nhất quyết như thế. Nhưng chúng tôi biết rằng lời thỉnh cầu ấy không thể nào thực hành được, chúng tôi biết rằng tranh biện vào một việc chẳng sao thực hành được thì cũng chẳng ích gì. Điều ấy chúng tôi sẽ xin bộc bạch cùng các bạn đồng viện đã cử chúng tôi vào dự kỳ Đại Hội nghị này.

Vậy thì cái cách rất giản tiện là cách cho dân hoàn toàn tự do nấu rượu, không thể được,.

Lại một cách giản tiện nữa là cho tất cả các làng, không phân biệt gì, được tự do nấu rượu, miễn là phải chịu thuế thục tổng cộng ngang với số thuế của sở thương chính thu được bây giờ; cách ấy cũng không thể được.

Cứ lý thuyết thì cách sau đó thật là một cách giải quyết đúng tâm lý, có thể làm cho dân được thỏa lòng. Nhưng làm thế nào mà thu nộp cái thuế thục ấy? Chỉ ngại rằng lại thành ra một thứ thuế mới nữa quân phân cho đinh điền thôi. Thành ra lại đem một thứ thuế gián thu làm thành ra một thứ thuế trực thu, thì thật vô lý lắm. Vả chính viện Dân biểu Bắc Kỳ cũng đã phản đối việc đó.

Thế thì có hai cách giải quyết giản tiện mà không thể thực hành được, đành phải bỏ không xét đến, vậy chỉ còn có hai cách do Chính phủ bày ra mà nay Hội đồng đem ra quyết nghị, là như sau này: một là đặt ra ở Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ cái chế độ cũng như ở Nam Kỳ mà có sửa đổi ít nhiều; hai là lập ra một công ty Pháp – Việt chuyên việc cất rượu, đóng rượu vào chai, vận tải và đứng bán ở địa phận Bắc Kỳ và phía bắc Trung Kỳ.

Cả hai cách đều là chưa được hoàn hiện. Đều là cách châm chước, không thể làm cho mãn nguyện hết thảy mọi người được.

Nhưng theo cái mục đích cốt yếu của chúng ta, là tìm cách làm thế nào cho thỏa thiếp nhân tâm – mà đó là một điều quan hệ nhất trong cái vấn đề này, – thì cái phương pháp có ít điều bất tiện cho ta hơn, tức là cái phương pháp thứ nhất, nghĩa là cái chế độ Nam Kỳ đem châm chước mà thi hành ở Bắc Kỳ.

Nó thế nào thì đã biết rồi đó. Tuy rằng chẳng được hoàn thiện, nhưng nó đã thi hành ở Nam Kỳ tự bao nhiêu năm nay, mà người trong Nam không thấy phàn nàn gì cho lắm; đại khái cũng được mãn nguyện. Vậy chúng tôi xin đem cái chế độ ấy châm chước mà thi hành ở Bắc Kỳ.

Cái chế độ ấy để cho ai nấy được tự do tranh cạnh, chứ không phải riêng một hãng nào được độc quyền nấu rượu và bán rượu nữa. Thôi thì người Tây, người Nam – ở Bắc Kỳ chúng tôi không cần chỉ người khách, – ai nấy tùy tài lực có thể cùng nhau lập ra các lò rượu khác mà nấu rượu.

Có người phản đối rằng theo cách đó thì người Nam không thể nào cạnh tranh nổi, rồi lại thành ra một cái độc quyền thực sự về tay Công tyrượu thôi. Người ta nói Công ty ấy hằng năm nấu và bán ở đất Nam kỳ tới 70% rượu kia. Thì cho rằng ở Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ kết cục cũng lại như thế nữa, có sao? Cho rằng để tự do cạnh tranh thì Công ty ấy lại được nấu và bán 70% rượu, nhưng cũng còn để cho ta được 30%, chẳng hơn cứ độc quyền bây giờ, ta không được tí gì ư?

Người Nam, và cả người Pháp nữa (vì công ty Fontaine không phải chiếm được cả kỹ nghệ của người Pháp ở đây) ít ra cũng còn được 30% – tôi nói ít ra, vì tôi chắc còn hơn kia, – có thể tự do mà cất, mà bán rượu, miễn là có Chính phủ kiểm soát, có hợp thể lệ thì thôi.

Như vậy mới là cho dân được thỏa lòng.

Nhân dân sẽ không còn có cái cảm tưởng rằng bị một công ty to thừa thế lực chiếm đoạt cả nghề kiếm ăn của mình, đem cái lưới độc quyền mà giam mình vào đó nữa.

Nay cái phương pháp thứ hai có được như thế không?

Tôi không đám chắc.

Hôm qua, bạn đồng viện tôi là ông Bùi Quang Chiêu đã nói rằng hiện nay có một cái phong trào phản đối độc quyền thương cảng Sài Gòn năm trước, thật đã làm cho sôi nổi dư luận trong Nam. Ông cho cái độc quyền rượu cũng như độc quyền thương cảng trước. Mà nói cho thật ra thì đồng bào chúng tôi hiện nay nói đến chuyện độc quyền thật là ghét ngon ghét ngọt. Cái lòng yếm ố đó, ở Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ đã phải chịu khổ về độc quyền rượu trong ba mươi năm nay, thật đã đến cực điểm vậy.

Vậy mà trong cái phương pháp thứ hai là cách lập công ty Pháp Việt đó, chúng tôi xem ra lại chính là một lối độc quyền giả dạng, lại càng tệ hơn nữa; một độc quyền mà thành bốn: độc quyền cất rượu, độc quyền đóng rượu vào chai, độc quyền vận tải rượu và độc quyền bán rượu; cái độc quyền đó nó sẽ làm lợi cho công ti vô kể, mà làm thiệt cho nhân dân vô cùng!

Toại thành nói là bãi độc quyền mà kỳ thực lại lập ra độc quyền cách khác. Tức như nói: đuổi cái độc quyền đi, nó chạy về sồng sộc vậy!

Cái cách thứ hai đó là thế nào? Là lập lên một công ty cất rượu (đến 80%) đóng chai, tải đi và bán tất cả rượu cần dùng ở Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ. Duy có một điều, bề ngoài xem ra hình như làm cho thỏa lòng dân, là cho phép mấy làng cất rượu, nhưng chỉ được cất thuê cho công ty mà thôi, bao nhiêu rượu của các làng cất ra đều bắt buộc phải bán cho công ty, công ty được độc quyền mua tùy giá sẽ định. Một điều nữa hình như bề ngoài cũng làm cho thỏa ý dân, là người bản xứ cũng được chung phần với cái công ty độc quyền sẽ thành lập ấy. Nhưng cái cách chung phần ấy, chúng tôi cũng đã thừa biết rồi. Chẳng qua lại chỉ dành mấy phần cho những người có thế lực được vào chân hội đồng quản trị mà thôi. Chúng tôi đã biết lắm, vì đã có cái gương công ty nước nắm nọ đó.

Vậy thì trong cái phương pháp thứ hai thật không có lợi cho dân được mấy tí; còn như cái phương pháp thứ nhất vẫn thi hành ở Nam Kỳ, thì nhân dân cũng không lấy gì làm bất bình cho lắm. Nay đem thi hành ở Bắc Kỳ mà châm chước một cách cho cẩn thận, thì chúng tôi tưởng cũng khá làm cho yên lòng dân được lâu dài.

Vậy thì các đại biêt An Nam chúng tôi xin hợp ý về cái phương pháp thứ nhất, tức là cái bản số 1, nghĩa là cái chế độ Nam Kỳ đem châm chước mà thi hành ở Bắc Kỳ.

Chúng tôi nghe nói phương pháp ấy, các quan Thủ hiến các xứ cũng ý hiệp, tức là quan Thống sứ Bắc Kỳ, quan Khâm sứ Trung Kỳ, vì chức trách các ngài xét cái vấn đề ấy tất phải nhìn khắp các phương diện, không những về phương diện thuế khóa và kinh tế mà thôi, nhưng cả phương diện chính trị, xã hội nữa. Xem một điều các quan hành chính ý hiệp đó cũng đủ biết là có điều lợi về đường chính trị.

Cứ xét riêng về phương diện thuế khóa thì cái cách thứ hai có điều tiện cho Chính phủ thật, cho nên xem ra quan Chánh Tài chính cũng luống những xiêu lòng: Chính phủ không phải là một nhà buôn thạo, Chính phủ cứ giao cả công việc cho một công ty độc quyền mà thu lấy một phần lợi. Như vậy thật tiện việc cho Chính phủ lắm, nhưng lại rất hại cho dân, vì dân bị mắc vào một cái độc quyền mới khác.

Chính phủ bảo hội đồng chúng ta xét trong hai cách đã bày ra đó xem nên chọn cách nào. Chính phủ bảo ta ưng thuận cách nào thì phải nói cho rõ. Ta quyết nghị đây là chỉ quyết nghị về phương châm mà thôi. Ta không phải xét đến cái cách thức thi hành châm chước thế nào. Điều đó đã có Chính phủ định liệu rồi sẽ trình cho chúng ta biết sau.

Ưng thuận cách thứ nhất, tức là một cái phương pháp đã tỏ tường rồi, tức là một cách có thể làm cho thỏa lòng dân được.

Ưng thuận cách thứ hai, tức là xoay ra một lối độc quyền mới khác, thoạt nghe thấy, dân đã lấy làm buồn; ấy tức là làm trái lại cái mục đích cầu cho thỏa thiếp dân tâm.

Nhưng dù Hội đồng ấn định cách nào mặc lòng, cũng xin đừng có cho dài hạn quá, như lời bạn đồng viện ta là bác sĩ Le Roy Des Barres đã bàn ở tiểu hội đồng bữa trước: hãy nên chỉ thí nghiệm trong vài năm, để xét xem cái kết quả nó thế nào và cần phải sửa đổi thêm bớt thế nào.

Chúng tôi lại xin Chính phủ trước khi đem thi hành phương pháp nào, nên hỏi ý kiến các Hội đồng bản xứ, là Hội nghị Kinh tế của người Tây và Hội nghị Dân biểu của người Nam.

Thưa các ngài, các ngài bây giờ quyết định thế nào, là một điều hệ trọng lắm. Nhân dân đương đăm đăm con mắt trông vào các ngài. Nếu các ngài ưng chuẩn cái phương pháp có lợi cho dân, thì dân lấy làm ơn các ngài lắm.

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: