Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 17, 2012

Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp Chí trong từ điển bách khoa và từ điển văn học bộ mới

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:14 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần thứ 4 tháng 8 năm 2012.

 MỘT SỐ TƯ LIỆU QUÍ HIẾM VỀ THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH ĐÃ ĐĂNG TRÊN BLOG PHAMTON HAI NĂM QUA

 

*

*             *

PHẠM QUỲNH VÀ NAM PHONG

TRONG TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA VIỆT NAM

 

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Một trong những thành tựu đáng tự hào của công cuộc Đổi Mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là sự ra đời của bộ Từ Điển Bách Khoa Việt Nam đầu tiên, đồ sộ gồm tới hơn 4000 trang, chia làm bốn tập:

–          Tập 1, 964 trang do Trung Tâm Biên Soạn Từ Điển Bách Khoa xuất bản năm 1995,

–          Tập 2, 1040 trang do Trung Tâm Xuất Bản Từ Điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2002,

–          Tập 3, 880 trang, cũng do trung tâm trên xuất bản năm 2003

–          Và tập 4, tập cuối, 1172 trang, cũng do trung tâm này xuất bản năm 2005.

Là một thành tựu của đổi mới, cho nên trong tập 3 (từ vần N đến vần S) đã có mục Phạm Quỳnh, và mục Nam Phong. Lại còn có mục Pháp Việt Đề Huề.

Chúng tôi xin sao y bản chính các mục đó ra sau đây để bạn đọc tiện tham khảo.

  1. Phạm Quỳnh (trang 398, tập 3)

Phạm Quỳnh (hiệu: Thượng Chi; bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân; 1892-1945), đại thần triều Nguyễn. Quê: làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tốt nghiệp Trường Thông Ngôn. Làm việc ở Trường Viễn Đông bác cổ Hà Nội. Từ 1917, chủ bút Tạp chí“Nam Phong”(x. Nam Phong). Tuyên truyền chủ trương “Pháp-Việt đề huề” (x. Pháp Việt đề huề). Những năm 1924-32, giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội. Cuối 1932, vào Huế phụ trách Văn Phòng của Bảo Đại, thượng thư Bộ Quốc gia Giáo dục, Bộ Lại của triều đình Huế. Tác giả và dịch giả một số sách văn học, triết học và tùy bút của một số tạp chí.

  1. Nam Phong (trang 29, tập 3)

“Nam Phong”, tạp chí xuất bản hằng tháng ở Hà Nội những năm 1917-34. Thành lập theo chủ trương của Toàn quyền Pháp Anbe Xarô (Albert Sarraut). Phạm Quỳnh làm chủ bút, phụ trách phần tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ; phần chữ Hán do Nguyễn Bá Trác đảm nhận. Từ 1922 trở về sau có thêm phần tiếng Pháp.

Mục đích của tạp chí là tuyên truyền chính sách bảo hộ và đề cao công cuộc “khai hóa” của Pháp ở Việt Nam. Tạp chí mở rộng khảo sát các đề tài lịch sử xã hội và văn hóa-văn minh của Việt Nam và thế giới. Về văn học, “NP” chuyên về biên khảo, dịch thuật và giới thiệu sáng tác mới. Có các mục Văn uyển, Tiểu thuyết, Văn học bình luận-cung cấp cho độc giả một số kiến thức khái quát về văn học, triết học, lịch sử, địa lí; bước đầu giới thiệu văn học cổ Việt Nam bằng chữ Hán qua các triều đại; dịch ra quốc văn một số tác phẩm văn học có giá trị như thơ văn thời Lý-Trần, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ, “Thượng Kinh kí sự” của Lê Hữu Trác và nhiều tác phẩm thơ văn cổ khác. Trong xu thế đề cao tinh thần “bảo tồn cổ học”, “dung hòa Đông Tây”, tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hóa và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20.

  1. Pháp Việt đề huề (trang 421, tập 3)

Pháp-Việt Đề Huề chủ trương chính trị do thực dân Pháp đưa ra trong Chiến tranh thế giới I. Mục đích chính nhằm kêu gọi sự hợp tác Pháp-Việt để bảo đảm sự ổn định chính trị và huy động sức người, sức của của Việt Nam phục vụ chiến tranh đế quốc. Một số cá nhân và tổ chức chính trị thân Pháp tuyên truyền ủng hộ chủ trương này. Báo “Nam Phong” của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”. Nguyễn Văn Vĩnh và Bùi Quang Chiêu cũng hoạt động theo tinh thần đó. Thực dân Pháp cử người sang Trung Quốc vận động Phan Bội Châu ủng hộ chủ trương nói trên. Tương kế tựu kế, Phan Bội Châu viết bài “Pháp Việt đề huề chính kiến thư” yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho Việt Nam, thực tâm giúp Việt Nam tiến bộ văn minh (Năm 1925 tạp chí Nam Phong đã đăng bài viết của Phan Bội Châu trong phần chữ Hán của tạp chí-PT chú). Toàn quyền Anbe Xarô (Albert Sarraut) đã bác bỏ những yêu cầu đó. Sau này, được hỏi về lý do viết bài nói trên, Phan Bội Châu trả lời:

“Đề huề chi mà đề huề

Oán thù ta hãy còn sâu

Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què”.

 *

*       *

PHẠM QUỲNH NHÓM NAM PHONG

TRONG TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (BỘ MỚI)

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Thành tựu lớn về văn hóa của nước ta sau đổi mới là việc xuất bản bộ Từ điển Bách Khoa đồ sộ 4 tập, gồm hơn 4.000 trang, ra mắt bạn đọc từ năm 1995 đến năm 2005. Trong đó, có hai mục Phạm Quỳnh (Trang 398, tập 3) và Nam Phong (Trang 29, tập 3).

Một thành tựu lớn nữa là sự ra đời của Từ điển Văn học (Bộ mới) không kém đồ sộ với 2.300 trang do Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản năm 2004. Trong Lời nói đầu,  Ban Chủ biên Từ điển Văn học (Bộ mới) đã viết:

LỜI NÓI ĐẦU

Vào khoảng đầu những năm 80 thế kỷ XX, nhằm đáp ứng yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới của đông đảo bạn đọc, bộ Từ điển Văn học (hai tập) được Nhà xuất bản Khoa học xã hội lần lượt cho ra mắt (tập I, 1983, tập II 1984). Bộ sách đã được sự đón nhận nồng nhiệt của dư luận rộng rãi trong và ngoài nước, ghi một dấu mốc cho loại sách công cụ chuyên ngành về khoa học xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả hơn bảy năm biên soạn của một tập thể 56 nhà khoa học ngữ văn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu. Giáo sư Chủ biên đã tổ chức một Ban Biên tập gồm chín người: Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Khắc Phi, Phùng Văn Tửu, Phương Lựu, Trần Hữu Tá, Trần Đình Việt, Hoàng Trường phụ trách từng bộ phận chuyên môn của từ điển, trong đó Nguyễn Huệ ChiPhùng Văn Tửu giữ vài trò thường trực.

Sau khi sách xuất bản được ít lâu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã đề xuất việc tái bản. Tuy vậy, Ban Biên tập trao đổi ý kiến, quyết định hoãn lại một thời gian để sưu tầm thêm tư liệu, bổ sung, sửa chữa, nâng cấp bộ sách lên một bước căn bản, phù hợp với hoàn cảnh đổi mới của đất nước và phục vụ bạn đọc tốt hơn. Bộ phận thường trực phân công bổ sung danh mục từ cho bộ sách, mời thêm người cộng tác, đồng thời thông báo đến toàn thể tác giả biên soạn từ điển để mỗi người xem xét, chỉnh lý lại phần đã viết của mình.

Đến nay, sau hơn mười năm làm việc, Từ điển văn học (bộ mới) đã hoàn thành. So với bộ sách cũ (1.117 trang) thì bộ mới có dung lượng lớn hơn nhiều (2.300 trang). Về kết cấu, tuy vẫn bao gồm bốn bộ phận: tác gia, tác phẩm, tổ chức và hoạt động văn học, thuật ngữ văn họcnhưng bộ phận nào, số lượng mục từ cũng phong phú hơn hẳn trước; nhiều mục từ cũ được chỉnh sửa hoặc viết lại theo những nguồn tư liệu mới. Ở từng mục từ, tính chuyên sâu và tính phổ cập cùng lúc được nâng cao (…)

Khi bắt tay tiến hành Từ điển văn học (bộ mới), do hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân, Ban Biên tập cũ không có điều kiện tiếp tục đảm nhiệm công việc. Mặt khác, do sức khỏe có phần suy giảm, Giáo sư Chủ biên đã chủ động đề nghị bổ sung ba Chủ biên mới là Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá để cùng ông tổ chức, điều hành việc biên soạn. Ban Chủ biên mời thêm hai tác giả Đặng Thị Hảo, Vũ Thanh làm Thư ký thường trực. Bộ sách được sự cộng tác nhiệt tình của 58 tác giả và 48 cộng tác viên; riêng phần ảnh, ngoài tác giả Nguyễn Du Chi còn có sự cộng tác của 18 vị; tổng cộng là 125 người- gồm tất cả những người góp mặt từ lần in trước và những người mới tham gia trong lần biên soạn này. Hầu hết họ là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành thuộc nhiều Trường đại học, Viện nghiên cứu trong cả nước và các nhiếp ảnh gia thuộc một số cơ quan báo chí. Thời gian biên soạn kéo dài nên có mười một tác giả đã từ trần mà không kịp nhìn thấy thành phẩm. (…) Ngay trong những ngày bộ sách đang hoàn chỉnh những trang cuối thì vị Chủ biên kỳ cựu, giáo sư Đỗ Đức Hiểu, cũng không chờ đợi được mà qua đời sau một cơn bệnh kéo dài. Việc công bố ấn phẩm Từ điển văn học (bộ mới) xin được xem như một kỷ niệm thiêng liêng để tập thể tác giả không quên công lao những thành viên đã đóng góp sức lực vào bộ sách cho đến hơi thở cuối cùng (…)

Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 2003.

Ban Chủ biên

TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (BỘ MỚI)

 Đáng ghi nhận là trong Từ điển Văn học do Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, xuất bản năm 1984 chỉ có 1 mục từ Nhóm Nam Phong (từ trang 121 đến trang 123) do Nguyễn Phương Chi viết mà không có mục từ Phạm Quỳnh. Trong mục từ đó viết: “(…) Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác… là những kẻ bồi bút phản động” (PT nhấn mạnh). Từ điển Văn học (Bộ mới) có mục từ Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết, và còn có từ mục Nhóm Nam Phong, vẫn do Nguyễn Phương Chi viết, nhưng quan điểm đã đổi mới hẳn.

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi sinh ngày 14/7/1938, quê ở làng Đông Thượng, huyện Can Lộc Hà Tĩnh, là giáo sư ngành ngữ văn và hội viên hội Nhà văn Việt Nam từ 1984. Năm 1960, ông tốt nghiệp khóa I khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, tham gia hoạt động báo chí (1960-1961) và từ 1962 là cán bộ nghiên cứu tại Viện Văn học, làm trưởng ban Nghiên cứu văn học Cổ – Cận của viện.

Một số tác phẩm đã xuất bản: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam. Thời kỳ cổ-cận đại (tiểu luận, 1983), Hoàng Ngọc Phách-đường đời và đường văn (chuyên khảo, sưu tầm, tuyển chọn, 1966)… Viết chung trong các tập Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (nghiên cứu, 1967), Từ điển Văn học (nghiên cứu và biên soạn, hai tập, 1983, 1984)… Chủ biên: Nguyễn Trãi, khí phách và tinh hoa của dân tộc (nghiên cứu, 1981), Thơ văn Lý-Trần (sưu tầm, nghiên cứu, dịch, nhiều tập, 1977 và 1989) Suy nghĩa mới về Nhật ký trong tù (Nghiên cứu, 1990-1993), Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ (Chuyên khảo, 1992 – 1994).

Sau đây, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn hai mục từ trong Từ điển văn học (Bộ mới): 1) Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết (từ trang 1364 đến trang 1366) và 2) Nhóm Nam Phong do Nguyễn Phương Chi viết (từ trang 1270 đến trang 1272).

*

*       *

1. Phạm Quỳnh

(17.XII.1892-20.VIII.1945). Nhà báo, nhà văn, nhà chính trị Việt Nam, hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, sinh ở Hà-nội, quê quán làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Bố là nhà Nho dạy học. Mồi côi mẹ lúc chín tháng tuổi, lên chín tuổi lại mồ côi cha, được bà nội nuôi cho ăn học. Thuở nhỏ học Trường tiểu học Pháp Việt, sau đó vào học Trường trung học bảo hộ (tức Trường Bưởi) Hà Nội. 1908, đỗ đầu bằng Thành chung, được bổ làm việc tại Trường Viễn đông bác cổ (Ecole Francaise d’Etrême Orient) ở Hà-nội. Từ 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, có nhiều bài báo được mọi người chú ý. 1917, nhận lời làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Nam Phong tạp chí do Macty (Louis Marty) sáng lập. 1922, được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức mà ông là sáng lập viên kiêm Tổng thư ký, dự Hội chợ triển lãm Macxây (Marseille). Đến Macxây rồi lên Paris ở ba tháng, diễn thuyết nhiều lần, cả ở Ban Chính trị và Luân lý của Viện Hàn lâm Pháp. Trở về, tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1924, bị Ngô Đức Kế phản ứng mạnh mẽ. Cổ xúy việc xây dựng một nền giáo dục quốc gia, đề nghị người Pháp thiết lập bậc tiểu học bằng tiếng Việt ở Đông Dương. 1924-32, được cử làm Giảng sư Khoa Văn chương và Ngôn ngữ Hán Việt tại Trường Cao đẳng Hà Nội. 1925-28, làm Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. 1929, được cử vào Hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương. Đề xướng thuyết lập hiến, giữ lại chế độ phong kiến ở Bắc và Trung Kỳ, có sự quy định rõ ràng bằng hiến pháp quyền của dân, của vua quan và của bảo hộ. 1932, Pháp đem Bảo Đại (1913-1997)về nước thay Khải Định (1882-1925), dự định thay đổi ít nhiều hình thức cai trị, ông được cử giữ chức Ngự tiền văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Giáo dục, sau đó là Thương thư Bộ Lại (1942). 1939, việc cải cách chính trị không thành, cùng Bảo Đại sang Pháp xin Chính phủ Pháp trả lại Bắc Kỳ cho Triều đình Huế theo đúng hiệp ước 1884 nhưng không đạt kết quả. Tháng Ba 1945, Nhật đảo chính Pháp, tuyên bố trả chủ quyền cho Nam triều. Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập, Phạm Quỳnh rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt ở Huế ngày 23.VIII.1945 rồi vài ngày sau qua đời ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.

Phạm Quỳnh là một người gắn bó với các chủ trương chính trị của Pháp giai đoạn kết thúc Đại chiến I, với tờ Nam phong tạp chído Chánh mật thám Macty điều khiển. Cũng như Nguyễn Văn Vĩnh, ông không chấp nhận các phong trào bạo động chống Pháp của lực lượng yêu nước. Nhưng giọng ông không gay gắt như Nguyễn Văn Vĩnh mà ôn hòa hơn. Ông tuyên bố không làm chính trị, chỉ làm văn hóa. Về mặt chính kiến, do xuất thân từ một gia đình phong kiến nề nếp lâu đời, ông cũng không bài xích chết độ phong kiến, muốn giữ nó cùng với đạo Nho cổ truyền mà ông cho là có nhiều mặt tích cực và đã thấm vào linh hồn tư tưởng dân tộc. Tất nhiên, ông cũng nhìn thấy những lề thói cổ hủ do chế độ phong kiến để lại, nào là lối học hư văn, tầm chương trích cú, “cái học nhai lại những bã rác của cổ nhân, không sáng lập ra được tư tưởng gì mới, cái học đưa đến nước bại dân suy”, nào là sự suy vi về đạo đức, thói cúi luồn nịnh bợ trước kẻ thống trị nước ngoài, nào là tục thờ cúng nhảm nhí của dân chúng “hễ lạy được nhiều là được nhiều phúc, nên tranh nhau mà cầu lạy, tranh nhau mà thắp cho nhiều nến, đốt cho nhiều hương”… Nhưng mặc dù thế, theo ông trong xã hội Việt Nam vẫn còn những phần đáng được bảo tồn, đó là quốc túy của đất nước. Trong bài văn điếu Nguyễn Bá Học ông có dịp nói rõ:” Nay xét thân thế cụ mới biết quốc túy chính là ở đó, quốc túy chính là cái đạo tu thân xử thế của các bậc hiền nhân quân tử nước nhà, quốc túy chính là cái cách căng trì cẩn thủ, sửa mình, ở đời, làm sao cho khỏi thẹn với người trước, làm sao cho thực hành được cái lý tưởng đạo đức của các bậc thánh hiền trong nước vậy”. Khi diễn thuyết trước Viện Hàn lâm Pháp, ông cũng nói dân tộc Việt-nam không phải là một tờ giấy trắng mà là một tờ giấy đã có chữ, không thể muốn viết lên đó bất cứ điều gì theo ý ai cũng được. Vì thế, ông chủ trương điều hòa bảo thủ với tiến hóa, bởi tiến hóa “là cái thế hiển nhiên” “cả cõi Á Châu như bị lôi cuốn vào trong làn sóng đó, muốn đi trái ngược lại thì thật là vô ý thức”, nhưng lại phải điều phối sao cho “giữ được tuần tự êm đềm, không đến nỗi nhất đán thay đổi cả những phong tục tập quán, tư tưởng chế độ, khiến cho cuộc sinh hoạt ở trong dân trong nước bị đảo điên nhiễu loạn cả”. Và đó là mục tiêu gầy dựng một chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh, nhằm lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại cái hồn dân tộc: “Cái nông nỗi mất nước của ta chính là một tấn kịch nhỏ trong cái đại bi kịch Đông Tây xung đột nhau. Tây phương đem lại cái chủ nghĩa đế quốc, cái dục vọng bá quyền, những tư tưởng phá hoại, những cơ khí tối tân, mà tràn ngập sang Đông phương trong khoảng một thế kỷ nay làm cho các dân tộc Đông phương thất điên bát đảo, bảy nổi ba chìm, đến nay còn tê mê chưa tỉnh sự đời.” Nhưng “cái nông nổi ấy đối với ta không phải chỉ là một vấn đề chính trị mà thôi, lại kèm thêm một vấn đề văn hóa nữa, khó khăn nguy hiểm vô cùng. […] Xưa kia có nước mất song hồn hãy còn, mà hồn vẫn còn thời nước không đến nỗi mất hẳn, nay có khác là nước đã mất mà hồn cũng thoi thóp thời nguy hiểm ấy biết là dường nào”. Trên tạp chí Nam phong Phạm Quỳnh cố gắng làm công việc dịch thuật, truyền bá cho công chúng những tinh hoa tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đồng thời cũng giới thiệu cả những di sản tinh thần của cha ông như đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, ca dao tục ngữ… cả những áng văn chương cổ điển quý giá mà các cộng sự của ông đã cố gắng chọn lựa và phiên âm ra tiếng Việt trong kho sách của Trường Viễn đông bác cổ. Chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh bao hàm các hệ tư tưởng nói trên mà theo ông có thể rút được những nét tinh túy, cũng bao hàm cả ngôn ngữ dân tộc, tiếng và chữ quốc ngữ, nó chính là tinh hoa của người Việt được nhiều đời vun đắp mà thành, trong đó có nền văn chương tiếng Việt với những tác phẩm tiêu biểu như Truyện Kiều, là linh hồn của đất nước, phải ra công giữ gìn : “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” . Phạm Quỳnh đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của tầng lớp sĩ phu cũng như nhiều thanh niên tân học yêu nước buổi ấy, cho rằng ông đã lái tầng lớp trí thức đi chệch khỏi đường ray chân chính là làm cách mạng chống Pháp để tự ru ngủ mình trong cái “hồn nuớc” mơ hồ do ông nêu ra. Chủ nghĩa lập hiến của ông muốn thay đổi bộ máy quan lại Nam triều già nua bằng một lớp quan lại tân tiến cũng không có cơ sở để đứng vững, bị Nguyễn Văn Vĩnh kịch liệt phản đối, gây nên một cuộc tranh luận náo nhiệt trên nhiều tờ báo, nhưng xét cho cùng, lập hiến hay trực trị đều không đi ra ngoài vòng tay của chế độ thuộc địa.

Trên 210 số báo Nam phong Phạm Quỳnh đã viết rất nhiều và về nhiều loại. Về dịch thuật có Phương pháp luận của Đêcac (Décartes), Sách cách ngôn của Êpitet (Épictete thế kỷ I), Mác-Ôrelơ (Marc Aurèle), Đời đạo lý  của Cactông (P.Carton), thơ của Bôđơle, truyện ngắn của Cuôctơlin (G. Courteline, 1860-1928), Môpaxăng, Lôti (Loti, 1850-1923), Tuồng Lôi xích (Le Cid) và Tuồng Hòa lạc (Horace) của Cornây, hài kịch Chàng ngốc hóa khôn vì tình  trong bộ kịch của Marivô. Về khảo luận có: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Luân lý học thuyết Thái Tây, Lịch sử và học thuyết của Ruxô, Môngtexkiơ, Vônte, Triết học Ôguyxtơ Côngtơ (Auguste Comte, 1798-1857), Triết học Becxông (H.Bergson,1859-1941), Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của Buôcgiê (P. Bourget,1852-1935), Borđô (H.Bordeaux,1870-1963), Môpaxăng, Vinhi… Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Bàn về thơ Nôm, Hát ả đào, Khảo về chữ quốc ngữ, Chữ Nho với văn quốc ngữ, Hán Việt văn tự, Bàn về quốc học, Quốc học và quốc văn… Về văn du ký có: Trẩy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam-kỳ, Pháp du hành trình nhật ký, Thuật truyện du lịch Pari, du lịch xứ Lào. Những sách viết bằng tiếng Pháp: L’idéal du sage dans la philosophie confucéenne (Lý tưởng người hiền trong triết học Khổng giáo, 1928), Le paysan tonkinois à travers le parler populaire (Người nông dân Bắc Kỳ qua lời ăn tiếng nói dân gian, 1930), Poésie annamite (Thơ An-nam, 1931), Essai Franco-annamites (Tiểu luận Pháp-Việt, 1937),… Nhiều bài viết của ông đã được tập hợp trong hai bộ Nam phong tùng thưThượng Chi văn tập 5 tập (NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943). Ngoài ra, ông còn góp phần xây dựng cuốn Việt Nam tự điển do Hội Khai Trí tiến đức biên soạn gồm 10 soạn giả, nhưng chỉ mới ra được tập I (1932).

Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dich thuật hay trước tác ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. Hơn nữa ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn cảm hứng nên ngòi bút điềm đạm mực thước không phóng túng như Nguyễn Văn Vĩnh. Ngay cả những thiên du ký, phần tra soát, luận lý vẫn nhiều hơn những trang nói lên tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (chẳng hạn bài viết về Lễ tế Nam giao), nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế, dí dỏm. Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết…nói riêng. Những kiến giải của ông so với ngày nay phần nào đã tỏ ra đơn giản, ít còn ai chú ý, nhưng đương thời là những ý kiến  mới mẻ. Bàn về tiểu thuyết ông đi vào cả kết cấu thể loại và cố gắng đưa ra một bẳng phân loại thích hợp với cả tiểu thuyết Đông và Tây, kim và cổ. Là người chú tâm rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương thế giới, nhất là diễn đạt được những phạm trù trừu tượng như tư tưởng, tâm lý, triết học… Phạm Quỳnh đã hết sức du nhập và Việt hóa nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng việt qua thời Nam phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông-dương tạp chí, nhưng chính là với trường đào luyện của Nam phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-45, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1940.

 Nguyễn Huệ Chi

­

2. Nhóm Nam Phong

Nhóm trí thức Việt Nam tập hợp xung quanh tờ Nam Phong tạp chí xuất bản trong thời gian 1917-1934 tại Hà Nội. Gọi là nhóm, nhưng thực tế số người cầm bút viết cho tờ Nam Phong rất đông. Tờ tạp chí do Phạm Quỳnh làm Chủ bút, thu hút được nhiều trí thức là do nhiều nguyên nhân: việc bãi bỏ chế độ khoa cử cũ (1919) đã gây ra không ít xáo trộn trong hàng ngũ các nhà Nho. Trí thức Việt Nam thời bấy giờ đa số được đào tạo từ cái lò Nho học; nhưng Nho học đang mạt vận, các nhà Nho không còn chỗ để thi thố tài năng. Khi Phạm Quỳnh đưa ra chủ trương “bảo tồn cổ học”, “quốc túy”, “dung hòa Đông Tây”, họ cảm thấy đây là nơi ít nhiều có thể giúp mình “thế thiên hành đạo”; “quốc hồn”, “quốc túy” cũng xoa dịu tính tự ái của những kẻ có đầu óc bài Tây nhưng bất lực, yếu đuối. Còn khẩu hiệu “làm văn hóa không làm chính trị” thì sẽ làm cho hoạt động chính trị của tờ báo bớt lộ liễu, và khiến Pháp bằng lòng. Chính vì vậy, hàng loạt cây bút Nho học đã đến với Nam Phong tạp chí, giữ các mục “Văn uyển”, “Tiểu thuyết”, “Văn học bình luận”… và đem lại cho tờ báo cái “phong vị ngôn ngữ” cũng như “tinh thần Hán học”: Dương Bá Trạc, Nguyên Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Thân Trọng Huề, Nguyễn Bá Học, Lê Dư…Về sau, một số người vừa có Tây học vừa có Hán học, hoặc chỉ có Tây học, cũng ra cộng tác với Nam Phong: Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tiến Lãng, Đồ Đình Thạch…Nam Phong tạp chí ra hàng tháng, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, có một phần viết bằng chữ Hán, và từ 1922 trở đi còn thêm một phần chữ Pháp. Mục đích trực tiếp của tờ báo là thay chân Đông Dương tạp chí tuyên truyền, giải thích chính sách của Pháp ở Đông Dương sau Đại chiến I, cổ vũ công việc “khai hóa” của Pháp. Ba nhân vật quan trọng đóng vai trò sáng lập tờ báo là: Macty (Louis Marty), trùm mật thám Pháp ở Phủ Toàn quyền lúc ấy, rồi đến Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (?-1945). Hai người sau cũng chính là những cây bút chủ chốt của Nhóm Nam Phong. Phạm Quỳnh viết nhiều, dịch nhiều về tất cả các vấn đề chính trị, văn học, lịch sử, triết học…nhưng không chuyên sâu một vấn đề gì, mà gặp đâu bàn đấy, nhằm giới thiệu những kiến thức phổ quát của văn hóa văn minh “Thái Tây” cho công chúng độc giả đọc Nam Phong tạp chí lúc bấy giờ. Phạm Quỳnh tán dương chính sách “khai hóa” của Pháp, nhưng cũng chủ trương “bảo tồn quốc túy”. “Quốc túy” mà ông quan niệm là tinh thần và đạo lý phương Đông đã tồn tại trên đất nước ta hàng ngàn năm, trong đó chủ yếu là Nho, Phật, Lão. Trong bài Nước Nam trong 50 năm nữa Phạm Quỳnh viết: “Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng cái đạo Khổng khôn ngoan kia, cái đạo Lão siêu việt kia… có ngày biến mất hẳn đi được”. Phạm Quỳnh cũng chủ trương bảo tồn tất cả các tôn giáo đã từng tồn tại trong đời sống tư tưởng tình cảm của người Việt và ông trách cứ các nhà Nho là quá thực tế, là “vô thần”. Trên tờ Nam Phong Phạm Quỳnh còn ra sức cổ động cho “chủ nghĩa quốc gia”. Theo ông muốn xây dựng quốc gia phải bắt đầu từ đấu tranh xây dựng văn hóa, việc này cần thiết hơn đấu tranh chính trị. Để xây dựng văn hóa, cần phải gia nhập vào văn hóa Âu Tây, vì vậy, tờ Nam Phong đã dịch nhiều tác phẩm cũng như luận văn về văn học, văn hóa phương Tây. Để xây dựng quốc gia, phải bảo tồn, phát triển tiếng Việt: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”. Để phục vụ “chủ nghĩa quốc gia” một cách hữu hiệu, Phạm Quỳnh hô hào xây dựng một nền văn học mới, xây dựng “quốc học”, phát triển “quốc văn”, vận động mọi người học tiếng Việt. Chủ trương này được Pháp ủng hộ. Nguyễn Bá Trác, nhân vật thứ hai, từng tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, sau trở về làm công chức cho Pháp. Ở thời kỳ đầu của tờ tạp chí, Nguyễn Bá Trác phụ trách bài vở phần Hán văn, nhưng sau đó, ông bỏ vào Huế nhận một chức vụ của Nam triều, trao phần chữ Hán lại cho Lê Dư. Một trong những trụ cột nữa của báo Nam Phong là Nguyễn Hữu Tiến. Ông viết bài ngay từ những số đầu và có mặt trong suốt 17 năm tồn tại của Nam Phong. Trong khi Phạm Quỳnh chuyên về học thuật Tây phương, thì Nguyễn Hữu Tiến lại chuyên về học thuật Đông phương. Ông đã dịch Vũ trung tùy bút  của Phạm Đình Hổ, Danh Thần học (lược dịch Đại Nam liệt truyện), Mạnh Tử quốc văn giải thíchLuận ngữ quốc văn giải thích (cùng với Nguyễn Đôn Phục); đã biên dịch Giai nhân di mặc (Nét mực còn lại của giai nhân), Việt văn hơp tuyển giảng nghĩa, Cổ xúy nguyên âm, và còn viết vở tuồng Đông A song phụng. Nguyễn Hữu Tiến cũng là người viết nhiều bài ký kể lại những cuộc du ngoạn danh lam thắng cảnh của một số người trong Nhóm Nam Phong, ngày nay còn giúp ích cho việc tìm hiểu những di tích nói trên. Bên cạnh Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật cũng là một cây bút biên khảo, dịch thuật thuộc phái cựu học. Ông từng cho công bố trên Nam Phong những bài khảo luận văn hóa phương Đông, những bản dịch văn học cổ của dân tộc như Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác. Sau Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục cũng là một cây bút trụ cột của tờ Nam Phong. Ông viết nhiều, dịch nhiều. Từ 1924 trở đi, ông chuyên viết ký. Cũng như Nguyễn Hữu Tiến, ông thường ghi chép những chuyến đi thăm danh lam thắng cảnh cùng bè bạn. Văn chương ký sự của ông có một phong vị cổ kính đặc biệt. Ngoài những người trên, nhóm Nam Phong còn có nhiều người cộng tác nhưng không thường xuyên, hoặc nửa đường bỏ dở, như Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ, Tương Phố, Nguyễn Tiến Lãng…Phan Khôi và Tản Đà chỉ cộng tác ở thời kỳ đầu. Trần Trọng Kim viết ít và xây dựng các công trình biên khảo của mình độc lập với Nam Phong, Hoàng Ngọc Phách viết các mục “Văn uyển”, “Bình luận văn chương” từ thời kỳ còn ở Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Đông Hồ từ miền cực Nam gửi ra đăng trên Nam Phong những tài liệu quý về Thi xã Chiêu Anh Các, và cùng Tương Phố viết những bài văn sầu thảm khóc vợ, khóc chồng…ghi lại cho văn đàn công khai những giọt lệ héo hắt của người tiểu tư sản thành thị những năm 20 thế kỷ XX. Nguyễn Tiến Lãng, một cây bút Tây học và là con rể Phạm Quỳnh, nhận trông coi tờ tạp chí sau khi Phạm Quỳnh đi làm quan, nhưng cũng chỉ được thêm hai năm, là phải đình bản…

Tóm lại hoạt động của nhóm Nam Phong là sự thực thi một đề án cải lương xã hội trong khuôn khổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Muốn cho xã hội được canh tân nhưng vẫn giữ hình thức một xã hội phong kiến thì phải đổi mới tầng lớp quan lại, cả về học vấn cũng như tư cách cá nhân. Muốn cho xã hội ấy bớt dần ngu muội tối tăm thì phải cải lương những phong tục tập quán từ nghìn xưa để lại, nhất là những hủ tục ăn sâu trong làng xã. Nam Phong đã dành nhiều thì giờ, tâm huyết, nhắn nhủ, khuyên răn, cảnh tỉnh thế giới quan trường, cũng như kêu gọi chấn chỉnh hương tục, cải tạo bộ máy hào lý ở nông thôn… chính là vì lẽ ấy. Muốn cho xã hội này bước vào cuộc cạnh tranh tư bản chủ nghĩa ở thế kỷ XX mà không bị đào thải thì phải cổ vũ con đường doanh nghiệp, chí làm giàu, tinh thần tiến thủ, học hỏi cái hay cái khéo của người, bỏ bớt cái hư cái hèn của mình, để dìu dắt nhau lên cõi văn minh. Nam Phong đã để nhiều trang ca ngợi tấm gương của các nhà tư bản dân tộc, bền bỉ vượt khó khăn giành thắng lợi trên đường thực nghiệp, như Bạch Thái Bưởi (1874-1932)…cũng vì lẽ ấy. Phải nói, trên nhiều vấn đề và ở một chừng mực nào đấy, tờ tạp chí dường như đã trở lại với những kiến nghị do Đông Kinh nghĩ thục và nhà ái quốc Phan Châu Trinh đề xuất hàng chục năm về trước.

Trừ một ít cá nhân có động cơ chính trị cụ thể, đa số các thành viên trong Nhóm Nam Phong đều đã theo đuổi mục tiêu của tờ báo với một nhận thức hồn nhiên về vai trò khai hóa của nó. Hơn nữa, với một khoảng thời gian 17 năm, với 210 số báo, và với một khối lượng cộng tác viên rộng rãi từ Nam đến Bắc, bản thân tờ báo cũng biến chuyên ít nhiều về phương thức qua mấy giai đoạn, cho nên tính chất không thuần nhất trong hàng ngũ các cây bút thành viên hoặc cộng tác viên và trong nội dung bài vở Nam Phong tạp chí  là dễ hiểu.

Nam Phong tạp chí nặng về biên khảo dịch thuật và sáng tác văn học, vì vậy đối với văn hóa và văn học dân tộc trong một giai đoạn hơn mười năm, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ. Đây là tờ báo gần như duy nhất trong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30 của thế kỷ XX cung cấp cho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địa lý…phương Đông cũng như phương Tây, một cách hệ thống và liên tục. Phải qua Nam Phong, đạo Nho cổ truyền lần đầu tiên mới được trình bày hệ thống. Cũng phải qua Nam Phong, các áng văn thơ tinh hoa cổ điển của dân tộc mới được sưu tầm, phiên âm, phiên dịch và truyền bá sâu rộng trong lớp thanh niên tân học thuở bấy giờ. Nam Phong cũng là nơi thử thách, rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc ngữ, văn xuôi nghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận, trong bước chuyển mình của văn xuôi quốc ngữ nước ta. So với Đông Dương tạp chí rõ ràng câu văn Nam Phong thâm thúy hơn, khả năng tư duy trừu tượng cao hơn hẳn, thuật ngữ mới được du nhập và Việt hóa cũng nhiều hơn nhiều. Không phải ngẫu nhiên mà thế hệ trí thức một thời, kể cả những đại biểu xuất sắc của phong trào “Thơ mới” như Xuân Diệu, đã coi Nam Phong như một “trường đào tạo” văn chương quan trọng.

Nguyễn Phương Chi.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: