Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 2, 2012

Ẩn Tình

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:11 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 2 tháng 8 năm 2012.

ẨN TÌNH

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần trích trong chương 8 sách Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hoá dân tộc của Khúc Hà Linh (NXB Thanh Niên, 2012).

—o0o—

Dẫu là người hết lòng vì công việc, lý tưởng; chân thành với người thân đến mức có thể giãi bày gan ruột… nhưng từ sâu thẳm đáy lòng, Phạm Quỳnh vẫn có ẩn tình mà ông giấu kín…

Sinh thời Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh có mối quan hệ gắn bó đặc biệt trên con đường canh tân văn hoá, phát triển chữ quốc ngữ và sự nghiệp báo chí.

Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh cùng học trường Thông ngôn, nhưng mỗi người tốt nghiệp mỗi khoá khác nhau. Từ năm 1913, khi Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Đông Dương tạp chí, tuần báo xuất bản vào thứ năm, thì Phạm Quỳnh mới 21 tuổi, đã trở thành một trong 11 biên tập viên có danh phận của tạp chí. Tuy hơn Phạm Quỳnh 10 tuổi, nhưng Nguyễn Văn Vĩnh vẫn coi ông là một người cộng sự tin cậy có tài năng sánh vai với các bậc đàn anh như Tản Đà, Nguyễn Văn Tố…

Năm 1922, họ cùng nhau có duyên may đi tham dự Hội chợ Quốc tế (đấu xảo) ở Marseille (Pháp). Trong chuyến này Nguyễn Văn Vĩnh đã lái xe ô tô cho Phạm Quỳnh đi thăm nhiều nơi trong nội thành và ngoại vi đất Pháp, tạo cho ông điều kiện thâm nhập đời sống thực tế, để sau này có những bài Pháp du hành trình nhật ký đăng tải trên Nam Phong rất sinh động (trên Nam Phong số 23 tháng 7/1922, Phạm Quỳnh đã nói việc này).

Năm 1932, Nguyễn Văn Vĩnh gặp rủi ro nghề nghiệp. Ông bị vỡ nợ trong vụ vay tiền dựng toà soạn báo An Nam Nouveau (Nước An Nam mới). Ông phải phiêu bạt sang Lào đào vàng…

Năm 1936, sau khi vào Huế làm quan được 4 năm, biết tin Nguyễn Văn Vĩnh chết đột ngột bên sông giáp biên giới Việt – Lào, Phạm Quỳnh thương tiếc làm thơ khóc bạn.

Tháng 9 năm 2009, Giáo sư Nguyễn Đình Chú gửi cho Phạm Tuyên con trai Phạm Quỳnh một bài viết ngắn. Bài viết với hàng tít: Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh, bên dưới có dòng chữ nhỏ: Về một bài thơ bây giờ mới được biết.

Bài viết có đoạn: “Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố) một thời được dư luận xã hội tôn là bốn học giả sáng giá nhất của đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí, Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai cụ. Chẳng biết sinh thời hai cụ gắn bó với nhau tới đâu nhưng căn cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Bài thơ này còn giữ được đến hôm nay là do cụ Nguyễn Đình Khang quê Nghi Lộc, Nghệ An làm thư viện ở Huế trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 và từng tham gia việc biên tịch gia sản Cụ Quỳnh hồi tháng 8 năm 1945 tại Huế, nhân đó mà thấy bài thơ trong tập bản thảo của Cụ Quỳnh, nay đọc lại cho chép (Chúng tôi nhấn mạnh – KHL). Bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường Khóc Nguyễn Văn Vĩnh của ông nghe xót xa, mà như có chứa cả ẩn ức nỗi niềm:

Vừa mới nghe tin vội giật mình

Thôi thôi thôi cũng kiếp phôi sinh

Trăm năm sự nghiệp bàn tay trắng

Bảy thước tang bồng nắm cỏ xanh

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như bác chết là vinh

Suối vàng bác có dư dòng lệ

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình”.

Quả là một bài thơ mới tìm thấy! Bởi chỉ có người biết thuộc nhập tâm đọc lại chép ra thì người ngoài mới biết. Nếu không nó vẫn nằm trong yên lặng mà thôi. Cứ như bài thơ này, người đời mới càng hiểu thêm về nỗi lòng cụ Phạm.

Từ khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, 9 năm sau nhà họ Phạm mới xảy ra chuyện gia biến, nhưng hình như có linh cảm mà Phạm Quỳnh khóc bạn vẫn phảng phất nỗi niềm ẩn ức riêng minh. Hết sức bình sinh đem tài năng ra phụng sự cho một nền văn hoá, giữ gìn tiếng mẹ đẻ, nâng cao vị thế vậy mà vẫn bị mỉa mai, châm chọc. Người đời đâu có biết ông đang đi dưới hai làn đạn. Một làn là sự soi mói rình mò của kẻ ngoại bang, và một làn là miệng lưỡi nhân gian, có khi lại còn ác độc hiểm nguy hơn nhiều. Nỗi bất mình ấy, Phạm Quỳnh nín nhịn, và chịu đựng nỗi khổ tâm, dày vò cho đến sau cái ngày 13 tháng 3 năm 1945, khi Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật đã thành lập được, ông về ở Hoa Đường, suy ngẫm thế cuộc, suy ngẫm thế thái nhân tình. Nhưng đó là chuyện sau… Bây giờ khóc bạn cũng là giải toả nỗi cay đắng trong lòng.

Cả đến khi thất sủng, về ở ẩn, ông vẫn đau đáu khôn nguôi về kỷ cương xã hội. Trong bài Chỉ buộc chân voi, Phạm Quỳnh còn da diết: “Tục ngữ có câu “Chỉ buộc chân voi”. Chỉ mà buộc được chân voi, một cái hãm rất mong manh mà cầm được một cái sức rất to mạnh… Nền nếp gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức tôn giáo đời đời dùng để ngăn chặn cái thị dục vô nhai (không bến bờ – KHL chú) của người ta, ngăn sự ngu xuẩn vô ý của quần chúng. Nếu sợi chỉ ấy mà chùng, mà đứt thời có nguy hiểm đến văn minh loài người.”

Có lẽ vì thế mà sau này có lần Phạm Quỳnh tự vấn: “Tôi là một người của buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông. Tôi là giao điểm giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai (…) Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tội, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!… Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!”.

Những đoạn trích trên đây thật bất ngờ được trích từ một thư riêng của Ngự tiền Văn phòng đại nội Phạm Quỳnh gửi ông Louis Marty, Giám đốc chính trị vụ Phủ toàn quyền Đông Dương. Thư đề ngày 30/12/1933. Thư được giữ trong gia đình Louis Marty, do bà quả phụ Marty gửi cho bà Phạm Thị Ngoạn con gái Phạm Quỳnh để sao y năm 1960. Lúc đó bà Marty sống tại Cahors, Département du Lot (theo tài liệu của gia đình Phạm Tuyên).

Phạm Quỳnh là người yêu nước, trân trọng nền văn hoá dân tộc, đặc biệt là tiếng Việt. Thời kỳ làm quan, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, ông chống Pháp một cách không khoan nhượng, theo kiểu của trí thức Nho học bấy giờ. Ông dám trách cứ Pháp trưng dụng lúc gạo để cung cấp cho Nhật, đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam triều. Ông bị tên cáo già thực dân theo dõi, liệt vào đối tượng đối địch bất khả quy.

Theo một số tài liệu mật ở  Bảo tàng Pháp Aix-en-Provence được công bố, ngày mồng 8 tháng Giêng năm 1945, trong báo cáo gửi Đô đốc Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, Thống sứ Trung kỳ khi ấy là Healewyn đã viết về Phạm Quỳnh như sau: “Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bàng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng”.

(…) Trong mật thư của Khâm sứ Trung Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương Đơcu, có đoạn: “Ông Phạm Quỳnh trách cứ Pháp trưng dụng lúc gạo để cung cấp cho Nhật, và đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam triều.

“Phạm Quỳnh có thể sẽ trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta” (tức Pháp – KHL chú).

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Phạm Quỳnh từ nhiệm về ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường, không tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật, cũng không chạy theo Pháp. Ông để tâm đến văn học mà mấy chục năm ông say mê tâm huyết. Có nhà báo phỏng vấn ông, rằng sắp tới ông làm gì, ông trả lời: “Một đời tôi hoạt động văn học, nay tôi trở lại văn học”. Nhưng trớ trêu thay, một cái chết đến với ông trong những ngày đầu cuộc khởi nghĩa Tháng Tám. (…) nhà thơ Huy Cận kể chuyện Phạm Quỳnh với Hồ Chủ tịch. Nghe xong, Người đã nói với Huy Cận: “Việc đã lỡ rất rồi”.

Khi tìm hiểu về Phạm Quỳnh, không ít người đặt câu hỏi: Vì sao nhà văn hoá lớn đầy uy tín và nhiệt tâm như Phạm Quỳnh lại nhận lời làm quan cho triều đình Huế, một triều đình thực chất bị thao túng của thực dân Pháp?

Phạm Quỳnh mất năm 1945, sau đấy 26 năm nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có lời chia sẻ: “… Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ để lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884 (nghĩa là Pháp chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Trên thực tế Pháp đã lấn quá sâu vào nội bộ triều đình Huế – KHL). Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối (Đời viết văn của tôi – NXB Văn học Hà Nội, năm 1971).

(…)

Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, trong bài Phạm Quỳnh-Chủ bút báo Nam Phong, đăng trên tạp chí Khoa học và ứng dụng Hải Dương, số tháng 2 năm 2005, có đoạn: “Còn xét về hành động, Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đầy các nhà yêu nước (…) Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hoá Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hoá dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận. Nếu không xảy ra việc ông qua đời năm 1945 thì có thể ngày nay chúng ta dễ dàng đánh giá ông hơn”.

K.H.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: