Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 10, 2012

Con người Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 8 năm 2012.

 

CON NGƯỜI PHẠM QUỲNH

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần trích trong sách Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hoá dân tộc của Khúc Hà Linh (NXB Thanh Niên, 2012) các trang 123-132. Đầu đề là của chúng tôi.

—o0o—

Mộ ông được đặt trong chùa Vạn Phước – Huế. Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) bên phải chùa Từ Đàm. Khi còn sống, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẫm nên rất thân tình với Hoà thượng trụ trì. Nhà chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn Phật giáo lược khảo. Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” bên phải, và “Tiếng ta còn, nước ta còn” bên trái, do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tán cây râm mát. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể” (Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi). Nghĩa là chức vị, họ tên và bút hiệu thường dùng của một nhà báo. Chẳng hề liên quan gì đến ông quan đại thần. Bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật” (ngày 18/12 năm Ất Mùi) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế vào Huế. Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí” (Con trai Phạm Bích cùng em trai, em gái cung kính ghi).

Cái chết của Phạm Quỳnh nói theo duy tâm như một số người vẫn suy luận là do số phận, định mệnh đã sắp bày. (…)

Bây giờ ở góc đồi xóm Bình An, ngoại ô Huế còn ngôi mộ Phạm Quỳnh. Dưới vòm lá xanh hàng cây muối, mộ ông yên lặng rung rinh hoa nắng. Trước cửa vào mộ là đôi hàng chữ Nôm, người đời sau sắp xếp lại câu nói của ông trong đêm kỷ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du tại trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức năm 1924, giống như hai vế đối:

  • Truyện Kiều còn, tiếng ta còn.
  • Tiếng ta còn, nước ta còn

Đã có lần nhạc sĩ Phạm Tuyên, con thứ chín của ông, bàn với gia đình ý nguyện đưa ông về Lương Ngọc – Hoa Đường tỉnh Hải Dương, để bên cạnh người cha là tú tài Phạm Hữu Điển, để con, cháu, chắt, tiện bề hương khói. Nhưng có người kính yêu Phạm Quỳnh khuyên, nên cứ để ông ở lại chốn này. Tấc đất Phạm Quỳnh đang yên nghỉ có thế đất thiêng. Ở đây ông thi thố tài năng, đem kiến văn sức lực hiến dâng cho quốc dân đồng bào, sự nghiệp quốc học, sự nghiệp tôn vinh tiếng mẹ đẻ, mà bạn bè trong nước và ngoài nước từng biết đến vẫn luôn ngưỡng mộ. Mấy chục năm sau, có bao nhiêu biến đổi, nhiều khách nước ngoài tới Huế, còn nhớ và tìm đến đây thắp hương tưởng niệm ông Chủ bút tạp chí Nam Phong.

Có nhà hoạ sĩ sinh sông ở nước ngoài trở lại Huế, nhìn bến sông An Cựu, nghe dân chúng nhắc đến tên Bến Cụ Phạm, đã xúc động vẽ bức tranh về bến nước này và trưng bày triển lãm. Thực ra bến nước còn đây, cây sung ngày xưa xoà ra mặt nước chỉ còn trong ký ức thời gian. Ngôi biệt thự Hoa Đường sau những ngày tao loạn, chiến tranh nay không còn nữa, chỉ là một xóm nhỏ của những cư dân mới đến sau này. Riêng cái tháp nước thì vẫn còn trơ trơ cùng tuế nguyệt.

Thật ra hiếm có một người nặng lòng với cố hương như Phạm Quỳnh. Tổ tiên sinh ra từ đất Hoa Đường, sau đó di cư đến nơi khác sinh sống. Đối với mảnh đất quê cha đất tổ, bao giờ cũng trĩu nặng trong trái tim ông. Phòng làm việc của Phạm Quỳnh luôn treo bức tranh có hai tại tự Trung Hiếu, như nhắc ông luôn nhớ bổn phận với Tổ quốc và gia đình. Ngay từ khi còn nhỏ ông đã có ý thức đặt bàn học tập ở gần gian thờ tổ tiên để luôn nhớ cội nguồn mà phấn đấu vươn lên. Khi dọn nhà từ phố Hàng Trống sang phố Hàng Da, ông cũng mang theo bài vị tổ tiên và kê bàn ghế gần đúng như chỗ cũ.

Làm văn, viết bao, ngoài tên thật, ông còn bút hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Phạm Quỳnh còn có bút danh Hoa Đường. Mỗi lần cầm ngòi bút ký Hoa Đường, dường như ông nhớ về nơi nguồn cội, nhớ về cái mảnh đất phong thổ, có hơn mười vị tiên hiền đại khoa. Nhớ về tiên liệt đã bỏ máu xương, xây đắp. Ngày vào Huế đem tấc lòng báo đáp ý nguyện mở mang quốc văn quốc học, ông vẫn đau đáu nghĩ về làng xưa. Với vị thế của ông, Phạm Quỳnh đã về cố hương cho lập trường Tổng sư ngay trên bản quán. Ở kinh thanh Huế vàng son, nhưng Phạm Quỳnh vẫn nhớ tới cố hương. Đó là làng Hoa Đường bên sông Cửu An, thuộc phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương miền Bắc. Còn ở đây, bên dòng sông An Cựu, trên trụ cổng biệt thự ông cho đắp hai chữ Hoa Đường, để khuya sớm hàng ngày đi đi về về sống với vợ con, ngước nhìn lên hai chữ thiêng liêng ấy, ông có cảm giác quê hương như ở bên mình. Ông không thể và chẳng bao giờ dám quên mảnh đất tổ tiên. Ở đấy tuy không phải nơi ông chôn nhau cắt rốn, nhưng có mộ phần của thân phụ ông – cụ tú Phạm Hữu Điển, một sợi dây vô hình, níu ông lại để không bị quên lãng cội nguồn.

Những tháng ngày từ nhiệm chức quan, nằm trong ngôi biệt thự dịch thơ Đỗ Phủ và viết bút ký, ông vẫn không quên Hoa Đường, và vì thế mới có Hoa Đường tùy bút- Kiến văn cảm tưởng I. Phạm Quỳnh nghĩ tới người cha một đời vất vả, nằm trên đất cố hương Hoa Đường, mà vì việc nước lâu lâu ông mới có dịp về viếng thăm.

Thế là cha ở Hoa Đường xứ Bắc và con ở Hoa Đường phương Nam. Vậy là hai chữ ấy cứ bám riết lấy cuộc đời Phạm Quỳnh cho đến khi ông về với đất.

(…)

Những năm gần đây, bình tĩnh nhìn lại quá khứ, người ta đã có lối nhìn toàn diện, khoa học và nhận định về con người, sự nghiệp của Phạm Quỳnh khách quan hơn. Từ điển văn học bộ mới – 2004 của Nhà nước ta có những dòng viết về ông khá xác đáng và trung thực: “Ông là người có tinh thần dân tộc, ôm ấp chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng ôn hoà lấy việc canh tân văn hoá để làm sống lại hồn nước”. Cũng từ năm 2000 đến nay, ở Việt Nam đã liên tiếp xuất bản những tác phẩm của Phạm Quỳnh, như: Mười ngày ở Huế, Luận giải văn học và triết học, Du ký Việt Nam, Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp… Đặc biệt năm 2006, bộ sách Thượng Chi văn tập vừa được tái bản sau lần xuất bản đầu tiên 1943. Cách đây 63 năm, Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes đã in 5 quyển, lần này Nhà xuất bản Văn học in trọn bộ vào một tập dày tới 1.129 trang, sách bao gồm các bài Triết học, Khái niệm làm báo, Tư tưởng Đông Tây, Văn hoá Việt Nam, Ngôn ngữ Việt Nam, Một số câu chuyện cá nhân…

(…)

Phạm Quỳnh là người yêu nước, trân trọng nền văn hoá dân tộc đặc biệt là tiếng Việt, thể hiện qua việc tôn vinh áng thơ bất hủ Truyện Kiều. Thời kỳ làm quan, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, ông chống Pháp một cách không khoan nhượng, theo kiểu của trí thức Nho học bấy giờ. Ông dám trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật, và đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam triều. Ông bị tên cáo gìa thực dân theo dõi, liệt vào đối tượng đối địch bất khả quy.

Có thể coi Phạm Quỳnh là con người có tầm tư tưởng khác với xu thế chung thời bấy giờ. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ trước, ông đã có một quan niệm chấp kinh tòng quyền, mà đến bây giờ khi đọc lên, ta tưởng là quan niệm của Việt Nam trong thế kỷ XXI. Ông viết: “Chúng ta hãy khép lại quá khé, và bởi vì chúng ta phải chung sống, nên chúng ta hãy tránh những cuộc va chạm vô ích và hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới một khẩu hiệu một cuộc sống thực sự tôn trọng lẫn nhau”. Có lẽ với ý tưởng này mà Phạm Quỳnh bị coi là tay sai, là thoả hiệp không dám đấu tranh, là đề huề với Pháp?

Đã có nhiều học giả để tâm nghiên cứu về Phạm Quỳnh với nhiều tình cảm khác nhau. Tác giả bài thơ Ông đồ vang bóng thời gian, nhà thơ Vũ Đình Liên đồng hương Bình Giang với ông vẫn có tình thắm thiết qua bài thơ cảm xúc:

                   Cụ Phạm Quỳnh ơi, cụ Thượng ơi!

Tài hoa như cụ có đâu hai

Truyện Kiều còn mất – dân còn mất

Ngọn gió Nam Phong mát đất trời

Lưỡng quốc trạng nguyên xưa đã có

Tam bang uyên bác bây giờ ai

Lương Đường, Mộ Trạch và Chu Xá

Phạm, Vũ công danh sự nghiệp đời.

28/8-3/9/1992

Một nhà thơ Đan Mạch từng nhiều lần sang Việt Nam và nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, đã có một bản trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện còn tiếp tục. Bài thơ dài hơn 300 câu viết về Phạm Quỳnh. Tháng 7 năm 1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật đi công tác Đan Mạch về có tặng cho nhạc sĩ Phạm Tuyên bài thơ ấy. Câu mở đầu thật ấn tượng: “Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm với Phạm Quỳnh, chúng ta không nên gọi ông là kẻ phản bội như trên những tờ truyền đơn hoặc bích chương. Xin hãy quan sát việc làm của ông ta như nhận xét công việc của chính bản thân mình”.

Thật vậy, đánh giá công bằng và khoa học về một nhà văn hoá lớn Phạm Quỳnh là trách nhiệm của lịch sử. Giáo sư Văn Tạo viết về Phạm Quỳnh đã từng nói: “Đối với quê Hải Dương tôi, nếu làm rõ được sự kiện này (tức cái chết của Phạm Quỳnh – KHL chú) cũng có lợi cho việc thực hiện tính công minh lịch sử nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội, đúng với mục tiêu mà các Đại hội Đảng đã đề ra là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

K.H.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: